* Hành tủy, não giữa có được vị trí giống như ở người lớn về mặt chức năng khi trẻ được 5-6 tuổi * Tủy sống có khối lượng và kích thước biến đổi rõ rệt theo chiều cao của trẻ ví dụ: Tr
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP SINH LÝ THẦN KINH TRẺ EM
Câu 1: Trình bày đặc điểm hệ thần kinh trẻ em Hệ thần kinh trẻ em có những khác biệt gì chính so với thần kinh người trưởng thành.
I.Cấu tạo và chức phận của hệ thần kinh trẻ em
1 Cấu tạo
* Não bộ
- Các tế bào thần kinh chưa được biệt hóa hoàn toàn
- Các hệ thần kinh chưa được miêlin hóa đầy đủ
- Hệ thống mao mạch của não phát triển nhiều
- Trong não có chứa nhiều nước
Chính vì đặc điểm trên mà não trẻ em dễ bị xung huyết, trong các bệnh trẻ em dễ có phản ứng não (hôn mê, co giật) Khi bị trúng độc trẻ thường bị nặng hơn
* Tiểu não tuy phát triển muộn nhưng có tốc độ phát triển nhanh Trẻ sơ sinh tiểu
não chưa phát triển: các rãnh chưa sâu, khối lượng còn nhỏ Khi trẻ được khoảng 1-2 tuổi tiểu não có khối lượng và kích thước gần giống với não của người lớn
* Hành tủy, não giữa có được vị trí giống như ở người lớn về mặt chức năng khi trẻ
được 5-6 tuổi
* Tủy sống có khối lượng và kích thước biến đổi rõ rệt theo chiều cao của trẻ (ví dụ:
Trẻ sơ sinh tủy sống nặng 2-6 gam, sau một tuổi nặng gấp đôi…)
Chiều dài tủy sống được thay đổi tương ứng với chiều dài thân thể (Trẻ sơ sinh chiều dài tủy sống xấp xỉ 30% chiều dài thân thể…)
Nước não tủy có khoảng 60ml(người lớn 100ml)
* Hệ thần kinh thực vật : Trong giai đoạn đầu của sự phát triển ở trẻ, hai phần giao
cảm và phó giao cảm của hệ thần kinh thực vật phát triển không đồng đều Hệ giao cảm
có tác dụng chiếm ưu thế trong những tháng đầu của trẻ sơ sinh cho đến 7 tuổi Hệ phó giao cảm có tác dụng khi trẻ được 3 tháng
2 Chức phận
- Phản ứng vỏ não có xu hướng lan tỏa Do các tế bào thần kinh chưa biệt hóa nên
bất kì một kích thích nào cũng đều gây phản ứng toàn thể
Ví dụ: Khi kích thích vào da của trẻ (đặc biệt trẻ sơ sinh) thì nó co cả tay và chân.
- Khả năng hưng phấn của vỏ não còn yếu, chóng bị mệt mỏi Đặc biệt ở trẻ sơ sinh
khi có kích thích ngoại cảnh quá mức sẽ dẫn đến tình trạng ức chế bảo vệ của vỏ não Vì thế, trẻ mới sinh ngủ suốt ngày
- Lúc đầu vỏ não chưa phát triển nên hoạt động của trẻ do các trung tâm dưới vỏ
điều khiển Do đó ở trẻ sơ sinh có những cử động có tính chất tự phát, có dạng múa giật, múa vờn của hệ thống ngoại tháp Dần dẫn vỏ não xuất hiện ở trẻ những vận động có ý thức và phối hợp như ngồi, đứng, đi Sau này ở trẻ em khi bị kích thích quá mức như sợ hãi, tức giận có thể gây ức chế cho hoạt động vỏ não, giải phóng trung tâm dưới vỏ và tạo
Trang 2nên những cử động bất thường của hệ thống dưới vỏ(biểu hiện bằng những cử động không mục đích, không trật tự, không phối hợp)
II Những khác biệt chính của hệ thần kinh trẻ so với người lớn
- Người lớn có nhiều nơ ron thần kinh hơn
- Não của người lớn có đường liên hệ thần kinh tạm thời giúp thực hiện phản xạ có điều kiện
- Não bộ phát triển đầy đủ rãnh, thùy rõ nét
- Tế bào thần kinh đã được biệt hóa hoàn toàn
- Cân nặng của não bộ 1400gam
Câu 2: Trình bày những hiểu biết của anh chị về phản xạ có điều kiện và ứng dụng của nó trong Giáo dục mầm non
I Định nghĩa
1 Phản xạ
Phản xạ là những nhân tố của sự thích ứng thường xuyên hay là thăng bằng thường xuyên giữa cơ thể và môi trường hoặc có thể nói: phản xạ là hoạt động trả lời của cơ thể đối với sự thích nghi của cơ quan nhận cảm, được thực hiện qua hệ thần kinh trung ương
Ví dụ: Sờ tay vào nước nóng thì rụt tay lại
2 Cung phản xạ
Cung phản xạ là đường truyền của xung động thần kinh từ cơ quan thụ cảm qua trung ương thần kinh đến cơ quan thực hiện
Cung phản xạ gồm 5 khâu: Bộ phận nhận cảm, đường thần kinh tryền cảm giác (dây thần kinh hướng tâm), trung ương thần kinh: não bộ và tủy sống, đường thần kinh truyền vận động (dây thần kinh li tâm), cơ quan thực hiện (cơ quan hiệu ứng)
3 Trung khu thần kinh
Trong hệ thần kinh trung ương có những vùng liên quan chặt chẽ với từng chức phận sinh lí của cơ thể, mỗi vùng như vậy gọi là trung khu thần kinh
Trung khu thần kinh là một nhóm các tế bào thần kinh tham gia điều khiển một phản xạ hoặc điều hòa một chức năng nào đó
Một trung khu thần kinh có thể nằm ở một hay nhiều nơi
Ví dụ: Trung khu hô hấp vừa nằm ở hành tủy, vừa nằm ở vỏ não
4 Phản xạ có điều kiện
Phản xạ có điều kiện là phản ứng của cơ thể đối với các tác nhân kích thích tác động
từ bên ngoài hoặc từ bên trong cơ thể với sự tham gia của vỏ não
Phản xạ có tính chất bẩm sin, di truyền, đặc
trưng cho loài
Phản xạ tự tạo, được hình thành trong đời sống cá thể, đặc trưng cho cá thể
Số lượng hạn chế Số lượng không hận chế
Phản xạ rất bền vững, từ đời này sang đời Phản xạ không bền vững (vì nó là phản ứng
Trang 3khác thích nghi với nhân tố mới của môi trường)
Vì thế muốn duy trì phản xạ phải thường xuyên củng cố
Tác nhân kích thích phải là tác nhân thích
ứng
Ví dụ: Muốn có phản xạ tiết nước bọt thì
tác nhân kích thích là thức ăn
Tác nhân kích thích có thể là bất kì
Ví dụ: Chó có thể chảy nước bọt, liếm mép, vẫy đuôi khi bị điện giật
Nơi đóng mở của phản xạ là phần dưới vỏ
não
Nơi đóng mở của phản xạ là phần cao nhất của hệ thần kinh – vỏ não
Báo hiệu trực tiếp kích thích gây ra phản xạ Báo hiệu gián tiếp kích thích gây ra phản
xạ không điều kiện tương ứng
II Điều kiện để thành lập phản xạ có điều kiện
- Phản xạ có điều kiện được thành lập trên cơ sở một phản xạ không điều kiện Hay nói cách khác, cơ sở sinh lí của phản xạ có điều kiện là phản xạ không điều kiện
- Tác nhân kích thích có điều kiện phải tác động trước tác nhân kích thích không điều kiện và khoảng cách giữa hai tác nhân không quá lâu
- Phải thường xuyên củng cố Nếu không thường xuyên củng cố tác nhân kích thích không điều kiện thì phản xạ sẽ mất đi
- Đối tượng thực nghiệm phải có bộ phận nhận cảm lành mạnh và phần vỏ não tương ứng nguyên vẹn
- Cường độ kích thích của tác nhân có điều kiện và tác nhân không điều kiện phải
đủ mạnh và theo một tỷ lệ tương ứng Thường tác nhân kích thích không điều kiện mạnh hơn tác nhân kích thích có điều kiện
- Không có tác nhân phá rối
III Cơ chế thành lập phản xạ có điều kiện
* Thí nghiệm của Paplốp
Khi cho chó ăn thì chó tiết nước bọt Đây là phản xạ không điều kiện
Bật đèn kết hợp với cho chó ăn thì chó cũng tiết nước bọt Làm thí nghiệm này lặp
đi lặp lại nhiều lần Kết quả là, chỉ cần bật đèn chó cũng tiết nước bọt Đây là phản xạ có điều kiện
Sở dĩ bật đèn chó tiết nước bọt là do ở chó đã thành lập đường liên hệ thần kinh tạm thời (đường mòn thần kinh) giữa trung khu ăn uống và trung khu thị giác trên vỏ não
* Cơ chế
Khi cho chó ăn, thức ăn chạm vào lưỡi làm xuất hiện luồng xung động thần kinh truyền về trung khu ăn uống(ở hành tủy) và gây hưng phấn trung khu này Từ trung khu
ăn uống, hưng phấn được truyền đến tuyến nước bọt gây tiết nước bọt (phản xạ không điều kiện) Đồng thời, hưng phấn từ trung khu ăn uống được truyền lên trung khu ăn uống ở vỏ não và làm cho trung khu này cũng bị hưng phấn
Trang 4Khi bật đèn các tác nhân kích thích là ánh sáng sẽ tác động đến bộ phận nhận cảm ở mắt và làm cho bộ phận này bị hưng phấn Hưng phấn đó được truyền qua dây thần kinh thị giác về trung khu thị giác trên vỏ não và cũng làm cho trung khu này bị hưng phấn Bật đèn kết hợp với cho chó ăn, như vậy cùng một lúc trên vỏ não có hai trung khu
bị hưng phấn (trung khu hưng phấn và trung khu thị giác) Sau nhiều lần tiến hành thí nghiệm này, dần dần trên vỏ não đã hình thành được đường liên hệ thần kinh tạm thời (đường mòn thần kinh) giữa hai trung khu đó
Có hai giả thuyết giải thích về cơ chế hình thành đường liên hệ thần kinh tạm thời:
- Giả thuyết một cho rằng : đường mòn thần kinh được hình thành do sự lan tỏa của hai trung khu đang cùng hưng phấn trên vỏ não
- Giả thuyết hai cho rằng: do có sự hút của trung khu hưng phấn ưu thế (trung khu
ăn uống) đối với trung khu hưng phấn yếu hơn (trung khu thị giác)
* Theo quan niệm của Paplốp: khi trên vỏ não có 2 trung khu thần kinh hưng phấn thì có hiện tượng khuếch tán từ trung khu yếu sang trung khu mạnh và lặp đi lặp lại nhiều lần thí nghiệm, thì mỗi lần sẽ để lại một dấu vết Cuối cùng, giữa hai trung khu đó đã thành lập được đường liên hệ thần kinh tạm thời
Như vậy, đường liên hệ thần kinh tạm thời đã được hình thành giữa hai nhóm tế bào của vỏ não theo con đường nằm ngang vỏ não – vỏ não
IV Ứng dụng
* Hình thành và rèn luyện các PXCĐK trong hoạt động ăn uống
Việc hình thành PXCĐK cho trẻ thông qua hoạt động ăn uống giúp trẻ ăn ngon hơn,
ăn nhanh và ăn hết suất, hình thành hành vi văn minh trong ăn uống cho trẻ
Trước hết, cần hình thành cho trẻ phản xạ về thời gian: Trong lịch biểu chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non thì giờ ăn trưa của trẻ thường vào khoảng 10h30 – 11h đối với trẻ mẫu giáo Sau một thời gian, hoạt động ăn được lặp đi lặp lại nhiều lần với một khoảng thời gian xác định sẽ giúp cho trẻ hình thành thói quen ăn uống đúng giờ Nên những ngày sau, chỉ cần đến giờ ăn, trẻ sẽ có phản ứng tiết nước bọt và thèm ăn PXCĐK này giúp kích thích vị giác và các trung khu ăn uống tiết dịch để tiêu hóa thức ăn được nhanh và dễ dàng hơn
Phản xạ tiếp theo mà chúng ta cần hình thành cho trẻ là phản xạ về tạo môi trường
ăn uống Trước bữa ăn, cho trẻ đi vệ sinh, rửa tay, rửa mặt Cô chuẩn bị thức ăn cho trẻ
Cô cùng trẻ chuẩn bị cho bữa ăn: bàn ghế, bát thìa, khăn mặt, đĩa đựng thức ăn rơi vãi Việc chuẩn bị bữa ăn tạo điều kiện thuận lợi và tâm thế sẵn sàng cho trẻ vào bữa ăn Trẻ được vệ sinh sạch sẽ, đồ dùng cho bữa ăn được chuẩn bị đầy đủ Khi trẻ dọn bàn ăn,
kê bàn ghế cùng cô, lấy bát thìa, chia thức ăn…lúc này trẻ đã thực sự tập trung vào bữa
ăn, làm cho dạ dày và ruột của trẻ đã trong tư thế sẵn sàng, dịch vị tiết ra nhiều sẽ có lợi cho tiêu hóa và giúp trẻ ăn ngon miệng hơn
Trang 5Khi chuẩn bị bữa ăn là lúc tạo ra các kích thích để hướng trẻ vào bữa ăn Tiếng động khi chuẩn bị đồ dùng ăn uống, mùi thơm, màu sắc của thức ăn, được lặp đi lặp lại trong nhiều ngày liên tiếp có tác dụng kích thích trẻ thèm ăn
Tuy nhiên, cần cho trẻ ăn đúng giờ để giúp hệ tiêu hóa của trẻ tiết dịch vị và hoạt động tốt hơn Thời gian chuẩn bị bữa ăn cho trẻ cũng chỉ nên từ 5 – 10 phút, không nên
để trẻ đợi quá lâu khiến trẻ giảm sự thèm ăn, hiệu quả bữa ăn không cao, trẻ nói chuyện gây ồn ào trong bữa ăn
Việc hình thành các PXCĐK này cho trẻ trong quá trình ăn uống sẽ giúp trẻ xác định được thời gian ăn của mình, ăn đúng giờ và ăn nhanh, hết suất Môi trường ăn uống
sẽ tạo cho trẻ không khí vui vẻ, thoải mái, hào hứng với giờ ăn, mong muốn được ăn từ
đó góp phần kích thích vị giác ở trẻ, trẻ sẽ có phản ứng tiết nước bọt và thèm ăn giúp trẻ
ăn ngon miệng hơn, ăn nhanh hơn, tiêu hóa tốt hơn và đem lại hiệu quả cao hơn trong bữa ăn
* Hình thành PXCĐK trong hoạt động ngủ
Trẻ lứa tuổi mẫu giáo ngủ trung bình 10 – 12 tiếng/ ngày và ngủ trưa ở trường từ 2 – 2,5 tiếng Do đó, việc tổ chức giấc ngủ cho trẻ ở trường mầm non cần phải khoa học và
có hiệu quả
Đầu tiên, cần hình thành PXCĐK về thời gian ngủ cho trẻ, khoảng từ 11h30 đến 14h Hàng ngày, sau bữa ăn trưa, trẻ sẽ được giáo viên hướng dẫn thực hiện một số công việc tự phục vụ như: rửa tay, đi vệ sinh, trải chiếu, lấy gối, chăn ra cho trẻ Sau khi thực hiện được một thời gian, hành động này được lặp đi lặp lại nhiều lần thì chỉ cần bữa ăn kết thúc trẻ sẽ biết mình phải làm gì, và phản xạ buồn ngủ của trẻ được thiết lập
Ngoài ra, đối với những trẻ bé hoặc khó ngủ giáo viên có thể hát ru kết hợp bật nhạc nhẹ để ru trẻ ngủ, giúp cho trẻ nhanh đi vào giấc ngủ hơn Hành động này được giáo viên thực hiện thường xuyên thì đến một thời điểm nào đó, với các đồ dùng cần thiết, giáo viên chỉ cần bật nhạc nhẹ một lúc thì trẻ có thể ngủ dễ dàng được mà không cần hát ru Với những trẻ khó ngủ, giáo viên vẫn có thể kết hợp hát ru để trẻ ngủ nhanh hơn
Từ những PXCĐK này, hình thành cho trẻ thói quen tự giác trong việc chuẩn bị giấc ngủ của mình, có những hành vi văn minh trong quá trình ngủ: không nói chuyện, không tranh giành chỗ của bạn…để giúp trẻ ngủ nhanh hơn, có giấc ngủ ngon và sâu hơn
Câu 3: Trình bày cấu tạo của bộ não và những khác biệt chính của bộ não trẻ em với người trưởng thành.
1 Cấu tạo của bộ não
Cho đến lúc ra đời, não bộ của trẻ vẫn chưa được phát triển đầy đủ, mặc dù hình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác với não của người lớn là mấy Ở trẻ sơ sinh, não bộ có kích thước nhỏ, trọng lượng khoảng 370 – 392g (=1/8-1/9 trọng lượng cơ thể)
Trang 6Ở người lớn trọng lượng của não bằng 1/40 - 1/49 trọng lượng cơ thể Như vậy, 1kg cân nặng trẻ em có 109g chất não, còn ở người lớn chỉ có 20,5g chất não Trong 9 năm đầu trọng lượng của não tăng lên mạnh mẽ Chẳng hạn, trẻ được 6 tháng tuổi, trọng lượng của não tăng gấp đôi lúc mới sinh, 3 tuổi tăng gấp 3 và khi trẻ được 9 tuổi thì não nặng trung bình là 1300g (chỉ kém não người lớn khoảng 100g) Đến tuổi dậy thì trọng lượng của não hầu như không thay đổi Như thế không có nghĩa trong não không xảy ra sự thay đổi nào
Lớp trong của não bộ phát triển chậm so với lớp vỏ ngoài, chính sự phát triển quá mạnh đó của lớp vỏ tạo thành những nếp nhăn, những rãnh trên vỏ não Đến lúc sinh, mặt ngoài não bộ trẻ sơ sinh giống như ở người lớn (nghĩa là có tất cả các khe và các rãnh, tuy nhiên các khe và các rãnh còn chưa biểu hiện rõ rệt, chưa sâu) Quá trình này diễn ra đặc biệt mạnh mẽ đến khi trẻ được 5 tuổi Khi trẻ được khoảng từ 7-14 tuổi thì não bộ của nó giống như người lớn
Não của trẻ em có 100 tỉ tế bào và vỏ não cũng có 6 lớp nhưng các tế bào thần kinh
vỏ não chưa được biệt hóa hoàn toàn Khi trẻ được khoảng 3 tuổi, đa số các tế bào thần kinh đã biệt hóa, nhưng phải đến khoảng 8 tuổi mới biệt hóa hoàn toàn như ở người lớn Các tế bào thần kinh sắp xếp liền nhau không những ở mặt ngoài vỏ não mà cả trong chất trắng nữa Vì vậy, sự phân biệt giữa chất trắng và chất xám cũng như lớp vỏ và trung tâm dưới vỏ ở não bào thai và trẻ sơ sinh chưa rõ rệt Sau này, vỏ não ngày càng phát triển, các tế bào thần kinh đã phân hóa ra và tập trung ở phần vỏ não
Ở trẻ mới sinh, các sợi thần kinh chưa được miêlin hóa hết, đến tháng thứ 3 các dây thần kinh sọ não có vỏ miêlin Đến tháng thứ 3-6 bó tháp có vỏ bọc miêlin, các dây thần kinh ngoại biên phải đến khi trẻ được 3 tuổi mới có vỏ bọc miêlin Nói chung đến gần 2 tuổi thì quá trình miêlin hóa đã tương đối hoàn thiện Sự miêlin hóa có ý nghĩa lớn vì nó góp phần làm cho hưng phấn được truyền một cách riêng biệt theo các sợi thần kinh Vì thế, hưng phấn được truyền đến vỏ não một cách chính xác, định khu hơn Từ đó hoạt động của trẻ hoàn thiện hơn
Trong thời kì sơ sinh vỏ não và thể vân chưa phát triển Lúc đầu chủ yếu các trung tâm dưới vỏ, sau đó vỏ não mới được hình thành và phát triển
Hệ thống mao mạch trong não của trẻ (đặc biệt là ở trẻ sơ sinh) phát triển mạnh, các đám rối huyết quản chưa phát triển
Trong não của trẻ có nhiều nước, nhiều chất đạm, ít chất mỡ Khi trẻ được 2 tuổi thì thành phần hóa học của não giống như người lớn
Sự phát triển của các đường dẫn truyền diễn ra mạnh mẽ theo sự tăng lên của tuổi
và được tiếp tục cho đến khi trẻ 14 - 15 tuổi
Tóm lại não bộ trẻ em có những đặc điểm sau:
- Các tế bào thần kinh chưa được biệt hóa hoàn toàn
- Các hệ thần kinh chưa được miêlin hóa đầy đủ
Trang 7- Hệ thống mao mạch của não phát triển nhiều.
- Trong não có chứa nhiều nước
Chính vì đặc điểm trên mà não trẻ em dễ bị xung huyết, trong các bệnh trẻ em dễ có phản ứng não (hôn mê, co giật) Khi bị trúng độc trẻ thường bị nặng hơn
* Tiểu não tuy phát triển muộn nhưng có tốc độ phát triển nhanh Trẻ sơ sinh tiểu
não chưa phát triển: các rãnh chưa sâu, khối lượng còn nhỏ Khi trẻ được khoảng 1-2 tuổi tiểu não có khối lượng và kích thước gần giống với não của người lớn
* Hành tủy, não giữa có được vị trí giống như ở người lớn về mặt chức năng khi trẻ
được 5-6 tuổi
* Hệ thần kinh thực vật : Trong giai đoạn đầu của sự phát triển ở trẻ, hai phần giao
cảm và phó giao cảm của hệ thần kinh thực vật phát triển không đồng đều Hệ giao cảm
có tác dụng chiếm ưu thế trong những tháng đầu của trẻ sơ sinh cho đến 7 tuổi Hệ phó giao cảm có tác dụng khi trẻ được 3 tháng
2 Chức phận
- Phản ứng vỏ não có xu hướng lan tỏa Do các tế bào thần kinh chưa biệt hóa nên
bất kì một kích thích nào cũng đều gây phản ứng toàn thể
Ví dụ: Khi kích thích vào da của trẻ (đặc biệt trẻ sơ sinh) thì nó co cả tay và chân.
- Khả năng hưng phấn của vỏ não còn yếu, chóng bị mệt mỏi Đặc biệt ở trẻ sơ sinh
khi có kích thích ngoại cảnh quá mức sẽ dẫn đến tình trạng ức chế bảo vệ của vỏ não Vì thế, trẻ mới sinh ngủ suốt ngày
- Lúc đầu vỏ não chưa phát triển nên hoạt động của trẻ do các trung tâm dưới vỏ
điều khiển Do đó ở trẻ sơ sinh có những cử động có tính chất tự phát, có dạng múa giật, múa vờn của hệ thống ngoại tháp Dần dẫn vỏ não xuất hiện ở trẻ những vận động có ý thức và phối hợp như ngồi, đứng, đi Sau này ở trẻ em khi bị kích thích quá mức như sợ hãi, tức giận có thể gây ức chế cho hoạt động vỏ não, giải phóng trung tâm dưới vỏ và tạo nên những cử động bất thường của hệ thống dưới vỏ(biểu hiện bằng những cử động không mục đích, không trật tự, không phối hợp)
3 Những khác biệt chính của hệ thần kinh trẻ so với người lớn
- Người lớn có nhiều nơ ron thần kinh hơn
- Não của người lớn có đường liên hệ thần kinh tạm thời giúp thực hiện phản xạ có điều kiện
- Não bộ phát triển đầy đủ rãnh, thùy rõ nét
- Tế bào thần kinh đã được biệt hóa hoàn toàn
- Cân nặng của não bộ 1400gam
Câu 4: Trình bày những hiểu biết của chị về Định hình động lực (động hình) và ứng dụng của nó trong Giáo dục mầm non
I.Khái niệm định hình động lực
Trang 8Định hình động lực ( Hoạt động định hình động) là khả năng biến đổi của nó trong não bộ từ hoạt động định hình cũ sang một hoạt động định hình mới
II Cơ chế hình thành hoạt động định hình
Để hiểu được cơ chế hình thành hoạt động định hình động ta tìm hiểu thí nghiệm sau :
Mô tả thí nghiệm:
Đầu tiên, tiến hành thành lập ở chó một số phản xạ tiết nước bọt có điều kiện đối với một số tín hiệu có điều kiện khác nhau (ánh sáng, máy gãi, tiếng chuông, tiếng nước chảy, máy gõ nhịp 60 nhịp/phút và ức chế phân biệt với tiếng máy gõ nhịp 120 nhịp/phút) Về sau ta cho lặp lại các tín hiệu nói trên theo một trật tự nhất định với khoảng cách thời gian giữa các kích thích là 5 phút Trong điều kiện như vậy ta sẽ gây được các phản ứng phản xạ có điều kiện, có cường độ khác nhau phù hợp với đặc điểm tác dụng của từng kích thích và một phản xạ ức chế với tiếng máy gõ nhịp 120nhịp/phút
Tiếp theo, nếu cho các tín hiệu tác dụng lặp đi lặp lại theo một trình tự không thay đổi trong một thời gian xác định ( nhiều ngày liên tục) ta sẽ tạo được trong não
bộ con vật một hệ thống chức năng
Bây giờ thay tác dụng của các tín hiệu nói trên bằng một tín hiệu bất kì trong số các tín hiệu đã được sử dụng Cho tín hiệu này tác dụng liên tục trong 6 lần trên các tín hiệu cũ Mặc dù tác dụng lên vị trí lạ, nhưng mỗi kích thích đó lại có tác dụng giống tín hiệu nằm ở vị trí “ lạ” Ví dụ, khi tác dụng lên vị trí của tín hiệu phân biệt tất cả các kích thích đều giảm hiệu lực Đó là “ vị trí ức chế” Còn khi tác dụng lên vị trí có điều kiện mạnh ( tiếng chuông) thì ngay cả kích thích yếu như ánh sang cũng làm cho một lượng nước bọt khá lớn tiết ra
Như vậy, não bộ đã vết trật tự kế tiếp của các phản ứng phản xạ với các tín hiệu khác nhau đã liên kết tất cả chúng lại thành một hệ thống tín hiệu cố định
III.Một số đặc điểm và ý nghĩa sinh học của định hình động lực
3.1 Đặc điểm của định hình động lực:
- Hoạt động định hình được hình thành rất khó khăn, nhưng khi đã được thành lập, nó lại có tính ỳ rất lớn và trong các điều kiện không đổi thì hoạt động định hình ngày càng trở nên bền vững
- Hoạt động định hình có thể thay đổi hay còn gọi là hoạt động định hình động nếu thay đổi cả hệ thống các phản xạ đã được cố định trước đó
- Hoạt động định hình hướng việc thành lập phản xạ mới theo ảnh hưởng của nó
Trang 9- Hoạt động định hình cho phép phản ứng một cách thích nghi, mặc dù có sự thay đổi
về hoàn cảnh
3.2 Ý nghĩa của định hình động lực trong việc giúp động vật và con người thích nghi với môi trường sống:
Từ các tính chất của hoạt động định hình nói trên ta có thể thấy rõ các ý nghĩa đặc biệt của nó trong tập tính của động vật và trong hoạt động sống của con người Sự săn mồi của thú dữ, đào hang của loài gặm nhấm, làm tổ của các loàichim đều là biểu hiện của hoạt động định hình
Từ các hoạt động định hình đó của các động vật trong thiên nhiên đã hình thành cái gọi là cách thức sống Toàn bộ lối sống của con người cũng dẫn đến sự hình thành vô số hoạt động định hình trong lao động và trong sinh hoạt Các hoạt động đó được biểu hiện bằng sự xuất hiện trạng thái ngon miệng vào đúng thời gian ăn, cảm thấy khaon khoái sau khi tập thể dục buổi sang, trong mọi thói quen vệ sinh, trong mọi hoạt động với động tác chính xác
Đối với những người có tính tỉ mỉ, toàn bộ thời khóa biểu trong ngày có thể là một
hệ thống cố định, nó làm dễ dàng rất nhiều cho việc thực hiện mọi công việc trong ngày Càng lớn tuổi, hoạt động định hình càng được củng cố và càng khó khăn thay đổi
Do đó, chúng ta thấy tính thủ cựu ở những người già, ở họ tính linh hoạt của các quá trình thần kinh đều đã giảm sút
Những sự thay đổi nhanh chóng về lối sống có thể gây ra cho họ sự rối loạn trong hoạt động thần kinh cấp cao Có nhiều say mê công việc suốt đời, khi về già thì phải bỏ công việc thường có những cảm xúc khổ tâm không phải chỉ vì có ý thức trong lao động
có ích cho xã hội mà còn vì sự thay đổi hẳn hoạt động định hình đã có sẵn
Trong cuộc sống hàng ngày của con người, hoạt động định hình chính là cách thức sống, thích nghi với môi trường Định hình là cơ sở sinh lý của việc hình thành thói quen,
kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động và lao động Nó giúp con người thực hiện dễ dàng một
số động tác phức tạp Ví dụ: Kỹ năng lái xe ô tô, khi đã biết lái và lái xe một vài lần, dần dần người ta sẽ trở nên thông thạo và thuần thục ở mọi địa hình
Động lực định hình động hình giúp con người thích nghi nhanh chóng với sự biến đổi của môi trường sống Điều kiện sống không phải là hằng định mà luôn biến đổi, chuyển động không ngừng, làm cho chuỗi phản xạ trong định hình cũng thay đổi dần dần cho phù hợp Chính vì vậy, con người mới có thể thích nghi và ngày càng phát triển Trong quá trình phát triển loài, con người là động vật bậc cao tiến hóa thành người, còn con vật thì khó có thể thực hiện được
Ví dụ: Từ xa xưa, giai đoạn đầu tiến hóa thành người của vượn cổ, do điều kiện môi trường thay đổi, sống ở trên cây không còn thuận lợi cho sự sinh tồn nữa, tổ tiên ta đã từ
Trang 10trên cây xuống mặt đất kiếm ăn bằng phương thức mới đó là săn, bắt, hái lượm Nhờ vậy, giúp con người dần dần có dáng đứng thằng, đi bằng 2 chân…
Thay đổi định hình là thay đổi trình tự, thay đổi những quan hệ không gian và thời gian trong hoạt động của các trung khu ở vỏ não, tạo ra những mối quan hệ mới, tức là bắt buộc các tế bào vỏ não phải thay đổi hoạt động Vì thế hoạt động định hình của não
bộ có tính linh hoạt và tính thích nghi cao
III.Ứng dụng
Do ý nghĩa quan trọng của hoạt động định hình mà nhiệm vụ quan trọng của nhà giáo là phải chú ý dến các điều kiện làm dễ dàng cho việc thành lập các hệ thống định hình cần thiết đối với học sinh Đó là việc tổ chức chế độ học tập hang ngày, thời khóa biểu hàng tuần, nội dung các bài học dựa trên những hiểu biết đã có của học sinh
Định hình động lực là cơ sở sinh lý của việc hình thành thói quen, kĩ năng, kĩ xảo và
nề nếp sinh hoạt trong hoạt động của trẻ em Ví dụ: Có thể hình thành cho trẻ thói quen rửa tay trước khi ăn, lau miệng và đánh răng sau khi ăn, rửa chân trước khi đi ngủ… Sau này, khi trẻ đã hình thành được thói quen, chỉ cần biết sắp được ăn là trẻ sẽ tự hoặc là nhờ người lớn rửa tay, khi ăn xong thì tự lau miệng và đánh răng Dựa vào định hình động lực
có thể hình thành cho trẻ kĩ năng phát âm, kĩ năng hát, múa, đóng vai trong các trò chơi… Ở mức cao hơn, có thể hình thành và tập luyện cho trẻ những kĩ năng, kĩ xảo trong các trò chơi như xếp hình khéo, vẽ tranh đẹp, múa đẹp, hát hay…
Thay đổi định hình là thay đổi trình tự, thay đổi những quan hệ không gian và thời gian trong hoạt động của các trung khu ở vỏ não, tạo ra những quan hệ mới, tức là bắt buộc các tế bào vỏ não của trẻ phải thay đổi hoạt động Vì vậy, đối với trẻ em, thay đổi định hình động lực gây căng thẳng thần kinh Bởi vậy, khi không cần thiết, không nên thay đổi định hình Tuy nhiên, điều kiện sống của trẻ lại luôn luôn biến động và đa dạng nên sự thay đổi định hình động lực là cần thiết để trẻ thích nghi với điều kiện sống luôn luôn biến động Hơn nữa, nếu tính ổn định của định hình động lực quá mức sẽ làm ngăn trở sự thích nghi của cơ thể với môi trường, cản trở sự phát triển và tính linh hoạt của trẻ Muốn định hình linh hoạt phải có chế độ luyện tập chu đáo, có cơ sở khoa học cho trẻ
em, quan tâm thường xuyên tới các em mọi nơi, mọi lúc
ĐỊNH HÌNH ĐỘNG LỰC (Phần 2)
Thế giới chung quanh tác động liên tiếp và đồng thời lên cơ thể một hệ thống tác nhân kích thích Trong nhiều trường hợp hệ thống đó được lặp lại nhiều lần và nó đã trở nên một định hình Định hình kích thích khi lặp lại nhiều lần sẽ tạo nên trong vỏ bán cầu não một tấm thảm tương ứng của ổ hưng phấn và ức chế được phát sinh và thay thế lẫn nhau một cách liên tục