Sắc ký Chromatography là một phương pháp phân tách quan trọng nhất trong sinh học phân tử vì nó thích hợp với nhiều loại hợp chất và sản phẩm tinh sạch có thể được sử dụng ngay cho việc
Trang 1TS: Ngô Đại Nghiệp
Lớp: SHO7B1
Nhóm 4 MSSV
Nguyễn Đinh Diễm Thụy
30700514 Huỳnh Thị Lệ Phương 30760857
Nguyễn Anh Tôn 30700536
Trần Quốc Nhẫn 30700342
Đỗ Minh Trí 30760942
Trang 2 Sự tinh sạch của protein rất quan trọng vì từ
protein tinh sạch chúng ta có thể xác định được trình tự acid amin, mối liên hệ về tiến hóa giữa
các protein trong những cá thể khác nhau và khảo sát các chức năng sinh hóa của các protein đó
Để tinh sạch protein, người ta thường dựa vào
các đặc điểm tương đồng và các tính chất khác
nhau vốn có của nó
Trong một số trường hợp, để dễ dàng hơn cho
việc tinh sạch, người ta gắn vào protein một đuôi acid amin (tag) - tạo ra dạng protein dung hợp
(fusion protein)
Trang 3 Tủa protein
Thẩm tích
Siêu lọc
Sắc ký (Sắc ký giấy, sắc ký cột, Sắc ký lỏng – khí, Sắc lý ái lực miễn dịch, Sắc ký ái lực, Sắc ký trao đổi ion, Sắc ký cao áp lỏng…)
Điện di protein (điện đi trên gel Agarose, điện di trên gel Polyacrylamide, điện di protein theo
điểm đẳng điện… )
Phương pháp tốt nhất để phân đoạn protein là sắc ký cột (column chromatography).
Trang 4Sắc ký (Chromatography) là một phương pháp phân tách quan trọng nhất trong sinh học phân tử vì nó thích hợp với nhiều loại hợp chất và sản phẩm tinh sạch có thể được
sử dụng ngay cho việc định lượng và định danh
Trang 6
Sắc ký cột là phương pháp mà chất nhồi
(là pha tĩnh: hấp phụ, trao đổi ion, phân bố gen) được nhồi vào cột, dùng để phân chia các chất trong hỗn hợp và tinh chế các
chất Thông thường, người ta hoà tan hỗn hợp chất nghiên cứu vào một dung môi
(pha động) với lượng vừa đủ, rồi nạp lên cột theo cách phù hợp sao cho chất
nghiên cứu lan thành một lớp phẳng lên cột; sau đó, tiến hành sắc ký.
Trang 7Phương pháp sắc ký dựa vào sự phân
bố khác nhau của các chất giữa hai pha
động và tĩnh Có nhiều nguyên nhân đưa đến sự phân bố khác nhau của các chất, nhưng chính sự lặp đi lặp lại hiện tượng hấp phụ - phản hấp phụ của các chất khi dòng pha động chuyển động qua pha
tĩnh là nguyên nhân chủ yếu của việc
tách sắc ký
Trang 8
K=Cs/Cm=Nồng độ của hợp chất trong pha tĩnh/Nồng độ của hợp chất trong pha động.
Trang 9 Chất nhồi cột (pha tĩnh, stationary phase,
thường dùng silicagel,) Chất nhồi cột quyết
định quá trình sắc kí
thuộc vào chất nhồi cột
Trang 10Thực hiện:
và cân silicagel cần dùng, pha dung môi chạy hệ rồi thì hòa tan silicagel vào dung môi đó
nạp mẫu khô và nạp mẫu ướt
1 miếng bông gòn ở bên trên mẫu chất để ổn
định hệ rồi tiếp tục châm dung môi vào, từ từ
thay đổi độ phân cực của hệ, Bước 4 mở khóa : lúc này cột bắt đầu tách chất, hứng lượng dung môi chảy ra , mỗi lần hứng khoảng 1/5 hũ Sau đó đem chấm bản các hủ bi, những hủ có vệt tương tự nhau sẽ được gom lại, đó là 1 chất Tiếp tục như vậy thì cuối cùng
ta sẽ tách được các chất mong muốn.
Trang 11Đây là phương pháp sắc ký đơn giản
nhất ví dụ, hai chất A và B liên tục chảy qua cột có nạp sẵn các các chất hấp phụ Người ta xác định nồng độ các cấu tử
trong dung dịch chảy ra khỏi cột và xây dựng đồ thị theo hệ toạ độ: nồng độ cấu tử- thể tích dung dịch chảy qua cột đồ thị này thường gọi là sắc ký đồ hay
đường cong thoát (có tác giả gọi là
đường cong xuất)
Trang 13Trong phương pháp rửa giải, đầu tiên người
ta cho V ml dung dịch chứa hỗn hợp các cấu tử (ví dụ, hỗn hợp hai cấu tử A và B, trong đó A
có ái lực với cột nhỏ hơn B) chạy qua cột Các cấu tử A, B chứa trong V ml trước hết sẽ bị giữ lại ở phần trên của cột Sau đó cho dung dịch rửa (thường là dung môi hoà tan các cấu tử) chảy qua cột Lúc đó các cấu tử bị giữ ở phần trên của cột sẽ bị dung môi “rửa” và đưa dẫn xuống phía dưới Cấu tử A có ái lực với cột
nhỏ hơn B nên chuyển động xuống phía
dưới nhanh hơn B
Trang 15Trong phương pháp rửa đẩy, sau khi
đưa mẫu vào cột, ta cho chảy qua cột một dung dịch rửa chứa chất có ái lực với
pha tĩnh lớn hơn các cấu tử cần tách
Các cấu tử cần tách sẽ bị chuyển dần
xuống phía dưới khi ta tiến hành quá
trình rửa cột và tuần tự thoát ra khỏi
cột Cấu tử thoát ra khỏi cột đầu tiên là cấu tử tương tác với pha tĩnh yếu nhất, sau đó dần dần đến các cấu tử có ái lực
với cột mạnh dần
Trang 16V PHÂN LOẠI CÁC
PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ:
Trang 17chất lỏng được tẩm lên bề mặt một chất mang rắn hoặc một chuỗi dây carbon dài được gắn lên trên chất mang rắn
Trang 18Pha động : có thể là chất lỏng hoặc chất khí.
kỹ thật sắc ký khí Trong trường
hợp này chất khí được gọi là khí
mang hay khí vecto
kỹ thuật sắc ký giấy, sắc ký lớp
mỏng, sắc ký cột Trong trường hợp này chất lỏng được gọi là dung môi giải ly (eluant).
Trang 19Sắc ký phân chia (Partition chromatography)
Pha động là chất lỏng hoặc chất khí (trong sắc
ký khí).
Pha tĩnh là chất lỏng, lớp chất lỏng với chiều dày rất mỏng, chất lòng này được nối hóa học lên bề mặt của những hạt rắn, nhuyễn mịn và
có tính trơ.
Trang 20Sắc ký hấp thu (Adsorption
chromatography)
Pha động là chất lỏng hoặc chất khí
Pha tĩnh là chất rắn: đó là những hạt rắn
nhuyễn mịn, có tính trơ, được nhồi trong
một cái ống bản thân hạt rắn là pha tĩnh, pha tĩnh thường sử dụng là những hạt silica gel hoặc alumin.
Trang 21Sắc ký trao đổi ion (Ion exchange
chromatography)
Pha động chỉ có thể là chất lỏng.
Pha tĩnh là chất rắn, là những hạt hình cầu rất nhỏ, có cấu tạo hóa học là polymer nên gọi là hạt nhựa Bề mặt của hạt mang các nhóm chức hóa học ở dạng ion Có hai
loại nhựa: nhựa trao đổi anion và nhựa
trao đổi cation
Trang 24Sắc ký lọc gel ( Size exclusion
chromatography; gel filtration
chromatography)
Pha động chỉ có thể là chất lỏng.
Pha tĩnh là chất rắn, đó là những hạt hình cầu bằng polymer, trên bề mặt có nhiều lỗ rỗng
Trang 26 Sắc ký ái lực dựa vào tính bám dính của một protein, các hạt trong cột có nhóm hóa học kết dính bằng liên kế cộng hóa trị Một protein có ái lực với nhóm hóa học này sẽ gắn vào các hạt và di chuyển
sẽ bị cản trở.
Đây là một phương pháp rất hiệu quả và
được ứng dụng rộng rãi trong việc tinh sạch protein.
Một dạng rất phổ biến của sắc ký ái lực là sắc ký ái lực miễn dịch.
Sắc ký ái lực (affinity chromatography):
Trang 28phải có một áp lực tác động lên cột để có được một tốc độ chảy thích hợp
Kết quả thực có sự phân giải cao và phân tách nhanh.
Sắc ký lỏng cao áp:
Trang 29Sắc ký giấy và sắc ký lớp mỏng (paper and thin- layer chromatography):
Trong sắc ký giấy:
Pha tĩnh: một tờ giấy bằng cellulose
Pha động : là chất lỏng.
Trong sắc ký lớp mỏng:
Chất hấp thu thông dụng torng sắc ký lớp mỏng là silica
gel, là loại pha tĩnh với tính chất rất phân cực
Pha động: luôn luôn là chất lỏng
Trong sắc ký giấy và sắc ký lớp mỏng, kiểu triển khai sắc ký thông dụng nhất là pha động di chuyển từ
dưới thấp lên trên cao.
Trang 30Sắc ký cột hở cổ điển là tên gọi để chỉ loại sắc
ký sử dụng một ống hình trụ, được đặt
dựng đứng, với đầu trên hở và đầu dưới có gắn một khóa
Pha tĩnh rắn được nhồi vào ống trụ Mẫu
cần tách được đặt lên trên bề mặt của pha
tĩnh
Pha động là dung môi được liên tục rót
vào đầu cột
Trang 31Thời gian lưu (retention time): (tR )
Với máy sắc ký khí và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), pha tĩnh là bột rắn, nhuyễn cực mịn, được nén trong một ống hình trụ nên
cần phải có một thiết bị tạo lực đẩy để giúp
pha động di chuyển ngang qua pha tĩnh
Thiết bị cảm biến thường được gọi là đầu dò (detector) tạo ra các tín hiệu điện tử để ghi
Trang 32Độ phân giải(Resolution ,R)
Từ sắc ký đồ, người ta biết được độ
phân giải, ký hiệu R.
Độ phân giải của cột sắc ký cho biết cột
có khả năng tách các chất riêng ra hay
không, được định nghĩa là sự khác nhau
về thời gian lưu của hai pic kề sát nhau chia cho giá trị trung bình bề rộng đáy
của 2 pic đó
Trang 33Hình học Cấu hình
sắc ký Chiều di chuyển của pha động Loại sắc ký
Phẳng Giấy Đi lên, đi xuống,
từ tâm lan tỏa
tròn
Phân chia
Phẳng Lớp mỏng Đi lên, đi xuống,
từ tâm lan tỏa
tròn
Hấp thu, phân chia, trao đổi ion,
lọc gel Cột Cột hở Đi xuống Hấp thu, phân
chia, trao đổi ion,
lọc gel Cột Sắc ký khí (GC) Nhờ vào ngoại
lực Hấp thu, phân chia
lực chia, trao đổi ion, Hấp thu, phân
lọc gel
Trang 34VI CÁC LOẠI PHA TĨNH SỬ
DỤNG TRONG SẮC KÝ:
Trang 36 Silica gel làm pha tĩnh trong sắc ký được chế tạo bằng cách thủy giải silica natri (cho tác
dụng với acid sulfiric) để thành acid
polysilisic, tiếp theo là sự ngưng tụ và
polymer hóa để đạt các chỉ tiêu vật lý cần thiết như có các hạt với kích cỡ hạt, thể tích lỗ
rỗng trên bề mặt, diện tích bề mặt… như yêu cầu.
Có thể hiệu chỉnh tính hấp thu của silica gel bằng các cho silica gel kết hợp với những
hợp chất khác như các bazo, các dung dịch
Trang 37Silica gel- tạo nối dùng cho pha đảo
Loại silica gel pha đảo có tính kém phân cực nên có ái lực mạnh với các hợp chất kém phân cực, giữ chặt các hợp chất này lại trong cột Pha động
thường là nước
Thực hiện các phản ứng điều chế tương tự như trên nhưng nhóm chất cuối dãy thường là phenyl, cyano, amino, diol,…
Hoạt tính sinh học của những hợp chất thủ tính đặc trưng tùy theo hóa lập thể của chúng Có đối phân có hoạt tính chữa bệnh trong khí đối phân còn lại không có dược tính đó, mà còn gây độc, vì thế nhất thiết phải tách riêng chúng
b Silica gel chế hóa:
Trang 38Loại pha tĩnh thủ tính Cơ chế bắt giữ chất của pha
(Immobilised enzymes) Ái lực thủ tính
Phức amino acid kim loại Phức xuyên lập thể phân
Trang 39Alumina là oxid aluminium Al 2 O 3 được điều chế với là hydroxid aluminium, có thể điều chỉnh độ pH của dung dịch
phản ứng để sản xuất ra hạt alumina với
bề mặt có tính acid, tính kiềm hay trung tính.
Nhiệt độ lúc hoạt hóa trong quá trình
điều chế là đặc điểm khác nhau giữa
alumina và silica gel Muốn có alumina hoạt tính mạnh, cần phải đun nóng ở
400- 500 o C trong 12- 16 giờ Muốn làm
giảm hoạt tính, thêm nước vào.
Trang 40 Với sắc ký giấy, rất thuận tiện khi sử
dụng tờ giấy lọc làm pha tĩnh, nhưng
việc sử dụng trực tiếp có nhiều nhược điểm.
Ngược lại, nếu pha tĩnh làm bằng bột
giấy, các hạt nhuyễn mịn và cùng kích
thước sẽ tạo nên pha tĩnh đồng nhất
nên pha động di chuyển dễ dàng hơn và chất tan không lan rộng trên bề mặt của pha tĩnh.
Trang 41Gel là tên gọi chung cho các loại pha tĩnh được điều chế từ tinh bôt, agar
(polysaccarid) hoặc polyacrylamid,
trong đó các chuỗi dây dài được nối
mạng ngang để tạo thành mạng không gian ba chiều Gel thường được sử
dụng trong sắc ký cột hoặc điện di
Trang 42Tên thương
chất có trọng lượng phân tử (đơn vị C)
Thể tích gel trương nở trong nước (ml /g gel khô)
P-2 100 – 2.000 3
P-4 800 – 4.000 4
P-6 1.000 – 6.000 6,5
P-10 1.500 - 20.000 7,5
Trang 43Loại gel
chất có trọng lượng phân tử ( đơn vị C)
Thể gel trương
nở trong nước (ml/g gel khô)
Trang 44 Sắc ký cột khô (Dry – column
chromatography)
Sắc ký nhanh ( còn gọi là sắc ký chớp
nhoáng) (Flash chromatography)
Sắc ký nhanh- cột khô (Dry – column
flash chromatography; Vacuum liquid chromatography)
Trang 45Sắc ký nhanh cột khô là một biến đổi của sắc
ký chớp nhoáng , với một vài khác biệt sau:
nhoáng sử dụng một lực đẩy từ trên đầu cột xuống,
còn sắc ký nhanh – cột khô dùng một lực hút tạo chân
không ở đầu ra của cột nhờ một máy bơm hút loại
nhẹ.
dùng cho sắc ký cột, còn sắc ký nhanh- cột khô sử
dụng silica gel dùng cho loại sắc ký lớp mỏng, cỡ hạt
15- 40 micromet.
một lớp dung môi ở trên đầu cột (cột không được
khô), còn với sắc lý nhanh- cột khô cột sắc ký được
rút khô san mỗi phân đoạn thu được.
Trang 46 [1] Nguyễn Kim Phi Phụng; Phương pháp cô lập các hợp chất hữu cơ; nhà xuất bản ĐHQG Tp.HCM – 2007
methods Kluwer Academic Publishrs Boston- london, 45-501,1999.
chromatographic technique for preparative separations with moderate resolution J Org chem, 1978
s/ion_exchange.htm
ds-1/ch5_ion-exchange.jpg