1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình thanh tra kinh tế đầy đủ

78 490 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 730,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình thanh tra tài chính đầy đủ. Bao gồm các nội dung: nhận thức chung về thanh tra tài chính, thanh tra tài chính doanh nghiệp, thanh tra ngân hàng thương mại, ngân sách Nhà nước, tài nguyên môi trường, đầu tư xây dựng, nông nghiệp nông thôn,...

Trang 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH

TRA TÀI CHÍNH

A MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TRA

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA THANH TRA

1.1 Khái niệm thanh tra:

Sự ra đời của Nhà nước đương nhiên có sự quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế-xã hội Nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế-xã hội là dự đoán, kế hoạch, tổ chức, động viên, điều hành, kiểm tra, thanh tra Do đó thanh tra, kiểm tra luôn gắn liền với hoạt động quản lý của Nhà nước

Thanh tra là hoạt động kiểm tra của tổ chức thanh tra Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử lý những vi phạm trong các hoạt động kinh tế- xã hội nhằm giúp cho bộ máy quản lý vận hành được tốt

1.2 Mối quan hệ giữa thanh tra và kiểm tra:

1.2.1 Điểm giống nhau:

Thanh tra là một hoạt động kiểm tra nên giữa thanh tra và kiểm tra có những điểm tương đồng như:

- Thanh tra và kiểm tra đều có cùng mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm về pháp luật, qui chế, chế độ quản lý nhằm góp phần giúp các

tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ, tăng cường pháp chế, bảo vệ tài sản của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

- Thanh tra và kiểm tra đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng

để phân tích, phát hiện, đánh giá đúng thực trạng tình hình một cách chính xác, khách quan, trung thực, làm rõ đúng, sai, chỉ ra nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý những sai phạm

1.2.2 Điểm khác nhau:

Tuy nhiên giữa thanh tra và kiểm tra có sự khác biệt:

- Chủ thể của thanh tra là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước hoặc các tổ chức thanh tra chuyên ngành (thanh tra ngân hàng, thanh tra tài chính, thanh tra thuế, thanh tra xây dựng…) Mặc dù trong hoạt động thanh tra

có thể sử dụng người ngoài ngành thanh tra tham gia nhưng phải có tư cách pháp lý do cơ quan có thẩm quyền quyết định để họ có thể sử dụng các quyền của mình đối với đối tượng thanh tra Chủ thể kiểm tra rộng hơn, bao gồm các

cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan thanh tra, thủ trưởng đơn vị, các tổ chức quần chúng và người lao động có thể tham gia trực tiếp để kiểm tra

- Cơ quan thanh tra Nhà nước thực hiện việc kiểm tra đối với các tổ chức

Cơ quan thanh tra Nhà nước không kiểm tra thường xuyên, mà kiểm tra theo vụ việc được phát hiện Cơ quan này vừa kiểm tra vừa có quyền xử lý kết quả kiểm tra đó (thanh tra là kiểm tra từ bên ngoài vào đối tượng) Còn kiểm tra có khi do

Trang 2

bản thân đối tượng đó thực hiện (tự kiểm tra), không nhất thiết do bên ngoài kiểm tra

- Nội dung của thanh tra thường là những vấn đề phức tạp, những hành vi thuộc về quá khứ Hoạt động thanh tra là kiểm tra các hoạt động kinh tế-xã hội

đã phát sinh (thường là sau một năm) Nội dung của hoạt động kiểm tra thường

là những vấn đề xảy ra trong năm, dễ nhận biết thực chất của chúng hơn

- Phạm vi tiến hành: hoạt động kiểm tra diễn ra ở tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội, được thực hiện thường xuyên, liên tục, ở mọi nơi với nhiều hình thức

và phương pháp phù hợp với yêu cầu, đặc điểm, nội dung hoạt động của khách thể kiểm tra Phạm vi của hoạt động thanh tra hẹp hơn, vì thanh tra kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế xã hội đã phát sinh, điều này không có nghĩa là thanh tra chỉ bó hẹp ở giai đoạn sau Muốn xác minh hồ sơ, số liệu cần phải thu thập đầy đủ để đánh giá đúng, kết luận chính xác, khách quan những nội dung cần thanh tra cũng cần phải kiểm tra các giai đoạn trước và trong khi thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội với các chính sách, pháp luật, chế độ có liên quan Điều này có nghĩa là để kiểm tra sau phải thẩm định lại, kiểm tra lại những thông tin xãy ra trước mới đưa đến những thông tin cuối cùng

- Về thời gian: hoạt động thanh tra thường được tổ chức theo từng cuộc nên thời gian thường kéo dài, theo qui định tối đa là 30 ngày và có thể kéo dài thêm 30 ngày trong trường hợp cần thiết Đối với hoạt động kiểm tra thời gian ngắn hơn, tối đa không quá 5 ngày

- Về hình thức tổ chức, để tiến hành thanh tra phải thành lập Đoàn và đoàn thanh tra thực hiện trình tự thanh tra theo qui định của pháp luật Đối với hoạt động kiểm tra có thể thành lập Đoàn hoặc không, có khi chỉ cần một người tiến hành việc kiểm tra theo yêu cầu của cấp trên, cũng có khi cấp trên yêu cầu cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bảng cho cấp trên

Công tác thanh tra và kiểm tra tuy có sự khác nhau như đã nêu trên, song đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý của Nhà nước Việc phân định giữa thanh tra và kiểm tra không chỉ có ý nghĩa

về mặt lý luận mà còn có ý ghĩa về thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo tránh được tình trạng chồng chéo giữa công tác thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho khách thể kiểm tra

1.3 Sự cần thiết phải thanh tra:

1.3.1 Thanh tra là một chức năng cần thiết của cơ quan quản lý Nhà nước:

Thanh tra là một phạm trù gắn liền với hoạt động quản lý của Nhà nước, Nhà nước không thể quản lý điều hành mọi hoạt động kinh tế-xã hội nếu thiếu công tác thanh tra và kiểm tra Nước ta công tác thanh tra và kiểm tra được xây

Trang 3

dựng theo 5 hệ thống và có mối quan hệ với nhau trong toàn bộ hoạt động thanh tra kiểm tra của Nhà nước, đó là: Kiểm tra của Đảng, kiểm tra của cơ quan Lập pháp, kiểm tra cơ quan Tư pháp, thanh kiểm tra của cơ quan hành pháp, kiểm tra giám sát của các đoàn thể và nhân dân

Nhà nước thực hiện quản lý kinh tế-xã hội thông qua hệ thống các Luật, các chính sách, chế độ quản lý để điều chỉnh các quan hệ và cưỡng chế các tổ chức và cá nhân trong xã hội phải tuân thủ Trong đó thanh tra là hết sức cần thiết để đảm bảo Luật pháp được thực thi nghiêm túc, quyền và lợi ích Nhà nước, của công dân được bảo đảm

1.3.2 Thanh tra là một việc làm nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân:

Dân chủ là quyền lực của nhân dân, đó quyền của nhân dân được thực hiện thông qua người đại diện của mình là Nhà nước Bảo đảm dân chủ là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, chống những biểu hiện của dân chủ hình thức và hành vi xâm phạm quyền làm chủ của công dân, vì thế phải coi công việc thanh tra là cực kỳ quan trọng để xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị vi phạm Điều này thể hiện Nhà nước bảo vệ lợi ích hợp pháp của người dân, coi pháp luật là chuẩn mực để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

2 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƢỢNG, NGUYÊNTẮC HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA

2.1 Mục đích thanh tra:

Mục đích của thanh tra là phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Tóm lại, hoạt động thanh tra nhằm vào các mục đích rất cơ bản, đó là:

Góp phần tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước

Thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật Nhà nước

Phát huy quyền dân chủ của nhân dân

2.2 Đối tƣợng thanh tra:

Đối tượng thanh tra là thanh tra các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các đơn vị kinh tế và cá nhân có liên quan trong việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước

Ở nước ta, hệ thống quản lý được tổ chức theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ Vì thế quyền hạn, phạm vi quản lý theo ngành và địa phương của các cơ quan quản lý là khác nhau nên đối tượng thanh tra cũng khác nhau Tổ chức quản lý cấp dưới trực thuộc phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của tổ chức quản lý cấp trên và của Nhà nước, được cụ thể hóa như sau:

Trang 4

- Đối tượng thanh tra Nhà nước là các Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND tỉnh và thành phố trực thuộc TW; thanh tra vụ việc liên quan đến nhiều Bộ, nhiều tỉnh; thanh tra vụ việc do Chính phủ giao

- Đối tượng thanh tra Bộ là các đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của

Bộ

- Đối với thanh tra tỉnh và thành phố trực thuộc TW, thanh tra quận, huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh và việc thực hiện chức năng thanh tra Nhà nước ở xã, phường, thị trấn tiến hành thanh tra các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp đồng thời thanh tra các cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan cấp trên hoặc địa phương khác đóng tại địa phương mình theo thẩm quyền quản lý Nhà nước của chính quyền cùng cấp Các đơn vị, cá nhân này chịu sự kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và các qui định thuộc quyền quản lý lãnh thổ của chính quyền địa phương

2.3 Nguyên tắc hoạt động thanh tra:

Để thanh tra đúng mục đích, đúng đối tượng và đạt hiệu quả cao, hoạt động thanh tra phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

2.3.1 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật:

Thanh tra việc chấp hành pháp luật Nhà nước là nhằm xử lý các trường hợp vi phạm, ngăn chặn các hành vi trái pháp luật, có ý nghĩa giáo dục đối với cán bộ công chức Nhà nước trong việc thực thi pháp luật Vì vậy hoạt động thanh tra trước hết phải quán triệt nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng những chuẩn mực pháp lý khi xem xét, phân tích, đánh giá, kết luận các vụ việc một cách chính xác; đồng thời ngăn chặn tình trạng can thiệp trái pháp luật, làm vô hiệu hóa hoạt động thanh tra Các tổ chức thanh tra, đoàn thanh tra và các thanh tra viên phải thực hiện đúng chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của mình do pháp luật qui định Các cơ quan, đơn vị, cá nhân được thanh tra phải chấp hành đúng yêu cầu của cơ quan thanh tra theo pháp luật Việc thu thập chứng cứ, tài liệu, kết luận vụ việc, xử lý sai phạm phải căn cứ vào qui định của pháp luật

2.3.2 Nguyên tắc bảo đảm chính xác, khách quan:

Có chính xác trong công tác thanh tra mới cho phép đánh giá đúng thực trạng chấp hành pháp luật, chính sách, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước giao của đối tượng thanh tra Giúp cho việc xử lý vi phạm đúng người, đúng việc, đúng pháp luật Nguyên tắc khách quan đòi hỏi trong hoạt động thanh tra phải tôn trọng sự thật, không suy diễn tùy tiện chủ quan, không gán cho đối tượng thanh tra những chi tiết mà bản thân nó không có Tính khách quan trong công tác thanh tra đòi hỏi phải có thái độ vô tư, việc làm thận trọng và đối lập với tư tưởng chủ quan, áp đặt, nôn nóng dẫn đến những kết luận vội vàng

Tính chính xác và chủ quan trong thanh tra có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau Có khách quan, vô tư không thiên vị mới bảo đảm tính

Trang 5

chính xác trong đánh giá, kết luận vấn đề và ngược lại có chính xác mới thể hiện được việc làm khách quan trong công tác thanh tra

2.3.3 Nguyên tắc dân chủ, công khai và kịp thời:

Để thực hiện nguyên tắc dân chủ trong thanh tra cần đạt các yêu cầu sau: + Phải đặt lợi ích của nhân dân trên hết, kiên quyết bảo vệ lợi ích và quyền lợi của nhân dân

+ Phải lắng nghe và tôn trọng ý kiến của quần chúng nhân dân, phải tạo điều kiện cho nhân dân trực tiếp tham gia thanh tra

+ Cần phải nghiêm khắc đối với những hiện tượng trù dập, ức hiếp quần chúng, cửa quyền, thiếu trách nhiệm của cán bộ viên chức Nhà nước

Thông qua công khai làm cho công tác thanh tra bảo đảm được chính xác, khách quan hơn vì nó cho phép kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện kết quả thanh tra làm cho các kết luận thanh tra đúng đắn, trung thực với hiện tượng đã xãy ra

Nguyên tắc công khai phải đạt các yêu cầu sau:

+ Để quần chúng công khai bàn bạc, tham gia vào công tác thanh tra + Công bố công khai quyết định thanh tra, công khai trong tiếp xúc với đối tượng thanh tra, công khai kết quả thanh tra

Tuy nhiên, tùy theo tính chất, vụ việc thanh tra mà có hình thức, phạm vi công khai thích hợp và đúng qui định

Kịp thời cũng là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động thanh tra

Thanh tra chính là nhằm phục vụ kịp thời yêu cầu quản lý kinh tế-xã hội của Nhà nước, nhanh chóng khắc phục những bất cập, yếu kém trong quản lý Nhà nước Nếu thanh tra chậm trễ, không kịp thời sẽ dẫn đến kém hiệu quả, thậm chí mất lòng tin của nhân dân Để đảm bảo kịp thời trong hoạt động thanh tra, cần qui định cụ thể thời gian đối với từng vụ việc thanh tra tùy theo qui mô, tính chất phức tạp của vụ việc, tùy theo số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ thanh tra

3 TỔ CHỨC THANH TRA NHÀ NƯỚC VÀ NGHIỆP VỤ THANH TRA: 3.1 Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra Nhà nước:

3.1.1 Tổ chức thanh tra Nhà nước:

Hệ thống thanh tra Nhà nước bao gồm:

- Thanh tra Nhà nước

- Thanh tra Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ

- Thanh tra tỉnh, cơ quan trực thuộc trung ương

- Thanh tra sở

- Thanh tra quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh

Tổ chức thanh tra Nhà nước ở Xã, Phường, thị trấn do UBND cùng cấp trực tiếp đảm nhiệm

Thanh tra Nhà nước chịu sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; các tổ chức thanh tra Nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cùng cấp và sự chỉ đạo của thanh tra Nhà nước cấp trên

Trang 6

- Tổ chức thanh tra nhân dân được thành lập ở Phường, Xã, thị trấn, các tổ chức có sử dụng ngân sách Nhà nước để thực hiện việc giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật Nhà nước tại địa phương, cơ quan, đơn vị Trong phạm vi chức năng của mình, UBMTTQ, liên đoàn lao động các cấp có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo hoạt động thanh tra nhân dân

3.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của thanh tra Nhà nước

a/ Nhiệm vụ:

+ Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch Nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trừ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, kiểm sát của các cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án và giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế

+ Xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo

+ Trong phạm vi chức năng của mình, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động thanh tra đối với các cơ quan, tổ chức hữu quan

+ Tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về thanh tra

+ Kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền những vấn đề quản lý Nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các qui định phù hợp với yêu cầu quản lý Nhà nước

b/ Quyền hạn:

+ Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin cần thiết phục

vụ cho việc thanh; yêu cầu cơ quan, đơn vị hữu quan cử người tham gia hoạt động thanh tra

+ Trưng cầu giám định

+ Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp tài liệu, báo cáo bằng văn bản, trả lời những chất vấn của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên Khi cần thiết tiến hành kiểm kê tài sản

+ Quyết định niêm phong tài liệu, kê biên tài sản khi có căn cứ để nhận định có vi phạm pháp luật; ra quyết định yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp hoặc sử dụng trái pháp luật khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc vi phạm pháp luật hoặc để xác minh tình tiết làm chứng

cứ cho việc kết luận, xử lý

+ Đình chỉ việc làm xét thấy đang hoặc sẽ gây tác hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân

+ Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác người đang công tác với tổ chức thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra nếu xét thấy việc thi hành quyết định gây trở ngại cho việc thanh tra

+ Cảnh cáo, tạm đình chỉ công tác công chức Nhà nước cố ý cản trở việc thanh tra, hoặc không thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định của thanh tra

Trang 7

+ Chuyển hồ sơ về việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm

3.2 Nghiệp vụ thanh tra:

Nghiệp vụ là phương pháp, cách thức thực hiện công việc để đạt mục đích, yêu cầu đề ra đối với công việc

Thanh tra là một nghề nên tất yếu phải có chuyên môn của nghề và mỗi cán bộ trong hệ thống thanh tra dù ở cương vị nào cũng phải trau dồi chuyên môn nghiệp vụ về công việc được giao Mặt khác công việc thanh tra là công việc tổng hợp nên nghiệp vụ thanh tra cũng mang tính tổng hợp, quá trình thanh tra phải biết vận dụng nghiệp vụ của nhiều ngành khác có liên quan một cách thích hợp

Tổ chức thanh tra Nhà nước có hai loại công việc lớn đó là:

- Thực hiện quản lý Nhà nước về công tác thanh tra và công tác xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

- Thực hiện quyền thanh tra trực tiếp và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo thẩm quyền

Để thực hiện hai nhiệm vụ trên sẽ hình thành hai loại nghiệp vụ:

3.2.1 Nghiệp vụ quản lý Nhà nước về công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo, bao gồm các nội dung chính sau:

+ Chỉ đạo, hướng dẫn công tác, tổ chức nghiệp vụ thanh tra đối với tổ chức thanh tra và thủ trưởng các ngành, các cấp, các đơn vị thuộc phạm vi thẩm quyền

+ Xây dựng các đề án pháp luật về thanh tra và về công tác xét giải quyết khiếu nại, tố cáo

+ Hướng dẫn, kiểm tra các cấp, các ngành, các tổ chức thanh tra thực hiện pháp luật về thanh tra và xét giải quyết khiếu nại, tố cáo

+ Yêu cầu các thủ trưởng cơ quan Nhà nước, Chủ tịch UBND các cấp tiến hành thanh tra hoặc phúc tra những việc theo phạm vi, trách nhiệm của mình

+ Đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ kiến nghị, quyết định không đúng của thanh tra cấp dưới

+ Yêu cầu thủ trưởng các ngành, UBND các cấp đình chỉ việc thi hành hoặc sửa đổi, bãi bỏ quyết định không đúng về công tác thanh tra, xét giải quyết khiếu tố đã ban hành của mình

+ Kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền những vấn đề về quản

lý Nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các qui định phù hợp với yêu cầu quản lý Nhà nước

+ Tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra

+ Hợp tác quốc tế về thanh tra

+ Tuyên truyền, hướng dẫn việc thực thi pháp luật về thanh tra, xét giải quyết, khiếu tố

3.2.2 Nghiệp vụ trực tiếp thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Trang 8

Nghiệp vụ trực tiếp thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo được nêu ra bằng qui trình của một cuộc thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo; phương pháp thu thập chứng cứ của thanh tra viên trong quá trình thanh tra…

a/ Quy trình 3 bước của một cuộc thanh tra (được trình bày chi tiết ở mục 3.1) của phần B chương này

b/ Trình tự, thủ tục giải quyết một vụ khiếu nại, tố cáo:

+ Đầu tiên phải làm rõ nội dung người khiếu nại, tố cáo Đồng thời yêu cầu đương sự nêu ra được những chứng cứ về nội dung mà họ nêu ra Phân biệt

rõ nội dung có đủ chứng lý, chỉ có một phần chứng lý hoặc không có chứng lý

để sơ bộ nhận định và nêu hướng giải quyết

+ Xác định những tài liệu cần thu thập, những vấn đề cần phải làm rõ tại

tổ chức bị khiếu nại, tố cáo để yêu cầu tổ chức đó cung cấp tài liệu chứng lý

+ Phân tích những điểm cần điều tra xác minh, hướng thẩm tra xác minh,

để từ đó tiến hành điều tra xác minh làm rõ sự việc

+ Đối chiếu các văn bản, chính sách, pháp luật liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, phân tích đúng, sai.dự kiến kết luận

+ Kiểm tra lại toàn bộ chứng lý, tài liệu trong hồ sơ đã thu thập được, xem xét lại toàn bộ các nội dung cần xem xét đã đủ tài liệu rõ ràng, chắc chắn, đảm bảo giá trị pháp lý chưa?

+ Nếu thấy cần thiết có thể mời đương sự có liên quan Nếu sự việc phức tạp, có thể tổ chức họp với các cơ quan chức năng và cơ quan bảo vệ pháp luật

có liên quan, lấy ý kiến tham khảo phục vụ cho kết luận được chính xác, khách quan

+ Viết báo cáo xác minh, kết luận chính thức và nêu kiến nghị đối với thủ trưởng có thẩm quyền giải quyết

+ Công bố quyết định giải quyết, gởi quyết định giải quyết đến các cơ quan hữu quan theo qui định

+ Lưu trữ hồ sơ

+ Kiểm tra, theo dõi việc thi hành quyết định giải quyết

Chỉ khi nào quyết định giải quyết được thi hành đầy đủ mới coi như việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kết thúc; bổ sung tiếp báo cáo thi hành quyết định vào hồ sơ lưu

c/ Phương pháp điều tra thu thập chứng cứ trong quá trình thanh tra:

Tiến hành thanh tra là xem xét các đối tượng được thanh tra việc gì họ làm đúng để phát huy, việc gì làm sai để xử lý bằng hành chính hoặc hình sự Vì thế thanh tra viên phải tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ theo trình tự của cuộc thanh tra và độc lập, không bị giám sát của cơ quan khác

Cơ sở để thu thập chứng cứ là:

+ Các văn bản qui định về chính sách, pháp luật có liên quan đến vụ việc Các văn bản này là cơ sở pháp lý để đối chiếu giữa việc làm của đối tượng thanh tra với các qui định của pháp luật

Trang 9

+ Sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn, hợp đồng, báo cáo… là tài liệu thể hiện việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch Nhà nước của đối tượng thanh tra

+ Báo cáo của đối tượng thanh tra, xem xét báo cáo của đối tượng thanh tra giúp cho thanh tra viên hiểu được tình hình để đánh giá về việc làm của đối tượng thanh tra một cách khách quan

+ Các tài liệu, thông tin thu thập qua các tổ chức, cá nhân có liên quan Nguồn thông tin qua quần chúng cung cấp sẽ giúp cho TTV hiểu được việc làm

có thật mà đôi khi sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ của tổ chức không thể hiện, hoặc thể hiện không đúng so với thực tế của đối tượng thanh tra Tuy nhiên nguồn thông tin có khi lại xuyên tạc, vì vậy phải nghiên cứu kỹ thông tin do quần chúng cung cấp, TTV phải khách quan, biết chọn lọc

+ Qua thu thập thông tin phải kịp thời tổng hợp, phân tích phát hiện mâu thuẫn để nhanh chóng xác minh làm rõ sự việc

+ Kết quả giám định: trong quá trình thanh tra có nhiều vấn đề chuyên môn, nhưng tổ chức thanh tra không đủ điều kiện để chứng minh, làm rõ thì phải yêu cầu tổ chức giám định hoặc giám định viên thực hiện giám định Kết luận giám định là nguồn căn cứ giúp cho kết luận thanh tra

+ Tài liệu, biên bản thu thập qua điều tra, xác minh sự việc của thanh tra viên đối chiếu với sổ sách, hóa đơn, chứng từ của đối tượng thanh tra mới chứng minh được đầy đủ sự thật Các biện pháp điều tra đối chiếu được thể hiện bằng

hồ sơ, tài liệu, lời khai, biên bản làm việc… qua thu thập của TTV là những bằng chứng cho việc đánh giá chứng cứ và kết luận thanh tra

Hoạt động của TTV trong quá trình thanh tra là biểu hiện khả năng, trình

độ về nghiệp vụ thanh tra Nghiệp vụ đó được thể hiện bằng sự vận dụng nhiều nghiệp vụ khác nhau của các ngành chuyên môn như tài chính, kế toán, điều tra… một cách sáng tạo, thích hợp vào quá trình thanh tra mới thu thập được chứng cứ nhanh chóng, chính xác

Trong quá trình thanh tra, việc thu thập chứng cứ là một việc làm khó, nhưng đánh giá đúng chứng cứ lại càng khó hơn Đánh giá chứng cứ phải khách quan và toàn diện, phải hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ và hoàn cảnh diễn ra trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch Nhà nước của đối tượng thanh tra từ đó đối chiếu giữa chứng từ với chế độ, thể lệ qui định; phân tích tính hợp lý, hợp pháp, hợp tình để rút ra kết luận đúng, sai, làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm của đối tượng thanh tra để cho việc giải quyết sau thanh tra

có tính khả thi cao Đánh giá chứng cứ không phải thiên về buộc tội, hoặc ngược lại thiên về gở tội mà phải thận trọng, khách quan mới tránh được sự giản đơn, phiến diện, máy móc, áp đặt ý kiến chủ quan khi đánh giá chứng cứ

Thanh tra Nhà nước được tổ chức thành một hệ thống trong đó thanh tra tài chính là một lĩnh vực hoạt động rất quan trọng và là một hoạt động thanh tra mang tính chất chuyên ngành

Trang 10

B NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA TÀI CHÍNH

1 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA THANH TRA TÀI CHÍNH

1.1 Khái niệm, chức năng của thanh tra tài chính:

1.1.1 Khái niệm:

Thanh tra tài chính là một chức năng quan trọng của bộ máy quản lý tài

chính Nhà nước Thanh tra tài chính là hoạt động kiểm tra tài chính của đoàn thanh tra tới đối tượng thanh tra tài chính nhằm đảm bảo cho các chính sách, chế độ tài chính kế toán của Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất

1.1.2 Chức năng của thanh tra tài chính: Có hai chức năng

+ Thanh tra việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ tài chính-kế toán, kế hoạch ngân sách Nhà nước của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế-xã hội và công dân

Thông qua thực hiện chức năng thanh tra chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ tài chính-kế toán, kế hoạch ngân sách Nhà nước Thanh tra tài chính không chỉ là chống tiêu cực, chống buông lỏng quản lý kinh tế mà nó còn giúp cho việc tìm ra những kẽ hở trong cơ chế quản lý kinh tế-tài chính của Chính phủ đối với các ngành, các địa phương và các tổ chức

+ Xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về tài chính

Khiếu nại về tài chính là công dân yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khôi phục quyền hoặc lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm do những quyết định hoặc việc làm sai pháp luật của cơ quan tài chính hoặc nhân viên tài chính gây ra

Tố cáo về tài chính là việc mà công dân phát hiện và báo cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế-xã hội và của cá nhân thuộc các tổ chức trên và của mọi công dân gây thiệt hại về tài chính của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân

1.2 Tổ chức thanh tra của ngành tài chính và nhiệm vụ chủ yếu của thanh tra tài chính:

Tổ chức thanh tra của ngành tài chính: Bao gồm Bộ tài chính, thanh tra

tài chính của các ngành trực thuộc Bộ như thanh tra thuế, thanh tra kho bạc, thanh tra bảo hiểm…, thanh tra sở tài chính-vật giá

a/ Thanh tra Bộ tài chính:

Thanh tra Bộ tài chính thanh tra tất cả các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các đơn vị kinh tế từ TW đến địa phương và các cá nhân có liên quan đến hoạt động thu, chi tài chính của Nhà nước Nhiệm vụ chủ yếu của thanh tra

Bộ tài chính:

+ Thanh tra việc chấp hành luật NSNN và các qui định về thu, chi NSNN

Trang 11

+ Thanh tra việc chấp hành các qui định của Nhà nước về tài chính doanh nghiệp

+ Thanh tra việc chấp hành các qui định của Nhà nước về chế độ kế toán + Thanh tra việc việc chấp hành các qui định của Nhà nước về công tác quản lý tài chính, về việc thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát và chấp hành các chế độ, chính sách, kỷ luật tài chính của các đơn vị trực thuộc Bộ tài chính

+ Tiếp nhận và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo có liên quan đến tài chính theo qui định của pháp luật

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo qui định của Nhà nước

b/ Thanh tra tổng cục thuế:

+ Thanh tra việc chấp hành luật thuế, các chế độ thu khác đối với mọi đối tượng thu nộp thuộc mọi thành phần kinh tế

+ Thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thu thuế của các cơ quan thuế và viên chức thuế

+ Xét, giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế

c/ Thanh tra kho bạc Nhà nước:

+ Thanh tra chấp hành chế độ quản lý kho bạc Nhà nước trong hệ thống

kho bạc Nhà nước

+ Xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hệ thống kho bạc Nhà nước

d/ Thanh tra tài chính tỉnh (Thanh tra sở tài chính-vật giá):

Giúp Giám đốc Sở tài chính-vật giá thực hiện quyền thanh tra tài chính trong phạm vi quản lý Nhà nước của Sở trên địa bàn

2 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC LOẠI HÌNH THANH TRA TÀI CHÍNH

2.1 Đặc điểm của thanh tra tài chính:

Tài chính phản ánh tổng hợp các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy hay tiêu dùng của các chủ thể kinh tế-xã hội Hoạt động tài chính gắn liền với các hoạt động kinh tế-xã hội nên nó rất phong phú và đa dạng, hoạt động tài chính có liên quan đến mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức và

cá nhân, vì vậy hoạt động thanh tra tài chính là loại hoạt động tổng hợp và đa dạng

Tính đa dạng của thanh tra tài chính như thanh tra quản lý và điều hành ngân sách, thanh tra quản lý và sử dụng vốn ĐTXDCB, thanh tra thuế…

Tính tổng hợp của thanh tra tài chính biểu hiện ở nội dung thanh tra có liên quan đến nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực lại có nhiều vấn đề có ảnh hưởng nhau Kết quả của thanh tra tài chính là những kết luận, xử lý không chỉ có giá trị đối với đối tượng được thanh tra mà còn có tác dụng chung trong hệ thống quản lý tài chính

Đặc điểm của thanh tra tài chính:

Trang 12

+ Thanh tra tài chính là hoạt động thường phải đấu tranh với những sai trái, tiêu cực trong việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ tài chính-kế toán của các tổ chức và cá nhân

+ Tổ chức và cá nhân được thanh tra tài chính vừa là đối tượng vừa là chủ thể quản lý

Là đối tượng thanh tra: tổ chức, cá nhân được thanh tra tài chính có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của đoàn thanh tra, có trách nhiệm pháp lý đối với những tài liệu, số liệu đã cung cấp cho đoàn thanh tra

Là chủ thể quản lý: họ có trách nhiệm về các hoạt động của mình Họ được quyền biết mục đích, yêu cầu, nội dung, kế hoach thanh tra, được tham gia thảo luận những nhận xét, kết luận cũng như những giải pháp xử lý của đoàn thanh tra, đồng thời có trách nhiệm tổ chức thực hiện những kiến nghị, giải pháp

xử lý đối với những thiếu sót, sai phạm

Với đặc điểm trên cho thấy mỗi vụ việc, nội dung thanh tra tài chính có liên quan đến nhiều yếu tố nên khi tiến hành thanh tra tài chính phải nghiên cứu, phân tích toàn diện, tìm ra những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến vụ việc, nội dung thanh tra và trên cơ sở đó rút ra những kết luận đúng đắn Trong quá trình thanh tra cần phải kết hợp, cộng tác với cơ quan quản lý cấp trên của tổ chức được thanh tra nhằm giải quyết những vướng mắc nảy sinh trong quá trình thanh tra Hoạt động thanh tra phải tuân thủ nguyên tắc thận trọng, bình đẳng và dân chu

2.2 Nội dung của hoạt động thanh tra tài chính:

+ Thanh tra việc thực hiện kế hoạch tài chính của Nhà nước nhằm đôn đốc việc xử lý những vướng mắc, sai trái, tìm ra những biện pháp để giúp tổ chức được thanh tra hoàn thành các nhiệm vụ kế hoạch nhà nước giao, như thanh tra thu ngân sách, chi NS xem tổ chức có giấu nguồn thu NS, lập quỹ ngoài NS hoặc chậm nộp NS, điều tiết thiếu cho NS cấp dưới không, có cho vay sai chế độ không, có tự đặt ra chế độ thu, chi riêng của địa phương, của ngành không…

+ Thanh tra việc chấp hành chế độ quản lý tài chính nhằm giúp tổ chức được thanh tra sửa chữa thiếu sót, xử lý các trường hợp vi phạm, tăng cường các biện pháp quản lý như: thanh tra quản lý vốn XDCB, chốg thất thoát TSNN, không chấp hành trình tự thủ tục đầu tư XDCB, thông đồng nâng định mức, đơn giá, quyết toán khống khối lượng và chi phí để rút tiền tham ô… thanh tra quản

lý nguồn vốn viện trợ…

+ Thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật tài chính nhằm giữ nghiêm kỷ cương, góp phần bảo vệ TSNN, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân như thanh tra việc thực hiện các Luật thuế để xem xét có trốn lậu thuế, chiếm dụng thuế, tham ô…

+ Giải quyết những khiếu nại, tố cáo về tài chính: chủ yếu là khiếu nại về mức thuế, thu thuế không công bằng, xử lý vi phạm không đúng luật thuế như

Trang 13

thu giữ hàng hóa… đơn tố cáo thường là cán bộ có chức, có quyền tham ô, hoặc

vi phạm chế độ hóa đơn…

Mỗi cuộc thanh tra chỉ tập trung giải quyết một nội dung nhưng trong thực tế thường xãy ra trường hợp từ thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ kế hoach lại phát hiện những sai phạm trong quản lý tài chính hay vi pham chính sách, pháp luật kế toán Trong trường hợp này, đoàn thanh tra chỉ được quyền thực hiện nhiệm vụ ghi trong quyết định thanh tra, những phát hiện không nằm trong quyết định và kế hoạch thanh tra được quyền ghi lại báo cáo với cấp quản lý thanh tra, đồng thời lập biên bản kiến nghị với đối tượng thanh tra tạm đình chỉ ngay những vi phạm đó

2.3 Các loại hình thanh tra tài chính :

a/ Thanh tra theo kế hoạch:

Là loại hình thanh tra được tiến hành theo kế hoạch đã định, hàng năm các tổ chức thanh tra tài chính phải xây dựng kế hoạch thanh tra trình lãnh đạo phê duyệt

b/ Thanh tra đột xuất:

Là loại hình thanh tra không theo kế hoạch đã định mà đựoc tiến hành đột xuất theo yêu cầu của Chính phủ hoặc Bộ giao cho, các cuộc thanh tra theo kế hoạch hoặc đột xuất có thể là thanh tra theo diện rộng cả về qui mô, lực lượng

và thời gian hoặc diện hẹp Tuy nhiên, các cuộc thanh tra tài chính đều phải tuân theo qui trình dưới đây

3 QUI TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP THANH TRA TÀI CHÍNH

3.1 Qui trình tiến hành một cuộc thanh tra tài chính:

Được tiến hành theo 3 bước: chuẩn bị thanh tra, trực tiếp thanh tra và kết thúc thanh tra Mỗi bước có yêu cầu khác nhau nhưng có liên quan với nhau, bước trước là tiền đề của bước sau, bước sau là kết quả của bước trước

3.1.1 Chuẩn bị thanh tra:

Chuẩn bị thanh tra là khảo sát nắm tình hình về đối tượng thanh tra, xác định mục tiêu và khối lượng công việc, thời gian bắt đầu và thời gian phải hoàn thành cuộc thanh tra, chuẩn bị các thủ tục hành chính cho cuộc thanh tra

Kết quả bước này là bản kế hoạch thanh tra được duyệt và quyết định thanh tra tài chính được ban hành, có đủ nhân lực và trang bị kiến thức, phương tiện cần thiết cho cuộc thanh tra

Yêu cầu của bước này là phải chuẩn bị chu đáo mọi mặt nhằm đảm bảo cho đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên hiểu biết thấu đáo yêu cầu nhiệm vụ, nắm được nội dung cần xác minh

Nội dung chủ yếu của bước chuẩn bị thanh tra:

a/ Nghiên cứu nắm vững mục đích, yêu cầu và nội dung cuôc thanh tra tài chính:

Mỗi thành viên trong đoàn thanh tra đều phải biết rõ mục đích của cuộc thanh tra, yêu cầu cụ thể cần đạt và những nội dung chủ yếu cần tập trung kiểm tra

Trang 14

Tùy theo nguồn gốc của cuộc thanh tra tài chính để định mục đích của cuộc thanh tra cho sát đúng Những điểm chung mà cuộc thanh tra tài chính nào cũng phải tôn trọng là:

- Phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo kế hoạch thanh tra năm (nếu là thanh tra định kỳ theo kế hoạch), ý kiến chỉ đạo của cấp trên (nếu là thanh tra đột xuất), nội dung đơn thư của người khiếu tố (nếu là thanh tra khiếu tố) để xác định mục đích, yêu cầu, nội dung cuộc thanh tra

Kế hoạch thanh tra năm thường tập trung vào một số ngành (thanh tra chọn điểm) để nắm thực trạng của tình hình quản lý ngành hoặc tập trung vào một vài nội dung quản lý ở tuyệt đại bộ phận các ngành, các đơn

vị (thanh tra chuyên đề diện rộng) Kế hoạch thanh tra năm được xây dựng

và xét duyệt theo một quy trình chặt chẽ, trong đó mục đích, yêu cầu, nội dung thanh tra, đối tượng, lực lượng, trình tự tiến hành đã được nghiên cứu

kỹ Hàng năm, thanh tra Bộ Tài chính ra các văn bản hướng dẫn thanh tra tài chính tỉnh, thành phố lập kế hoạch và báo cáo kế hoạch thanh tra Địa phương căn cứ vào hướng dẫn của thanh tra Bộ Tài chính, xây dựng kế hoạch và báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Trong quá trình lập kế hoạch hướng dẫn kế hoạch cần làm rõ mục đích, yêu cầu, nội dung thanh tra và xác định nội dung quan trọng nhất Ngoài ra, các thành viên tham gia thanh tra chuyên đề (diện hẹp, diện rộng) phải nắm vững hướng dẫn công tác của thanh tra Bộ Tài chính cho đợt thanh tra này

Căn cứ vào yêu cầu tăng cường quản lý và vào các nguồn thông tin (báo, đài, thư khiếu tố, hội nghị, diễn đàn…) cấp trên có thể giao cho thanh tra tài chính thanh tra đột xuất (ngoài kế hoạch) đối với một, một số đơn vị Thanh tra tài chính phải nghiên cứu kỹ tài liệu nhận được và ý kiến chỉ đạo của cấp trên, phân loại tổng hợp nội dung tài liệu, nội dung ý kiến chỉ đạo

để xác định mục đích, yêu cầu, nội dung của cuộc thanh tra

Đơn thư khiếu tố gửi đến ngành tài chính đề cập đến nhiều vấn đề phức tạp Có đơn rành mạch, dễ hiểu, có đơn không rõ ràng và khó hiểu, có đơn khiếu tố sai toàn bộ hay từng phần… do vậy thanh tra viên phải nghiên cứu kỹ nội dung đơn thư khiếu tố, từ đó xác định đúng mục đích, yêu cầu, nội dung thanh tra

- Trong việc nghiên cứu xác định mục đích, yêu cầu, nội dung thanh tra của cuộc thanh tra tài chính, tư tưởng tài chính phải được quán triệt một cách đầy đủ

Thanh tra tài chính là thanh tra chấp hành chính sách chế độ, kỷ luật

về quản lý kinh tế tài chính tại đơn vị được thanh tra, góp phần bảo vệ lợi ích Nhà nước, tập thể và cá nhân người lao động, phát huy việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực về tài nguyên, vật tư, tài sản, tiền vốn, sức lao

Trang 15

động, giúp Nhà nước lãnh đạo và có chính sách đúng đối với mọi hoạt động Kinh tế-Xã hội; giúp các đơn vị tăng thu, tiết kiệm chi, đóng góp đầy

đủ và kịp thời mọi khoản nghĩa vụ cho Nhà nước Thanh tra tài chính luôn luôn vận dụng phương châm thu đúng, thu đủ và thu kịp thời, cấp phát đúng chế độ, đúng nhu cầu thực tế, theo nhịp độ thu Thanh tra tài chính giúp cho Nhà nước kịp thời hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản pháp quy cần thiết, tháo gỡ những vướng mắc trong đời sống kinh

tế xã hội, đồng thời giúp tổ chức được thanh tra khắc phục sai sót, tháo gỡ khó khăn để quản lý tài sản tốt hơn

Giữa mục đích, yêu cầu và xác định nội dung cuộc thanh tra tài chính

có quan hệ chặt chẽ với nhau: mục đích, yêu cầu là cơ sở cho việc xác định nội dung của cuộc thanh tra, xác định nôi dung đúng là cơ sở để đạt được mục đích thanh tra

Như vậy, mục đích, yêu cầu, nội dung của cuộc thanh tra tài chính phải đáp ứng được mục đích, yêu cầu của kế hoạch thanh tra, phục vụ những đòi hỏi của cấp trên và phải trả lời rõ mức độ đúng, sai của đơn thư khiếu tố

b/ Định hướng thu thập thông tin, tài liệu cần thiết cho cuộc thanh tra:

Tổ chức nghiên cứu, nắm thông tin cần thiết đối với cuộc thanh tra là

rất quan trọng Thông tin về đối tượng thanh tra rất đa dạng nên phải thường xuyên thu thập, tích lũy Trong bước chuẩn bị cần nắm một số vấn

đề sau đây:

+ Đặc điểm tình hình đơn vị được thanh tra ( đặc điểm kinh tế ngành, đặc điểm về tổ chức bộ máy, tổ chức hạch toán, thị trường cung cấp sản phẩm và cầu về nguyên liệu, địa bàn hoạt động chính, tình hình thực hiện

kế hoạch sản xuất kinh doanh, mối quan hệ với khách hàng,…)

+ Những tài liệu có liên quan đến công việc cần thanh tra và đơn vị được thanh tra: các báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết công tác, các tài liệu

có liên quan khác thuộc niên độ cần thanh tra, những bài báo, bài viết có liên quan…

+ Những văn bản quản lý kinh tế tài chính có liên quan đến sự việc cần thanh tra và tổ chức được thanh tra cũng như nắm tình hình của tổ chức đó qua các cơ quan quản lý chức năng ( chủ quản, thuế, kho bạc, ngân hàng…)

Đối với thanh tra tài chính xét, giải quyết đơn thư khiếu tố thì có thể gặp người khiếu tố nhưng phải tại công sở và phải có ít nhất hai cán bộ thanh tra trở lên nghe người khiếu tố trình bày và cung cấp bổ sung những chứng cứ về khiếu nại, tố cáo Việc thu thập thông tin cần thiết có thể thực hiện bằng nhiều hình thức như yêu cầu cơ quan nghiên cứu tổng hợp báo

Trang 16

cáo và cung cấp tài liệu, các chuyên gia về lĩnh vực liên quan đến cung cấp kiến thức cần thiết, tổng hợp các tài liệu báo cáo và các văn bản pháp lý của Nhà nước liên quan đến sự việc được thanh tra Thông tin là yếu tố khong thể thiếu được đối với thanh tra, bởi lẽ quá trình thanh tra là quá trình thu thập, tích lũy và xử lý thông tin về đối tượng thanh tra

c/ Xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra:

Kế hoạch thanh tra là điều kiện pháp lý để thực hiện quá trình thanh tra, là công cụ để người ký quyết định quản lý hoạt động của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên

Căn cứ xây dựng kế hoạch thanh tra là quyết định thanh tra tài chính, tình hình đơn vị được thanh tra và khả năng thực tế của đội ngũ cán bộ thanh tra

Khi xây dựng kế hoạch thanh tra cần chú ý:

c.1 Về hình thức: Phải bảo đảm đúng thể thức của văn bản hành chính do

Nhà nước qui định

c.2 Về nội dung: Bao gồm các điểm chính:

+ Nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung cần thanh tra

+ Phân công trách nhiệm thực hiện nội dung thanh tra, chú ý dành lực lượng cho nội dung chủ yếu, dự định những nơi, bộ phận cần tiếp xúc, những yêu cầu đối với đơn vị được thanh tra cần phải chuẩn bị

+ Những điểm cần chú ý khi tiến hành thanh tra như dựa vào cấp ủy, lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể quần chúng ở đơn vị tiến hành thanh tra, tổ chức lịch làm việc giữa đoàn thanh tra với đơn vị được thanh tra, xác minh tài liệu, số liệu

+ Phân bổ thời gian để thực hiện các nội dung cần thanh tra, căn cứ vào mức độ phức tạp của từng nội dung thanh tra để bố trí thời gian cho phù hợp Dành thời gian thích đáng cho nội dung chủ yếu

d/ Tổ chức lực lƣợng và trang bị những kiến thức cần thiết tiến hành thanh tra:

Tổ chức lực lựong thanh tra là điều kiện quyết định đến chất lượng thanh tra Căn cứ để tổ chức lực lượng thanh tra:

+ Mức độ phức tạp và qui mô, phạm vi điều chỉnh của sự việc cần thanh tra

+ Vị trí, đặc điểm của đơn vị được thanh tra

+ Năng lực, trình độ của thanh tra viên

Trình độ của cán bộ thanh tra tài chính quyết định chất lượng thanh tra, do vậy trong bước chuẩn bị, cán bộ thanh tra cần được trang bị những kiến thức cần thiết về những vấn đề chung của kinh tế thị trường và kinh tế ngành, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật áp dụng cho đối tượng được thanh tra,

Trang 17

chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hình thành vốn, chế độ thu nộp ngân sách, phân phối lợi nhuận, các văn bản quản lý có liên quan…

e/ Chuẩn bị các thủ tục pháp lý cần thiết cho đoàn thanh tra:

Soạn thảo quyết định thanh tra tài chính và các văn bản pháp luật khác đảm bảo cho cuộc thanh tra tài chính đúng luật, không vượt quá thẩm quyền

Quyết định thanh tra tài chính dựa vào các căn cứ sau:

- Chương trình, kế hoạch thanh tra đã được thủ trưởng thông qua

- Yêu cầu của thủ trưởng cấp trên hoặc thanh tra tài chính cấp trên giao

- Yêu cầu giải quyết khiếu nại tố cáo theo thẩm quyền

- Tổ chức thanh tra tài chính phát hiện vấn đề cần thanh tra

- Lực lượng của tổ chức thanh tra có khả năng thực hiện

Yêu cầu đối với quyết định thanh tra là:

- Đảm bảo đúng thể thức của văn bản hành chính do Nhà nước quy định

tờ tùy thân của đoàn, phương tiện đi lại, chỗ ăn, ở của đoàn

h/ Thông báo quyết định thanh tra và kế hoạch thanh tra tài chính đến

đơn vị được thanh tra, định thời gian đến trực tiếp thanh tra, yêu cầu những vấn đề cần thiết mà đơn vị phải chuẩn bị Chuẩn bị càng chu đáo, kỹ lưỡng thì khi trực tiếp thanh tra sẽ thuận lợi và kết thúc nhanh

3.1.2 Tiến hành thanh tra:

Là bước đoàn thanh tra tài chính tiếp xúc với đơn vị được thanh tra, thực hiện kế hoạch thanh tra đã soạn thảo

Yêu cầu của việc tiến hành thanh tra là phải nắm vững các nguyên tắc thanh tra để tiến hành xác minh số liệu một cách chính xác, khách quan làm căn cứ cho các kết luận và giải pháp xử lý Những công việc cần tiến hành là:

Trang 18

- Tiếp xúc ngay với lãnh đạo đơn vị được thanh tra để thông báo quyết định thanh tra tài chính và kế hoạch tiến hành, giải thích mục đích, yêu cầu, nội dung thanh tra, làm rõ trách nhiệm của họ trong việc thực hiện quyết định thanh tra trên cơ sở đó thống nhất kế hoạch thực hiện, cung cấp tài liệu theo yêu cầu, bố trí thời gian để kiểm tra các nội dung đã đề ra

- Tiến hành thanh tra các nội dung theo kế hoạch: Yêu cầu người có trách nhiệm báo cáo, trình bày bằng văn bản và chịu trách nhiệm pháp lý của văn bản đó Nếu trình bày bằng lời phải ghi lại nội dung và có chữ ký của họ, nếu cần thiết thì phải ghi âm Kiểm tra sổ sách, chứng từ kế toán để phát hiện mâu thuẫn, nghi vấn có sai trái để yêu cầu người có trách nhiệm làm rõ Đến tận nơi xảy ra sự việc và những nơi có liên quan để xác minh Kiểm kê kho, quỹ tiền mặt Tiếp xúc với quần chúng để làm rõ thêm những nghi vấn

Bước tiến hành thanh tra kết thúc khi kiểm tra xác minh xong những nội dung đề ra, đảm bảo có đủ chứng cứ chính xác, khách quan cho việc phân tích nhận xét, kết luân rõ việc được thanh tra

3.1.3 Kết thúc thanh tra:

Yêu cầu của bước này là đoàn thanh tra dựa vào quy định của cơ quan quản lý, dựa vào chứng cứ và phân tích các nhân tố ảnh hưởng để có kết luận chính xác và kiến nghị xử lý đúng đắn, cụ thể là:

- Làm cho đơn vị được thanh tra tài chính nhận rõ ưu điểm để phát huy, khuyết điểm cần khắc phục trong quản lý tài chính được tốt hơn

- Làm cho cơ quan cấp trên của đơn vị được thanh tra thấy rõ trách nhiệm và có biện pháp chỉ đạo sát hơn

- Đề xuất được những vấn đề cần bổ sung, thay đổi về chính sách, chế độ tài chính hoặc biện pháp lãnh đạo của cơ quan cấp trên được thiết thực

- Rút ra được những kinh nghiệm về phương pháp và nghiệp vụ thanh tra tài chính

Những công việc chính cần làm của bước này:

a/ Viết báo cáo kết luận của cuộc thanh tra tài chính:

Chậm nhất sau 7 ngày khi thanh tra xong, kết thúc cuộc thanh tra tài chính, trưởng đoàn thanh tra căn cứ vào kết quả thanh tra đã có, những ý kiến giải trình của đơn vị, đối chiếu với các quy định của nhà nước đơn phương kết luận từng vấn đề, từng vụ việc và chịu trách nhiệm pháp lý trước các kết luận của mình

Báo cáo kết luận này thường có 4 phần:

Trang 19

Phần mở đầu: Nêu tóm tắt nội dung chủ yếu của quyết định thanh tra tài

chính và quá trình thực hiện của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên

Phần thứ nhất: Trình bày khái quát đặc điểm, tình hình đơn vị được

thanh tra như tên đơn vị, tên thủ trưởng và kế toán trưởng đơn vị, cơ quan chủ quản, chức năng, nhiệm vụ, một số nét về tình hình sản xuất kinh doanh, hoạt động của đơn vị, những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong 1- 2 năm gần nhất…

Phần thứ hai: Kết quả thanh tra

Mỗi nội dung thanh tra được đặt thành một mục lớn, giới thiệu cách làm, các mối liên hệ về số liệu tình hình Phần này phản ánh kết quả thanh tra theo nội dung mà Quyết định thanh tra đặt ra Cần chú ý giới thiệu vắn tắt tình hình

sự việc, những ý kiến kết luận và căn cứ của đoàn thanh tra về từng vấn đề, phân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến từng sai phạm và quy kết trách nhiệm cho cá nhân hoặc tập thể đối với từng sai phạm đó

Phần thứ ba: Những kiến nghị xử lý

Nêu các kiến nghị của thanh tra tài chính đối với đơn vị được thanh tra và các kiến nghị với cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý chức năng Những kiến nghị phải cụ thể, thiết thực được áp dụng vào thực tiễn hoặc được nghiên cứu áp dụng

+ Kiến nghị những vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách, chế độ, cải tiến sự chỉ đạo điều hành của cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên (liên quan đến cấp quản lý nào thì kiến nghị đối với cấp đó)

Đây mới chỉ là Bản dự thảo kết luận thanh tra bản dự thảo này thông thường được gởi trước cho thủ trưởng và kế toán trưởng đơn vị được thanh tra

để tham gia ý kiến Căn cứ vào ý kiến giải trình và những chứng lý kèm theo của đơn vị, đoàn thanh tra có thể điều chỉnh lại bản dự thảo trước khi tổ chức công

bố chính thức

Ngoài báo cáo kết luận của thanh tra tài chính cần có hồ sơ chứng lý kèm theo Hồ sơ chứng lý được coi là chứng từ gốc, các tài liệu gốc để lập báo cáo kết luận của thanh tra tài chính

Hồ sơ chứng lý bao gồm:

+ Các biên bản ghi nhận kết quả làm kiểm tra kho quỹ, các biên bản ghi nhận kết quả làm việc giữa thanh tra viên với thủ kho, thủ quỹ, những người có trách nhiệm về điều hành sản xuất kinh doanh, công tác

+ Những đoạn băng, bức ảnh ghi lại nội dung trao đổi những việc làm sai trái của đơn vị như phân tán quỹ kho, cất giấu chứng từ, sổ sách, thủ tiêu hiện trường…

Trang 20

+ Trích đoạn các công văn, nghị quyết, hợp đồng, biên bản thanh lý hợp đồng, đối chiếu công nợ có nội dung nào mờ ám, có giá trị với kết luận của thanh tra

+ Biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu xác minh lại người hoặc đơn vị có quan hệ với đối tượng thanh tra Các bản sao điện tín, điện báo, fax, các bản sao chụp sổ tài khoản chi tiết của ngân hàng, kho bạc về tình hình giao dịch và số liệu phát sinh trên tài khoản của đơn vị

+ Báo cáo số liệu, tình hình do đơn vị lập theo yêu cầu của đoàn thanh tra Các bản kê, bảng tổng hợp số liệu do đơn vị lập hoặc do đơn vị và đoàn thanh tra cùng lập, các bản chụp chứng từ, tài liệu

+ Các bản tính toán sai về định mức tiêu hao vật tư, lao động, các bản tính toán đo đạc khối lượng đào đắp, khối lượng xây dựng thực tế so với dự toán, thiết kế và so với khối lượng đã cấp phát thanh toán

+ Các biên bản xác định kết quả giám định cần thiết phải trưng cầu giám định

Trên đây là những dạng phụ lục chủ yếu, thực tế có thể phát sinh những phụ lục khác Tùy từng trường hợp mà đoàn thanh tra quyết định chọn và lập loại phụ lục nào với điều kiện nó có ý nghĩa thiết thực cho kết luận của thanh tra tài chính

Khi lập bản kết luận của thanh tra tài chính cần thực hiện các nguyên tắc sau:

Phải đảm bảo tính khách quan

Những kết luận nêu ra phải khách quan, không gò ép theo kiểu suy luận, buộc tội Làm việc gì, có thể kết luận đến đâu chỉ kết luận việc ấy, mức ấy Ngược lại không xuê xoa, nương nhẹ cho bất cứ vụ việc nào

Phải bảo đảm tính thống nhất

Thống nhất giữa thực tế và hồ sơ chứng lý, giữa hồ sơ chứng lý và bản kết luận của thanh tra tài chính Nếu kết luận chưa đủ chứng lý thì phải bổ sung chứng lý cho đầy đủ, nếu chưa bổ sung đủ thì không kết luận vấn đề đó nữa, hoặc chỉ kết luận ở mức tài liệu hiện có Thanh tra nội dung gì, sai đến đâu thì kiến nghị sửa chữa việc đó, đến mức độ đó, tránh kiến nghị không hề gắn với nội dung biên bản hoặc kiến nghị chung chung

Phải bảo đảm tính chính xác, rõ ràng

Phải thật rõ nghĩa ở mỗi câu, số liệu phải chính xác và cụ thể

b/ Tổ chức công bố kết luận của thanh tra tài chính:

Công bố với lãnh đạo đơn vị, đại diện các phòng ban chức năng, đại diện đoàn thể quần chúng và người có trách nhiệm trực tiếp hoặc gián tiếp với những sai phạm đã kết luận Nếu thấy cần thiết có thể công bố rộng rãi trước tập thể Cuộc họp công bố kết luận thanh tra phải được lập biên bản Trong biên bản này phải ghi rõ nội dung đơn vị đã và chưa thống nhất với ý kiến kết luận của đoàn thanh tra, ghi rõ những lý do và chứng cứ kèm theo với những ý kiến chưa thống nhất của đơn vị

Trang 21

c/ Báo cáo kết quả thanh tra với lãnh đạo cơ quan thanh tra:

Biên bản cuộc họp công bố kết luận thanh tra cùng với bản kết luận thanh tra và những chứng lý cần thiết kèm theo cùng với báo cáo được gửi đến người

ra quyết định thanh tra để cho ý kiến trước khi bản kết luận được ký tên, đóng dấu và lưu hành

Việc kiến nghị xử lý là trách nhiệm của đoàn thanh tra Những khâu xử lý cuối cùng thuộc thẩm quyền của người ký quyết định thanh tra

d/ Giải quyết một số công việc cuối cùng của cuộc thanh tra:

+ Tổ chức rút kinh nghiệm tiến hành thanh tra, tìm ra được những kinh nghiệm được và chưa được để nâng cao trình độ, phương pháp, nghiệp vụ thanh tra tài chính

+ Chuyển giao trách nhiệm theo dõi đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị của cuộc thanh tra

+ Chuyến hồ sơ cuộc thanh tra vào lưu trữ theo qui định của Nhà nước

Hồ sơ đưa vào lưu trữ cần ghi rõ số thứ tự, mục lục khi bàn giao phải có ký nhận Đến đây hoạt động của đoàn thanh tra mới được coi là kết thúc

3.2 Phương pháp thanh tra tài chính:

Thanh tra tài chính là việc thẩm tra, giải quyết khiếu tố những hành vi có khả năng vi phạm pháp luật tài chính ở những đối tượng cụ thể theo yêu cầu của

cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền qui định của Nhà nước Thanh tra tài chính xem xét lại tính đúng đắng, hợp pháp, hợp lý của các hoạt động tài chính Để làm được việc đó, thanh tra tài chính phải vận dụng nhiều phương pháp như phương pháp thu thập chứng cứ, phương pháp phân tích hoạt động kinh tế… nhưng phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp đối chiếu so sánh

Đối chiếu, so sánh là phương pháp được sử dụng thường xuyên trong mọi cuộc thanh tra tài chính dù đi từ chi tiết đến tổng hợp Chỉ có đối chiếu, so sánh trong mối tương quan nhất định mới phát hiện được các mâu thuẫn, các sai sót, sai phạm trong quản lý tài chính của đối tượng thanh tra và làm căn cứ để kết luận, đưa ra các giải pháp xử lý của thanh tra tài chính Trong thanh tra tài chính có thể so sánh hai hay nhiều sự vật, tài liệu với các chuẩn mực nhất định Các chuẩn mực đó là các định mức, các thông số, các chỉ tiêu kỹ thuật và các qui định về chế độ quản lý kinh tế tài chính

Thanh tra tài chính thường đi từ tổng hợp đến chi tiết Khi triển khai thanh tra tài chính, thường xem các tài liệu tổng hợp trước như các báo cáo quyết toán,

sổ cái, báo cáo tổng kết hàng năm, danh mục công nợ, sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và sơ đồ tổ chức hạch toán, địa bàn hoạt động, đặc điểm kinh tế ngành Trường hợp cuộc thanh tra chỉ giải quyết vụ việc và thanh tra tài chính có tài liệu chi tiết đó thì có thể đi từ chi tiết đến tổng hợp

+ Thanh tra tài chính tổng hợp:

- Đối chiếu so sánh giữa số lượng, chủng loại sổ kế toán, báo cáo kế toán

đã lập từ đó phát hiện việc mở thiếu sổ, thiếu mẫu báo cáo…

Trang 22

- Đối chiếu so sánh quan hệ đối ứng tài khaỏn trên các sổ kế toán tổng hợp, phát hiện những định khoản kế toán không bình thường

- Đối chiếu giữa số liệu thực tế qua kiểm kê với số liệu ghi trên sổ sách kế toán

- Kiểm tra số liệu tổng hợp theo từng tài khoản dựa trên báo cáo kế toán của các đơn vị trực thuộc, phát hiện báo cáo kế toán của các đơn vị trực thuộc chưa ghi vào sổ nhưng quyết toán vẫn cân đối

- Kiểm tra phân loại chi phí, doanh thu, lợi nhuận theo hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác

- Kiểm tra công nợ, so sánh với năm trước để đánh giá sơ bộ tình hình quản lý công nợ qua các năm

Với những đối chiếu so sánh đó, thanh tra tài chính sử dụng nghiệp vụ phân tích như một phạm trù thuộc phương pháp đối chiếu so sánh

+ Thanh tra tài chính chi tiết

- So sánh sự phù hợp giữa tài liệu tổng hợp và tài liệu chi tiết, giữa tài liệu chi tiết với chứng từ gốc

- Kiểm kê kho, quỹ Đối chiếu so sánh giữa thực tế với số liệu chi tiết trên

sổ sách kế toán

- Xác minh lại số liệu giữa người cung cấp với sổ chi tiết hàng tồn kho, nợ phải trả Xác minh lại số liệu giữa các sổ chi tiết phải thu với khách hàng Kiểm tra hợp đồng kinh tế và các biên bản thanh lý hợp đồng

- So sánh giữa hoạt động quản lý của doanh nghiệp với các quy định có liên quan về chính sách đầu tư xây dựng cơ bản, huy động vốn…

Bất kỳ một cuộc thanh tra tài chính nào dù đơn giản hay phức tạp thì thanh tra cũng phải sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu

CHƯƠNG II THANH TRA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Trang 23

1 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU VÀ TÁC DỤNG CỦA THANH TRA NGÂN SÁCH

1.1 Mục đích của thanh tra ngân sách:

Thanh tra NSNN nhằm vào các mục đích:

Xem xét việc lập dự toán ngân sách, chấp hành ngân sách, quyết toán ngân sách của cơ quan quản lý tài chính và của các cơ quan chính quyền địa phương trên cơ sở thực hiện luật NSNN của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Từ đó phát hiện và kết luận được những sai phạm của đơn vị được thanh tra trong công tác quản lý tài chính Cụ thể là phát hiện và kết luận được những sai phạm trong việc chấp hành các chế độ nhà nước về phân cấp và quản lý ngân sách, sai phạm trong việc thực hiện dự toán chi ngân sách (chi không có dự toán, chi vượt dự toán, chi không được vượt dự toán… Đối với các đơn vị HCSN trong việc chấp hành dự toán thu chi các nguồn kinh phí, sai phạm trong việc lập, quản lý và sử dụng các loại quỹ, các loại lệ phí, phí và dịch vụ,…)

Chỉ ra những sai phạm, phân tích được những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến sai phạm và quy kết trách nhiệm của cá nhân và tập thể đối với từng sai phạm

Đề xuất những kiến nghị xử lý đối với từng sai phạm, kiến nghị các giải pháp nhằm đưa ra công tác quản lý, điều hành ngân sách theo đúng luật NSNN

và các quy định khác của nhà nước, Bộ Tài chính

Phát hiện những quy định chưa phù hợp của luật và các văn bản hướng dẫn thực hiện, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế

1.2 Yêu cầu của thanh tra ngân sách

Đánh giá được việc lập, chấp hành ngân sách đảm bảo đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định

Đánh giá quyết toán ngân sách đảm bảo đúng thực tế phát sinh và hạch toán đúng mục lục ngân sách

Thanh tra ngân sách phải đảm bảo thu thập tài liệu, số liệu, tình hình một cách đầy đủ, chính xác và khách quan Trên cơ sở đó và dựa trên các điều khoản

cụ thể được ghi trong luật NSNN, các văn bản pháp quy của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, phân tích đúng sai và đưa ra các kết luận có căn cứ về tình hình quản lý NSNN, các kiến nghị phải có khả năng thực thi

Thanh tra ngân sách phải đảm bảo yêu cầu: nhanh gọn, với thời gian ngắn, lượng ít và chất lượng tốt

Thanh tra ngân sách đáp ứng được những mục đích, yêu cầu đặt ra trên đây sẽ phát huy tác dụng to lớn đối với công tác quản lý và điều hành ngân sách

1.3 Tác dụng của thanh tra ngân sách

Thanh tra ngân sách không những phát hiện những sai phạm về quản lý ngân sách để đề xuất những giải pháp khắc phục kịp thời những sai phạm đó, mà

Trang 24

còn có tác dụng ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực đang có mầm mống nảy sinh; đồng thời góp phần hoàn thiện các quyết định về quản lý ngân sách (như luật, chính sách, chế độ thu, chi ngân sách…)

Thanh tra ngân sách có tác dụng thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ thu chi ngân sách, đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời; chi đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm và có hiệu quả cao, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ Kinh tế-

Xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ

Để phát huy một cách đầy đủ các tác dụng nêu trên, thanh tra ngân sách được tiến hành theo các nội dung cụ thể: thanh tra quy trình, chấp hành ngân sách và quản lý quỹ ngân sách Nhà nước

2 NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA THANH TRA NGÂN SÁCH

2.1 Thanh tra việc lập dự toán ngân sách Nhà nước

Lập dự toán ngân sách Nhà nước là khâu mở đầu có tính chất quyết định đến hiệu quả trong quá trình điều hành, quản lý ngân sách Kế hoạch ngân sách được xây dựng một cách đúng đắn sẽ giúp cho các cơ quan điều hành, quản lý ngân sách xác định được các mục tiêu trọng tâm cần quản lý Mặt khác, thông qua lập kế hoạch ngân sách để thẩm tra tính đúng đắn, hiện thực và tính cân đối của kế hoạch Kinh tế-Xã hội, đảm bảo về mặt tài chính để thực hiện các chỉ tiêu Kinh tế-Xã hội được đề ra trong kỳ kế hoạch Từ đó có thể nhận thấy, kế hoạch ngân sách Nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình điều hành Kinh tế-Xã hội cũng như ngân sách Nhà nước Để phát huy được vai trò đó trong quá trình hình thành ngân sách cần phải thanh tra ngân sách Thanh tra trong quá trình lập ngân sách Nhà nước được tiến hành theo các nội dung sau đây:

- Thanh tra việc lập kế hoạch của các đơn vị đầu mối có quan hệ với ngân sách (các ngành, huyện, xã…) có đúng với quy định của Chính phủ, của Bộ Tài chính không?

- Thanh tra các căn cứ lập dự toán thu chi ngân sách Nhà nước Việc xây dựng các chỉ tiêu thu chi ngân sách có dựa vào các chỉ tiêu Kinh tế- Xã hội, an ninh quốc phòng… của Đảng và Nhà nước không? Thanh tra việc tuân thủ các chế độ, tiêu chuẩn, định mức Nhà nước ban hành… Việc xây dựng dự toán có đảm bảo nguyên tắc chi cho đầu tư phát triển đảm bảo tốc độ cao hơn tốc độ chi thường xuyên và trong chi thường xuyên phải đảm bảo ưu tiên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ hay không? Xây dựng dự toán có đảm bảo nguyên tắc tất cả các khoản thu chi của NSNN được hạch toán đẩy đủ vào NSNN không?

- Thanh tra việc điều chỉnh, bổ sung dự toán NSNN có đúng quy định không? (Bố trí dự toán chi từ nguồn thưởng vượt thu hay điều chỉnh theo yêu cầu của chính quyền cấp trên…)

- Thanh tra trình tự lập dự toán NSNN có đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định không?

Trang 25

- Thanh tra thời hạn lập dự toán, tổng hợp, xét duyệt, phê chuẩn, thông báo ngân sách cho các cấp, các ngành và các địa phương một cách kịp thời không?

- Thanh tra quá trình lập NSNN có đúng các mẫu biểu đã quyết định không? Việc tổng hợp của cơ quan tổng hợp, thực hiện tổng hợp có trung thực không?

Để tiến hành thanh tra việc lập dự toán NSNN, cần nắm đầy đủ các văn bản, xem tính đúng đắn của các văn bản hướng dẫn lập dự toán, các định mức hướng dẫn, đã lập theo định mức nào, kiểm tra các số liệu về các chỉ tiêu Kinh tế- Xã hội, số đơn vị có quan hệ với ngân sách về thu và chi

Đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên làm việc với bộ phận kế hoạch ngân sách và với các bộ phận có liên quan (xây dựng cơ bản, tài chính doanh nghiệp, chi hành chính sự nghiệp…), nếu chưa rõ cần xác minh thêm ở các cơ quan quản

lý tổng hợp (cơ quan kế hoạch, thống kế…) và các đơn vị có quan hệ trực tiếp với ngân sách Sau khi phân tích xong, lập bảng tổng hợp, so sánh các chỉ tiêu theo định mức kế hoạch cấp trên hướng dẫn, đơn vị lập, cơ quan tài chính tổng hợp, kế hoạch pháp lệnh giao, kế hoạch phấn đấu So sánh các tiêu thức này để phân tích nguyên nhân tăng, giảm, từ đó có kết luận chính thức về tình hình lập

dự toán thu, chi NSNN

Thanh tra quá trình lập NSNN với nội dung trên là cần thiết, bởi trong thực tế việc lập NSNN ở các ngành, các cấp chấp hành chưa nghiêm ngặt về trình tự, phương pháp và thời hạn, các định mức, tiêu chuẩn chưa thực sự được tôn trọng; việc xét duyệt, phê chuẩn dự toán ngân sách còn mang nặng tính hình thức, chiếu lệ… dẫn đến chất lượng dự toán NSNN chưa cao, thiếu tính khả thi…

Vì vậy, thanh tra quá trình lập ngân sách là nhằm mụch đích:

- Đảm bảo kế hoạch NSNN lập ra mang tính tích cực, cân đối và có khả năng trở thành hiện thực, phục vụ tốt cho việc thực hiện nhiện vụ kế hoạch phát triển Kinh tế- Xã hội

- Đảm bảo chấp hành nghiêm chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước trong quá trình xây dựng chỉ tiêu thu, chi trong dự toán NSNN

- Đảm bảo kế hoạch NSNN có chất lượng cao, là căn cứ pháp lý để tổ chức quản lý, điều hành ngân sách một cách tiết kiệm và có hiệu quả

2.2 Thanh tra việc chấp hành NSNN

Thanh tra việc chấp hành NSNN bao gồm các nội dung:

+ Thanh tra việc chấp hành các khoản thu ngân sách theo luật NSNN, việc hạch toán, quyết toán các khoản thu đó, phát hiện các khoản hạch toán không đúng chương, khoản, hạng, mục, các quỹ ngoài ngân sách

+ Thanh tra phát hiện các khoản thu, chi ngoài ngân sách; hình thành các quỹ ngoài ngân sách hoặc các khoản điều hành thu, chi không qua quyết toán ngân sách, phát hiện nguồn hình thành quỹ? Chi dùng việc gì? Ai ra quyết định?

Trang 26

+ Thanh tra trình tự và tiến độ cấp phát có theo kế hoạch không? Thanh tra việc tổ chức theo dõi và thanh quyết toán kinh phí do ngân sách cấp, số chưa quyết toán và nguyên nhân

+ Thanh tra các khoản chi ngoài kế hoạch, vượt kế hoạch như chi XDCB, chi trả nợ… xác định cấp duyệt chi, người duyệt chi và căn cứ duyệt chi

+ Thanh tra xác định số tiền chi tạm ứng, chi cho vay, người duyệt, lý do cho tạm ứng, cho vay, số chưa thu và nguyên nhân

Dưới đây sẽ trình bày những nội dụng chủ yếu của thanh tra thu NSNN, thanh tra chi NSNN và thanh tra quản lý quỹ NSNN

2.2.1 Thanh tra thu ngân sách nhà nước

Nội dung cơ bản của thu ngân sách nhà nước bao gồm thuế và các khoản thu ngoài thuế, do đó thanh tra thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo 2 nội dung là thanh tra thuế và thanh tra các khoản thu ngoài thuế

2.2.1.1 Thanh tra thuế

Thanh tra thuế bao gồm các nội dung:

+ Thanh tra việc chấp hành các luật, pháp lệnh, chính sách thuế đối với mọi đối tượng thuộc mọi thành phần kinh tế

+ Thanh tra việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý thu thuế của cơ quan thuế các cấp, các viên chức ngành thuế Thanh tra việc triển khai luật thuế có kịp thời, đúng qui định hay không? Thanh tra việc sử dụng chứng từ thu; cơ quan thu có đúng qui định hay không? Có đặt ra các khoản thu ngoài qui định không? Thanh tra việc quản lý hóa đơn, các khoản nợ đọng thuế, thanh quyết toán thuế

lý thuế Từ đó góp phần thúc đẩy việc thu đúng, thu đủ các nguồn tài chính thuộc phạm vi ngành thuế vào NSNN để đáp ứng nhu cầu chi của nhà nước

Trong quá trình thanh tra thuế cần chú ý một số vấn đề sau đây:

+ Phải nắm chắc các yếu tố cấu thành sắc thuế (đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, phương pháp tính thuế, thuế suất, thời hạn kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế, chế độ miễn giảm… ) thì mới có thể đánh giá đúng đắn việc châp hành luật thuế một cách đầy đủ

+ Căn cứ tính thuế là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế và đó là vấn

đề cần chú ý hơn cả khi thanh tra thuế

Trong thực tế thất thu về thuế thường xảy ra trong các trường hợp sau:

@.1 Đối với thuế giá trị gia tăng:

Trang 27

- Đối tượng nộp thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng không ghi hóa đơn làm giảm doanh số bán ra

- Hiện tượng mua hóa đơn GTGT để tăng khống số thuế GTGT đầu vào

và bán hóa đơn GTGT để hưởng chênh lệch giữa số thuế phải nộp với số tiền thu lợi bất chính

- Sử dụng hóa đơn giả hoặc hóa đơn thật nhưng nội dung ghi chép trong hóa đơn không đúng, không khớp giữa các liên về mặt hàng, giá bán để hưởng lợi phi pháp

- Đối tượng nộp thuế tìm cách kê khai, giả mạo chứng từ, hóa đơn để được hoàn thuế

@.2 Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp:

- Do thất thu về doanh thu, các trường hợp thường gặp đó là một số cơ sở kinh doanh nhiều ngành nghề, nhưng chỉ kê khai nộp thuế phần doanh thu của hoạt động sản xuất chính hoặc thanh toán cho nhau tiền gia công, tiền mua nguyên liệu bằng hàng hóa, dịch vụ để trốn thuế hoặc có trường hợp kinh doanh dịch vụ có thu nhập nhưng không xin giấy phép kinh doanh, không đăng ký, kê khai, nộp thuế

- Cơ sở kinh doanh khi bán hàng không xuất hóa đơn hoặc ghi trên hóa đơn không đúng làm giảm doanh thu chịu thuế

- Cơ sở kinh doanh ghi tăng khống chi phí hợp lý trong kỳ tính thuế để giảm thu nhập chịu thuế, hoặc hạch toán vào chi phí không đúng qui định của luật như: trích trước vào chi phí nhưng thực tế không chi hoặc chi không hết, các khoản tiền phạt…

- Không tính đầy đủ các khoản thu nhập do các hoạt động kinh doanh đem lại

@.3 Đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:

- Kê khai thiếu, kê khai sai số lượng, chủng loại, xuất xứ, giá thấp….để tìm cách trốn thuế

- Lợi dụng các qui định của luật thuế XNK cho phép một số trường hợp không phải chịu thuế XNK, miễn giảm thuế để trốn thuế thông qua thủ đoạn làm cho các chuyến hàng nhập khẩu được đưa vào thị trường một cách hợp pháp

- Lợi dụng những qui định xuất xứ hàng hóa để áp thuế suất thấp nhằm giảm số thuế XNK phải nộp

2.2.1.2 Thanh tra các khoản thu ngoài thuế

Thu ngoài thuế bao gồm phí và lệ phí, thu từ hoa lợi công sản, đất công ích, các khoản di sản Nhà nước, tiền bán hoặc cho thuê tài sản nhà nước, các khoản tiền phạt, tịch thu và các khoản thu khác theo luật định

Các khoản thu trên về cơ bản chưa được qui định thành luật, pháp lệnh như thuế mà mới chỉ dừng lại ở chính sách, chế độ, qui định của cấp có thẩm quyền Việc huy động và quản lý thường khó khăn, dễ tùy tiện trong quá trình

Trang 28

thu nộp và cũng khó khi xử lý vi phạm Các khoản thu ngoài thuế chiếm tỷ trọng không lớn, song lại bao gồm nhiều nguồn khác nhau trên các lĩnh vực hoạt động khác nhau, do đó khi thanh tra cần đi vào các nội dung chủ yếu sau:

- Thanh tra việc thực hiện các khoản thu có đúng với mức thu được qui định trong các chính sách, chế độ của nhà nước không?

- Thanh tra qui trình thu nộp, thời hạn thu nộp… đối với từng khoản thu… cần bám sát nội dung của từng khoản thu, bảo đảm thực hiện đúng chính sách chế độ đã qui định

Thanh tra các khoản thu này nhằm thúc đẩy việc khai thác triệt để các nguồn thu tập trung vào ngân sách nhà nước đầy đủ, đúng đối tượng, kịp thời, đồng thời phát hiện những vi phạm, tiêu cực để chấn chỉnh, có biện pháp xử lý

2.2.2 Thanh tra chi ngân sách nhà nước

Nội dung chi ngân sách nhà nước rất đa dạng và phong phú Thanh tra chi

ngân sách đối với tất cả các nội dung chi ngân sách Song ở đây chỉ tập trung trình bày nội dung của thanh tra vốn đầu tư xây dựng cơ bản và thanh tra chi hành chính sự nghiệp thuộc chi thường xuyên

2.2.2.1 Thanh tra vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB)

Mục đích của thanh tra tài chính trong lĩnh vực này là đánh giá tình

hình quản lý sử dụng vốn ĐTXDCB của các tổ chức trên các mặt: chủ trương đầu tư, hiệu quả của dự án từ khi phê duyệt chủ trương đầu tư đến khi thanh tra, việc chấp hành trình tự, thủ tục, qui định trong quản lý, điều hành đầu tư XDCB; trình tự cấp phát, nghiệm thu, thanh toán, bảo hành công trình… từ đó chỉ ra được các sai phạm, nguyên nhân dẫn đến sai phạm và kiến nghị các biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư XDCB của Nhà nước và của Bộ tài chính Để đạt được mục đích trên, thanh tra quản lý, sử dụng vốn đầu tư XDCB được thực hiện tại cơ quan tài chính, chủ đầu tư và các đơn vị thi công

a Nội dung thanh tra vốn ĐTXDCB tại các cơ quan tài chính

Trước tiên cần xác định số công trình, số vốn được bố trí theo kế hoạch và đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả của việc bố trí vốn ĐTXDCB, xem xét tính đúng đắn của chủ trương đầu tư, tính khả thi của dự án đầu tư Thanh tra việc phân bổ vốn đầu tư XDCB cho từng dự án thuộc phạm vi quản lý (ngân sách trung ương, ngân sách địa phương) đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức vốn đầu tư, cơ cấu ngành nghề, mức vốn và cơ cấu vốn của từng dự án Xem xét thẩm quyền quyết định đầu tư, cấp giấy phép đầu tư để đảm bảo đúng qui định, không vượt quá thẩm quyền

Thanh tra trình tự cấp phát vốn đầu tư XDCB, xem có tình tự cấp phát chạy vốn, tình trạng báo cáo khống khối lượng…Xác định rõ nguyên nhân công trình được cấp vốn nhiều hơn, ít hơn kế hoạch hoặc có kế hoạch vốn nhưng lại không cấp phát, nguyên nhân của công trình kéo dài nhiều năm chưa hoàn thành Xác định khối lượng thi công năm trước chưa thanh toán chuyển sang năm sau, việc cấp phát vốn năm trước có căn cứ, có kế hoạch vốn không?

Trang 29

Đánh giá hiệu quả đầu tư: công trình xây dựng có được đưa vào sử dụng không? Khả năng khai thác và phát huy năng lực của công trình

b Nội dung thanh tra vốn ĐTXDCB tại đơn vị chủ đầu tƣ (bên A):

b.1 Thanh tra việc chấp hành trình tự xây dựng cơ bản:

Theo thứ tự thời gian trình tự xây dựng cơ bản bao gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng và xây lắp

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:

Xem xét nội dung luận chứng kinh tế kỹ thuật hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của ngành, khu vực và địa phương; xem xét các quyết định phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền duyệt

Giai đoạn chuẩn bị xây dựng:

Kiểm tra xem các tổ chức khảo sát, thiết kế ký hợp đồng với chủ đầu tư có đúng chức năng và có giấy phép hoạt động không? Bản vẽ thiết kế kỹ thuật đã phù hợp với luận chứng kinh tế kỹ thuật chưa? Kiểm tra dự toán có đúng định mức, đơn giá theo qui định không? Kiểm tra giấy phép sử dụng đất, giấy phép xây dựng Các hợp đồng thầu xây lắp và nếu cần thiết phải kiểm tra cả đơn vị nhận thầu về thiết bị kỹ thuật, bậc tay nghề của công nhân, tình hình vốn liếng

để có kết luận chính xác

Kiểm tra các hợp đồng mua thiết bị, vật tư kỹ thuật; so sánh giữa giá cả thị trường với giá mua của chủ đầu tư tại thời điểm mua thiết bị, vật tư

Giai đoạn xây lắp:

Kiểm tra các tài liệu bổ sung, sửa đổi thiết kế, dự toán được duyệt ban đầu So sánh những phát sinh có thực trong thi công với nhật ký công trình, nếu cần thiết phải đến hiện trường để xác định cụ thể Kiểm tra các biên bản nghiệm thu khối lượng, đối chiếu với nhật ký công trình giữa bên A và bên B để xác định khối lượng theo biên bản nghiệm thu với khối lượng thực tế Kiểm tra các biên bản nghiệm thu chất lượng công trình có đảm bảo theo thiết kế được duyệt

b.2 Thanh tra về kế hoạch vốn đầu tƣ XDCB

Trong nội dung thanh tra này, cần xem công tác lập kế hoạch và sử dụng vốn đầu tư XDCB có đúng mục đích, đúng đối tượng không? Phải đối chiếu giữa kế hoạch với kết quả thực hiện đầu tư để xem vốn có thực cấp đến từng công trình theo kế hoạch hay cắt giảm, điều chuyển vốn của công trình này sang công trình khác Cần phát hiện những trường hợp vượt so với kế hoạch, ngoài kế hoạch và chú ý kiểm tra cả kế hoạch ban đầu, kế hoạch điều chỉnh trong năm để làm căn cứ đối chiếu, xem xét

b.3 Thanh tra việc nghiệm thu, và thanh tra quyết toán công trình

Trong nội dung này, cần thanh tra việc nghiệm thu thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành để đảm bảo đúng với khối lượng thực tế Phát hiện các trường hợp thanh toán khi chưa có khối lượng, quyết toán khống khối lượng để kết luận việc thanh quyết toán khống khối lượng Để tiến hành thanh tra cần:

Trang 30

So sánh giữa biên bản nghiệm thu, phiếu giá thanh toán quyết toán công trình với thiết kế, dự toán được duyệt lần cuối cùng để phát hiện khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán được duyệt; kiểm tra các biên bản xác nhận khối lượng công việc phát sinh với các văn bản đề nghị bổ sung thiết kế, dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phát hiện những trường hợp khối lượng vượt thiết kế, dự toán bất hợp lý để cắt giảm số cấp phát thanh toán

Kiểm tra quyết toán công trình, báo cáo quyết toán năm của chủ đầu tư với tổng dự toán được duyệt để thấy đơn vị có thực hiện đúng qui định về quyết toán vốn đầu tư xây dựng hay không? Quyết toán công trình có đúng theo từng hạn mục và đúng định mức không? Đúng đơn giá không?

Kiểm tra việc nhập, xuất vật tư của bên A và đơn giá vật tư

c Nội dung thanh tra vốn đầu tƣ XDCB tại đơn vị nhận thầu xây lắp (bên B)

Thanh tra đơn vị nhận thầu xây lắp giống như thanh tra doanh nghiệp, bao gồm các nội dung: thanh tra việc quản lý và sử dụng vốn, thanh tra hạch toán doanh thu, chi phí, giá thành công trình, thanh tra việc nộp thuế…

Đối với đơn vị xây lắp có tính đặc thù: một đơn vị thường nhận thầu nhiều công trình, các công trình thường có thời gian kéo dài nhiều năm chưa quyết toán, nhận thầu rồi giao thầu lại cho đơn vị khác… dẫn đến nhiều trường hợp hạch toán thiếu doanh thu, lợi nhuận và không thực hiện đầy đủ việc nộp thuế

Xuất phát từ đặc thù đó, thanh tra tại đơn vị xây lắp cần chú ý một số vấn đề sau:

+ Thanh tra việc hạch toán doanh thu: theo dõi trên sổ sách theo từng hợp đồng kinh tế, giá trị từng hợp đồng, đối chiếu xác minh với bên A để xác định số tiền bên A đã thanh toán và chấp nhận thanh toán theo từng hạn mục làm căn cứ tính doanh thu Đối chiếu với sổ chi tiết doanh thu theo báo cáo quyết toán, nếu phát hiện ghi thiếu doanh thu (số hạch toán < số thực tế) thì tính đủ số thuế GTGT và TNDN đơn vị phải nộp bổ sung

+ Thanh tra giá thành công trình hoàn thành, nghiệm thu, quyết toán Thanh tra chú ý tách khỏi giá thành công trình những chi phí quản lý trong năm phân bổ hết vào công trình, hoặc chi phí của những công trình nhỏ tập trung hết vào công trình lớn dẫn tới quyết toán bị lỗ nhằm trốn thuế TNDN

+ Thanh tra chi phí đối với một công trình đang xây dựng dở dang, khi thanh tra cũng cần tách khỏi chi phí dở dang những chi phí bất hợp lý từ các công trình khác phân bổ vào hay chi phí sản xuất chung tập hợp, phân bổ quá cao, không có căn cứ Trên cơ sở đó tính toán lại đúng từng công trình để phản ánh chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị

+ Nếu đơn vị nhận thầu lại giao cho đơn vị khác thi công hay khoán gọn cho tổ, đội xây dựng, cần kiểm tra, đối chiếu xác minh tại các đơn vị và các tổ, đội để thấy được các chi phí bất hợp lý, phát hiện các trường hợp hạch toán sai chế độ, xâm phạm tiền vốn Nhà nước

Trang 31

+ Thanh tra việc chấp hành chế độ thu nộp ngân sách: kiểm tra doanh thu, chi phí, tính toán lại kết quả kinh doanh, kiểm tra trên các báo cáo tài chính để xác định số thuế còn thiếu, số chưa nộp….kiểm tra các loại hình kinh doanh khác (nếu có) để tính toán đầy đủ các khoản phải nộp vào ngân sách cũng như kiến nghị các khoản còn tồn đọng qua thanh tra

2.2 Thanh tra tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp

a Mục đích của thanh tra tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp:

+ Thanh tra việc chấp hành chính sách, chế độ, kỷ luật tài chính của các đơn vị từ khâu lập dự toán, phân phối, cấp phát, sử dụng, quyết toán các nguồn kinh phí được NSNN cấp và các nguồn huy động khác

+ Phát hiện sai phạm về kỷ luật tài chính, chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức… xác định nguyên nhân, qui rõ trách nhiệm, kiến nghị các biện pháp nhằm tăng cường kỷ cương, phép nước, bảo vệ tài sản để dử dụng mọi nguồn kinh phí đúng mục đích, có hiệu quả

+ Phát hiện cơ chế quản lý, chính sách, chế độ không phù hợp, từ đó kiến nghị bổ sung, sửa đổi để ban hành cơ chế, chính sách, chế độ mới

b Để đạt đƣợc mục đích trên, trong hoạt động thanh tra tài chính cần:

Nắm vững các chế độ, chính sách tài chính kế toán của nhà nước ban

hành về quản lý thu chi hành chính sự nghiệp, kết luận của thanh tra phải khách quan, đầy đủ căn cứ pháp lý, kiến nghị của thanh tra phải dựa vào các văn bản pháp quy hiện hành Để tiến hành thanh tra ta phải nắm vững nội dung chi chủ yếu và nguồn kinh phí trong lĩnh vực chi hành chính sự nghiệp

c Nội dung chi hành chính sự nghiệp bao gồm:

- Chi bảo đảm hoạt động cho các cơ quan hành chính, quản lý nhà nước

- Chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia: phòng chống sốt rét, bướu

cổ, SIDA, xóa mù chữ, bảo tồn di tích lịch sử văn hóa…

- Chi Bảo hiểm xã hội…

Nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động ở các đơn vị hành chính sự nghiệp đều do ngân sách Nhà nước cấp phát hoặc do nhà nước Nhà nước cấp phát phần lớn, nên cơ chế quản lý tài chính tương tự nhau (đều có dự toán được duyệt, cấp phát, sử dụng và quyết toán kinh phí theo qui định của Nhà nước),

Trang 32

song khác nhau cơ bản về chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động nên khác nhau về cơ cấu, nội dung nguồn thu và chi tiêu theo mục lục ngân sách

Nguồn thu, nội dung chi của đơn vị hành chính đơn giản hơn, chủ yếu do Nhà nước, còn nguồn thu, nội dung chi của đơn vị sự nghiệp phức tạp và đa dạng hơn, ngoài số do ngân sách cấp phát, tùy đặc điểm hoạt động của từng đơn

vị mà có những nguồn thu khác như thu viện phí, lệ phí, học phí, thu viện trợ của các tổ chức quốc tế, thu hồi do bán sản phẩm, phế liệu trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học, dịch vụ, các khoản đóng góp của dân hoặc của đối tượng được phục vụ để bổ sung cho nhu cầu hoạt động theo qui định của Nhà nước

Theo qui định hiện hành, việc phân cấp tài chính các đơn vị hành chính sự nghiệp có các cấp dự toán sau đây:

- Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận kinh phí từ cơ quan tài chính Nhà nước (Bộ, Sở, phòng tài chính)

- Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị trực tiếp nhận kinh phí của đơn vị dự toán cấp I

- Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp nhận kinh phí của đơn vị dự toán cấp II

Từ việc phân cấp tài chính các cấp ự toán trên, có thể chí thanh tra tài chính ở các đơn vị hành chính sự nghiệp thành: thanh tra tại các ơn vị dự toán cấp trên (cấp I,II) và thanh tra tại các ơn vị cơ sở trực tiếp sử dụng kinh phí (cấp III)

a Thanh tra tài chính tại các đơn vị dự toán cấp trên

Nội dung thanh tra bao gồm:

- Thanh tra việc lập, tổng hợp dự toán gửi các cơ quan cấp trên có thẩm quyền xét duyệt: thanh tra việc hướng dẫn các đơn vị dự toán cấp dưới lập dự toán kinh phí theo đúng qui định của cơ quan tài chính và các chế độ, định mức

co Nhà nước qui định chưa?

- Thanh tra việc tổng hợp dự toán thu chi kinh phí có căn cứ từ dự toán của các đơn vị cấp dưới gửi lên không?

- Thanh tra đơn vị có lập đủ dự toán thu và sử dụng các nguồn kinh phí khác ngoài NSNN cấp hay không?

- Thanh tra việc phân phối và cấp phát kinh phí

Đối với nguồn kinh phí do NSNN cấp: căn cứ vào thông báo của cơ

quan tài chính về số kinh phí được duyệt cấp cho đơn vị để thanh tra việc phân phối, cấp phát từ đơn vị cấp I xuống đơn vị cấp II; từ đơn vị cấp II xuống đơn vị cấp III có căn cứ vào thông báo được duyệt hay không? Thanh tra các khoản duyệt cấp cho mua sắm, sửa chữa của đơn vị dự toán cấp trên có căn cứ vào dự toán được duyệt không? Thanh tra việc cấp phát kinh phí theo hình thức nào?

Có đúng đối tượng được hưởng không? Co nằm trong dự toán được duyệt không?

Đối với nguồn kinh phí khác: Như thu viện trợ, tài trợ, thu khác tập

trung tại đơn vị, ngành… xem các đơn vị có lập dự toán thu, sử dụng các nguồn

Trang 33

kinh phí này không? Việc phân phối, cấp phát nguồn kinh phí hoặc sử dụng tại đơn vị có kế hoạch không? Ai duyệt cấp, có đúng thẩm quyền không, cho nội dung nào Thanh tra việc tổng hợp quyết toán thuộc đơn vị quản lý (so sánh đối chiếu số liệu quyết toán tổng hợp với dự toán được duyệt, phát hiện các trường hợp thay đổi nội dung chi có sự đồng ý của cơ quan tài chính không? Kiểm tra tổng hợp từng mục chi từ các đơn vị trực thuộc, phát hiện các mục điều chỉnh quyết toán giữa các mục chi NSNN)

b Thanh tra tài chính tại các đơn vị cơ sở trực tiếp sử dụng kinh phí

- Thanh tra công tác lập dự toán kinh phí: Thanh tra đơn vị lập dự toán thu chi kinh phí trên cơ sở định biên thực tế được duyệt và định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi tiêu của Nhà nước Kiểm tra số liệu tồn năm trước có được đưa vào dự toán để giảm cấp phát ngân sách năm dự toán không? Thanh tra đơn

vị có lập dự toán thu chi các nguồn kinh phí khác thực tế phát sinh thường xuyên tại đơn vị và tính hợp pháp của nguồn thu này không?

- Thanh tra tổng hợp các nguồn thu kinh phí phát sinh tại đơn vị; Nội dung thanh tra này nhằm xác định đầy đủ các hoạt động tài chính phát sinh để xác định và tổng hợp các nguồn thu kinh phí của đơn vị

Đối với kinh phí được cấp bằng hạn mức, căn cứ vào các giấy thông báo phân phối hạn mức kinh phí của đơn vị cấp trên cấp phát, các sổ sách theo dõi, giấy xác nhận của kho bạc xem sổ kinh phí đã thực rút để xác định

Đối với kinh phí ngoài hạn mức, căn cứ vào thông tư duyệt dự toán, lệnh chi tiêu, các chứng từ chuyển – nhận tiền để xác định

Đối với khoản viện trợ, căn cứ vào hồ sơ, chứng từ tiếp nhận, đối chiếu với sổ kế toán của đơn vị về số lượng và giá trị ngoại tệ, tỷ giá tại thời điểm kế toán ghi sổ để xác định

Đối với đơn vị sự nghiệp có thu, cần đối chiếu với các văn bản qui định của Nhà nước cho từng loại thu và từng loại hình đơn vị để xem xét việc chấp hành chế độ thu, việc hạch toán của đơn vị

- Thanh tra việc sử dụng và quyết toán kinh phí

Thanh tra các sổ chi tiết công nợ phải thu, phải trả với người mua, người bán, tạm ứng

Thanh tra việc sử dụng kinh phí có đúng đối tượng, đúng mục tiêu, đúng đối tượng? Thanh tra các khoản chi mua sắm tài sản có giá trị lớn (từ 100 triệu trở lên) có tổ chức đấu thầu không?

Kiểm tra các quyết toán chi theo từng khoản chi, cho từng đối tượng chi

có hợp lệ không? Đối với những khoản chi để sửa chữa cơ sở vật chất của đơn

vị, phải kiểm tra các hợp đồng sửa chữa, xây dựng, mua sắm tài sản và các biên bản nghiệm thu thanh toán có đúng với dự toán được duyệt không?

Thanh tra số kinh phí tồn chưa quyết toán chi, như tồn quỹ tiền mặt, vật tư…

Trong thực tế hiện nay, có một số đơn vị hành chính sự nghiệp dư thừa cơ

sở vật chất kỹ thuật đã tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm tạo thêm thu

Trang 34

nhập và bổ sung kinh phí cho hoạt động của đơn vị, do đó nội dung thanh tra trong trường hợp này còn phải tiến hành thanh tra hoạt động sản xuất kinh doanh phụ (có hạch toán theo dõi riêng, có báo cáo quyết toán với NSNN? Doanh thu thực tế bao nhiêu? Lãi – lỗ thế nào?) Thanh tra việc sử dụng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh (xác định nguồn vốn này do đâu: sử dụng nguồn kinh phí của ngân sách, liên doanh liên kết, tự huy động?) Thanh tra việc chấp hành thu nộp ngân sách, trích lập các quỹ của đơn vị

c Thanh tra việc thực hiện chế độ báo cáo quyết toán và xét duyệt quyết toán

Các đơn vị hành chính sự nghiệp phải thực hiện nghiêm chế độ báo cáo quyết toán định kỳ và xét duyệt quyết toán theo đúng qui định của Luật NSNN

Do đó nội dung thanh tra được thể hiện:

- Thanh tra các đơn vị lập và gửi báo cáo quyết toán cho cơ quan có thẩm quyền quản lý có đúng thời hạn và mẫu biểu qui định không?

- Thanh tra đơn vị có xét duyệt quyết toán hàng năm không? Cơ quan xét duyệt có đúng thẩm quyền và trình tự xét duyệt theo đúng qui định không?

- Thanh tra số báo cáo quyết toán có đầy đủ, chính xác về tài sản, tiền vốn… đối chiếu số liệu đã quyết toán với số thực tế, kiểm tra theo chế độ qui định của Nhà nước để có kết luận chính xác

2.3 Thanh tra quản lý quỹ NSNN

Kho bạc Nhà nước có chức năng quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực quản lý quỹ NSNN, các quỹ dự trữ tài chính, quỹ ngoại tệ tập trung, các khoản tạm thu, tạm giữ… Trong đó nhiệm vụ chủ yếu của kho bạc là quản lý quỹ NSNN Kho bạc Nhà nước không chỉ đóng vai trò người thủ quỹ làm nhiệm vụ thu và chi trả theo lệnh một cách thụ động, mà còn có vai trò độc lập nhất định trong việc thực hiện các lệnh đó thông qua kiểm soát, thanh tra việc chấp hành chế độ tài chính đối với các cơ quan tài chính, cơ quan thuế các cấp và các đơn

vị Trong quá trình quản lý quỹ NSNN, kho bạc Nhà nước có quan hệ chặt chẽ với cơ quan thuế, tài chính Cơ quan thuế có nhiệm vụ thường xuyên cung cấp cho kho bạc Nhà nước những thông tin cần thiết như kế hoạch thu trên địa bàn, đối tượng thu, mức thu, tỷ lệ điều tiết… để kho bạc Nhà nước tiến hành thu đủ, thu đúng và kịp thời Kho bạc Nhà nước có nhiệm vụ thông báo cho cơ quan thuế về tiến độ và kết quả thu được, phát hiện các trường hợp vi phạm kỷ luật thu nộp Kho bạc Nhà nước thực hiện lệnh chi trả của cơ quan tài chính theo kế hoạch phân phối hạn mức kinh phí và lệnh chi tiền, kho bạc Nhà nước có quyền

từ chối nếu quỹ của Ngân sách không còn hoặc lệnh chi phát ra không đúng chế

độ Như vậy Kho bạc Nhà nước phải thông báo cho cơ quan tài chính tình hình thu chi và tồn quỹ của ngân sách nhà nước diễn ra hằng ngày, để cơ quan tài chính có biên pháp điều hành Ngân sách phù hợp với tình hình thực tế Cơ quan tài chính phải thông báo cho kho bạc kế hoạch thu, chi ngân sách từng cấp theo địa bàn, kế hoạch phân phối hạn mức kinh phí, lệnh chi tiền, các qui định về chế

độ thu, chi, tỷ lệ điều tiết đối với các khoản thu ngân sách Nhà nước các cấp…

Trang 35

Xuất phát từ vị trí, nhiệm vụ của kho bạc Nhà nước trong quản lý quỹ ngân sách Nhà nước, đòi hỏi phải tiến hành thanh tra quỹ ngân sách

Nội dung thanh tra quản lý quỹ ngân sách bao gồm:

- Thanh tra việc hạch toán kế toán và quản lý thu ngân sách Nhà nước qua kho bạc Nhà nước Về nguyên tắc toàn bộ các khoản thu NSNN phải nộp vào kho bạc Nhà nước Căn cứ vào báo cáo thu NSNN của kho bạc, đối chiếu dự toán thu, báo cáo thu của cơ quan thuế để xác định việc thu NSNN của kho bạc

đã đầy đủ, kịp thời chưa? Đã hạch toán đầy đủ, chính xác và kịp thời chưa? Thanh toán, chuyển tiền nộp NSNN kịp thời, trích tài khoản của đơn vị theo yêu cầu của cơ quan thu để nộp NSNN… đối chiếu báo cáo quuyết toán thu NSNN, các sổ chi tiết thu NSNN, sổ chi tiết tài khoản tiền gửi, tài khoản tạm thu, tạm giữ, chứng từ có liên quan để phát hiện các khoản thu không phản ánh qua NSNN

- Thanh tra việc thực hiện kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước:

Đối chiếu các chế độ, qui định với việc thực hiện của kho bạc Nhà nước

để đánh giá việc thực hiện kiểm soát chi NSNN của kho bạc Nhà nước Xác định việc chi NSNN có đúng nội dung chi và có dự toán duyệt Các khoản chi phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước qui định đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN hoặc người ủy quyền chuẩn chi và có đầy đủ chứng từ liên quan

- Thanh tra việc quản lý cấp phát, cho vay, thu nợ đối với các chương trình mục tiêu qua kho bạc Nhà nước

- Thanh tra việc quản lý tồn quỹ tiền mặt, kho quỹ có đúng định mức qui định không?

- Thanh tra việc mở tài khoản, quản lý hoạt động các tài khoản tiền gửi, tài khoản tạm giữ tại kho bạc Nhà nước

- Thanh tra việc quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí nội bộ

Trên đây đã đề cập những nội dung chủ yếu của thanh tra ngân sách ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, song để phát huy hơn nữa tác dụng của thanh tra ngân sách cần phải luôn đổi mới nội dung hoạt động thanh tra cho phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới

Trang 36

Chương 3 THANH TRA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU VÀ TÁC DỤNG CỦA THANH TRA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm, đặc trưng của thanh tra tài chính doanh nghiệp :

Thanh tra tài chính doanh nghiệp có thể được tiến hành bởi bản thân doanh nghiệp – thanh tra nội bộ, cũng có thể tiến hành bởi tổ chức thanh tra chuyên nghiệp (thanh tra Bộ tài chính, thanh tra Sở tài chính, thanh tra thuế, thanh tra kho bạc, thanh tra ngân hàng…) – thanh tra bên ngoài Chương này chỉ

đề cập đến thanh tra tài chính của các tổ chức thanh tra chuyên nghiệp

Chủ thể của thanh tra tài chính doanh nghiệp là các cơ quan có chức năng

về thanh tra tài chính và ra quyết định thanh tra

Trang 37

Đối tượng của thanh tra tài chính doanh nghiệp là các doanh nghiệp được thanh tra theo quyết định thanh tra Các doanh nghiệp này thuộc các hình thức

sở hữu khác nhau, do đó cũng có sự khác nhau ít nhiều về chủ thể thanh tra và nội dung thanh tra điều này bắt nguồn từ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản của các doanh nghiệp

Nội dung của thanh tra tài chính doanh nghiệp là các hoạt động tài chính của doanh nghiệp Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm

nhiều nội dung kinh tế đa dạng giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác trong xã hội và nội bộ doanh nghiệp nảy sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Căn cứ để đánh giá các hoạt động tài chính của doanh nghiệp khi tiến hành thanh tra tài chính doanh nghiệp là các quyết định quản lý nói chung, trực tiếp là các chính sách, chế độ tài chính của Nhà nước có liên quan đến doanh nghiệp và các nhiệm vụ tài chính mà doanh nghiệp phải thực hiện đối với Nhà nước và trong nội bộ doanh nghiệp

1.1.2 Đặc trƣng của thanh tra tài chính doanh nghiệp

+ Thanh tra tài chính doanh nghiệp được tiến hành xem xét tại chỗ (tại doanh nghiệp) và tiến hành sau các vụ việc (các hoạt động tài chính của doanh nghiệp) đã phát sinh với yêu cầu phân biệt rõ tính đúng đắn hay sai trái của các

sự việc đó so với qui định của Nhà nước về chế độ, chính sách quản lý tài chính của Nhà nước

+ Trong thanh tra tài chính doanh nghiệp các doanh nghiệp vừa là đối tượng thanh tra (khách thể thanh tra) vừa là chủ thể quản lý Là đối tượng thanh tra doanh nghiệp phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của đoàn thanh tra (cung cấp tài liệu, số liệu…) Là chủ thể quản lý, doanh nghiệp được quyền biết mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch thanh tra; được quyền giải trình những điểm chưa đồng ý với đánh giá nhận xét của đoàn thanh tra; đồng thời có trách nhiệm tổ chức thực hiện những kiến nghị của đoàn thanh tra sau khi có quyết định của cấp có thẩm quyền

Việc nêu khái niệm trên đây là cần thiết, giúp chúng ta nhận thức rõ hơn

về mục đích và tác dụng của thanh tra tài chính doanh nghiệp

1.2 Mục đích của thanh tra tài chính doanh nghiệp

+ Xem xét, đánh giá mức độ đúng, sai của các doanh nghiệp trong việc chấp hành các chính sách, chế độ tài chính –kế toán của Pháp luật khi tiến hành các hoạt động tài chính; xác định rõ nguyên nhân và kiến nghị các biện pháp thích hợp nhằm phát huy các nhân tố tích cực, xử lý, hạn chế, phòng ngừa những hiện tượng tiêu cực trong quản lý tài chính

+ Đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch, nhiệm vụ, chỉ tiêu tài chính mà doanh nghiệp phải thực hiện, từ đó có những kiến nghị giúp doanh nghiệp khắc phục những mặt yếu kém trong quản lý tài chính để cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp

Trang 38

+ Phát hiện những hạn chế, những mặt chưa phù hợp với thực tiễn của cơ chế, chính sách, chế độ và cơ chế quản lý tài chính đã gây cản trở, ách tắc hoạt động của doanh nghiệp, kiến nghị Nhà nước sửa đổi, bổ sung các chính sách, chế độ và cơ chế quản lý tài chính phù hợp

1.3 Tác dụng của thanh tra tài chính doanh nghiệp

Quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế – xã hội bao gồm 3 nội dung chủ yếu: Ban hành các quyết định quản lý, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quyết định quản lý Như vậy thanh tra là một nội dung cấu thành và là một đòi hỏi khách quan của quản

lý, nó là một chức năng thiết yếu của mọi cơ quan quản lý Nhà nước

Trong lĩnh vực tài chính, thanh tra tài chính là một nội dung cấu thành của quản lý Nhà nước về mặt tài chính, là một chức năng thiết yếu của mọi cơ quan tài chính và là một công cụ rất quan trọng trong quản lý tài chính Trong hoạt động thanh tra tài chính đối với doanh nghiệp, tác dụng của nó được thể hiện như sau:

+ Góp phần tăng cường hiệu lực của các quyết định quản lý về mặt tài chính Các quyết định này được thể hiện dưới dạng: chính sách, chế độ tài chính – kế toán, kỷ luật tài chính (thu nộp, thanh toán…), quyết định về các nhiệm vụ tài chính mà doanh nghiệp phải thực hiện như (nhiệm vụ nộp ngân sách, quản lý

và sử dụng vốn, tài sản, quỹ của doanh nghiệp… ), thanh tra tài chính cũng góp phần giúp Nhà nước hoàn thiện những chính sách, chế độ, cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp qua những cơ chế, chính sách đã lỗi thời hoặc chưa phù hợp

+ Góp phần thực hiện quyền dân chủ của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp Tác dụng này được thể hiện trong việc thanh tra tài chính xét và giải quyết các các khiếu nại, tố cáo của người lao động làm việc tại doanh nghiệp về quyền có việc làm, quyền phân phối các kết quả SXKD mà họ đã góp phần tạo ra theo đúng chính sách, chế độ của Nhà nước như: tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi doanh nghiệp và các quyền, lợi ích hợp pháp khác

1.4 Yêu cầu đặt ra đối với thanh tra tài chính doanh nghiệp

Để làm tốt công tác thanh tra tài chính doanh nghiệp đòi hỏi cán bộ thanh tra tài chính phải nắm vững và thực hiện nghiêm túc các công việc phải làm

trong từng bước của trình tự tiến hành một cuộc thanh tra tài chính (đã trình bày

ở mục 3.1 Chương 1) Ở đây chỉ trình bày những vấn đề chủ yếu đặt ra đối với

thanh tra tài chính doanh nghiệp như sau:

+ Phải nắm vững luật doanh nghiệp, các chính sách, chế độ tài chính – kế toán của Nhà nước mà doanh nghiệp là đối tượng phải thực hiện

+ Phải tập hợp đầy đủ và chính xác các số liệu, tài liệu theo nội dung thanh tra, đối với từng vụ việc tiêu cực phát hiện qua thanh tra phải có đầy đủ căn cứ pháp lý để chứng minh (bút tích, ghi âm, ghi hình, nhân chứng…)

Trang 39

+ Phải đảm bảo tính khách quan, thống nhất khi đưa ra các kết luận của thanh tra, trong đó phải nêu rõ những ưu điểm cần phát huy và những hạn chế cần chấn chỉnh Các kết luận đó phải dựa vào các văn bản pháp quy hiện hành, lấy đó làm thước đo (tiêu chuẩn) để đối chiếu, đánh giá

+ Kiến nghị của thanh tra tài chính phải dựa vào các văn bản pháp quy hiện hành và phải tính đến các điều kiện đảm bảo thực hiện kiến nghị, để kiến nghị mang tính thuyết phục và có tính khả thi

+ Phải phối hợp với các bộ phận, các tổ chức có liên quan đến nội dung thanh tra để tiến hành tìm hiểu vụ việc, thu thập các tài liệu, chứng cứ để đánh giá, kết luận của thanh tra có độ chính xác, tin cậy và căn cứ pháp lý Đồng thời phải phúc tra để đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện các kiến nghị của thanh tra nhằm phát huy các kết quả của thanh tra

Thực hiện tốt các yêu cầu kể trên trong quá trình thanh tra sẽ làm cho công tác thanh tra tài chính doanh nghiệp đạt được mục đích đã đặt ra và phát huy vai trò to lớn của nó đối với công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp

2 NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA THANH TRA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Thanh tra tài chính doanh nghiệp là xem xét lại và đánh giá các hoạt động tài chính của doanh nghiệp theo các mục đích đã định (mục 1.2) Nội dung hoạt động tài chính rất đa dạng gắn liền với các mối quan hệ kinh tế phức tạp trong quá trình SXKD của doanh nghiệp Chương này chủ yếu đề cập đến các nội dung thanh tra về công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp Các nội dung thanh tra về công tác thuế và vay nợ với ngân hàng đã được trình bày trong Chương 2 và chương 4 của bài giảng này Trong chương này các vấn đề đó chỉ

đề cập chừng mực nhất định có liên quan đến công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp

Theo cách đặt vấn đề trên, thanh tra tài chính doanh nghiệp bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

2.1 Thanh tra công tác quản lý, sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp 2.2.1 Thanh tra việc giao nhận vốn và bảo toàn số vốn đã được giao của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)

DNNN là doanh nghiệp nhận vốn mà Nhà nước giao cho để tiến hành sản xuất kinh doanh Trong thanh tra việc giao nhận vốn cần chú ý tới các nội dung chủ yếu sau:

+ Xem xét lại tính chính xác của việc đánh giá và xác định lại giá trị tài sản theo mặt bằng giá thị trường tại thời điểm giao nhận vốn

+ Xem xét lại đối tượng giao vốn và đối tượng nhận vốn Đối tượng giao vốn có đúng thẩm quyền không và đối tượng nhận vốn có làm đúng các qui định

về thủ tục giao nhận vốn không?

+ Đối với những doanh nghiệp sáp nhập hoặc thành lập lại cần xem xét những tồn tại về tài chính chưa xử lý

Ngày đăng: 14/09/2016, 14:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC GIÁM SÁT TỪ XA - Giáo trình thanh tra kinh tế đầy đủ
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC GIÁM SÁT TỪ XA (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w