1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phương pháp nghiên cứu khoa học

70 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 745,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó được thể hiện qua việc đổi mới cách thức tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu, thiết kế thí nghiệm, cách thức thu mẫu và xử lý số liệu, phương pháp phân tích mẫu … Sự sáng tạo trong nghiên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ThS NGuyễn Duy Toàn

BỘ MÔN CN KHAI THÁC THỦY SẢN

NHA TRANG 2011

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KHOA HỌC & NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 4

§1 KHOA HỌC 5

1.1 Khái niệm chung 5

1.2 Phân loại khoa học 6

§2 KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ 7

2.1 Khái niệm chung 7

2.2 Phân biệt Khoa học và Công nghệ 7

§3 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 8

3.1 Khái niệm chung 8

3.2 Các loại hình nghiên cứu khoa học 10

§4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 11

4.1 Khái niệm chung 11

4.2 Các loại phương pháp NCKH 13

4.3 Quan hệ giữa loại hình và phương pháp nghiên cứu 13

§5 SẢN PHẨM CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 14

5.1 Đặc điểm của sản phẩm nghiên cứu khoa học 14

5.2 Vật mang thông tin 14

5.3 Một số sản phẩm đặc biệt của NCKH 14

§6 LÝ THUYẾT KHOA HỌC 15

6.1 Khái niệm “lý thuyết khoa học” 15

6.2 Các bộ phận hợp thành lý thuyết khoa học 15

6.3 Sự phát triển của lý thuyết khoa học 17

CHƯƠNG II: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 19

§1 KHÁI NIỆM ĐỀ TÀI 19

§2 LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 19

2.1 Lựa chọn sự kiện khoa học 19

2.2 Xác định nhiệm vụ nghiên cứu 20

§3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 20

3.2 Khách thể nghiên cứu 21

3.3 Mẫu khảo sát 22

3.4 Phạm vi nghiên cứu 22

§4 ĐẶT TÊN ĐỀ TÀI 22

§5 XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU 23

§6 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 24

6.1 Bước 1: Lựa chọn đề tài 24

6.2 Bước 2: Xây dựng đề cương và lập kế hoạch nghiên cứu 24

6.3 Bước 3: Thu thập và xử lý thông tin 26

6.4 Bước 4: Viết báo cáo tổng kết đề tài 27

6.5 Bước 5: Đánh giá và nghiệm thu đề tài 27

6.6 Bước 6: Công bố kết quả nghiên cứu 27

§7 MỘT SỐ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN 28

CHƯƠNG III: XÂY DỰNG LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC 29

§1 KHÁI NIỆM LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC 29

§2 VẤN ĐỀ KHOA HỌC 30

2.1 Khái niệm “Vấn đề khoa học” 30

2.2 Phân lớp vấn đề khoa học 30

2.3 Các tình huống của vấn đề khoa học 30

2.4 Phương pháp phát hiện vấn đề khoa học 31

Trang 3

§3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 32

3.1 Khái niệm giả thuyết khoa học 32

3.2 Liên hệ giữa giả thuyết với vấn đề khoa học 32

3.3 Các đặc tính của giả thuyết khoa học 33

3.4 Cấu trúc của một giả thuyết khoa học 33

3.5 Cách đặt giả thuyết 34

3.6 Kiểm chứng giả thuyết qua so sánh giữa tiên đoán với kết quả thí nghiệm 34

CHƯƠNG IV: CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC 35

§1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC 35

1.1 Cấu trúc lôgic của phép chứng minh 35

1.2 Luận cứ 35

1.3 Phương pháp hình thành và sử dụng luận cứ 36

1.4 Thông tin và phương pháp thu thập thông tin 36

§2 CHỌN MẪU KHẢO SÁT 37

2.1 Khái niệm chọn mẫu 37

2.2 Các phương pháp chọn mẫu 37

2.3 Xác định cỡ mẫu 38

§3 ĐẶT GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 40

3.1 Khái niệm giả thiết nghiên cứu 40

3.2 Quan hệ giữa giả thuyết và giả thiết trong nghiên cứu 40

3.3 Đặt giả thiết nghiên cứu 40

3.4 Biện luận kết quả nghiên cứu 40

§4 CHỌN CÁCH TIẾP CẬN 40

4.1 Khái niệm “tiếp cận” 40

4.2 Tiếp cận nội quan và ngoại quan 40

4.3 Tiếp cận quan sát hoặc thực nghiệm 41

4.4 Tiếp cận cá biệt và so sánh 41

4.5 Tiếp cận lịch sử và lôgic 41

4.6 Tiếp cận phân tích và tổng hợp 41

4.7 Tiếp cận định tính và định lượng 41

4.8 Tiếp cận hệ thống và cấu trúc 42

§5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU 42

5.1 Mục đích nghiên cứu tài liệu 42

5.2 Phân tích các nguồn tài liệu 43

5.3 Tổng hợp tài liệu 44

§6 PHƯƠNG PHÁP PHI THỰC NGHIỆM 44

6.1 Quan sát 44

6.2 Phỏng vấn 45

6.3 Hội nghị 54

§7 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 55

7.1 Khái niệm chung 55

7.2 Phân loại thực nghiệm 55

7.3 Các loại thực nghiệm 57

§8 PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM 58

§9 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ THÔNG TIN 59

9.1 Xử lý thông tin định lượng 59

9.2 Xử lý thông tin định tính 59

9.3 Sai số quan sát 59

9.4 Phương pháp trình bày độ chính xác của số liệu 60

§10 KIỂM CHỨNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 60

Trang 4

10.1 Khái niệm kiểm chứng giả thuyết 60

10.2 Phương pháp chứng minh giả thuyết 60

10.3 Phương pháp bác bỏ giả thuyết 61

CHƯƠNG V: TRÌNH BÀY KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62

V.1 ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO 62

V.2 NỘI DUNG CỦA MỘT BÁO CÁO KHOA HỌC 62

V.2.1 Mở đầu 63

V.2.2 Tổng luận 63

V.2.3 Phương pháp nghiên cứu 63

V.2.4 Kết quả và Thảo luận 64

V.2.5 Kết luận và đề xuất ý kiến 64

V.2.6 Tài liệu tham khảo 65

V.2.7 Phụ lục 65

V.2.8 Tóm tắt 66

V.3 CÁC NGUYÊN TẮC CẦN TUÂN THỦ KHI VIẾT BÁO CÁO 66

V.3.1 Tuân thủ các qui định về hình thức trình bày 66

V.3.2 Đảm bảo tính rõ ràng 67

V.3.3 Nhất quán 67

V.3.4 Đơn giản, súc tích 67

V.3.5 Tạo được điểm nhấn cần thiết 68

V.4 PHẢN BIỆN BÁO CÁO KHOA HỌC 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 70

Trang 5

CHƯƠNG I KHÁI NIỆM KHOA HỌC

VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

§1 KHOA HC

1 Khái niệm chung

Khoa h ọc là hệ thống tri thức phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài

cũng như của hoạt động tinh thần của con người (Từ điển tiếng Việt phổ thông)

Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Người ta phân ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học

- Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng

ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa phản ánh hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, một vài khía cạnh của thế giới khách quan, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học

- Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt

động nghiên cứu khoa học (NCKH), các họat động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong

khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học,

toán học, sinh học,… Tri thức khoa học được biểu hiện dưới dạng các khái niệm, tiên đề, qui luật, định luật, lý thuyết, học thuyết, v.v

Khái ni ệm là tri thức khoa học về thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng

Nhờ có khái niệm người ta mới có thể phân biệt sự vật này với sự vật kia, hiện tượng này với hiện tượng khác

Tiên đề là tri thức khoa học khẳng định một qui luật bản chất mang tính tất yếu, hiển nhiên được thừa nhận, không đòi hỏi phải chứng minh Tiên đề là điểm xuất phát cho một hệ thống lý thuyết của một bộ môn khoa học

Trong khoa học có những qui luật nội tại Một bộ môn khoa học có thể xuất hiện nhờ phát kiến những tiên đề mới, song cũng có thể xuất hiện hàng loạt bộ môn khoa học nhờ

hai xu thế ngược chiều nhau: sự phân lập hoặc tích hợp các khoa học Trong những giai

đoạn lịch sử khác nhau thì hoặc xu thế này hoặc xu thế kia chiếm ưu thế, song chưa bao giờ loại trừ nhau

Sự phân lập các khoa học là sự tách một bộ môn khoa học mới ra khỏi một bộ môn khoa học đang tồn tại Bản chất quá trình phân lập các khoa học là sự phân lập đối tượng nghiên cứu của một bộ môn khoa học để hình thành một bộ môn khoa học có đối tượng nghiên cứu hẹp hơn Ví dụ:

Triết học → Triết học; Lôgic học; Thiên văn học; Toán học; …

Toán học → Số học; Đại số; Hình học; Lượng giác, …

Trang 6

Sự tích hợp các khoa học là sự tích hợp phương pháp luận của các bộ môn khoa học riêng lẻ để hình thành một bộ môn khoa học mới Điều đó diễn ra khi mà hệ thống khái niệm và phương pháp luận của một bộ môn khoa học riêng lẻ không đủ sức giải quyết vấn đề mà thực tiễn đặt ra Ví dụ:

Toán học + Kinh tế học → Toán kinh tế;

Hóa học + Vật lý → Hóa lý

Hóa học + Sinh học → Hóa sinh

Tiêu chí để nhận biết một bộ môn khoa học bao gồm bốn thành tố:

1- Có một đối tượng nghiên cứu,

2- Có một hệ thống lý thuyết,

3- Có một hệ thống phương pháp luận,

4- Có mục đích ứng dụng

2 Phân loại khoa học

Tùy theo mục đích ứng dụng mà người ta đưa ra những cách tiếp cận phân loại khác nhau

1 Phân loại theo nguồn gốc hình thành khoa học: Khoa học Lý thuyết; Khoa học

Thực nghiệm; Khoa học Thuần túy; Khoa học Thực chứng; Khoa học Qui nạp; Khoa học Diễn dịch

2 Phân loại theo mục đích ứng dụng của khoa học: Khoa học Mô tả; Khoa học

Phân tích; Khoa học Tổng hợp; Khoa học Ứng dụng; Khoa học Hành động; Khoa học Sáng tạo

3 Phân loại theo mức độ khái quát hóa của khoa học: Khoa học Cụ thể; Khoa học

Trừu tượng; Khoa học Tổng quát; Khoa học Đặc thù

4 Phân loại theo tính liên đới giữa các khoa học: Khoa học liên Bộ môn; Khoa học

đa Bộ môn

5 Phân loại theo kết quả hoạt động chủ quan của con người: Khoa học Ký ức;

Khoa học Tư duy; Khoa học Suy luận; Khoa học Tưởng tượng

6 Phân loại theo cơ cấu của hệ thống tri thức hoặc chương trình đào tạo: Khoa học

Cơ bản; Khoa học Cơ sở; Khoa học Chuyên môn

7 Phân loại theo đối tượng nghiên cứu của khoa học: UNESCO chia khoa học thành 5 lĩnh vực chính là: Khoa học tự nhiên và khoa học chính xác, Khoa học kỹ thuật, Khoa học nông nghiệp, Khoa học về sức khoẻ và Khoa học xã hội & nhân văn Theo cách phân loại này, Khai thác Thủy sản được xếp vào lĩnh vực thứ 3 – khoa học nông nghiệp

Phân loại khoa học là cơ sở để nhận dạng cấu trúc của hệ thống tri thức, là ngôn ngữ quan trọng cho việc trao đổi về nghiên cứu khoa học, thông tin, tư liệu, tổ chức quản lý khoa học, hoạch định chính sách khoa học, … Tùy theo mục đích nhận thức hoặc mục đích sử dụng mà có cách phân loại khác nhau Tuy nhiên, sự phân loại khoa học chỉ mang tính chất tương đối dựa trên một quan niệm của thế giới khoa học, không nên xử lý quá cứng nhắc ranh giới giữa các khoa học Sự phát triển của khoa học luôn dẫn đến sự phá vỡ những ranh giới cứng nhắc trong phân loại khoa học, vì thế sự phân loại khoa học luôn được hoàn thiện, bổ sung và phát triển theo tiến trình lịch sử

Trang 7

§2 K THUT VÀ CÔNG NGH

1 Khái niệm chung

Trước đây, kỹ thuật được nói đến như một phạm trù bao quát, còn công nghệ được hiểu thuần túy như một trình tự thao tác trong một dây truyền sản xuất Theo sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ, khái niệm công nghệ ngày càng được mở rộng

 Khái niệm công nghệ

 Công nghệ là một hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề hoặc một lớp vấn đề

kỹ thuật

 Công nghệ là một thực thể kiến thức: Là một hoặc một số giải pháp để giải quyết một số vấn đề kỹ thuật; Là con đường để giải quyết một số vấn đề kỹ thuật; Là toàn bộ kiến thức được chuyển vào hệ thống, bất kể từ nguồn nào để làm luận cứ cho sự phát triển

 Công nghệ là một phương tiện

 Khái niệm công nghệ hiện được sử dụng không chỉ trong công nghiệp, mà đã thâm nhập vào hàng loạt các bộ môn khoa học và lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau, ví dụ: Công nghệ dạy học; Công nghệ quản lý; Công nghệ chọn giống; v.v

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, công nghệ gồm bốn phần: phần kỹ thuật

(technoware), phần thông tin (infoware), phần con người (humanware) và phần tổ chức (orgaware)

Với một công nghệ xuất hiện thì một loại ngành nghề mới sẽ ra đời, kéo theo sự tiêu vong của những ngành nghề dựa trên công nghệ cũ, và do đó làm cho một số người lâm vào tình trạng thất nghiệp công nghệ Một chủng loại sản phẩm mới xuất hiện dẫn đến sự thay đổi cơ cấu sản phẩm, cơ cấu công nghiệp, cơ cấu kinh tế

 Khái niệm kỹ thuật

Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ thống hoặc thực tiễn được sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm hoặc để áp dụng vào các quá trình sản

xuất (kỹ thuật theo nghĩa hẹp), quản lý hoặc thương mại, công nghiệp hoặc trong các

lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Ngày nay, khái niệm công nghệ ngày càng mở rộng còn khái niệm kỹ thuật chỉ mang

ý nghĩa hẹp như trên

2 Phân biệt Khoa học và Công nghệ

Để thuận tiện cho việc phân biệt khái niệm khoa học và công nghệ, chúng ta có thể sử dụng Bảng 1 dưới đây trình bày một vài thuộc tính cơ bản của chúng

Bảng 1: So sánh các đặc điểm khoa học và công nghệ

TT KHOA HỌC (KH) CÔNG NGHỆ (CN)

1 Nghiên cứu KH mang tính xác xuất Điều hành CN mang tính xác định

2 Hoạt động KH luôn đổi mới, không lặp lại Hoạt động CN được lặp lại theo chu kỳ

3 Sản phẩm khó được định hình trước Sản phẩm được định hình theo thiết kế

4 Sản phẩm mang đặc trưng thông tin Đặc trưng sản phẩm phụ thuộc đầu vào

5 Lao động linh hoạt và tính sáng tạo cao Lao động bị định khuôn theo CN

6 Có thể mang mục đích tự thân Có thể không mang mục đích tự thân

7 Phát minh KH tồn tại mãi với thời gian Sáng chế CN tồn tại nhất thời và bị tiêu

vong theo lịch sử tiến bộ KHCN

Trang 8

§3 NGHIÊN CU KHOA HC

1 Khái niệm chung

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức, … đạt được từ các thí nghiệm NCKH

để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, sáng tạo, có phương pháp ngay từ lúc bắt đầu tiếp cận với nghiên cứu khoa học

Sáng tạo là động lực quan trọng của nghiên cứu khoa học Nó được thể hiện qua việc đổi mới cách thức tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu, thiết kế thí nghiệm, cách thức thu mẫu

và xử lý số liệu, phương pháp phân tích mẫu … Sự sáng tạo trong nghiên cứu khoa học cho phép người làm nghiên cứu có thể giải quyết vấn đề một cách triệt để trong thời gian ngắn nhất với chi phí tối thiểu Khi điều kiện nghiên cứu chỉ có hạn, người làm nghiên cứu lại càng phải sáng tạo hơn

NCKH nói cho cùng là nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người về nhận thức và cải tạo thế giới Đó là các hoạt động nhằm khám phá những thuộc tính của sự vật hoặc hiện

tượng (sau đây gọi chung là sự vật), phát hiện qui luật vận động của sự vật, vận dụng qui

luật để sáng tạo giải pháp tác động vào sự vật

NCKH có 8 đặc điểm và cũng là yêu cầu, bao gồm: tính mới, tính thông tin, tính kế thừa, tính tin cậy, tính khách quan, tính rủi ro, tính cá nhân và tính phi kinh tế Người

làm nghiên cứu cần phải hiểu rõ các đặc thù (yêu cầu) này để đảm bảo chất lượng của

nghiên cứu do mình thực hiện và đánh giá khách quan các nghiên cứu khác

Tính mới: là động lực phát triển của khoa học NCKH sau phải mới so với

NCKH đã được thực hiện trước đó Tính mới có thể được thể hiện qua một trong những khía cạnh sau: nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách lập luận, phân tích kết quả Nội dung nghiên cứu mới sẽ đem lại những hiểu biết mới Phương pháp mới hoặc phương pháp được cải tiến phải khắc phục được nhược điểm, hạn chế của các phương pháp cũ đã sử dụng trong các nghiên cứu tương tự

Tính kế thừa: nghiên cứu sau phải kế thừa và phát triển kết quả của những

nghiên cứu trước đã được thừa nhận (nếu không có nghi vấn gì) Người làm

nghiên cứu trước khi xây dựng đề cương nghiên cứu cần tham khảo đầy đủ các thông tin đã có, tránh trường hợp vội vàng bỏ qua những thông tin quan trọng hoặc phủ nhận các thông tin đã có đơn giản vì chúng không ủng hộ ý tưởng hoặc giả thuyết nghiên cứu của mình Một khi đã tiếp cận một cách tương đối đầy đủ thông tin tham khảo, các phán đoán nhận định của người làm nghiên cứu sẽ mang tính kế thừa một cách khách quan hơn

Tính tin cậy: kết quả của của nghiên cứu phải có độ tin cậy cao Tính tin cậy của

NCKH được thể hiện qua việc xác định chính xác vấn đề cần nghiên cứu, có phương pháp nghiên cứu phù hợp, thu thập số liệu và phân tích kết quả một cách khách quan Tính tin cậy thể hiện qua khả năng lặp lại nhiều lần của nghiên cứu

Có nghĩa là, người khác phải có khả năng thực hiện lại được nghiên cứu và thu được kết quả tương tự nếu đảm bảo đúng các điều kiện nghiên cứu đã mô tả trong

Trang 9

báo cáo

Tính khách quan: mọi nhận xét, kết luận phải tuân thủ kết quả nghiên cứu và dựa trên các lập luận khoa học, có thể kiểm chứng Kết quả nghiên cứu của mình nếu mâu thuẫn với các tác giả khác thì cần phải được giải thích, làm rõ nguyên nhân Tuyệt đối tránh những nhận định cảm tính hoặc mâu thuẫn với kết quả của

kiểm định thống kê đã lựa chọn (trước khi thu thập số liệu) và thực hiện Trong

quá trình thực hiện nghiên cứu, người nghiên cứu không nên để những nhận định chủ quan của mình ảnh hưởng đến việc thu thập và xử lý số liệu

Tính thông tin: thông tin thu được từ NCKH có thể chỉ có giá trị nhất thời Người làm nghiên cứu vì thế phải thường xuyên cập nhật thông tin trong lĩnh vực của mình để tránh lặp lại một cách không cần thiết các nghiên cứu đã được thực hiện và có đầy đủ thông tin hơn về đối tượng nghiên cứu, giúp cho việc xây dựng

kế hoạch nghiên cứu và thảo luận kết quả chính xác hơn Mặt khác, thông tin thu được từ nghiên cứu phải được công bố càng sớm càng tốt Dung lượng thông tin trong các báo cáo khoa học phải cao và đầy đủ về đề tài đã thực hiện để người đọc

có thể hiểu và đánh giá chất lượng của nghiên cứu một cách dễ dàng

Tính rủi ro: NCKH có thể thất bại Trong thực tế NCKH số lượng các đề tài nghiên cứu thất bại lớn hơn rất nhiều so với số lượng các đề tài nghiên cứu thành công Mọi thất bại trong NCKH đều có giá trị nếu người làm nghiên cứu giải thích hoặc chí ít cũng phán đoán được nguyên nhân dẫn đến thất bại hay lý do dẫn đến phán đoán sai của mình

Tính cá nhân: tư duy sáng tạo và vai trò dẫn dắt của một hoặc vài cá nhân trong

các đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học lớn rất quan trọng Trong NCKH mọi ý kiến, phương án hay của một cá nhân, bất luận vị trí công tác hay trình độ đều được trân trọng Đóng góp của từng cá nhân cho đề tài nghiên cứu sẽ được ghi nhận và phân biệt theo thứ tự tên các tác giả trong báo cáo khoa học hoặc báo cáo tổng kết đề tài

Tính phi kinh tế: NCKH thường rất tốn kém nhưng không phải lúc nào hiệu quả

kinh tế của nó cũng được thể hiện ngay Thêm vào đó, việc định mức lao động trong NCKH cũng rất khó khăn bởi những phát minh, các ý tưởng nghiên cứu độc đáo có thể chỉ đến trong đầu nhà khoa học qua vài giây suy nghĩ nhưng đòi hỏi một quá trình tích luỹ kinh nghiệm và kiến thức lâu dài Thời gian và công sức

dành cho NCKH không phải bao giờ cũng tỉ lệ thuận với mức độ thành công

Hiểu được những yêu cầu/đặc thù này, người làm nghiên cứu khoa học phải đảm bảo nghiên cứu do mình thực hiện đem lại những thông tin khoa học mới, góp phần phát triển các học thuyết/mô hình lý thuyết trong lĩnh vực nghiên cứu, sử dụng phương pháp hợp lý để số liệu thu được có độ tin cậy cao, đưa ra các kết luận khách quan và nhanh

chóng công bố kết quả Các đặc thù xã hội của nghiên cứu khoa học (tính cá nhân, tính

phi kinh tế) giúp xác lập mối quan hệ giữa những người nghiên cứu và đánh giá đúng hơn giá trị của lao động khoa học

Trang 10

2 Các loại hình nghiên cứu khoa học

NCKH gồm có 4 loại hình chính, đó là: nghiên cứu khoa học Cơ bản, Ứng dụng, Triển khai và Dự báo Mỗi một loại hình nghiên cứu khoa học có những đặc điểm và giá trị riêng, giữa 4 loại hình này lại có sự liên kết chặt chẽ

NCKH Cơ bản: nhằm khám phá các qui luật, bản chất của hiện tượng nghiên cứu Sản phẩm của NCKH cơ bản là tri thức, là các qui luật, nguyên lý Chính

vì thế một khi được ứng dụng vào sản xuất, nó có thể đem lại hiệu quả rất cao Tuy vậy, hiệu quả của NCKH cơ bản thường không được đánh giá hết do trình độ hữu hạn của khoa học ứng dụng đương thời Các nghiên cứu cơ bản thường tốn kém, đòi hỏi thời gian dài, thiết bị hiện đại và đội ngũ cán bộ nghiên cứu có trình

độ cao Vì thế thường NCKH cơ bản chỉ phát triển ở các nước có kinh tế phát triển cao và nguồn kinh phí trợ cấp dồi dào NCKH cơ bản, nếu chỉ để hiểu biết

về thiên nhiên, được gọi là NCKH cơ bản thuần tuý Ngược lại, nếu người nghiên cứu đã có dự kiến về khả năng ứng dụng của thông tin tìm được thì nghiên cứu của họ được gọi là NCKH cơ bản có định hướng Thí dụ: Các công trình nghiên cứu về tính năng của vật liệu dây mềm nghề cá, hình thức các liên kết dây lưới phục vụ cho việc tính toán chế tạo ngư cụ; Lực thủy động tác dụng lên các chi tiết dạng hình cầu, dạng hình trụ, dạng tấm phẳng, … phục vụ cho việc tính toán phụ tùng ngư cụ; Việc nghiên cứu lực thủy động lên tấm lưới không gian hình nón là

cơ sở để tính toán lực cản áo lưới kéo; Nghiên cứu các tiêu chuẩn tương tự vật lý

là cơ sở để tiến hành thí nghiệm mô hình ngư cụ, …

NCKH ứng dụng: ứng dụng kết quả của NCKH cơ bản vào thực tiễn sản xuất

hoặc đời sống xã hội Sản phẩm của NCKH ứng dụng là các giải pháp kỹ thuật, công nghệ hoặc quản lý NCKH ứng dụng ít tốn kém và mang lại hiệu quả nhanh nếu thực hiện tốt Chính vì thế thích hợp với các nước đang phát triển Chẳng hạn: Kết quả của các nghiên cứu về cải tiến các loại ngư cụ, cải tiến thiết bị khai thác, đổi mới công nghệ khai thác, … được ngư dân nhanh chóng áp dụng khi đem lại hiệu quả sản xuất cao, tuy nhiên những thiết bị lọc rùa, lọc cá con có hiệu quả cao chưa chắc đã được ngư dân sử dụng nếu không kèm theo biện pháp hành chính

NCKH triển khai: NCKH ứng dụng thường bị hạn chế về qui mô Thử nghiệm

dù rất thành công có thể chỉ được triển khai ở qui mô thí nghiệm hay mới chỉ ở một địa điểm Khi muốn áp dụng vào sản xuất đại trà hoặc tiến hành ở một địa phương khác, trong điều kiện khác phải thông qua NCKH triển khai Loại hình nghiên cứu này thường gắn liền với hoạt động chuyển giao, điều chỉnh công nghệ

NCKH dự báo: là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật trong

tương lai, thường gặp trong các nghiên cứu về kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển Căn cứ trên những hiểu biết, các thông số và qui luật tiến triển hiện tại, … người ta dự báo về xu thế phát triển của sự vật trong tương lai Độ chính xác của

dự báo phụ thuộc vào hiện trạng phát triển của khoa học và độ chính xác của những thông tin mà người nghiên cứu sử dụng

Trong lĩnh vực khai thác thủy sản, người làm nghiên cứu có thể dự đoán sự xuất hiện các đàn cá theo thời gian và vị trí khác nhau, dự đoán mức độ phát triển của một nghề khai thác mới, đối tượng khai thác mới, kỹ thuật khai thác mới, …dựa

Trang 11

trên việc thu thập và phân tích thông tin về môi trường, nguồn lợi và số liệu thực

tế sản xuất, các tiến bộ khoa học công nghệ trong các lĩnh vực liên quan, trình độ chuyên môn của người nghiên cứu, kết hợp với hiểu biết về các trường hợp tương

tự, nếu có, ở các khu vực hoặc quốc gia khác

§4 PHƯNG PHÁP NGHIÊN CU KHOA HC

1 Khái niệm chung

Phương pháp nghiên cứu khoa học là cách thức, công cụ hay phương tiện để nghiên cứu khoa học Cụ thể hơn, phương pháp NCKH chính là cách thức mà người nghiên cứu

sử dụng để thu thập và xử lý số liệu/thông tin về vấn đề mình quan tâm Xét về cách thức, người làm nghiên cứu có thể quan sát hoặc tiến hành thực nghiệm để thu thập số liệu/thông tin về đối tượng hoặc hiện tượng cần nghiên cứu Thực nghiệm được xem là linh hồn của nghiên cứu khoa học hiện đại nhờ khả năng phát hiện các mối quan hệ nhân quả và khả năng lặp lại nhiều lần của nó

Quan sát được coi là bước khởi đầu quan trọng Quan sát là phương pháp rất thông dụng khi con người bắt đầu tìm hiểu về thiên nhiên Cho đến nay giá trị và tầm quan trọng của nó vẫn còn nguyên vẹn Người có tư chất nghiên cứu khoa học trước hết phải

là người có óc quan sát Kết quả của quan sát là các mô tả về đối tượng, ví dụ các dấu hiệu về sự xuất hiện đàn cá như: âm thanh, màu nước, sự xuất hiện các đàn chim kiếm mồi trên biển, … Phương pháp này đòi hỏi trực quan nhạy bén của người quan sát, cách ghi chép và các thiết bị đo đạc phụ trợ Kiến thức chuyên môn của người quan sát rất quan trọng, đặc biệt khi muốn phát hiện mối quan hệ có thể giữa vô vàn sự kiện, hiện tượng với nhau Tuy nhiên, cũng chính vì vậy mà quan sát dễ mang tính chủ quan của người thực hiện Quan sát thường được thực hiện trong điều kiện tự nhiên Vì thế lựa chọn thời điểm và địa điểm để tiến hành quan sát mang tính quyết định Người nghiên cứu cũng có thể thiết lập sự kiện để tiến hành quan sát Vấn đề là ở chỗ, điều kiện do người nghiên cứu tự thiết lập có gần với điều kiện tự nhiên hay không? Quan sát là tiền

đề rất quan trọng cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo

Thực nghiệm hay thí nghiệm nhằm kiểm chứng các giả thuyết, nghi vấn hình thành từ những quan sát ban đầu Tiến hành thực nghiệm hay thí nghiệm chính là đi sâu tìm hiểu

về nguyên nhân, cơ chế và mức độ ảnh hưởng của các hiện tượng tự nhiên, cho phép tách vấn đề/hiện tượng nghiên cứu thành các vấn đề nhỏ, thay đổi điều kiện nghiên cứu theo chủ ý của người làm nghiên cứu và lặp lại được nhiều lần Tuỳ thuộc vào vấn đề nghiên cứu đặt ra, người nghiên cứu có thể thiết lập các điều kiện phục vụ cho nghiên cứu của mình với sự hỗ trợ của thiết bị Giá trị của thực nghiệm, tuy nhiên, phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tương đồng giữa điều kiện thực nghiệm và điều kiện tự nhiên Đa số các thí nghiệm đều được thực hiện ở qui mô nhỏ và có ít yếu tố động hơn là trong tự nhiên

Khi tiến hành tìm hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng công việc của một người làm

nghiên cứu khoa học là “phát hiện sự khác biệt giữa nhiều hiện tượng tương tự nhau và

tìm ra những điểm chung của nhiều sự kiện, hiện tượng khác nhau” Để làm được công việc này, người làm nghiên cứu khoa học phải có khả năng phân tích, lập luận tốt Diễn dịch và qui nạp là hai phép suy luận khoa học được sử dụng

Suy luận diễn dịch là suy luận từ cái chung, cái đã biết – đã khẳng định đến cái riêng, phân tích cho từng trường hợp cụ thể, ví dụ:

Tiền đề chính : Tất cả sinh viên đi học đều đặn

Trang 12

Tiền đề phụ : Nam là sinh viên

Kết luận : Nam đi học đều đặn

Ngược lại, qui nạp lại đi từ nhiều cái riêng khác nhau để lập luận, đi đến những kết luận, nguyên lý chung Trong nghiên cứu khoa học, hai phép suy luận này được sử dụng nhuần nhuyễn và hỗ trợ cho nhau

Ví dụ:

Tiền đề riêng : Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn,

Tiền đề riêng : Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm cao,

Kết luận : Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao

Bacon & Mill là những người đi đầu trong việc phát triển phương pháp nghiên cứu

khoa học và dựa hoàn toàn vào phép qui nạp Theo phép này, người làm nghiên cứu có

thể kết luận giả thuyết hoặc học thuyết của mình đưa ra là đúng khi thu thập đủ các bằng chứng và không bị bất cứ quan sát nào phản bác giả thuyết của mình Hạn chế rõ ràng nhất của cách tiếp cận này là ở chỗ người ta không thể nào thu thập đủ các quan sát, bằng chứng ủng hộ cho giả thuyết/học thuyết của mình cả

Nghiên cứu khoa học hiện đại sử dụng một phương pháp khác: phương pháp diễn

dịch (deduction) Tức là xây dựng các dự đoán hoặc giải thích dựa trên cơ sở của các

học thuyết, các qui luật đã được xác định Karl Poper chuẩn hoá cách tiếp cận này dựa

trên nguyên tắc chứng minh sai (falsificationism) Theo đó, các mô hình lý thuyết và giả

thuyết đi kèm với chúng sẽ được chứng minh là không có căn cứ Muốn chứng minh một

giả thuyết là đúng, người ta xây dựng đối thuyết (ngược lại với giả thuyết) và chứng

minh đối thuyết này là sai và suy ra giả thuyết đúng Để chứng minh đối thuyết sai, người nghiên cứu chỉ cần tìm một bằng chứng phản bác lại nó Người làm nghiên cứu khoa học vì thế dùng phép qui nạp để xây dựng giả thuyết Sau đó thông qua cả một quá trình diễn dịch lôgic để kiểm định giả thuyết đã đưa ra

Cách thức thu thập số liệu sẽ quyết định đến giá trị, độ tin cậy của những số liệu này Cách xử lý và phân tích số liệu cũng quan trọng không kém Khi thực hiện nghiên cứu, người làm nghiên cứu tuỳ theo cách thức thu thập số liệu của mình cần thiết phải có được các công cụ và vật liệu thích hợp

Phương pháp xử lý số liệu và đưa ra kết luận quan trọng không kém Kết quả nghiên

cứu khoa học phải được trình bày dưới dạng xác xuất (bắt gặp sự kiện mà người nghiên

cứu đã quan sát được) Vì thế cần thiết phải có sự hỗ trợ của lý thuyết xác xuất và các phương pháp xử lý số liệu nghiên cứu khác nhau Lý do là nghiên cứu khoa học do con người thực hiện và có thể bị ảnh hưởng bởi cảm tính của người làm nghiên cứu Một số người có xu hướng khăng khăng bảo vệ ý tưởng của mình ngay cả khi có bằng chứng phản bác giả thuyết hoặc mô hình mà họ xây dựng Một số khác ra sức bám chặt lấy các nhận định cảm tính của mình, không dựa vào số liệu mà nghiên cứu thu được Ngày nay, các NCKH mang tính thực nghiệm mà kết quả nghiên cứu nếu không được xử lý bằng phương pháp thống kê thì coi như không có giá trị công bố Việc tính toán, tiến hành kiểm định thống kê trở nên dễ dàng với sự xuất hiện của máy tính điện tử Các phần

mềm thống kê có cả chức năng đồ họa như Genstat, Stat Graphic hay SPSS (Statistical

Package for Social Sciences) chính là công cụ đắc lực giúp cho người làm nghiên cứu khoa học thực hiện việc xử lý số liệu thực nghiệm từ phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm do mình lựa chọn

Trang 13

Với từng đề tài cụ thể, phương pháp nghiên cứu được qui định bởi mục tiêu và nội dung nghiên cứu Các phương pháp được lựa chọn phải chuẩn, khách quan, có độ chính xác cao và lặp lại được

2 Các loại phương pháp NCKH

2.1 Ph ương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng trong cả khoa học tự nhiên, khoa học

xã hội và các khoa học khác

Nghiên cứu lý thuyết bao gồm nhiều nội dung khác nhau như nghiên cứu tư liệu, xây dựng khái niệm, phạm trù, thực hiện các suy luận toán học, …Trong nghiên cứu lý thuyết không có bất cứ quan sát hoặc thực nghiệm nào được tiến hành Chất liệu cho nghiên cứu chỉ gồm những khái niệm, qui luật, định luật, định lý, tư liệu, số liệu, … đã tồn tại trước đó

2.2 Ph ương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Thực nghiệm là để quan sát, quan sát là để phát hiện ra bản chất sự vật hoặc hiện tượng, và cuối cùng là để đặt giả thuyết hoặc kiểm chứng giả thuyết đã đặt ra

Nghiên cứu thực nghiệm là những nghiên cứu được thực hiện bởi những quan sát các

sự vật hoặc hiện tượng diễn ra trong những điều kiện có gây biến đổi đối tượng nghiên cứu một cách chủ định Nghiên cứu thực nghiệm có thể thực hiện trên đối tượng thực hoặc trên các mô hình do người nghiên cứu tạo ra với những thông số do người nghiên cứu điều khiển

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được sử dụng phổ biến trong cả khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ và các khoa học khác Trong nghiên cứu thực nghiệm cần tôn trọng nguyên tắc: Có chuẩn đánh giá và phương thức đánh giá; Giữ ổn định các nhân tố không bị người nghiên cứu khống chế; Mô hình được lựa chọn trong thực nghiệm phải mang tính phổ biến để cho kết quả thực nghiệm được khách quan

Mô hình luôn là công cụ của nghiên cứu thực nghiệm Vấn đề mô hình hóa thí nghiệm dụng cụ khai thác cá được trình bày trong giáo trình chuyên ngành Công nghệ khai thác

thủy sản (giáo trình môn học Cơ sở lý thuyết và thiết kế ngư cụ)

2.3 Ph ương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm

Khái niệm: Là một phương pháp thu thập thông tin dựa trên sự quan sát, quan trắc những sự kiện đã hoặc đang tồn tại, trên cơ sở đó phát hiện quy luật của sự vật hoặc hiện trượng Trong phương pháp phi thực nghiệm, người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã

và đang tồn tại, không có bất cứ sự can thiệp nào gây biến đổi trạng thái của đối tượng nghiên cứu

Phương pháp phi thực nghiệm bao gồm: Quan sát khách quan; Sử dụng nhật ký ghi chép; Phỏng vấn; Phương pháp hội đồng; Điều tra bằng bảng hỏi, …

3 Quan hệ giữa loại hình và phương pháp nghiên cứu

Sự lựa chọn loại hình nghiên cứu được quyết định bởi mục đích của nghiên cứu Mục đích nghiên cứu tìm kiếm ở đây có thể là một qui luật, một nguyên lý của giải pháp hoặc một hình mẫu mang tính khả thi về mặt kỹ thuật

Sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu là tìm kiếm công cụ để đạt mục đích Mục đích được thực hiện trên hai mức độ của nghiên cứu: phát hiện để đặt giả thuyết và kiểm chứng giả thuyết đã đặt ra Ví dụ quan sát để phát hiện qui luật, để đặt giả thiết về qui luật và quan sát để kiểm chứng giả thiết về qui luật Do đó, việc chọn phương pháp nghiên cứu là do mục đích và đối tượng nghiên cứu quyết định

Trang 14

Phương pháp nghiên cứu (lý thuyết, thực nghiệm, phi thực nghiệm) không phải là

những phương pháp dành riêng cho một loại bộ môn khoa học nào Trong một công trình nghiên cứu khoa học có thể sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm

5.1 Đặc điểm của sản phẩm nghiên cứu khoa học

Trong mọi trường hợp, sản phẩm của NCKH là thông tin, cho dù đó là khoa học tự nhiên, khoa học xã hội hay khoa học công nghệ

Sản phẩm NCKH bao gồm: Các luận điểm của tác giả công trình nghiên cứu đã được chứng minh hoặc bác bỏ Luận điểm khoa học biểu hiện thông qua những hình thức khác

nhau, tùy thuộc khoa học cụ thể Có thể là những định lý trong toán học (Định lý Ta-let, Định lý Pi-ta-go); những định luật trong cơ học, vật lý (Định luật Niu-tơn, Định luật Ac-

si-met ); những qui luật trong các nghiên cứu kinh tế -xã hội (Qui luật giá trị thặng dư

của Marx, Qui luật bàn tay vô hình của Adam Smith); những nguyên lý trong kỹ thuật

(nguyên lý động cơ phản lực, nguyên lý máy nén thủy lực), v.v…

Luận điểm được chứng minh hoặc bác bỏ bằng các luận cứ Luận cứ là những sự kiện khoa học đã được kiểm nghiệm là đúng hoặc sai với luận điểm trong thực tế Luận điểm

và luận cứ đều là sản phẩm nghiên cứu

5.2 Vật mang thông tin

Sản phẩm khoa học là thông tin Tuy nhiên, chúng ta không thể tiếp xúc trực tiếp với thông tin, mà chỉ có thể tiếp xúc với thông tin qua các phương tiện trung gian là vật mang thông tin Mọi hoạt động liên quan đến việc xem xét hoặc đánh giá sản phẩm của NCKH đều được thực hiện thông qua các vật mang thông tin

Vật mang thông tin về các kết quả NCKH có thể bao gồm:

 Vật mang vật lý: sách báo, băng âm, băng hình Chúng ta có thể tiếp nhận được thông tin nhờ đọc, nghe, xem từ những vật mang này

 Vật mang công nghệ: là vật được sản xuất ra từ một hay một số công nghệ, nó cho chúng ta hiểu được những thông tin về công nghệ và vật liệu chế tạo ra nó Chúng ta không thể đọc, nghe hay xem được những thông tin, mà chỉ cảm nhận và hiểu những thông tin liên quan đến vật phẩm này Một cách qui ước, gọi đó là vật mang công nghệ

 Vật mang xã hội: Một người hay một nhóm người cùng nhau chia sẻ một quan điểm khoa học, cùng đi theo một trường phái khoa học, cùng nuôi dưỡng một ý tưởng khoa học hoặc một bí quyết công nghệ Chúng ta có thể hoặc không thể khai thác được những thông tin từ họ Đây là loại vật mang thông tin đặc biệt, khác hẳn vật mang vật lý và vật mang công nghệ

5.3 Một số sản phẩm đặc biệt của NCKH

Một số sản phẩm đặc biệt của NCKH như: phát hiện, phát minh và sáng chế là những khái niệm cần hiểu đúng và thống nhất, bởi vì nó liên quan không chỉ với khoa học công nghệ mà cả các vấn đề kinh tế, thương mại, pháp lý, …

 Phát minh là sự phát hiện ra những qui luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ

đó làm thay đổi cơ bản nhận thức con người Ví dụ, Ac-si-met phát minh định luật về sức nâng của nước, Niu-tơn phát minh định luật vạn vật hấp dẫn,… Phát minh là khám phá về qui luật khách quan, chưa có ý nghĩa áp dụng trực tiếp vào sản xuất hoặc

Trang 15

đời sống Vì vậy, phát minh không có giá trị thương mại và không được bảo hộ pháp

 Phát hiện là sự nhận ra những vật thể, những qui luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan Ví dụ, Kock phát hiện vi trùng lao, Marie Quiri phát hiện nguyên tố phóng xạ radium, Marx phát hiện qui luật “giá trị thăng dư”, Adam Smith phát hiện qui luật “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường Phát hiện, cũng chỉ mới là sự khám phá các vật thể hoặc những qui luật xã hội, làm thay đổi nhận thức, chưa thể áp dụng trực tiếp vào sản xuất hoặc đời sống xã hội Vì vậy, phát hiện cũng không có giá trị thương mại và không được bảo hộ pháp lý

 Sáng chế là loại thành tựu trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ Trong khoa học xã hội nhân văn không có sản phẩm loại này Sáng chế là một giải pháp kỹ thuật mang tính mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp dụng được Ví dụ, máy hơi nước của Jemes Watt, công thức thuốc nổ TNT của Nô-bel Vì sáng chế có khả

năng áp dụng nên nó có ý nghĩa thương mại, được cấp bằng sáng chế (patent), có thể

mua bán hoặc ký kết các hợp đồng cấp giấy phép sử dụng cho người có nhu cầu và được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Sự hiểu biết và so sánh các khái niệm: sáng chế, phát hiện, phát minh không chỉ cần thiết cho những người làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ, mà cũng rất quan trọng đối với những người làm việc trong các ngành khoa học xã hội nhân văn, các luật gia, các thương gia, các nhà kinh tế và các nhà báo, vì nó quan hệ đến việc bảo hộ pháp

lý về quyền sở hữu trí tuệ và các hoạt động kinh doanh có liên quan

§6 LÝ THUY T KHOA HC

Dù nghiên cứu khoa học trong bất kỳ lĩnh vực nào, người nghiên cứu cũng đụng chạm với những cơ sở lý thuyết của khoa học Đến lượt mình, bằng kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cũng đóng góp vào việc làm phong phú thêm các lý thuyết trong lĩnh vực mà mình quan tâm Vậy lý thuyết khoa học là gì? Lý thuyết gồm những bộ phận nào hợp thành? Làm thế nào để tìm tòi khám phá các lý thuyết và sáng tạo lý thuyết mới?

Lý thuyết là một đặc trưng cơ bản của khoa học Không có lý thuyết thì không có khoa học Không có khoa học nào mà không có lý thuyết Nghiên cứu khoa học là phải dựa trên một cơ sở lý thuyết Đến lượt mình, một sản phẩm quan trọng của NCKH là lý

thuyết

6.1 Khái niệm “lý thuyết khoa học”

Lý thuyết khoa học là một hệ thống luận điểm khoa học về một đối tượng nghiên cứu của khoa học Lý thuyết cung cấp một quan niệm hoàn chỉnh về bản chất sự vật, những liên hệ bên trong của sự vật và mối liên hệ cơ bản giữa sự vật và thế giới hiện thực

6.2 Các bộ phận hợp thành lý thuyết khoa học

Hình 1 dưới đây trình bày cấu trúc của một lý thuyết khoa học, trong đó, rất quan trọng là những bộ phận cấu thành, gồm một hệ thống các khái niệm, phạm trù, và qui luật về sự vật mà lý thuyết phản ánh

Trang 16

6.2.1 H ệ thống khái niệm

Khái niệm được xem là bộ phận quan trọng nhất của lý thuyết Khái niệm là công cụ

để gọi tên một sự kiện khoa học, để tư duy và trao đổi thông tin, là cơ sở để nhận dạng bản chất một sự vật Kết quả nghiên cứu có thể sai lệch hoàn toàn nếu không được tiến hành trên những khái niệm chuẩn xác

Trong NCKH, người nghiên cứu có nhiều việc phải làm liên quan đến khái niệm, đó là:

 Xây dựng khái niệm, một công việc đầu tiên của bất cứ nghiên cứu nào Để xây

dựng khái niệm, người nghiên cứu cần tìm những từ khóa trong tên đề tài, trong mục tiêu nghiên cứu, trong vấn đề và giả thuyết khoa học Tiếp theo, có thể tra cứu khái niệm trong các từ điển hoặc sách giáo khoa Tuy nhiên, cần phải biết rằng, những khái niệm được định nghĩa trong từ điển không phải lúc nào cũng thỏa mãn nhu cầu nghiên cứu Trong phần lớn trường hợp, người nghiên cứu cần

tự mình lựa chọn hoặc đặt thuật ngữ để làm rõ khái niệm

 Thống nhất hóa các khái niệm Khái niệm là ngôn ngữ đối thoại trong khoa học

Một khái niệm không thể bị hiểu theo nhiều nghĩa Vì vậy, trong nghiên cứu khoa học, phải thống nhất cách hiểu một khái niệm Ví dụ, khi nghiên cứu đặc điểm sinh học của con Châu chấu, người nghiên cứu phải đối mặt với sự thật là khái niệm con Châu chấu được hiểu hoàn toàn khác nhau giữa các vùng Ví dụ khác, lưới kéo đáy có vùng còn gọi là “giã” hoặc “giã cào” Vì vậy, nếu không đưa ra một cách hiểu thống nhất thì có thể dẫn đến những tranh chấp không cần thiết

 Bổ sung cách hiểu một khái niệm Khái niệm không ngừng phát triển, vì thế,

mỗi nghiên cứu cần phải rà soát lại những khái niệm vốn được sử dụng Ví dụ, khái niệm kỹ thuật và công nghệ đã nói ở phần trước

 Phân loại khái niệm Phân loại ở đây là sự phân chia khái niệm thành những

nhóm sự vật được đặc trưng bằng một thuộc tính chung nào đó, từ đó cho biết cấu trúc của sự vật Ví dụ, lưới rê được phân loại theo cấu tạo như: rê đơn, rê kép, rê hỗn hợp, rê có túi, hoặc phân loại theo đối tượng đánh bắt như: rê trích, rê chuồn,

rê thu ngừ, …

 Mượn dùng khái niệm của khoa học khác Cùng với sự tiến bộ của khoa học

công nghệ, nhiều lĩnh vực phát triển đan xen vào nhau, sự phân chia chỉ mang tính tương đối Vì vậy, sự mượn dùng khái niệm từ các khoa học khác hoặc đặt khái niệm mới là điều tất yếu Ví dụ, điều khiển học trong khai thác thủy sản bao gồm điều khiển đối tượng đánh bắt và điều khiển quá trình đánh bắt

6.2.2 H ệ thống phạm trù

Phạm trù là một khái niệm có vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học Nó đóng vai trò là cầu nối dẫn đường cho người nghiên cứu tìm kiếm cơ sở lý thuyết trong NCKH

Từ điển Larousse định nghĩa “Phạm trù là tập hợp các sự vật có cùng bản chất”; Trong từ điển tiếng Việt phổ thông định nghĩa: “Phạm trù là khái niệm khoa học phản ánh những thuộc tính và mối quan hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật” Ví dụ, trong hình học phẳng, các đường như: đường tròn, elip, hình sin, parabol, hyperbol, … thuộc phạm trù “đường cong”; các hình như: hình tam giác, hình vuông, hình lục giác, hình bát giác, … đều thuộc phạm trù “đa giác”; các hình như: hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi, hình bình hành, hình thang đều thuộc phạm trù “tứ giác”

Vận dụng hiểu biết về “phạm trù”, công việc của người nghiên cứu cần phải làm là:

Trang 17

• Liệt kê đầy đủ các khái niệm liên quan trong đề tài Tìm các khái niệm này bằng cách nhận dạng các “từ khóa” nằm ở tên đề tài, các sự kiện khoa học, vấn đề khoa học, giả thiết khoa học, các luận cứ

• Xác định các khái niệm vừa được liệt kê ở trên thuộc phạm trù nào, của các khoa học nào

6.2.3 H ệ thống qui luật

Qui luật là mối quan hệ bản chất của các sự kiện khoa học Qui luật cho biết mối quan

hệ tất yếu và ổn định, lặp đi lặp lại, chứ không phải những liên hệ ngẫu nhiên Các dạng liên hệ trong tự nhiên và xã hội rất phong phú, phức tạp Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nhận dạng được những liên hệ chủ yếu để có thể hình thành kỹ năng tìm kiếm qui luật trong NCKH Các hình thức liên hệ có thể được chia thành “liên hệ hữu hình” và “liên

hệ vô hình”

Liên hệ hữu hình là những liên hệ có thể vẽ thành sơ đồ hoặc biểu diễn bằng những biểu thức toán học Ví dụ, liên hệ nối tiếp hoặc song song trong các mạch điện, trong hệ thống cấp thoát nước, … Khi sử dụng công cụ toán học để trình bày các liên hệ hữu hình, ta có các dạng liên hệ “tuyến tính”, “phi tuyến” và các liên hệ phức tạp được biểu diễn bằng những phương trình vi phân, các hàm tương quan, hàm phân bố xác xuất hoặc

mô hình toán học

Liên hệ vô hình là những liên hệ không thể biểu hiện trên bất cứ loại sơ đồ nào Ví dụ,

liên h ệ chức năng: liên hệ hành chính, liên hệ thương mại, liên hệ pháp lý, …; liên hệ

tình c ảm: yêu, ghét, lạnh nhạt, nồng nhiệt, …; quan hệ huyết thống: anh em ruột, anh em

họ, bác, chú, cô, gì, con đẻ, con dâu, con rể, …

6.3 Sự phát triển của lý thuyết khoa học

Con đường phát triển khoa học, đại thể, có thể hình dung theo sơ đồ Hình 2 dưới đây Bắt đầu từ những ý tưởng khoa học, những phương hướng sơ bộ định hướng ban đầu, phát triển dần đến trường phái khoa học và cuối cùng đi đến những đỉnh cao là các

Trường phái Khoa học

Bộ môn Khoa học

Ngành khoa học

Trang 18

Phương hướng khoa học là một tập hợp những chủ đề nghiên cứu thuộc một hoặc

một số lĩnh vực khoa học, được định hướng theo một hoặc một số mục tiêu lý thuyết, phương pháp luận hoặc phương hướng ứng dụng

Trường phái khoa học là một hướng khoa học đặc biệt, được phát triển đến một cách

nhìn mới hoặc một góc nhìn mới đối với đối tượng nghiên cứu, là tiền đề cho sự hình thành một hướng mới về lý thuyết hoặc phương pháp luận Trường phái khoa học có thể phát triển cao hơn để hình thành một bộ môn khoa học

Bộ môn khoa học là hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh về một đối tượng nghiên cứu Mỗi

bộ môn khoa học là một yếu tố cấu trúc nên nền khoa học của nhân loại

Ngành khoa học là một lĩnh vực hoạt động xã hội về NCKH hoặc đào tạo Ví dụ, khí

nói “chuyên gia khai thác thủy sản” có nghĩa là người hoạt động trong nghề cá, đã nắm vững các bộ môn khoa học về khai thác thủy sản như: thiết kế ngư cụ, điều khiển tàu khai thác, tổ chức quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Đỉnh cao của sự phát triển lý thuyết khoa học là bộ môn khoa học Con đường phát triển một lý thuyết khoa học hoàn chỉnh chia thành hai giai đoạn, giai đoạn khoa học tiền chuẩn tắc và giai đoạn khoa học chuẩn tắc Ở giai đoạn tiền chuẩn tắc của một khoa học

là giai đoạn còn tồn tại nhiều trường phái chưa định hình những hệ thống khái niệm và chưa xác lập đầy đủ những liên hệ bản chất trong lĩnh vực nghiên cứu đó

Cấu trúc hình thái của một bộ môn khoa học bao gồm:

• Có một đối tượng nghiên cứu;

• Có một luận điểm xuyên suốt lĩnh vực nghiên cứu;

• Có một hệ thống khái niệm và phạm trù;

• Có một hệ chuẩn mực

Trang 19

CHƯƠNG II

Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu

Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa học, nhưng có những đặc điểm tương tự với đề tài, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH này như sau:

Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa quan

tâm nhiều đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế

Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về

kinh tế và xã hội Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực

Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho

một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những dự

án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án

Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác

định Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ

Đề tài được lựa chọn bắt đầu từ sự kiện khoa học Từ sự kiện khoa học dẫn đến nhiệm

vụ nghiên cứu Người nghiên cứu bắt đầu công việc cụ thể từ nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Lựa chọn sự kiện khoa học

Sự kiện khoa học là điểm xuất phát của chủ đề nghiên cứu Lựa chọn sự kiện khoa học là cơ sở để tìm kiếm chủ đề nghiên cứu

Sự kiện khoa học là một sự vật hoặc hiện tượng có chứa đựng những vấn đề đòi hỏi giải thích bằng những tri thức khoa học và bằng những phương pháp quan sát hoặc thực nghiệm khoa học Sự kiện khoa học có thể là một sự kiện tự nhiên hoặc sự kiện xã hội

Ví dụ, Newton để ý sự kiện “quả táo rụng xuống đất”, Ac-si-met nhận thấy “nước nâng thân mình lên” trong bồn tắm-đó là sự kiện tự nhiên; Marx quan tâm đến vấn đề “đấu tranh giai cấp”, Adam-smith quan tâm đến “sự biến đổi của nền kinh tế thị trường”-đó là

sự kiện xã hội Các nhà khoa học này đã đặt câu hỏi nghiên cứu để giải đáp bằng các tri thức khoa học tự nhiên hoặc khoa học xã hội với những phương pháp quan sát hoặc thực nghiệm khoa học

Nói về vai trò của sự kiện khoa học đối với nhà nghiên cứu, Pavlov nói rằng: Sự kiện đối với nhà nghiên cứu cũng ví như không khí đỡ cho đôi cánh chim trên bầu trời Không có không khí nâng đỡ, đôi cánh chim không thể bay trên bầu trời

Người nghiên cứu lấy sự kiện khoa học từ những sự kiện thông thường trong hoạt động thực tế của mình, nhưng là những sự kiện chứa đựng những mâu thuẫn không thể giải quyết bằng kinh nghiệm thông thường, mà phải bằng những phương pháp của nghiên cứu khoa học: quan sát hoặc thực nghiệm khoa học, điều tra, phỏng vấn, hội thảo, v.v…

Trang 20

2.2 Xác định nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu là một chủ đề mà người nghiên cứu (hoặc nhóm nghiên cứu)

thực hiện Có nhiều nguồn nhiệm vụ như sau:

o Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia được ghi trong các văn kiện chính thức của cơ quan có thẩm quyền Người nghiên cứu có thể tìm kiếm “thị

trường” (nhu cầu) trong những nhiệm vụ thuộc loại này

o Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu Đối với nguồn nhiệm vụ này, người nghiên cứu không có sự lựa chọn, mà phải làm theo yêu cầu

o Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với các đối tác Đây là nguồn nhiệm vụ có sự bàn bạc thỏa thuận giữa người nghiên cứu với đối tác đặt hàng Nguồn này có nhiều tiềm năng, xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp hoặc các tổ chức

xã hội

o Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình, xuất phát từ ý tưởng khoa học của bản thân người nghiên cứu với sự cuốn hút của vấn đề đặt ra Đây là một trong những nguồn nhiệm vụ có thể phát huy tốt nhất năng lực của người nghiên cứu

Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu có thể dựa trên những căn cứ được xem xét theo các cấp độ như sau:

Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không? Ý nghĩa khoa học thể hiện trên những khía

cạnh như: Bổ sung những nội dung lý thuyết của khoa học; Làm rõ những vấn đề lý thuyết còn hạn chế hoặc xây dựng cơ sở lý thuyết mới

Đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không? Trong khoa học không phải đề tài nào cũng

mang ý nghĩa thực tiễn, nhất là trong nghiên cứu cơ bản thuần túy Tuy nhiên, tiêu chuẩn này luôn phải được xem xét, nhất là trong điều kiện kinh phí hạn hẹp Ý nghĩa thực tiễn thể hiện trong việc xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế và xã hội; nhu cầu kỹ thuật của sản xuất; nhu cầu về tổ chức, quản lý, thị trường, v.v…

Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không? Tính cấp thiết thể hiện ở mức độ ưu

tiên giải đáp những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra Tính cấp thiết là một yêu cầu

bổ sung đối với tính khoa học và tính thực tiễn Nếu chưa thật cấp thiết thì dành kinh phí

và thời gian cho các nghiên cứu cấp thiết hơn, nhất là trong điều kiện nguồn lực nghiên cứu còn hạn hẹp

Có đầy đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài không? Điều kiện nghiên

cứu bao gồm cơ sở thông tin, tư liệu; phương tiện, thiết bị; quỹ thời gian, năng lực, sở trường của những người tham gia Đề tài dù hội tụ đầy đủ về ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn và cấp thiết, nhưng không có điều kiện, phương tiện thuận lợi thì cũng khó lòng thực hiện

§3 ĐI TƯNG VÀ PHM VI NGHIÊN CU

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu là cụm từ dùng chỉ những nội dung cần được xem xét và làm

rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu Mỗi nhiệm vụ nghiên cứu có thể chứa đựng một hoặc một

số đối tượng nghiên cứu Ví dụ, khi nghiên cứu tính chọn lọc của nghề khai thác, có thể chọn một số đối tượng nghiên cứu như: tính chọn lọc của ngư cụ, tính chọn lọc của phương pháp khai thác trong mối quan hệ với đối tượng khai thác và vùng nước khai thác, v.v

Trang 21

Mục tiêu nghiên cứu là cụm từ chỉ những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong

khuôn khổ đối tượng nghiên cứu đã xác định Thực chất, đó là sự phân tích chi tiết hóa đối tượng nghiên cứu

Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lặp lẫn nhau Vì vậy, cần thiết phải phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu

người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu

cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ

sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều kiện mà kết quả nghiên cứu phải đạt được Mục tiêu trả lời câu làm cái gì?

Thí dụ, phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau: “Ảnh hưởng của các yếu

tố môi trường đến hiệu quả tập trung cá quanh nguồn sáng nhân tạo ở vùng biển vịnh Bắc bộ

Mục đích của đề tài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong khai thác cá của ngư dân

Mục tiêu của đề tài là: Xác định đặc điểm định tính hoặc định lượng của các yếu tố của môi trường như: tuần trăng, khí hậu, thời tiết, tính chất quang học của vùng nước vịnh Bắc bộ ảnh hưởng đến sự tập trung của cá quanh nguồn sáng nhân tạo

Như vậy, có thể nói, đối tượng nghiên cứu là một tập hợp các mục tiêu nghiên cứu, hoặc có thể nói, đối tượng nghiên cứu là một mục tiêu chung, còn mục tiêu nghiên cứu là những mục tiêu chuyên biệt

3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là vật mang đối tượng nghiên cứu, là nơi chứa đựng những câu hỏi mà người nghiên cứu cần tìm câu trả lời Khách thể có thể là:

Một không gian Ví dụ, với đề tài có đối tượng nghiên cứu là “Nghề chụp mực ở vịnh

Bắc bộ” thì khách thể nghiên cứu là vùng biển vịnh Bắc bộ

Một khu vực hành chính Ví dụ, với đề tài có đối tượng nghiên cứu là “Cổ phần hóa

các doanh nghiệp Nhà nước Khai thác Thủy sản ở Khánh Hòa” thì khách thể nghiên cứu

là các doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực khai thác thủy sản thuộc khu vực hành chính tỉnh Khánh Hòa

Một quá trình Ví dụ, với đối tượng nghiên cứu là “Áp dụng phương pháp học tập

theo kiểu nghiên cứu khoa học ở trường đại học Nha Trang” thì khách thể nghiên cứu là quá trình học tập của sinh viên

Một hoạt động Ví dụ, với đối tượng nghiên cứu là “Thiết bị lọc rùa biển của lưới kéo

đáy” thì khách thể nghiên cứu là hoạt động lọc rùa của thiết bị

Một cộng đồng Ví dụ, với đối tượng nghiên cứu là “Mô hình đồng quản lý nguồn lợi

thủy sản ven bờ” thì khách thể nghiên cứu là cộng đồng địa phương

Trang 22

3.3 Mẫu khảo sát

Mẫu khảo sát, còn gọi là đối tượng khảo sát, là một bộ phận đủ đại diện của khách thể được người nghiên cứu lựa chọn để xem xét Rất hiếm khi người nghiên cứu có thể đủ quĩ thời gian và kinh phí để khảo sát trên toàn bộ khách thể Xác định mẫu khảo sát, hay đối tượng khảo sát, là lựa chọn một số sự vật đại diện trong lớp sự vật đang cần được người nghiên cứu làm rõ bản chất

Trong đề tài “Thiết bị lọc rùa biển của lưới kéo đáy” thì mẫu khảo sát là hoạt động lọc

rùa của một số dạng thiết bị được lựa chọn để nghiên cứu

Trong đề tài “Áp dụng phương pháp học tập theo kiểu nghiên cứu khoa học ở trường đại học Nha Trang” thì mẫu khảo sát là quá trình học tập theo kiểu NCKH của một số

nhóm sinh viên trong trường Đại học Nha Trang, được lựa chọn đại diện cho các nhóm ngành, để tiến hành khảo sát nghiên cứu

Một khách thể nghiên cứu hoặc một mẫu khảo sát có thể phục vụ cho nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau Ví dụ, hoạt động của nghề chụp mực có thể là đối tượng nghiên cứu về giải pháp cơ giới hóa quá trình khai thác, nhưng có thể là đối tượng nghiên cứu

kỹ thuật đánh bắt có chọn lọc đối tượng, …

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Trong mọi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát không thể xem xét

ở mọi khía cạnh trong mọi thời gian, vì thế nó được giới hạn trong một phạm vi nhất định:

nhưng không thể khảo sát trên tất cả các tàu làm nghề chụp mực ở đó, mà chỉ có thể khảo sát một số mẫu đại diện, đó là qui mô của mẫu khảo sát

nghề chụp mực trên toàn bộ vùng biển vịnh Bắc bộ mà chỉ chọn một số ngư trường trọng điểm, đó là phạm vi giới hạn về không gian của mẫu khảo sát

đổi theo thời gian Vì vậy, người ta giới hạn phạm vi nghiên cứu trong một khoảng thời gian nhất định, trong khoảng thời gian đó diễn biến của qui luật có thể quan sát được

dung, người nghiên cứu chỉ lựa chọn một số nội dung bức thiết nhất để làm Phạm

vi giới hạn về nội dung phụ thuộc vào quĩ thời gian dành cho nghiên cứu, phương tiện kỹ thuật, kinh phí thực hiện và số lượng chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu

Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu Tên đề tài khoa học khác với tên của tác phẩm văn học Tên tác phẩm văn học có thể mang những ý ẩn dụ sâu xa Còn tên của đề tài khoa học thì chỉ được mang một nghĩa, không được phép hiểu hai hay nhiều nghĩa Vì vậy, người nghiên cứu cần tránh những nhược điểm thường gặp khi đặt tên đề tài như sau:

Thử bàn về…; Vài suy nghĩ về …; Một số biện pháp về …; Bước đầu tìm hiểu về

…; Một số nghiên cứu về …; Những vấn đề về …

Trang 23

Hạn chế lạm dụng (sử dụng tùy tiện) những cụm từ chỉ mục đích để đặt tên đề tài

Ví dụ: … nhằm nâng cao chất lượng …; …để phát triển năng lực cạnh tranh;

…góp phần vào … Chẳng hạn, có thể sử dụng các cụm từ trên để đưa ra tên một

đề tài như: “Thử bàn về một số biện pháp bước đầu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần phát triển năng lực cạnh tranh trên thị trường”

• Không nên đặt tên đề tài thể hiện tính đại khái, thiếu tư duy sâu sắc, kiểu như

“Chống lạm phát - Hiện trạng, nguyên nhân, giải pháp”; hoặc “Hội nhập-Thách thức, thời cơ” Đương nhiên, khi nghiên cứu đề tài “Chống lạm phát”, tác giả nào chẳng phải tìm hiểu hiện trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp Cũng như vậy, khi nghiên cứu vấn đề “Hội nhập”, ai mà chẳng phải xem xét về thời cơ

và thách thức của quá trình hội nhập Cách đặt tên đề tài như trên thể hiện tính hời hợt, đại khái, không nắm vững thực chất vấn đề khoa học của đề tài và mục tiêu nghiên cứu

Tóm lại, quá trình hình thành đề tài nghiên cứu chiếm vị trí rất quan trọng trong NCKH Có thể tóm tắt một số bước đi như sau:

Người làm nghiên cứu cần phải viết 2 loại đề cương: sơ bộ và chi tiết Mục đích của

việc xây dựng đề cương nghiên cứu sơ bộ (research outline) là để trình bày ý tưởng

nghiên cứu Trọng tâm của đề cương nghiên cứu sơ bộ là trình bày một cách thuyết phục

lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu và ý nghĩa của nó Bên cạnh đó người làm nghiên cứu phải cụ thể được tên đề tài, mục tiêu và các nội dung nghiên cứu chính và hướng tiếp cận Đề cương nghiên cứu sơ bộ chỉ khoảng 2-3 trang gồm những phần chính như sau:

• Tên đề tài, lý do lựa chọn và ý nghĩa của đề tài;

• Mục tiêu và các nội dung nghiên cứu;

• Phương pháp nghiên cứu, hướng giải quyết các nội dung, kô đi sâu vào chi tiết;

• Dự kiến kết quả thu được và lịch thực hiện;

Các tài liệu tham khảo chính (nếu cần thiết phải nêu)

Một khi ý tưởng nghiên cứu đã được thông qua, người làm nghiên cứu sẽ xây dựng đề

cương nghiên cứu chi tiết (research proposal) Trọng tâm của đề cương nghiên cứu chi

tiết là ở phần Phương pháp nghiên cứu Mọi chi tiết của nghiên cứu đều nên được hoạch định một cách cụ thể, từ việc tổ chức nghiên cứu đến phương pháp thu thập và xử lý số liệu; thời gian cụ thể để triển khai từng công việc Một đề cương nghiên cứu chi tiết được coi như là hoàn hảo khi ta có thể giao cho người khác thực hiện nghiên cứu của mình theo các thông tin có trong đề cương này Đề cương nghiên cứu chi tiết gồm có các mục sau:

Trang 24

o Mở đầu: giới thiệu tên đề tài, lý do lựa chọn; các mục tiêu và nội dung nghiên

cứu; ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài;

o Tổng luận (hoặc Tổng quan tài liệu): trình bày các vấn đề có liên quan đến đề tài

nghiên cứu với mục đích làm rõ phần mở đầu và làm cơ sở cho phần phương pháp nghiên cứu;

o Phương pháp nghiên cứu: trình bày chi tiết các phương pháp được sử dụng để

thu thập số liệu chứng minh luận điểm khoa học của đề tài;

o Định dạng số liệu thu thập: dưới dạng các bảng biểu thu thập số liệu và cách

thức trình bày;

o Tài liệu tham khảo

Khi đề cương nghiên cứu chi tiết đã được thống nhất, người làm nghiên cứu sẽ triển khai nghiên cứu của mình theo đúng hoạch định này và chỉ nên thay đổi các chi tiết nếu

có cơ sở và lập luận vững chắc cho chỉnh sửa của mình

Các bước thực hiện đề tài không quá chặt chẽ như việc điều hành một công nghệ sản xuất Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của đồng nghiệp đi trước, mỗi người nghiên cứu, căn cứ đặc điểm lĩnh vực nghiên cứu của mình cũng như những điều kiện đảm bảo cho nghiên cứu, … để quyết định một trình tự thích hợp Các bước cơ bản thực hiện đề tài có thể tóm lược như sau:

6.1 Bước 1: Lựa chọn đề tài

Đối với người đã có kinh nghiệm nghiên cứu thì việc lựa chọn đề tài không gặp khó khăn lớn, nhưng đối với người mới bước vào công việc nghiên cứu thì việc lựa chọn đề tài có một ý nghĩa rất quan trọng Việc lựa chọn đề tài có thể xem xét một số nội dung sau Trước hết cần xác định nhiệm vụ nghiên cứu xuatts phát từ nhiều nguồn nhiệm vụ:

Tiếp theo, xem xét nhiệm vụ nghiên cứu theo các tiêu chí:

6.2 Bước 2: Xây dựng đề cương và lập kế hoạch nghiên cứu

Đề cương được xây dựng để trình cơ quan và tổ chức có thẩm quyền phê duyệt Trong nội dung đề cương cần thuyết minh những điểm sau:

1) Tên đề tài (đã đề cập ở §4)

2) Lý do chọn đề tài, giải thích lý do chọn lựa của tác giả về mặt lý thuyết, về mặt thực tiễn, về tính cấp thiết và về năng lực nghiên cứu

3) Lịch sử nghiên cứu

kế thừa những gì ở đồng nghiệp?

Trang 25

• Xác định vấn đề cần nghiên cứu, không trùng lặp với những kết quả mà đồng nghiệp đi trước đã công bố

4) Mục tiêu (nhiệm vụ) nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là cơ sở để đề ra nhiệm vụ nghiên cứu Thường thể hiện 2 vấn

đề chủ yếu sau :

5) Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là vật mang đối tượng nghiên cứu, là nơi chứa đựng những câu

gian, một khu vực hành chính, một quá trình, một hoạt động, một cộng đồng

6) Đối tượng (mẫu) khảo sát Đây là mẫu được chọn trong khách thể, bởi vì người

nghiên cứu không thể có đủ quĩ thời gian và kinh phí xem xét toàn bộ khách thể

7) Phạm vi nghiên cứu Có hai loại phạm vi được xem xét:

8) Vấn đề nghiên cứu (Cần phải trả lời những câu hỏi nào trong nghiên cứu?)

9) Giả thuyết nghiên cứu (luận điểm khoa học là gì?)

10) Lựa chọn luận cứ và phương pháp thu thập thông tin (Cần dùng luận cứ nào về

lý thuyết và thực tiễn để chứng minh luận điểm khoa học đã đề ra) Phương pháp thu thập thông tin được phân chia thành các nhóm: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp thực nghiệm và phương pháp phi thực nghiệm Tùy theo điều kiện thực tế để lựa chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp

11) Lập danh sách cộng tác viên Mô hình nhóm nghiên cứu, dưới dạng cộng tác

viên, ngày càng chứng tỏ ưu thế trong nghiên cứu khoa học Nhân lực nhóm thường bao gồm các loại sau:

gia nghiên cứu

đổi bằng một số tháng chính nhiệm

phòng phẩm, diều hành chi tiêu và làm quyết toán với tài vụ, liên hệ với các cộng tác viên, tổ chức hội nghị, in ấn tài liệu, …

số liệu thống kê và các phiếu điều tra, …

12) Tiến độ thực hiện đề tài

Kế hoạch tiến độ được xây dựng căn cứ vào yêu cầu của cơ quan giao nhiệm vụ Cơ quan giao nhiệm vụ có thể là cấp trên của người nghiên cứu hoặc đối tác giao nhiệm vụ theo hợp đồng

13) Dự toán kinh phí nghiên cứu Dự toán kinh phí có thể bao gồm một số chi phí

phục vụ cho việc nghiên cứu như sau:

a Các n ội dung chi giao khoán cho tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án, bao

g ồm:

• Chi tiền công, thù lao cho cán bộ khoa học, cán bộ kỹ thuật thực hiện các nội dung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chi thù lao chuyên gia nhận

Trang 26

xét, phản biện, đánh giá (trong và ngoài nước); chi tiền công lao động khác tham

gia trực tiếp thực hiện đề tài, dự án

• Chi về vật tư, hóa chất nguyên, nhiên, vật liệu cần thiết (đã có định mức kinh tế -

kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành) cho thí nghiệm, thử nghiệm; chi

mua tài liệu, tư liệu, số liệu quan trắc, số liệu điều tra, sách, tạp chí tham khảo, tài liệu kỹ thuật, bí quyết công nghệ, tài liệu chuyên môn, dụng cụ, vật rẻ tiền mau hỏng, bảo hộ lao động, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án

• Các khoản chi: hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển giao kết quả nghiên cứu; chi công tác phí trong nước; chi đoàn vào; chi hội nghị, hội thảo khoa học của đề tài, dự án; chi văn phòng phẩm, in ấn, thông tin, liên lạc; chi dịch tài liệu từ tiếng nước ngoài; chi biên soạn và in ấn sách chuyên khảo để phổ biến trong khuôn khổ của đề tài, dự án; phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (nếu có); chi hoạt động quảng cáo, tiếp thị, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm của đề tài, dự án (đối

với các đề tài, dự án có các hoạt động này và được bố trí trong dự toán do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt)

• Một số khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án

b Các n ội dung chi không giao khoán cho tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án,

bao g ồm:

• Chi về vật tư, hóa chất, nguyên nhiên vật liệu (không có định mức kinh tế - kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành) cho thí nghiệm, thử nghiệm phục vụ yêu cầu nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án

• Chi đoàn ra (nếu có)

• Chi mua sắm mới tài sản cố định thiết yếu, chi sửa chữa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài,

Loại văn bản này phải làm theo mẫu do các cơ quan này qui định

bản này phải nhất quán với văn bản trên, nhưng qui định cụ thể hơn các quan hệ nội bộ giữa các thành viên của nhóm nghiên cứu

15) Chuẩn bị phương tiện nghiên cứu Các đề tài trong khoa học tự nhiên và kỹ thuật

thường có nhu cầu về thiết bị thí nghiệm, nghiên cứu Người nghiên cứu có thể được cung cấp một số phương tiện, thiết bị, phòng thí nghiệm của trường, viện nghiên cứu; cũng có thể phải thuê mướn hoặc mua sắm mới

6.3 Bước 3: Thu thập và xử lý thông tin

Công việc này thường được tiến hành sau khi đề tài đã được phê duyệt kinh phí

thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu trong các kho lưu trữ, các trung tâm

Trang 27

thông tin, tư liệu, thư viện và tiếp xúc trao đổi với các chuyên gia đầu ngành Lập danh mục tư liệu cần theo hệ thống phân loại phù hợp để có khả năng tương hợp với hệ thống thông tin, tư liệu chung

cứu Phiếu thư mục nên làm theo mẫu của của các thư viện để tiện đối chiếu, cũng

có thể cải tiến theo thói quen của cá nhân, nhưng cần đảm bảo yêu cầu là ghi rõ nguồn tư liệu, mã số của thư viện để tiện tra cứu

Người nghiên cứu cần khai thác triệt để sự hỗ trợ của máy vi tính, các chương trình phần mềm xử lý thông tin, nâng cao hiệu suất nghiên cứu

thông tin thu thập để phát hiện động thái và qui luật biến động của sự vật nghiên cứu, để tìm kiếm các mối liên hệ lôgic

6.4 Bước 4: Viết báo cáo tổng kết đề tài

Báo cáo khoa học của đề tài nghiên cứu là một công việc hệ trọng, vì đây là cơ sở để các hội đồng khoa học đánh giá những đóng góp khoa học của người nghiên cứu, đồng thời cũng là bút tích để lại cho các đồng nghiệp đi sau Mẫu báo cáo khoa học được trình bày ở chương V

6.5 Bước 5: Đánh giá và nghiệm thu đề tài

Nghiệm thu đề tài là sự đánh giá chất lượng của đề tài để công nhận hay không công nhận kết quả nghiên cứu Nghiệm thu đề tài là công việc của cơ quan quản lý đề tài hoặc

bên giao nhiệm vụ nghiên cứu, gọi chung là bên A Tác giả (hoặc nhóm tác giả) thực

hiện đề tài nghiên cứu, gọi chung là bên B

Thể thức nghiệm thu đề tài thường được thực hiện như sau:

• Một hoặc hai chuyên gia am hiểu lính vực nghiên cứu được mời viết nhận xét phản biện theo các tiêu chuẩn mà bên A đặt ra Tùy mức độ cần thiết, bên A có thể sử dụng phản biện công khai hoặc phản biện bí mật để đảm bảo khách quan cho ý kiến phản biện

Số lượng thành viên được quyết định theo qui định của bên A

những đánh giá của các thành viên khác, trao đổi thảo luận đối chất với bên B để

đi đến bỏ phiếu nghiệm thu đề tài

6.6 Bước 6: Công bố kết quả nghiên cứu

Trừ những kết quả nghiên cứu có tính hệ trọng về an ninh và quốc phòng, mọi kết quả nghiên cứu khoa học cần được công bố Một kết quả NCKH được công bố mang nhiều ý nghĩa, như đóng góp một nhận thức mới trong hệ thống tri thức của bộ môn khoa học;

mở rộng sự trao đổi thông tin để tiếp tục phát triển lĩnh vực nghiên cứu; khẳng định về mặt sở hữu của người nghiên cứu đối với sản phẩm Kết quả nghiên cứu có thể công bố trên báo, tạp chí chuyên ngành, cũng có thể công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 28

1 Đánh giá nguồn lợi thủy sản;

2 Dự báo ngư trường;

3 Qui hoạch cơ cấu nghề khai thác hợp lý;

4 Công nghệ vật liệu mới dùng trong nghề cá;

5 Cải tiến, hoàn thiện ngư cụ và công nghệ khai thác;

6 Ứng dụng tiến bộ khoa học, chuyển giao công nghệ khai thác cá;

7 Sử dụng hợp lý các trường vật lý trong khai thác cá;

8 Thiết bị và phương pháp khai thác chọn lọc đối tượng;

9 An toàn cho người và phương tiện khai thác thủy sản;

10 Mô hình tổ chức, quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Trang 29

CHƯƠNG III XÂY DỰNG LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC

§1 KHÁI NIM LUN ĐIM KHOA HC

Khoa học ngày càng phát triển và mang tính xã hội cao, song chủ trì một đề tài nghiên cứu lại là cá nhân nhà nghiên cứu Vì vậy, mỗi nhà nghiên cứu phải thể hiện được ý tưởng trong tư duy của mình thông qua luận điểm khoa học mang bản sắc riêng

Luận điểm khoa học là ý kiến, quan niệm có tính lý luận về bản chất sự vật Luận điểm khoa học là kết quả của những suy luận trực tiếp từ nghiên cứu lý thuyết, quan sát hoặc thực nghiệm

Bài báo khoa học, luận văn khoa học, báo cáo khoa học của bất kỳ công trình khoa học nào cũng đều phải là văn bản trình bày và chứng minh luận điểm khoa học của tác giả Quá trình xây dựng luận điểm khoa học được hình thành theo sơ đồ ở trên Hình 3 dưới đây

Hình 3 Quá trình hình thành luận điểm khoa học

Quá trình có thể được mô tả như sau:

1) Bắt đầu từ việc quan sát để nắm bắt sự kiện, ví dụ, sự kiện tai nạn giao thông 2) Phát hiện những mâu thuẫn trong sự kiện, ví dụ, đầu tiên trên công luận đưa ra ý kiến, tai nạn là do đường xá chật hẹp Nhưng qua quan sát, người nghiên cứu nhận ra rằng: đường càng rộng thì số lượng tai nạn càng tăng và càng nghiêm trọng hơn

3) Đặt câu hỏi về nguyên nhân và cách xử lý mâu thuẫn đó Có thể có rất nhiều câu hỏi đặt ra, chẳng hạn, vì sao đường càng rộng càng nhiều tai nạn, mà tai nạn càng nghiêm trọng? Phải chăng những người tham gia giao thông không tôn trọng luật

Giả thiết Khoa học

Luận điểm Khoa học

Trang 30

giao thông? Phải chăng những người thừa hành công vụ không làm hết trách nhiệm? …

4) Đưa câu trả lời sơ bộ, tức giả thuyết, tức luận điểm cần chứng minh của người nghiên cứu về cách thức xử lý, ví dụ, tai nạn không phải do đường chật hẹp, cũng không phải những người thi hành công vụ thiếu trách nhiệm, mà là do ý thức của những người tham gia giao thông

2.1 Khái niệm “Vấn đề khoa học”

Vấn đề khoa học, cũng được gọi là vấn đề nghiên cứu hoặc câu hỏi nghiên cứu, là câu hỏi được đặt ra khi người nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tri thức khoa học hiện có với yêu cầu phát triển tri thức đó ở trình độ cao hơn

Phát hiện vấn đề nghiên cứu là giai đoạn quan trọng trên con đường phát triển nhận thức Tuy nhiên, nêu vấn đề lại chính là công việc khó nhất đối với người mới bắt tay vào NCKH Câu hỏi thường gặp là “nghiên cứu một đề tài khoa học nên bắt đầu từ cái gì?” Câu trả lời là: “Hãy bắt đầu từ việc phát hiện vấn đề nghiên cứu, nghĩa là đặt câu hỏi”

2.2 Phân lớp vấn đề khoa học

Trong NCKH luôn tồn tại hai lớp vấn đề: Thứ nhất, vấn đề bản chất sự vật cần tìm kiếm; Thứ hai, vấn đề về phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ, về lý thuyết và về thực tiễn những vấn đề thuộc lớp thứ nhất

Ví dụ, khi nghiên cứu các dụng cụ khai thác cá truyền thống trong các vùng nước nội địa, câu hỏi đầu tiên được đặt ra là: những dụng cụ này có từ niên đại nào? Câu hỏi tiếp theo được đặt ra là: Làm thế nào để xác định được chúng đích thực thuộc niên đại ấy?

Do vậy, xuất hiện lớp vấn đề thứ hai, nghĩa là phương pháp xác định niên đại của các dụng cụ đánh cá

2.3 Các tình huống của vấn đề khoa học

NCKH, trong mọi trường hợp đều nhằm vào những điều chưa biết (qui luật chưa được khám phá, giải pháp chưa được sáng tạo, hình mẫu chưa được kiểm chứng), nghĩa

là đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu

Hình 4 Các tình huống của vấn đề khoa học

Có vấn đề

Không có vấn đề

Giả vấn đề

Có nghiên cứu

Không có nghiên cứu

Không có vấn đề

Có vấn đề khác

Không có nghiên cứu Nghiên cứu theo hướng khác

Trang 31

Như vậy, khi nhận được nhiệm vụ nghiên cứu, người nghiên cứu trước hết cần phải xem xét có những vấn đề nào đặt ra Có thể có ba tình huống được thể hiện trên Hình 4 dưới đây

Tình huống thứ nhất: Có vấn đề nghiên cứu Như vậy sẽ có nhu cầu trả lời vào vấn đề nghiên cứu, nghĩa là sẽ tồn tại hoạt động nghiên cứu

Tình huống thứ hai: Không có vấn đề hoặc không còn vấn đề Trường hợp này không xuất hiện nhu cầu trả lời, nghĩa là không có nghiên cứu

Tình huống thứ ba: Tưởng là có vấn đề, nhưng sau khi xem xét thì lại không có vấn

đề hoặc có vấn đề khác Tình huống đó được gọi là giả vấn đề Ví dụ, vấn đề chen lấn trong thang máy …

2.4 Phương pháp phát hiện vấn đề khoa học

Có nhiều phương pháp để phát hiện vấn đề nghiên cứu, xin giới thiệu một số phương pháp sau:

• Phân tích theo cấu trúc lôgic của các tài liệu thu thập được Quá trình nghiên cứu, đọc và thu thập tài liệu nghiên cứu giúp cho nhà khoa học phát hiện hoặc nhận ra

các “vấn đề” và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu (phát triển “vấn đề” rộng

hơn để nghiên cứu) Đôi khi người nghiên cứu thấy một điều gì đó chưa rõ trong những nghiên cứu trước và muốn chứng minh lại Đây là tình huống quan trọng nhất để xác định “vấn đề” nghiên cứu

• Nhận dạng những bất đồng trong tranh luận tại các hội nghị thảo luận về pháp luật, chính sách Trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học, kỹ thuật, … đôi khi có những bất đồng, tranh cãi và tranh luận khoa học đã giúp cho các nhà khoa học nhận thấy được những mặt yếu, mặt hạn chế của “vấn đề” tranh cãi và từ đó người nghiên cứu nhận định, phân tích lại và chọn lọc rút ra “vấn đề” cần nghiên cứu

• Nghĩ ngược lại những quan điểm thông thường Ví dụ, nhiều người cho rằng: trẻ

em suy dinh dưỡng là do các bà mẹ kém hiểu biết về dinh dưỡng trẻ em Tuy nhiên, câu hỏi ngược lại là: “Các bà mẹ là trí thức chắc chắn phải hiểu biết về dinh dưỡng trẻ em hơn các bà mẹ là nông dân Vậy thì tại sao tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong nhóm con các bà mẹ là trí thức lại cao hơn nhóm các bà mẹ là nông dân?”

• Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế Trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, qua hoạt động thực tế lao động sản xuất, yêu cầu kỹ thuật, mối quan hệ trong xã hội, cư xử, … làm cho con người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những sản phẩm tốt hơn nhằm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người trong xã hội Những hoạt động thực tế này đã đặt ra cho người nghiên cứu các câu hỏi hay người nghiên cứu phát hiện ra các “vấn đề” cần nghiên cứu

• Lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu “Vấn đề” nghiên cứu cũng được hình thành qua những thông tin bức xúc, lời nói phàn nàn nghe được qua các cuộc nói chuyện từ những người xung quanh mà chưa giải thích, giải quyết được “vấn đề” nào đó

• Những câu hỏi bất chợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào Các “vấn đề” hay các câu hỏi nghiên cứu có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên trong suy nghĩ của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu qua tình cờ quan sát các hiện tượng của tự nhiên, các hoạt động xảy ra trong xã hội hàng ngày

Trang 32

• Tính tò mò của nhà khoa học về những điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay

“vấn đề” nghiên cứu

§3 GI THUY T KHOA HC

3.1 Khái niệm giả thuyết khoa học

Giả thuyết khoa học, còn gọi là giả thuyết nghiên cứu, là một nhận định sơ bộ, một kết luận giả định về bản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa ra để chứng minh hoặc bác

bỏ

Đối với các ngành khoa học, sau khi tìm được vấn đề nghiên cứu, người nghiên cứu phải tập trung xây dựng giả thuyết nghiên cứu để chứng minh hay bác bỏ đối tượng nghiên cứu Nếu vấn đề khoa học là “câu hỏi” thì giả thuyết chính là “câu trả lời” vào câu hỏi mà vấn đề khoa học đã nêu ra

Để chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết cần phải có các luận cứ và phương pháp Phương pháp ở đây bao gồm phương pháp tìm kiếm luận cứ và phương pháp sắp xếp luận cứ để chứng minh giả thuyết

Một giả thuyết có thể được đặt ra đúng với bản chất sự vật, song giả thuyết có thể sai

và bị bác bỏ, nhưng như Men-lê-đê-ev đã viết “Có một giả thuyết sai còn hơn không có

một giả thuyết nào cả” Lịch sử khoa học cho thấy, một giả thuyết bị bác bỏ cũng có nghĩa là một điều được khẳng định, rằng trong khoa học không có bản chất như giả thuyết đã nêu ra

3.2 Liên hệ giữa giả thuyết với vấn đề khoa học

Sau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu hình

thành ý tưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề chưa biết (đặt giả

thuyết ) Ý tưởng khoa học này còn gọi là sự tiên đoán khoa học (hay tiền giả thuyết)

giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận tới mục tiêu cần

nghiên cứu Trên cơ sở những quan sát bước đầu, những tình huống đặt ra (câu hỏi hay

vấn đề ), những cơ sở lý thuyết (tham khảo tài liệu, kiến thức đã có,…), sự tiên đoán và

những dự kiến tiến hành thực nghiệm, … sẽ giúp cho người nghiên cứu hình thành một

cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết khoa học

Một cách đơn giản nhất, có thể hiểu giả thuyết là câu trả lời vào những câu hỏi đã được nêu ra trong vấn đề khoa học

Sơ đồ mối liên hệ giữa vấn đề khoa học với quá trình xuất hiện ý tưởng khoa học và giả thuyết khoa học được trình bày trên Hình 5

(câu hỏi) (Hướng trả lời) (Giả thuyết khoa học)

Hình 5 Liên hệ giữa giả thuyết với vấn đề khoa học

Trang 33

3.3 Các đặc tính của giả thuyết khoa học

Giả thuyết có những đặc tính sau:

- Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay đổi trong suốt quá trình nghiên cứu;

- Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết;

- Giả thuyết càng đơn giản càng tốt;

- Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi

Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau:

+ Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin;

+ Phải có mối quan hệ nhân - quả;

+ Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu

3.4 Cấu trúc của một giả thuyết khoa học

3.4.1 C ấu trúc có mối quan hệ “nhân-quả”

Cần phân biệt cấu trúc của một “giả thuyết” với một số câu nói khác không phải là giả thuyết Ví dụ, khi nói: “Cá bỏ chạy khi nghe tiếng máy tàu” hoặc “Lưới kéo đáy ven bờ gây ra sự hủy hoại môi trường”, câu này như là một câu kết luận, không phải là câu giả thuyết

Đôi khi giả thuyết đặt ra không thể hiện mối quan hệ ướm thử và không thể thực hiện thí nghiệm để chứng minh Thí dụ: “tôi chơi vé số, vậy thì tôi sẽ giàu” hoặc “nếu tôi giữ

ấm men bia, vậy thì nhiều hơi gas sẽ sinh ra”

Cấu trúc của một giả thuyết có chứa quá nhiều “biến quan sát” và chúng có mối quan

hệ với nhau Khi làm thay đổi một biến nào đó, kết quả sẽ làm thay đổi biến còn lại Ví dụ: Cải tiến ngư cụ khai thác cá sẽ cho năng suất cao Có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cải tiến ngư cụ

Một cấu trúc “giả thuyết” tốt phải chứa đựng “mối quan hệ nhân-quả” và thường sử dụng từ ướm thử “có thể”

Ví dụ: giả thuyết “Tăng công suất nguồn sáng có thể làm gia tăng lượng cá tập trung quanh nguồn” Mối quan hệ trong giả thuyết là quan hệ giữa ánh sáng và sự tập trung của cá, còn nguyên nhân là công suất nguồn sáng và kết quả là lượng cá tập trung quanh nguồn

3.4.2 C ấu trúc “Nếu-vậy thì”

Một cấu trúc khác của giả thuyết “Nếu-vậy thì” cũng thường được sử dụng để đặt giả thuyết như sau:

“Nếu” (hệ quả hoặc nguyên nhân) … có liên quan tới (nguyên nhân hoặc hệ quả) …,

“Vậy thì” nguyên nhân đó có thể hay ảnh hưởng đến hệ quả

Ví dụ: “Nếu cường độ khai thác cá liên quan đến trữ lượng của chúng, vậy thì cường

độ khai thác lớn sẽ làm cho trữ lượng cá ngày càng giảm sút ”

Một số nhà khoa học đặt cấu trúc này như là sự tiên đoán và dựa trên đó để xây dựng thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết Ví dụ: Nếu kích thước mắt lưới rê ảnh hưởng đến kích thước cá mắc lưới, vậy thì tăng kích thước mắt lưới có thể tăng kích cỡ cá đánh bắt được

Trang 34

3.5 Cách đặt giả thuyết

Điều quan trọng trong cách đặt giả thuyết là phải đặt như thế nào để có thể thực hiện thí nghiệm kiểm chứng “đúng” hay “sai” giả thuyết đó Vì vậy, trong việc xây dựng một giả thuyết cần trả lời các câu hỏi sau:

1 Giả thuyết này có thể tiến hành thực nghiệm được không?

2 Các biến hay các yếu tố nào cần được nghiên cứu?

3 Phương pháp thí nghiệm nào (trong phòng, khảo sát, điều tra, bảng câu hỏi, phỏng

vấn, …) được sử dụng trong nghiên cứu?

4 Các chỉ tiêu nào cần đo đạc trong suốt quá trình thí nghiệm?

5 Phương pháp xử lý số liệu nào mà người nghiên cứu dùng để bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết?

Một giả thuyết hợp lý cần có các đặc điểm chính sau đây:

• Giả thuyết đặt ra phải phù hợp và dựa trên quan sát hay cơ sở lý thuyết hiện tại

(kiến thức vốn có, nguyên lý, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu tương tự trước đây,

hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo), nhưng ý tưởng trong giả thuyết là phần

lý thuyết chưa được chấp nhận

Giả thuyết đặt ra có thể làm sự tiên đoán để thể hiện khả năng đúng hay sai (thí

dụ, một tỷ lệ cao những người hút thuốc lá bị chết do ung thư phổi khi so sánh với những người không hút thuốc lá Điều này có thể tiên đoán qua kiểm nghiệm)

• Giả thuyết đặt ra có thể làm thí nghiệm để thu thập số liệu, để kiểm chứng hay

chứng minh giả thuyết (đúng hay sai)

Tóm lại, giả thuyết đặt ra dựa trên sự quan sát, kiến thức vốn có, các nguyên lý, kinh nghiệm trước đây hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu tương tự trước đây để phát triển nguyên lý chung hay bằng chứng để giải thích, chứng minh câu hỏi nghiên cứu Xét về bản chất lôgic, giả thuyết được đặt ra từ việc xem xét bản chất riêng, chung của sự vật và mối quan hệ của chúng hay gọi là quá trình suy luận Quá trình suy luận là cơ sở hình thành giả thuyết khoa học

Ví dụ: khi quan sát sự nẩy mầm của các hạt đậu hoặc dựa trên các tài liệu nghiên cứu khoa học người nghiên cứu nhận thấy ở hạt đậu bình thường, hạt no, vỏ hạt bóng láng thì

nẩy mầm tốt và đều (đây là một kết quả được biết qua lý thuyết, tài liệu nghiên cứu

trước đây,…) Như vậy, người nghiên cứu có thể suy luận để đặt ra câu hỏi đối với các

hạt đậu có vỏ bị nhăn nheo thì nẩy mầm như thế nào? (Đây là câu hỏi) Giả thuyết được

đặt ra là “Nếu sự nẩy mầm của hạt đậu có liên quan tới vỏ hạt, vậy thì hạt đậu có vỏ nhăn có thể không nẩy mầm” Đây là một giả thuyết mà có thể dễ dàng làm thí nghiệm

để kiểm chứng

3.6 Kiểm chứng giả thuyết qua so sánh giữa tiên đoán với kết quả thí nghiệm

Bên cạnh việc kiểm nghiệm, một yếu tố quan trọng là đánh giá sự tiên đoán Nếu như

sự tiên đoán được tìm thấy là không đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thí nghiệm), người nghiên cứu kết luận rằng giả thuyết (một phần giả thuyết) “sai” (nghĩa là bác bỏ

hay chứng minh giả thuyết sai ) Khi sự tiên đoán là đúng (dựa trên kết quả hay bằng

chứng thí nghiệm), kết luận giả thuyết là “đúng”

Trang 35

CHƯƠNG IV CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC

Vấn đề của người nghiên cứu là phải chứng minh luận điểm khoa học của mình, tức là chứng minh giả thuyết do mình đặt ra

Muốn chứng minh một luận điểm khoa học, người nghiên cứu phải có đầy đủ luận cứ khoa học Muốn tìm được các luận cứ và làm cho luận cứ có sức thuyết phục, người nghiên cứu phải sử dụng những phương pháp nhất định Phương pháp ở đây bao gồm hai loại: phương pháp tìm kiếm luận cứ và phương pháp sắp xếp các luận cứ để chứng minh luận điểm khoa học

Đó là những việc làm cần thiết của người nghiên cứu trong quá trình chứng minh luận điểm khoa học của mình

1.1 Cấu trúc lôgic của phép chứng minh

Cấu trúc lôgic của phép chứng minh gồm ba bộ phận hợp thành: Luận điểm, Luận cứ

và phương pháp

Luận điểm (còn gọi là Luận đề) là điều cần chứng minh trong một NCKH Luận đề

trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều gì?” trong nghiên cứu Luận điểm là một “phán đoán” hay một “giả thuyết”, mà tính chân xác của nó cần được chứng minh Thí dụ: Khi dòng chảy lớn, cá không thể tập trung quanh nguồn sáng

Luận cứ là bằng chứng được đưa ra để chứng minh luận điểm Luận cứ bao gồm thu

thập các thông tin, tài liệu tham khảo; quan sát và thực nghiệm Luận cứ trả lời câu hỏi

“Chứng minh bằng cái gì?”, các nhà khoa học sử dụng nó làm cơ sở để chứng minh một luận điểm

Phương pháp là các cách thức được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổ chức luận cứ

để chứng minh luận điểm (luận đề)

Trong bước khởi đầu của một công trình NCKH, việc phân tích cấu trúc lôgic được áp dụng để phân tích tài liệu, nhằm nhận dạng luận điểm mà tác giả cần chứng minh trong tài liệu; phân tích mặt mạnh, mặt yếu của luận điểm; tìm các luận cứ được tác giả sử dụng để chứng minh luận điểm; phân tích mặt mạnh, mặt yếu của luận cứ; xác định phương pháp được tác giả sử dụng trong quá trình dùng luận cứ để chứng minh luận điểm

1.2 Luận cứ

Có hai loại luận cứ được sử dụng trong nghiên cứu khoa học:

• Luận cứ lý thuyết: bao gồm các lý thuyết, luận điểm, tiền đề, định lý, định luật, qui luật đã được khoa học chứng minh và xác nhận là đúng Luận cứ lý thuyết cũng được xem là cơ sở lý luận Luận cứ lý thuyết được khai thác từ các tài liệu, công trình khoa học của các đồng nghiệp đi trước Việc sử dụng luận cứ lý thuyết

sẽ giúp người nghiên cứu tiết kiệm thời gian, không phải chứng minh những gì

mà đồng nghiệp đi trước đã chứng minh

• Luận cứ thực tiễn được thu thập từ trong thực tế bằng cách quan sát, thực nghiệm, phỏng vấn, điều tra hoặc khai thác từ các công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp Về mặt lôgic, luận cứ thực tiễn là các sự kiện thu thập được từ quan sát hoặc thực nghiệm khoa học Toàn bộ quá trình NCKH, sau khi hình thành luận điểm, là quá trình tìm kiếm và chứng minh luận cứ

Ngày đăng: 27/08/2016, 08:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1  dưới  đây  trình  bày  cấu  trúc  của  một  lý  thuyết  khoa  học,  trong  đó,  rất  quan  trọng là những bộ phận cấu thành, gồm  một  hệ thống các  khái niệm, phạm trù, và qui  luật về sự vật mà lý thuyết phản ánh - Phương pháp nghiên cứu khoa học
nh 1 dưới đây trình bày cấu trúc của một lý thuyết khoa học, trong đó, rất quan trọng là những bộ phận cấu thành, gồm một hệ thống các khái niệm, phạm trù, và qui luật về sự vật mà lý thuyết phản ánh (Trang 15)
Hình 2. Lôgic phát triển của khoa học - Phương pháp nghiên cứu khoa học
Hình 2. Lôgic phát triển của khoa học (Trang 17)
Hình 3. Quá trình hình thành luận điểm khoa học - Phương pháp nghiên cứu khoa học
Hình 3. Quá trình hình thành luận điểm khoa học (Trang 29)
Hình 4. Các tình huống của vấn đề khoa học - Phương pháp nghiên cứu khoa học
Hình 4. Các tình huống của vấn đề khoa học (Trang 30)
Bảng 2: Bảng giá trị Z α/2 - Phương pháp nghiên cứu khoa học
Bảng 2 Bảng giá trị Z α/2 (Trang 39)
Bảng 2. Phân biệt bài báo khoa học và các báo cáo khác - Phương pháp nghiên cứu khoa học
Bảng 2. Phân biệt bài báo khoa học và các báo cáo khác (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w