Dung lượng thông tintrong các báo cáo khoa học phải cao và đầy đủ về đề tài đã thực hiện để người đọc có thể hiểu và đánh giá chất lượng của nghiên cứu một cách dễ dàng.. Hiểu được những
Trang 1CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KHOA HỌC
VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
§1 KHOA HỌC
1.1 Khái niệm chung
Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại qui luật của vật chất và sự vận động của
vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Hệ thống tri thức này hình thànhtrong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Người ta phân ra 2 hệthống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống
hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiênnhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên vàhình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm đượccon người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, trithức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa phản ánh hết các thuộc tính của
sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệmchỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, một vài khía cạnh của thế giới kháchquan, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học
- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ
hoạt động NCKH, các họat động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoahọc Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát,thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạtđộng xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành
và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…Tri thức khoa học được biểu hiện dưới dạng các khái niệm, tiên đề, qui luật, định luật, lýthuyết, học thuyết, v.v
Khái niệm là tri thức khoa học về thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng.
Nhờ có khái niệm người ta mới có thể phân biệt sự vật này với sự vật kia, hiện tượng nàyvới hiện tượng khác
Tiên đề là tri thức khoa học khẳng định một qui luật bản chất mang tính tất yếu,
hiển nhiên được thừa nhận, không đòi hỏi phải chứng minh Tiên đề là điểm xuất phátcho một hệ thống lý thuyết của một bộ môn khoa học
Trong khoa học có những qui luật nội tại Một bộ môn khoa học có thể xuất hiệnnhờ phát kiến những tiên đề mới, song cũng có thể xuất hiện hàng loạt bộ môn khoa học
nhờ hai xu thế ngược chiều nhau: sự phân lập hoặc tích hợp các khoa học Trong những
giai đoạn lịch sử khác nhau thì hoặc xu thế này hoặc xu thế kia chiếm ưu thế, song chưabao giờ loại trừ nhau
Sự phân lập các khoa học là sự tách một bộ môn khoa học mới ra khỏi một bộmôn khoa học đang tồn tại Bản chất quá trình phân lập các khoa học là sự phân lập đốitượng nghiên cứu của một bộ môn khoa học để hình thành một bộ môn khoa học có đốitượng nghiên cứu hẹp hơn Ví dụ:
Triết học → Triết học; Lôgic học; Thiên văn học; Toán học; …
Toán học → Số học; Đại số; Hình học; Lượng giác, …
Sự tích hợp các khoa học là sự tích hợp phương pháp luận của các bộ môn khoahọc riêng lẻ để hình thành một bộ môn khoa học mới Điều đó diễn ra khi mà hệ thống
Trang 2khái niệm và phương pháp luận của một bộ môn khoa học riêng lẻ không đủ sức giảiquyết vấn đề mà thực tiễn đặt ra Ví dụ:
Toán học + Kinh tế học → Toán kinh tế;
Hóa học + Vật lý → Hóa lý
Hóa học + Sinh học → Hóa sinh
Tiêu chí để nhận biết một bộ môn khoa học bao gồm bốn thành tố: 1- Có một đốitượng nghiên cứu, 2- Có một hệ thống lý thuyết, 3- Có một hệ thống phương pháp luận,4- Có mục đích ứng dụng
1.2 Phân loại khoa học
Tùy theo mục đích ứng dụng mà người ta đưa ra những cách tiếp cận phân loạikhác nhau
Phân loại theo nguồn gốc hình thành khoa học: Khoa học lý thuyết; Khoa họcthực nghiệm; Khoa học thuần túy; Khoa học thực chứng; Khoa học qui nạp; Khoahọc diễn dịch
Phân loại theo mục đích ứng dụng của khoa học: Khoa học mô tả; Khoa học phântích; Khoa học tổng hợp; Khoa học ứng dụng; Khoa học hành động; Khoa họcsáng tạo
Phân loại theo mức độ khái quát hóa của khoa học: Khoa học cụ thể; Khoa họctrừu tượng; Khoa học tổng quát; Khoa học đặc thù
Phân loại theo tính liên đới giữa các khoa học: Khoa học liên bộ môn; Khoa học
đa bộ môn
Phân loại theo kết quả hoạt động chủ quan của con người: Khoa học ký ức; Khoahọc tư duy; Khoa học suy luận; Khoa học tưởng tượng
Phân loại theo cơ cấu của hệ thống tri thức hoặc chương trình đào tạo: Khoa học
cơ bản; Khoa học cơ sở; Khoa học chuyên môn
Phân loại theo đối tượng nghiên cứu của khoa học: Khoa học tự nhiên; Khoa học
kỹ thuật; Khoa học công nghệ; Khoa học xã hội; Khoa học nhân văn; Khoa họcnông nghiệp; Khoa học sức khỏe; …
Phân loại khoa học là cơ sở để nhận dạng cấu trúc của hệ thống tri thức, là ngônngữ quan trọng cho việc trao đổi về nghiên cứu khoa học, thông tin, tư liệu, tổ chức quản
lý khoa học, hoạch định chính sách khoa học, … Tùy theo mục đích nhận thức hoặc mụcđích sử dụng mà có cách phân loại khác nhau Tuy nhiên, sự phân loại khoa học chỉmang tính chất tương đối dựa trên một quan niệm của thế giới khoa học, không nên xử lýquá cứng nhắc ranh giới giữa các khoa học Sự phát triển của khoa học luôn dẫn đến sựphá vỡ những ranh giới cứng nhắc trong phân loại khoa học, vì thế sự phân loại khoa họcluôn được hoàn thiện, bổ sung và phát triển theo tiến trình lịch sử
§2 KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ
2.1 Khái niệm chung
Trước đây, kỹ thuật được nói đến như một phạm trù bao quát, còn công nghệđược hiểu thuần túy như một trình tự thao tác trong một dây truyền sản xuất Theo sựphát triển của cuộc cách mạng công nghệ, khái niệm công nghệ ngày càng được mởrộng
Trang 3 Khái niệm công nghệ
Công nghệ là một hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề hoặc một lớp vấn đề
kỹ thuật
Công nghệ là một thực thể kiến thức: Là một hoặc một số giải pháp để giảiquyết một số vấn đề kỹ thuật; Là con đường để giải quyết một số vấn đề kỹthuật; Là toàn bộ kiến thức được chuyển vào hệ thống, bất kể từ nguồn nào đểlàm luận cứ cho sự phát triển
Công nghệ là một phương tiện
Khái niệm công nghệ hiện được sử dụng không chỉ trong công nghiệp, mà đãthâm nhập vào hàng loạt các bộ môn khoa học và lĩnh vực hoạt động xã hộikhác nhau, ví dụ: Công nghệ dạy học; Công nghệ quản lý; Công nghệ chọngiống; v.v
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, công nghệ gồm bốn phần: phần kỹ thuật(technoware), phần thông tin (infoware), phần con người (humanware) và phần tổ chức(orgaware)
Với một công nghệ xuất hiện thì một loại ngành nghề mới sẽ ra đời, kéo theo sựtiêu vong của những ngành nghề dựa trên công nghệ cũ, và do đó làm cho một số ngườilâm vào tình trạng thất nghiệp công nghệ Một chủng loại sản phẩm mới xuất hiện dẫnđến sự thay đổi cơ cấu sản phẩm, cơ cấu công nghiệp, cơ cấu kinh tế
Khái niệm kỹ thuật
Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ thống hoặcthực tiễn được sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm hoặc để áp dụng vào các quá trình sảnxuất (kỹ thuật theo nghĩa hẹp), quản lý hoặc thương mại, công nghiệp hoặc trong cáclĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Ngày nay, khái niệm công nghệ ngày càng mở rộng còn khái niệm kỹ thuật chỉmang ý nghĩa hẹp như trên
2.2 Phân biệt Khoa học và Công nghệ
Để thuận tiện cho việc phân biệt khái niệm khoa học và công nghệ, chúng ta cóthể sử dụng Bảng 1 dưới đây trình bày một vài thuộc tính cơ bản của chúng
Bảng 1: So sánh các đặc điểm khoa học và công nghệ
1 Nghiên cứu KH mang tính xác xuất Điều hành CN mang tính xác định
2 Hoạt động KH luôn đổi mới, không lặp
lại
Hoạt động CN được lặp lại theo chu kỳ
3 Sản phẩm khó được định hình trước Sản phẩm được định hình theo thiết kế
4 Sản phẩm mang đặc trưng thông tin Đặc trưng sản phẩm phụ thuộc đầu vào
5 Lao động linh hoạt và tính sáng tạo cao Lao động bị định khuôn theo CN
6 Có thể mang mục đích tự thân Có thể không mang mục đích tự thân
7 Phát minh KH tồn tại mãi với thời gian Sáng chế CN tồn tại nhất thời và bị tiêu
vong theo lịch sử tiến bộ KHCN
Trang 4§3 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
3.1 Khái niệm chung
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặcthử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức, … đạt được từ các thí nghiệmNCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội,
và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con ngườimuốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phảirèn luyện cách làm việc tự lực, sáng tạo, có phương pháp ngay từ lúc bắt đầu tiếp cận vớinghiên cứu khoa học
NCKH nói cho cùng là nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người về nhận thức và cảitạo thế giới Đó là các hoạt động nhằm khám phá những thuộc tính của sự vật hoặc hiệntượng (sau đây gọi chung là sự vật), phát hiện qui luật vận động của sự vật, vận dụng quiluật để sáng tạo giải pháp tác động vào sự vật
NCKH có 8 đặc điểm và cũng là yêu cầu, bao gồm: tính mới, tính thông tin, tính
kế thừa, tính tin cậy, tính khách quan, tính rủi ro, tính cá nhân và tính phi kinh tế Ngườilàm nghiên cứu cần phải hiểu rõ các đặc thù/yêu cầu này để đảm bảo chất lượng củanghiên cứu do mình thực hiện và đánh giá khách quan các nghiên cứu khác
Tính mới: là động lực phát triển của khoa học NCKH sau phải mới so với
NCKH đã được thực hiện trước đó Tính mới có thể được thể hiện qua một trongnhững khía cạnh sau: nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách lậpluận, phân tích kết quả Nội dung nghiên cứu mới sẽ đem lại những hiểu biết mới.Phương pháp mới hoặc phương pháp được cải tiến phải khắc phục được nhượcđiểm, hạn chế của các phương pháp cũ đã sử dụng trong các nghiên cứu tương tự
Tính kế thừa: nghiên cứu sau phải kế thừa và phát triển kết quả của những
nghiên cứu trước đã được thừa nhận (nếu không có nghi vấn gì) Người làmnghiên cứu trước khi xây dựng đề cương nghiên cứu cần tham khảo đầy đủ cácthông tin đã có, tránh trường hợp vội vàng bỏ qua những thông tin quan trọnghoặc phủ nhận các thông tin đã có đơn giản vì chúng không ủng hộ ý tưởng hoặcgiả thuyết nghiên cứu của mình Một khi đã tiếp cận một cách tương đối đầy đủthông tin tham khảo, các phán đoán nhận định của người làm nghiên cứu sẽ mangtính kế thừa một cách khách quan hơn
Tính tin cậy: kết quả của của nghiên cứu phải có độ tin cậy cao Tính tin cậy của
NCKH được thể hiện qua việc xác định chính xác vấn đề cần nghiên cứu, cóphương pháp nghiên cứu phù hợp, thu thập số liệu và phân tích kết quả một cáchkhách quan Tính tin cậy thể hiện qua khả năng lặp lại nhiều lần của nghiên cứu
Có nghĩa là, người khác phải có khả năng thực hiện lại được nghiên cứu và thuđược kết quả tương tự nếu đảm bảo đúng các điều kiện nghiên cứu đã mô tả trongbáo cáo
Tính khách quan: mọi nhận xét, kết luận phải tuân thủ kết quả nghiên cứu và
dựa trên các lập luận khoa học, có thể kiểm chứng Kết quả nghiên cứu của mìnhnếu mẫu thuẫn với các tác giả khác thì cần phải được giải thích, làm rõ nguyên
Trang 5nhân Tuyệt đối tránh những nhận định cảm tính hoặc mâu thuẫn với kết quả củakiểm định thống kê đã lựa chọn (trước khi thu thập số liệu) và thực hiện Trongquá trình thực hiện nghiên cứu, người nghiên cứu không nên để những nhận địnhchủ quan của mình ảnh hưởng đến việc thu thập và xử lý số liệu
Tính thông tin: thông tin thu được từ NCKH có thể chỉ có giá trị nhất thời.
Người làm nghiên cứu vì thế phải thường xuyên cập nhật thông tin trong lĩnh vựccủa mình để tránh lặp lại một cách không cần thiết các nghiên cứu đã được thựchiện và có đầy đủ thông tin hơn về đối tượng nghiên cứu, giúp cho việc xây dựng
kế hoạch nghiên cứu và thảo luận kết quả chính xác hơn Mặt khác, thông tin thuđược từ nghiên cứu phải được công bố càng sớm càng tốt Dung lượng thông tintrong các báo cáo khoa học phải cao và đầy đủ về đề tài đã thực hiện để người đọc
có thể hiểu và đánh giá chất lượng của nghiên cứu một cách dễ dàng
Tính rủi ro: NCKH có thể thất bại Trong thực tế NCKH số lượng các đề tài
nghiên cứu thất bại lớn hơn rất nhiều so với số lượng các đề tài nghiên cứu thànhcông Mọi thất bại trong NCKH đều có giá trị nếu người làm nghiên cứu giảithích hoặc chí ít cũng phán đoán được nguyên nhân dẫn đến thất bại hay lý do dẫnđến phán đoán sai của mình
Tính cá nhân: tư duy sáng tạo và vai trò dẫn dắt của một hoặc vài cá nhân trong
các đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học lớn rất quan trọng Trong NCKHmọi ý kiến, phương án hay của một cá nhân, bất luận vị trí công tác hay trình độđều được trân trọng Đóng góp của từng cá nhân cho đề tài nghiên cứu sẽ đượcghi nhận và phân biệt theo thứ tự tên các tác giả trong báo cáo khoa học hoặc báocáo tổng kết đề tài
Tính phi kinh tế: NCKH thường rất tốn kém nhưng không phải lúc nào hiệu quả
kinh tế của nó cũng được thể hiện ngay Thêm vào đó, việc định mức lao độngtrong NCKH cũng rất khó khăn bởi những phát minh, các ý tưởng nghiên cứu độcđáo có thể chỉ đến trong đầu nhà khoa học qua vài giây suy nghĩ những đòi hỏimột quá trình tích luỹ kinh nghiệm và kiến thức lâu dài Thời gian và công sứcdành cho NCKH không phải bao giờ cũng tỉ lệ thuận với mức độ thành công
Hiểu được những yêu cầu/đặc thù này, người làm nghiên cứu khoa học phải đảmbảo nghiên cứu do mình thực hiện đem lại những thông tin khoa học mới, góp phần pháttriển các học thuyết/mô hình lý thuyết trong lĩnh vực nghiên cứu, sử dụng phương pháphợp lý để số liệu thu được có độ tin cậy cao, đưa ra các kết luận khách quan và nhanhchóng công bố kết quả Các đặc thù xã hội của nghiên cứu khoa học (tính cá nhân, tínhphi kinh tế) giúp xác lập mối quan hệ giữa những người nghiên cứu và đánh giá đúnghơn giá trị của lao động khoa học
3.2 Các loại hình nghiên cứu khoa học
NCKH gồm có 4 loại hình chính Đó là: nghiên cứu khoa học cơ bản, ứng dụng,triển khai và dự báo Mỗi một loại hình nghiên cứu khoa học có những đặc điểm và giátrị riêng Giữa 4 loại hình này có sự liên kết chặt chẽ
Trang 6 NCKH cơ bản: nhằm khám phá các qui luật, bản chất của hiện tượng nghiên cứu.
Sản phẩm của NCKH cơ bản là tri thức, là các qui luật, nguyên lý Chính vì thếmột khi được ứng dụng vào sản xuất, nó có thể đem lại hiệu quả rất cao Tuy vậy,hiệu quả của NCKH cơ bản thường không được đánh giá hết do trình độ hữu hạncủa khoa học ứng dụng đương thời Các nghiên cứu cơ bản thường tốn kém, đòihỏi thời gian dài, thiết bị hiện đại và đội ngũ cán bộ nghiên cứu có trình độ cao
Vì thế thường NCKH cơ bản chỉ phát triển ở các nước có kinh tế phát triển cao vàgiàu có NCKH cơ bản, nếu chỉ để hiểu biết về thiên nhiên, được gọi là NCKH cơbản thuần tuý Ngược lại, nếu người nghiên cứu đã có dự kiến về khả năng ứngdụng của thông tin tìm được thì nghiên cứu của họ được gọi là NCKH cơ bản cóđịnh hướng Thí dụ: Các công trình nghiên cứu về tính năng của vật liệu dây mềmnghề cá, hình thức các liên kết dây lưới phục vụ cho việc tính toán chế tạo ngư cụ;Lực thủy động tác dụng lên các chi tiết dạng hình cầu, dạng hình trụ, dạng tấmphẳng, ….phục vụ cho việc tính toán phụ tùng ngư cụ; Việc nghiên cứu lực thủyđộng lên tấm lưới không gian hình nón là cơ sở để tính toán lực cản áo lưới kéo;Nghiên cứu các tiêu chuẩn tương tự vật lý là cơ sở để tiến hành thí nghiệm môhình ngư cụ, …
NCKH ứng dụng: ứng dụng kết quả của NCKH cơ bản vào thực tiễn sản xuất
hoặc đời sống xã hội Sản phẩm của NCKH ứng dụng là các giải pháp kỹ thuật,công nghệ hoặc quản lý NCKH ứng dụng ít tốn kém và mang lại hiệu quả nhanhnếu thực hiện tốt Chính vì thế thích hợp với các nước đang phát triển Chẳng hạn:Kết quả của các nghiên cứu về cải tiến các loại ngư cụ, cải tiến thiết bị khai thác,đổi mới công nghệ khai thác, … được ngư dân nhanh chóng áp dụng khi đem lạihiệu quả sản xuất cao, tuy nhiên những thiết bị lọc rùa, lọc cá non có hiệu quả caochưa chắc đã được ngư dân sử dụng nếu không kèm theo biện pháp hành chính
NCKH triển khai: NCKH ứng dụng thường bị hạn chế về qui mô Thử nghiệm
dù rất thành công có thể chỉ được triển khai ở qui mô thí nghiệm hay mới chỉ ởmột địa điểm Khi muốn áp dụng vào sản xuất đại trà hoặc tiến hành ở một địaphương khác, trong điều kiện khác phải thông qua NCKH triển khai Loại hìnhnghiên cứu này thường gắn liền với hoạt động chuyển giao, điều chỉnh công nghệ
NCKH dự báo: là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật trong
tương lai, thường gặp trong các nghiên cứu về kinh tế, xã hội, môi trường và pháttriển Căn cứ trên những hiểu biết, các thông số và qui luật tiến triển hiện tại, …người ta dự báo về xu thế phát triển của sự vật trong tương lai Độ chính xác của
dự báo phụ thuộc vào hiện trạng phát triển của khoa học và độ chính xác củanhững thông tin mà người nghiên cứu sử dụng Trong lĩnh vực khai thác thủy sản,người làm nghiên cứu có thể dự đoán sự xuất hiện các đàn cá theo thời gian và vịtrí khác nhau, dự đoán mức độ phát triển của một nghề khai thác mới, đối tượngkhai thác mới, kỹ thuật khai thác mới, …dựa trên việc thu thập và phân tích thôngtin về môi trường, nguồn lợi và số liệu thực tế sản xuất, các tiến bộ khoa học côngnghệ trong các lĩnh vực liên quan, trình độ chuyên môn của người nghiên cứu,kết hợp với hiểu biết về các trường hợp tương tự, nếu có, ở các khu vực hoặcquốc gia khác
Trang 7§4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
4.1 Khái niệm chung
Phương pháp nghiên cứu khoa học là cách thức, công cụ hay phương tiện đểnghiên cứu khoa học Cụ thể hơn, phương pháp NCKH chính là cách thức mà ngườinghiên cứu sử dụng để thu thập và xử lý số liệu/thông tin về vấn đề mình quan tâm Xét
về cách thức, người làm nghiên cứu có thể quan sát hoặc tiến hành thực nghiệm để thuthập số liệu/thông tin về đối tượng hoặc hiện tượng cần nghiên cứu Thực nghiệm đượcxem là linh hồn của nghiên cứu khoa học hiện đại nhờ khả năng phát hiện các mối quan
hệ nhân quả và khả năng lặp lại nhiều lần của nó
Quan sát được coi là bước khởi đầu quan trọng Quan sát là phương pháp rấtthông dụng khi con người bắt đầu tìm hiểu về thiên nhiên Cho đến nay giá trị và tầmquan trọng của nó vẫn còn nguyên vẹn Người có tư chất nghiên cứu khoa học trước hếtphải là người có óc quan sát Kết quả của quan sát là các mô tả về đối tượng, ví dụ cácdấu hiệu về sự xuất hiện đàn cá như: âm thanh, màu nước, sự xuất hiện các đàn chimkiếm mồi trên biển, …Phương pháp này đòi hỏi trực quan nhạy bén của người quan sát,phương pháp ghi chép và các thiết bị đo đạc phụ trợ Kiến thức chuyên môn của ngườiquan sát rất quan trọng, đặc biệt khi muốn phát hiện mối quan hệ có thể giữa vô vàn sựkiện, hiện tượng với nhau Tuy nhiên, cũng chính vì vậy mà quan sát dễ mang tính chủquan của người thực hiện Quan sát thường được thực hiện trong điều kiện tự nhiên Vìthế lựa chọn thời điểm và địa điểm quan sát mang tính quyết định Người nghiên cứucũng có thể thiết lập sự kiện để tiến hành quan sát Vấn đề là ở chỗ, điều kiện do ngườinghiên cứu tự thiết lập có gần với điều kiện tự nhiên hay không? Quan sát là tiền đề rấtquan trọng cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo
Thực nghiệm hay thí nghiệm nhằm kiểm chứng các giả thuyết, nghi vấn hìnhthành từ những quan sát ban đầu Nó đi sâu tìm hiểu về nguyên nhân, cơ chế và mức độảnh hưởng của của các hiện tượng tự nhiên Thực nghiệm cho phép tách vấn đề/hiệntượng nghiên cứu thành các vấn đề nhỏ, thay đổi điều kiện nghiên cứu theo chủ ý củangười làm nghiên cứu và lặp lại được nhiều lần Tuỳ thuộc vào vấn đề nghiên cứu đặt ra
mà người nghiên cứu thiết lập điều kiện phục vụ cho nghiên cứu của mình với sự hỗ trợcủa thiết bị Giá trị của thực nghiệm, tuy nhiên, phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tươngđồng giữa điều kiện thực nghiệm và điều kiện tự nhiên Đa số các thí nghiệm đều đượcthực hiện ở qui mô nhỏ và có ít yếu tố động hơn là trong tự nhiên
Khi tiến hành tìm hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng công việc của một ngườilàm nghiên cứu khoa học là “phát hiện sự khác biệt giữa nhiều hiện tượng tương tự nhau
và tìm ra những điểm chung của nhiều sự kiện, hiện tượng khác nhau” Để làm đượccông việc này, người làm nghiên cứu khoa học phải có khả năng phân tích, lập luận tốt.Diễn dịch và qui nạp là hai phép suy luận khoa học được sử dụng
Suy luận diễn dịch là suy luận từ cái chung, cái đã biết – đã khẳng định đến cáiriêng, phân tích cho những trường hợp cụ thể Ví dụ:
Tiền đề chính: Tất cả sinh viên đi học đều đặn
Tiền đề phụ: Nam là sinh viên
Kết luận: Nam đi học đều đặn
Qui nạp lại đi từ nhiều cái riêng khác nhau để lập luận, đi đến những kết luận,nguyên lý chung Trong nghiên cứu khoa học, hai phép suy luận này được sử dụngnhuần nhuyễn và hỗ trợ cho nhau Ví dụ:
Trang 8Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn.
Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm cao.
Kết luận: Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao.
Bacon & Mill là những người đi đầu trong việc phát triển phương pháp nghiên
cứu khoa học và dựa hoàn toàn vào phép qui nạp Theo phép này, người làm nghiên
cứu có thể kết luận giả thuyết hoặc học thuyết của mình đưa ra là đúng khi thu thập đủcác bằng chứng và không bị bất cứ quan sát nào phản bác giả thuyết của mình Hạn chế
rõ ràng nhất của cách tiếp cận này là ở chỗ người ta không thể nào thu thập đủ các quansát, bằng chứng ủng hộ cho giả thuyết/học thuyết của mình cả
Nghiên cứu khoa học hiện đại sử dụng một phương pháp khác: phương pháp diễn dịch (deduction) Tức là xây dựng các dự đoán hoặc giải thích dựa trên cơ sở của
các học thuyết, các qui luật đã được xác định Karl Poper chuẩn hoá cách tiếp cận này
dựa trên nguyên tắc chứng minh sai (falsificationism) Theo đó, các mô hình lý thuyết
và giả thuyết đi kèm với chúng sẽ được chứng minh là không có căn cứ Muốn chứngmình một giả thuyết là đúng, người ta xây dựng đối thuyết (ngược lại với giả thuyết) vàchứng minh đối thuyết này là sai và suy ra giả thuyết đúng Để chứng minh đối thuyếtsai, người nghiên cứu chỉ cần tìm một bằng chứng phản bác lại nó Người làm nghiêncứu khoa học vì thế dùng phép qui nạp để xây dựng giả thuyết Sau đó thông qua cả mộtquá trình diễn dịch lôgic để kiểm định giả thuyết đã đưa ra
Cách thức thu thập số liệu sẽ quyết định đến giá trị, độ tin cậy của những số liệunày Cách xử lý và phân tích số liệu cũng quan trọng không kém Khi thực hiện nghiêncứu, người làm nghiên cứu tuỳ theo cách thức thu thập số liệu của mình cần thiết phải cóđược các công cụ và vật liệu thích hợp
Phương pháp xử lý số liệu và đưa ra kết luận quan trọng không kém Kết quảnghiên cứu khoa học phải được trình bày dưới dạng xác xuất (bắt gặp sự kiện mà ngườinghiên cứu đã quan sát được) Vì thế cần thiết phải có sự hỗ trợ của lý thuyết xác xuất vàcác phương pháp xử lý số liệu nghiên cứu khác nhau Lý do là nghiên cứu khoa học docon người thực hiện và có thể bị ảnh hưởng bởi cảm tính của người làm nghiên cứu Một
số người có xu hướng khăng khăng bảo vệ ý tưởng của mình ngay cả khi có bằng chứngphản bác giả thuyết hoặc mô hình mà họ xây dựng Một số khác ra sức bám chặt lấy cácnhận định cảm tính của mình, không dựa vào số liệu mà nghiên cứu thu được Ngày nay,các NCKH mang tính thực nghiệm mà kết quả nghiên cứu không được xử lý bằngphương pháp thống kê coi như không có giá trị công bố Việc tính toán, tiến hành kiểmđịnh thống kê trở nên dễ dàng với sự xuất hiện của máy tính điện tử Các phần mềmthống kê có cả chức năng đồ họa như Genstat, Stat Graphic hay SPSS chính là công cụđắc lực giúp cho người làm nghiên cứu khoa học thực hiện phương pháp do mình lựachọn
Với từng đề tài cụ thể, phương pháp nghiên cứu được qui định bởi mục tiêu vànội dung nghiên cứu Các phương pháp được lựa chọn phải chuẩn, khách quan, có độchính xác cao và lặp lại được
4.2 Các loại phương pháp NCKH
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng trong cả khoa học tự nhiên, khoahọc xã hội và các khoa học khác
Trang 9Nghiên cứu lý thuyết bao gồm nhiều nội dung khác nhau như nghiên cứu tư liệu,xây dựng khái niệm, phạm trù, thực hiện các suy luận toán học, …Trong nghiên cứu lýthuyết không có bất cứ quan sát hoặc thực nghiệm nào được tiến hành Chất liệu chonghiên cứu chỉ gồm những khái niệm, qui luật, định luật, định lý, tư liệu, số liệu, … đãtồn tại trước đó
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Thực nghiệm là để quan sát, quan sát để phát hiện bản chất sự vật hoặc hiệntượng, và cuối cùng là để đặt giả thuyết hoặc kiểm chứng giả thuyết đã đặt ra
Nghiên cứu thực nghiệm là những nghiên cứu được thực hiện bởi những quan sátcác sự vật hoặc hiện tượng diễn ra trong những điều kiện có gây biến đổi đối tượngnghiên cứu một cách chủ định Nghiên cứu thực nghiệm có thể thực hiện trên đối tượngthực hoặc trên các mô hình do người nghiên cứu tạo ra với những thông số do ngườinghiên cứu khống chế
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được sử dụng phổ biến trong cả khoa học
tự nhiên, khoa học công nghệ và các khoa học khác Trong nghiên cứu thực nghiệm cầntôn trọng nguyên tắc: Có chuẩn đánh giá và phương thức đánh giá; Giữ ổn định các nhân
tố không bị người nghiên cứu khống chế; Mô hình được lựa chọn trong thực nghiệmphải mang tính phổ biến để cho kết quả thực nghiệm được khách quan
Mô hình luôn là công cụ của nghiên cứu thực nghiệm Vấn đề mô hình hóa thínghiệm dụng cụ khai thác cá được trình bày trong giáo trình chuyên ngành Công nghệkhai thác thủy sản (giáo trình môn học Cơ sở lý thuyết và thiết kế ngư cụ)
4.2.3 Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm
Khái niệm: Là một phương pháp thu thập thông tin dựa trên sự quan sát, quan trắc
những sự kiện đã hoặc đang tồn tại, trên cơ sở đó phát hiện quy luật của sự vật hoặc hiệntrượng Trong phương pháp phi thực nghiệm, người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã
và đang tồn tại, không có bất cứ sự can thiệp nào gây biến đổi trạng thái của đối tượngnghiên cứu
Phương pháp phi thực nghiệm bao gồm: Quan sát khách quan; Sử dụng nhật kýghi chép; Phỏng vấn; Phương pháp hội đồng; Điều tra bằng bảng hỏi, …
4.3 Quan hệ giữa loại hình và phương pháp nghiên cứu
Sự lựa chọn loại hình nghiên cứu được quyết định bởi mục đích của nghiên cứu.Mục đích nghiên cứu tìm kiếm ở đây có thể là một qui luật, một nguyên lý của giải pháphoặc một hình mẫu mang tính khả thi về mặt kỹ thuật
Sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu là tìm kiếm công cụ để đạt mục đích Mụcđích được thực hiện trên hai mức độ của nghiên cứu: phát hiện để đặt giả thuyết và kiểmchứng giả thuyết đã đặt ra Ví dụ quan sát để phát hiện qui luật, để đặt giả thiết về quiluật và quan sát để kiểm chứng giả thiết về qui luật Cũng do đó, việc chọn phương phápnghiên cứu là do mục đích và đối tượng nghiên cứu quyết định
Phương pháp nghiên cứu (lý thuyết, thực nghiệm, phi thực nghiệm) không phải lànhững phương pháp dành riêng cho một loại bộ môn khoa học nào Trong một côngtrình nghiên cứu khoa học có thể sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu lý thuyết vàthực nghiệm
§5 SẢN PHẨM CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
5.1 Đặc điểm của sản phẩm nghiên cứu khoa học
Trang 10Trong mọi trường hợp, sản phẩm của NCKH là thông tin, cho dù đó là khoa học
tự nhiên, khoa học xã hội hay khoa học công nghệ
Sản phẩm NCKH bao gồm: Các luận điểm của tác giả công trình nghiên cứu đãđược chứng minh hoặc bác bỏ Luận điểm khoa học biểu hiện thông qua những hìnhthức khác nhau, tùy thuộc khoa học cụ thể Có thể là những định lý trong toán học (Định
lý Ta-let, Định lý Pi-ta-go); những định luật trong cơ học, vật lý (Định luật Niu-tơn,Định luật Ac-si-met); những qui luật trong các nghiên cứu kinh tế -xã hội (Qui luật giátrị thặng dư của Marx, Qui luật bàn tay vô hình của Adam Smith); những nguyên lýtrong kỹ thuật (nguyên lý động cơ phản lực, nguyên lý máy nén thủy lực), v.v…
Luận điểm được chứng minh hoặc bác bỏ bằng các luận cứ Luận cứ là những sựkiện khoa học đã được kiểm nghiệm là đúng hoặc sai với luận điểm trong thực tế Luậnđiểm và luận cứ đều là sản phẩm nghiên cứu
5.2 Vật mang thông tin
Sản phẩm khoa học là thông tin Tuy nhiên, chúng ta không thể tiếp xúc trực tiếpvới thông tin, mà chỉ có thể tiếp xúc với thông tin qua các phương tiện trung gian là vậtmang thông tin Mọi hoạt động liên quan đến việc xem xét hoặc đánh giá sản phẩm củaNCKH đều được thực hiện thông qua các vật mang thông tin
Vật mang thông tin về các kết quả NCKH có thể bao gồm:
Vật mang vật lý: sách báo, băng âm, băng hình Chúng ta có thể tiếp nhận đượcthông tin nhờ đọc, nghe, xem từ những vật mang này
Vật mang công nghệ: là vật được sản xuất ra từ một hay một số công nghệ, nó chochúng ta hiểu được những thông tin về công nghệ và vật liệu chế tạo ra nó Chúng
ta không thể đọc, nghe hay xem được những thông tin, mà chỉ cảm nhận và hiểunhững thông tin liên quan đến vật phẩm này Một cách qui ước, gọi đó là vậtmang công nghệ
Vật mang xã hội: Một người hay một nhóm người cùng nhau chia sẻ một quanđiểm khoa học, cùng đi theo một trường phái khoa học, cùng nuôi dưỡng một ýtưởng khoa học hoặc một bí quyết công nghệ Chúng ta có thể hoặc không thểkhai thác được những thông tin từ họ Đây là loại vật mang thông tin đặc biệt,khác hẳn vật mang vật lý và vật mang công nghệ
5.3 Một số sản phẩm đặc biệt của NCKH
Một số sản phẩm đặc biệt của NCKH như: phát hiện, phát minh và sáng chế lànhững khái niệm cần hiểu đúng và thống nhất, bởi vì nó liên quan không chỉ với khoahọc công nghệ mà cả các vấn đề kinh tế, thương mại, pháp lý, …
Phát minh là sự phát hiện ra những qui luật, những tính chất hoặc những hiệntượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết,nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức con người Ví dụ, Ac-si-met phát minhđịnh luật về sức nâng của nước, Niu-tơn phát minh định luật vạn vật hấp dẫn, …Phát minh là khám phá về qui luật khách quan, chưa có ý nghĩa áp dụng trực tiếpvào sản xuất hoặc đời sống Vì vậy, phát minh không có giá trị thương mại vàkhông được bảo hộ pháp lý
Phát hiện là sự nhận ra những vật thể, những qui luật xã hội đang tồn tại một cáchkhách quan Ví dụ, Kock phát hiện vi trùng lao, Marie Quiri phát hiện nguyên tốphóng xạ radium, Marx phát hiện qui luật “giá trị thăng dư”, Adam Smith pháthiện qui luật “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường Phát hiện, cũng chỉ mới là
sự khám phá các vật thể hoặc những qui luật xã hội, làm thay đổi nhận thức, chưa
Trang 11kỹ thuật mang tính mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp dụng được Ví
dụ, máy hơi nước của Jemes Watt, công thức thuốc nổ TNT của Nô-bel Vì sángchế có khả năng áp dụng nên nó có ý nghĩa thương mại, được cấp bằng sáng chế(patent), có thể mua bán hoặc ký kết các hợp đồng cấp giấy phép sử dụng chongười có nhu cầu và được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Sự hiểu biết và so sánh các khái niệm: sáng chế, phát hiện, phát minh không chỉcần thiết cho những người làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ, mà cũng rấtquan trọng đối với những người làm việc trong các ngành khoa học xã hội nhân văn, cácluật gia, các thương gia, các nhà kinh tế và các nhà báo, vì nó quan hệ đến việc bảo hộpháp lý về quyền sở hữu trí tuệ và các hoạt động kinh doanh có liên quan
§6 LÝ THUYẾT KHOA HỌC
Dù nghiên cứu khoa học trong bất kỳ lĩnh vực nào, người nghiên cứu cũng đụngchạm với những cơ sở lý thuyết của khoa học Đến lượt mình, bằng kết quả nghiên cứu,người nghiên cứu cũng đóng góp vào việc làm phong phú thêm các lý thuyết trong lĩnhvực mà mình quan tâm Vậy lý thuyết khoa học là gì? Lý thuyết gồm những bộ phận nàohợp thành? Làm thế nào để tìm tòi khám phá các lý thuyết và sáng tạo lý thuyết mới?
Lý thuyết là một đặc trưng cơ bản của khoa học Không có lý thuyết thì không cókhoa học Không có khoa học nào mà không có lý thuyết Nghiên cứu khoa học là phảidựa trên một cơ sở lý thuyết Đến lượt mình, một sản phẩm quan trọng của NCKH là lýthuyết
6.1 Khái niệm “lý thuyết khoa học”
Lý thuyết khoa học là một hệ thống luận điểm khoa học về một đối tượng nghiêncứu của khoa học Lý thuyết cung cấp một quan niệm hoàn chỉnh về bản chất sự vật,những liên hệ bên trong của sự vật và mối liên hệ cơ bản giữa sự vật và thế giới hiệnthực
6.2 Các bộ phận hợp thành lý thuyết khoa học
Hình 1 dưới đây trình bày cấu trúc của một lý thuyết khoa học, trong đó, rất quantrọng là những bộ phận cấu thành, gồm một hệ thống các khái niệm, phạm trù, và quiluật về sự vật mà lý thuyết phản ánh
Hình 1 Cấu trúc của lý thuyết khoa học
Trang 126.2.1 Hệ thống khái niệm
Khái niệm được xem là bộ phận quan trọng nhất của lý thuyết Khái niệm là công
cụ để gọi tên một sự kiện khoa học, để tư duy và trao đổi thông tin, là cơ sở để nhậndạng bản chất một sự vật Kết quả nghiên cứu hoàn toàn có thể sai lệch nếu không đượctiến hành trên những khái niệm chuẩn xác
Trong NCKH, người nghiên cứu có nhiều việc phải làm liên quan đến khái niệm,
đó là:
Xây dựng khái niệm, một công việc đầu tiên của bất cứ nghiên cứu nào Để xây
dựng khái niệm, người nghiên cứu cấn tìm những từ khóa trong tên đề tài, trongmục tiêu nghiên cứu, trong vấn đề và giả thuyết khoa học Tiếp theo, có thể tracứu khái niệm trong các từ điển hoặc sách giáo khoa Tuy nhiên, cần phải biếtrằng, những khái niệm được định nghĩa trong từ điển không phải lúc nào cũngthỏa mãn nhu cầu nghiên cứu Trong phần lớn trường hợp, người nghiên cứu cần
tự mình lựa chọn hoặc đặt thuật ngữ để làm rõ khái niệm
Thống nhất hóa các khái niệm Khái niệm là ngôn ngữ đối thoại trong khoa học.
Một khái niệm không thể bị hiểu theo nhiều nghĩa Vì vậy, trong nghiên cứu khoahọc, phải thống nhất cách hiểu một khái niệm Ví dụ, khi nghiên cứu đặc điểmsinh học của con châu chấu, người nghiên cứu phải đối mặt với sự thật là kháiniệm con chấu chấu được hiểu hoàn toàn khác nhau giữa các vùng Ví dụ khác,lưới kéo đáy có vùng còn gọi là “giã” hoặc “giã cào” Vì vậy, nếu không đưa ramột cách hiểu thống nhất thì có thể dẫn đến những tranh chấp không cần thiết
Bổ sung cách hiểu một khái niệm Khái niệm không ngừng phát triển, vì thế,
mỗi nghiên cứu cần phải rà soát lại những khái niệm vốn được sử dụng Ví dụ,khái niệm kỹ thuật và công nghệ đã nói ở phần trước
Phân loại khái niệm Phân loại ở đây là sự phân chia khái niệm thành những
nhóm sự vật được đặc trưng bằng một thuộc tính chung nào đó, từ đó cho biết cấutrúc của sự vật Ví dụ, lưới rê được phân loại theo cấu tạo như: rê đơn, rê kép, rêhỗn hợp, rê có túi, hoặc phân loại theo đối tượng đánh bắt như: rê trích, rê chuồn,
rê thu ngừ, …
Mượn dùng khái niệm của khoa học khác Cùng với sự tiến bộ của khoa học
công nghệ, nhiều lĩnh vực phát triển đan xen vào nhau, sự phân chia chỉ mangtính tương đối Vì vậy, sự mượn dùng khái niệm từ các khoa học khác hoặc đặtkhái niệm mới là điều tất yếu Ví dụ, điều khiển học trong khai thác thủy sản baogồm điều khiển đối tượng đánh bắt và điều khiển quá trình đánh bắt
6.2.2 Hệ thống phạm trù
Phạm trù là một khái niệm có vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học Noađóng vai trò là cầu nối dẫn đường cho người nghiên cứu tìm kiếm cơ sở lý thuyết trongNCKH
Từ điển Larousse định nghĩa “Phạm trù là tập hợp các sự vật có cùng bản chất”;Trong từ điển tiếng Việt phổ thông định nghĩa: “Phạm trù là khái niệm khoa học phảnánh những thuộc tính và mối quan hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật” Ví dụ, tronghình học phẳng, các đường như: đường tròn, elip, hình sin, parabol, hyperbol, … thuộcphạm trù “đường cong”; các hình như: hình tam giác, hình vuông, hình lục giác, hình bátgiác, … đều thuộc phạm trù “đa giác”; các hình như: hình vuông, hình chữ nhật, hìnhthoi, hình bình hành, hình thang đều thuộc phạm trù “tứ giác”
Trang 13 Xác định các khái niệm vừa liệt kê ở trên thuộc phạm trù nào, của các khoa họcnào.
6.2.3 Hệ thống qui luật
Qui luật là mối quan hệ bản chất của các sự kiện khoa học Qui luật cho biết mốiquan hệ tất yếu và ổn định, lặp đi lặp lại, chứ không phải những liên hệ ngẫu nhiên Cácdạng liên hệ trong tự nhiên và xã hội rất phong phú, phức tạp Tuy nhiên chúng ta vẫn cóthể nhận dạng được những liên hệ chủ yếu để có thể hình thành kỹ năng tìm kiếm quiluật trong NCKH Các hình thức liên hệ có thể được chia thành “liên hệ hữu hình” và
“liên hệ vô hình”
Liên hệ hữu hình là những liên hệ có thể vẽ thành sơ đồ hoặc biểu diễn bằngnhững biểu thức toán học Ví dụ, liên hệ nối tiếp hoặc song song trong các mạch điện,trong hệ thống cấp thoát nước, … Khi sử dụng công cụ toán học để trình bày các liên hệhữu hình, ta có các dạng liên hệ “tuyến tính”, “phi tuyến” và các liên hệ phức tạp đượcbiểu diễn bằng những phương trình vi phân, các hàm tương quan, hàm phân bố xác xuấthoặc mô hình toán học
Liên hệ vô hình là những liên hệ không thể biểu hiện trên bất cứ loại sơ đồ nào
Ví dụ, liên hệ chức năng: liên hệ hành chính, liên hệ thương mại, liên hệ pháp lý, …; liên hệ tình cảm: yêu, ghét, lạnh nhạt, nồng nhiệt, …; quan hệ huyết thống: anh em ruột,
anh em họ, bác, chú, cô, gì, con đẻ, con dâu, con rể, …
6.3 Sự phát triển của lý thuyết khoa học
Hình 2 Lôgic phát triển của khoa học
Con đường phát triển khoa học, đại thể, có thể hình dung theo sơ đồ Hình 2 dướiđây Bắt đầu từ những ý tưởng khoa học, những phương hướng sơ bộ định hướng ban
Ngành khoa học
Trang 14đầu, phát triển dần đến trường phái khoa học và cuối cùng đi đến những đỉnh cao là các
bộ môn khoa học
Phương hướng khoa học là một tập hợp những chủ đề nghiên cứu thuộc một
hoặc một số lĩnh vực khoa học, được định hướng theo một hoặc một số mục tiêu lýthuyết, phương pháp luận hoặc phương hướng ứng dụng
Trường phái khoa học là một hướng khoa học đặc biệt, được phát triển đến một
cách nhìn mới hoặc một góc nhìn mới đối với đối tượng nghiên cứu, là tiền đề cho sựhình thành một hướng mới về lý thuyết hoặc phương pháp luận Trường phái khoa học
có thể phát triển cao hơn để hình thành một bộ môn khoa học
Bộ môn khoa học là hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh về một đối tượng nghiên cứu.
Mỗi bộ môn khoa học là một yếu tố cấu trúc nên nền khoa học của nhân loại
Ngành khoa học là một lĩnh vực hoạt động xã hội về NCKH hoặc đào tạo Ví dụ,
khí nói “chuyên gia khai thác thủy sản” có nghĩa là người hoạt động trong nghề cá, đãnắm vững các bộ môn khoa học về khai thác thủy sản, như thiết kế ngư cụ, điều khiểntàu khai thác, tổ chức quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Đỉnh cao của sự phát triển lý thuyết khoa học là bộ môn khoa học Con đườngphát triển một lý thuyết khoa học hoàn chỉnh chia thành hai giai đoạn, giai đoạn khoahọc tiền chuẩn tắc và giai đoạn khoa học chuẩn tắc Ở giai đoạn tiền chuẩn tắc của mộtkhoa học là giai đoạn còn tồn tại nhiều trường phái chưa định hình những hệ thống kháiniệm và chưa xác lập đầy đủ những liên hệ bản chất trong lĩnh vực nghiên cứu đó
Cấu trúc hình thái của một bộ môn khoa học bao gồm:
Có một đối tượng nghiên cứu;
Có một luận điểm xuyên suốt lĩnh vực nghiên cứu;
Có một hệ thống khái niệm và phạm trù;
Có một hệ chuẩn mực
Trang 15CHƯƠNG II: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
§1 KHÁI NIỆM ĐỀ TÀI
Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người cùngthực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu
Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chấtnghiên cứu khoa học, nhưng có những đặc điểm tương tự với đề tài, chẳng hạn như:Chương trình, dự án, đề án Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH này như sau:
Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa
quan tâm nhiều đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế
Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả
về kinh tế và xã hội Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực
Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho
một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tổ chức; tàitrợ cho một hoạt động xã hội, Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những dự
án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án
Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích
xác định Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trongchương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phảiđồng bộ
§2 LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Đề tài được lựa chọn bắt đầu từ sự kiện khoa học Từ sự kiện khoa học dẫn đếnnhiệm vụ nghiên cứu Người nghiên cứu bắt đầu công việc cụ thể từ nhiệm vụ nghiêncứu
2.1 Lựa chọn sự kiện khoa học
Sự kiện khoa học là điểm xuất phát của chủ đề nghiên cứu Lựa chọn sự kiệnkhoa học là cơ sở để tìm kiếm chủ đề nghiên cứu
Sự kiện khoa học là một sự vật hoặc hiện tượng có chứa đựng những vấn đề đòihỏi giải thích bằng những tri thức khoa học và bằng những phương pháp quan sát hoặcthực nghiệm khoa học Sự kiện khoa học có thể là một sự kiện tự nhiên hoặc sự kiện xãhội Ví dụ, Niu-tơn để ý sự kiện “quả táo rụng xuống đất”, Ac-si-met nhận thấy “nướcnâng thân mình lên” trong bồn tắm-đó là sự kiện tự nhiên; Marx quan tâm đến vấn đề
“đấu tranh giai cấp”, Adam-smith quan tâm đến “sự biến đổi của nền kinh tế thịtrường”-đó là sự kiện xã hội Các nhà khoa học này đã đặt câu hỏi nghiên cứu để giảiđáp bằng các tri thức khoa học tự nhiên hoặc khoa học xã hội với những phương phápquan sát hoặc thực nghiệm khoa học
Nói về vai trò của sự kiện khoa học đối với nhà nghiên cứu, Pavlov nói rằng: Sựkiện đối với nhà nghiên cứu cũng ví như không khí đỡ cho đôi cánh chim trên bầu trời.Không có không khí nâng đỡ, đôi cánh chim không thể bay trên bầu trời
Người nghiên cứu lấy sự kiện khoa học từ những sự kiện thông thường trong hoạtđộng thực tế của mình, nhưng là những sự kiện chứa đựng những mâu thuẫn không thểgiải quyết bằng kinh nghiệm thông thường, mà phải bằng những phương pháp củanghiên cứu khoa học: quan sát hoặc thực nghiệm khoa học, điều tra, phỏng vấn, hộithảo, v.v…
Trang 162.2 Xác định nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu là một chủ đề mà người nghiên cứu (hoặc nhóm nghiêncứu) thực hiện Có nhiều nguồn nhiệm vụ như sau:
Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia được ghi trong các văn kiệnchính thức của cơ quan có thẩm quyền Người nghiên cứu có thể tìm kiếm “thị trường”(nhu cầu) trong những nhiệm vụ thuộc loại này
Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu.Đối với nguồn nhiệm vụ này, người nghiên cứu không có sự lựa chọn, mà phải làm theoyêu cầu
Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với các đối tác Đây là nguồn nhiệm vụ có sựbàn bạc thỏa thuận giữa người nghiên cứu với đối tác đặt hàng Nguồn này có nhiều tiềmnăng, xuất phát từ nhu cầu thực tế của doang nghiệp hoặc các tổ chức xã hội
Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình, xuất phát từ ý tưởng khoa họccủa bản thân người nghiên cứu với sự cuốn hút của vấn đề đặt ra Đây là một trongnhững nguồn nhiệm vụ có thể phát huy tốt nhất năng lực của người nghiên cứu
Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu có thể dựa trên những căn cứ được xem xét theocác cấp độ như sau:
Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không? Ý nghĩa khoa học thể hiện trên những
khía cạnh như: Bổ sung những nội dung lý thuyết của khoa học; Làm rõ những vấn đề
lý thuyết còn hạn chế hoặc xây dựng cơ sở lý thuyết mới
Đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không? Trong khoa học không phải đề tài nào
cũng mang ý nghĩa thực tiễn, nhất là trong nghiên cứu cơ bản thuần túy Tuy nhiên, tiêuchuẩn này luôn phải được xem xét, nhất là trong điều kiện kinh phí hạn hẹp Ý nghĩathực tiễn thể hiện trong việc xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế và
xã hội; nhu cầu kỹ thuật của sản xuất; nhu cầu về tổ chức, quản lý, thị trường, v.v…
Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không? Tính cấp thiết thể hiện ở mức
độ ưu tiên giải đáp những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra Tính cấp thiết là mộtyêu cầu bổ sung đối với tính khoa học và tính thực tiễn Nếu chưa thật cấp thiết thì dànhkinh phí và thời gian cho các nghiên cứu cấp thiết hơn, nhất là trong điều kiện nguồn lựcnghiên cứu còn hạn hẹp
Có đầy đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài không? Điều kiện
nghiên cứu bao gồm cơ sở thông tin, tư liệu; phương tiện, thiết bị; quỹ thời gian, nănglực, sở trường của những người tham gia Đề tài dù hội tụ đầy đủ về ý nghĩa khoa học,tính thực tiễn và cấp thiết, nhưng không có điều kiện, phương tiện thuận lợi thì cũng khólòng thực hiện
§3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là cụm từ dùng chỉ những nội dung cần được xem xét và
làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu Mỗi nhiệm vụ nghiên cứu có thể chưa đựng một hoặcmột số đối tượng nghiên cứu Ví dụ, khi nghiên cứu tính chọn lọc của nghề khai thác, cóthể chọn một số đối tượng nghiên cứu như: tính chọn lọc của ngư cụ, tính chọn lọc củaphương pháp khai thác trong mối quan hệ với đối tượng khai thác và vùng nước khaithác, v.v
Trang 17Mục tiêu nghiên cứu là cụm từ chỉ những nội dung cần được xem xét và làm rõ
trong khuôn khổ đối tượng nghiên cứu đã xác định Thực chất đó là sự phân tích chi tiếthóa đối tượng nghiên cứu
Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện đượcmục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lặp lẫn nhau Vì vậy, cần thiếtphải phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu
Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu
mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể
đo lường hay định lượng Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đóđược đưa ra trong nghiên cứu Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì?”, hoặc “để
phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, nhắm đến đối tượngphục vụ sản xuất, nghiên cứu
Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người
nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu Mục tiêu có thể đo
lường hay định lượng được Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài vàlàm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phảiđạt được Mục tiêu trả lời câu làm cái gì?
Thí dụ, phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau: “Ảnh hưởng của cácyếu tố môi trường đến hiệu quả tập trung cá quanh nguồn sáng nhân tạo ở vùng biểnvịnh Bắc bộ”
Mục đích của đề tài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn sáng trong khai thác
cá của ngư dân
Mục tiêu của đề tài là: Xác định đặc điểm định tính hoặc định lượng của các yếu
tố của môi trường như: tuần trăng, khí hậu, thời tiết, tính chất quang học của vùng nướcvịnh Bắc bộ ảnh hưởng đến sự tập trung của cá quanh nguồn sáng nhân tạo
Như vậy, có thể nói, đối tượng nghiên cứu là một tập hợp mục tiêu nghiên cứu,
hoặc có thể nói, đối tượng nghiên cứu là một mục tiêu chung, còn mục tiêu nghiên cứu lànhững mục tiêu chuyên biệt
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là vật mang đối tượng nghiên cứu, là nơi chứa đựng nhữngcâu hỏi mà người nghiên cứu cần tìm câu trả lời Khách thể có thể là:
Một không gian Ví dụ, với đề tài có đối tượng nghiên cứu là “Nghề chụp mực ở
vịnh Bắc bộ” thì khách thể nghiên cứu là vùng biển vịnh Bắc bộ
Một khu vực hành chính Ví dụ, với đề tài có đối tượng nghiên cứu là “Cổ phần
hóa các doanh nghiệp Nhà nước khai thác thủy sản ở Khánh Hòa” thì khách thể nghiêncứu là các doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực khai thác thủy sản thuộc khu vực hànhchính tỉnh Khánh Hòa
Một quá trình Ví dụ, với đối tượng nghiên cứu là “Áp dụng phương pháp học
tập theo kiểu nghiên cứu khoa học ở trường đại học Nha Trang” thì khách thể nghiêncứu là quá trình học tập của sinh viên
Một hoạt động Ví dụ, với đối tượng nghiên cứu là “Thiết bị lọc rùa biển của lưới
kéo đáy” thì khách thể nghiên cứu là hoạt động lọc rùa của thiết bị
Một cộng đồng Ví dụ, với đối tượng nghiên cứu là “Mô hình đồng quản lý nguồn
lợi thủy sản ven bờ” thì khách thể nghiên cứu là cộng đồng địa phương
Trang 18Trong đề tài “Thiết bị lọc rùa biển của lưới kéo đáy” thì mẫu khảo sát là hoạtđộng lọc rùa của một số dạng thiết bị được lựa chọn để nghiên cứu.
Trong đề tài “Áp dụng phương pháp học tập theo kiểu nghiên cứu khoa học ởtrường đại học Nha Trang” thì mẫu khảo sát là quá trình học tập theo kiểu NCKH của
một số nhóm sinh viên trong trường Đại học Nha Trang, được lựa chọn đại diện cho các
nhóm ngành, để tiến hành khảo sát nghiên cứu
Một khách thể nghiên cứu hoặc một mẫu khảo sát có thể phục vụ cho nhiều đối
tượng nghiên cứu khác nhau Ví dụ, hoạt động của nghề chụp mực có thể là đối tượng
nghiên cứu về giải pháp cơ giới hóa quá trình khai thác, nhưng có thể là đối tượngnghiên cứu kỹ thuật đánh bắt có chọn lọc đối tượng, …
3.4 Phạm vi nghiên cứu
Trong mọi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát không thểxem xét ở mọi khía cạnh trong mọi thời gian, vì thế nó được giới hạn trong một phạm vinhất định:
Phạm vi qui mô của mẫu khảo sát Ví dụ, với đề tài “Nghề chụp mực ở vịnh Bắc
bộ”, người nghiên cứu cần khảo sát hoạt động của nghề chụp mực ở vịnh Bắc bộ,
nhưng không thể khảo sát trên tất cả các tàu làm nghề chụp mực ở đó, mà chỉ có
thể khảo sát một số mẫu đại diện, đó là qui mô của mẫu khảo sát
Phạm vi không gian của sự vật Ở ví dụ trên, người nghiên cứu không thể khảo
sát nghề chụp mực trên toàn bộ vùng biển vịnh Bắc bộ mà chỉ chọn một số ngư
trường trọng điểm, đó là phạm vi giới hạn về không gian của mẫu khảo sát
Phạm vi thời gian của tiến trình sự vật Diễn biến của bất kỳ sự vật nào cũng
thay đổi theo thời gian Vì vậy, người ta giới hạn phạm vi nghiên cứu trong một
khoảng thời gian nhất định, trong khoảng thời gian đó diễn biến của qui luật cóthể quan sát được
Phạm vi nội dung nghiên cứu Có thể trong đối tượng nghiên cứu có hàng chục
nội dung, người nghiên cứu chỉ lựa chọn một số nội dung bức thiết nhất để làm.Phạm vi giới hạn về nội dung phụ thuộc vào quĩ thời gian dành cho nghiên cứu,
phương tiện kỹ thuật, kinh phí hực hiện và số lượng chuyên gia trong lĩnh vực
nghiên cứu
§4 ĐẶT TÊN ĐỀ TÀI
Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu Tên đề tài khoa học
khác với tên của tác phẩm văn học Tên tác phẩm văn học có thể mang những ý ẩn dụsâu xa Còn tên của đề tài khoa học thì chỉ được mang một nghĩa, không được phép hiểuhai hay nhiều nghĩa Vì vậy, người nghiên cứu cần tránh những nhược điểm thường gặp
khi đặt tên đề tài như sau:
Tên đề tài không nên đặt bằng những cụm từ có độ bất định cao về thông tin Ví
dụ, Thử bàn về…; Vài suy nghĩ về …; Một số biện pháp về …; Bước đầu tìmhiểu về …; Một số nghiên cứu về …; Những vấn đề về …
Trang 19 Hạn chế lạm dụng (sử dụng tùy tiện) những cụm từ chỉ mục đích để đặt tên đề tài
Ví dụ: … nhằm nâng cao chất lượng …; …để phát triển năng lực cạnh tranh;
…góp phần vào … Chẳng hạn, có thể sử dụng các cụm từ trên để đưa ra tên một
đề tài như: “Thử bàn về một số biện pháp bước đầu nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm góp phần phát triển năng lực cạnh tranh trên thị trường”
Không nên đặt tên đề tài thể hiện tính đại khái, thiếu tư duy sâu sắc, kiểu như
“Chống lạm phát-Hiện trạng, nguyên nhân, giải pháp”; hoặc “Hội nhập-Thách
thức, thời cơ” Đương nhiên, khi nghiên cứu đề tài “Chống lạm phát”, tác giả nàochẳng phải tìm hiểu hiện trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp Cũng
như vậy, khi nghiên cứu vấn đề “Hội nhập”, ai mà chẳng phải xem xét về thời cơ
và thách thức của quá trình hội nhập Cách đặt tên đề tài như trên thể hiện tính hờihợt, đại khái, không nắm vững thực chất vấn đề khoa học của đề tài và mục tiêunghiên cứu
Tóm lại, quá trình hình thành đề tài nghiên cứu chiếm vị trí rất quan trọng trongNCKH Có thể tóm tắt một số bước đi như sau:
Bước1: Lựa chọn sự kiện khoa học Trả lời câu hỏi: Chọn sự kiện nào để nghiên
cứu?
Bước 2: Đặt tên đề tài từ sự kiện khoa học đã lựa chọn
Bước 3: Lịch sử nghiên cứu Trả lời câu hỏi: Ai đã làm gì?
Bước 4: Mục tiêu nghiên cứu Trả lời câu hỏi: Tôi sẽ làm gì?
Bước 5: Khách thể nghiên cứu Trả lời câu hỏi: Làm ở đâu?
Bước 6: Mẫu khảo sát Trả lời câu hỏi: Chọn khảo sát ở mức độ nào?
Bước 7: Phạm vi nghiên cứu Các giới hạn của nghiên cứu
§5 XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Người làm nghiên cứu cần phải viết 2 loại đề cương: sơ bộ và chi tiết Mục đíchcủa việc xây dựng đề cương nghiên cứu sơ bộ (research outline) là để trình bày ý tưởngnghiên cứu Trọng tâm của đề cương nghiên cứu sơ bộ là trình bày một cách thuyết phục
lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu và ý nghĩa của nó Bên cạnh đó người làm nghiên cứuphải cụ thể được tên đề tài, mục tiêu và các nội dung nghiên cứu chính và hướng tiếpcận Đề cương nghiên cứu sơ bộ chỉ khoảng 2-3 trang gồm những phần chính như sau:
Tên đề tài và lý do lựa chọn và ý nghĩa của đề tài
Mục tiêu và các nội dung nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: hướng giải quyết các nội dung, không đi sâu vào chitiết
Dự kiến kết quả thu được và lịch thực hiện
Các tài liệu tham khảo chính (nếu cần thiết phải nêu)
Một khi ý tưởng nghiên cứu đã được thông qua, người làm nghiên cứu sẽ xâydựng đề cương nghiên cứu chi tiết (research proposal) Trọng tâm của đề cương nghiêncứu chi tiết là ở phần Phương pháp nghiên cứu Mọi chi tiết của nghiên cứu đều nênđược hoạch định một cách cụ thể, từ việc tổ chức nghiên cứu đến phương pháp thu thập
và xử lý số liệu; thời gian cụ thể để triển khai từng công việc Một đề cương nghiên cứuchi tiết được coi như là hoàn hảo khi ta có thể giao cho người khác thực hiện nghiên cứu
Trang 20của mình theo các thông tin có trong đề cương này Đề cương nghiên cứu chi tiết gồm cócác mục sau:
o Mở đầu: giới thiệu tên đề tài, lý do lựa chọn; các mục tiêu và nội dung nghiêncứu; ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài
o Tổng luận (hoặc Tổng quan tài liệu): trình bày các vấn đề có liên quan đến đề tàinghiên cứu với mục đích làm rõ phần mở đầu và làm cơ sở cho phần phươngpháp nghiên cứu
o Phương pháp nghiên cứu, trình bày chi tiết các phương pháp được sử dụng để thuthập số liệu chứng minh luận điểm khoa học của đề tài
o Định dạng số liệu thu thập: dưới dạng các bảng biểu thu thập số liệu và cách thứctrình bày
o Tài liệu tham khảo
Khi đề cương nghiên cứu chi tiết đã được thống nhất, người làm nghiên cứu sẽtriển khai nghiên cứu của mình theo đúng hoạch định này và chỉ nên thay đổi các chi tiếtnếu có cơ sở và lập luận vững chắc cho chỉnh sửa của mình
§6 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Các bước thực hiện đề tài không quá chặt chẽ như việc điều hành một công nghệ
sản xuất Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của đồng nghiệp đi trước, mỗi người nghiêncứu, căn cứ đặc điểm lĩnh vực nghiên cứu của mình cũng như những điều kiện đảm bảocho nghiên cứu, … để quyết định một trình tự thích hợp Các bước cơ bản thực hiện đềtài có thể tóm lược như sau:
6.1 Bước 1: Lựa chọn đề tài
Đối với người đã có kinh nghiệm nghiên cứu thì việc lựa chọn đề tài không gặpkhó khăn lớn, nhưng đối với người mới bước vào công việc nghiên cứu thì việc lựa chọn
đề tài có một ý nghĩa rất quan trọng Việc lựa chọn đề tài có thể xem xét một số nội dungsau Trước hết cần xác định nhiệm vụ nghiên cứu xuatts phát từ nhiều nguồn nhiệm vụ:
Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia
Nhiệm vụ được giao từ cấp trên của người nghiên cứu hoặc nhóm nghiên cứu
Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với các đối tác
Nhiệm vụ người nghiên cứu tự đặt ra cho mình
Tiếp theo, xem xét nhiệm vụ nghiên cứu theo các tiêu chí:
Có ý nghĩa khoa học hay không?
Có ý nghĩa thực tiễn hay không?
Có cấp thiết cần phải nghiên cứu hay không?
Có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu không?
Có phù hợp với sở thích không?
6.2 Bước 2: Xây dựng đề cương và lập kế hoạch nghiên cứu
Đề cương được xây dựng để trình cơ quan và tổ chức có thẩm quyền phê duyệt
Trong nội dung đề cương cần thuyết minh những điểm sau:
1) Tên đề tài (đã đề cập ở§4)
2) Lý do chọn đề tài, giải thích lý do chọn lựa của tác giả về mặt lý thuyết, về mặt
thực tiễn, về tính cấp thiết và về năng lực nghiên cứu
3) Lịch sử nghiên cứu
Phân tích sơ lược lịch sử nghiên cứu;
Trang 214) Mục tiêu (nhiệm vụ) nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là cơ sở để đề ra nhiệm vụ nghiên cứu Thường thể hiện 2vấn đề chủ yếu sau :
6) Đối tượng (mẫu) khảo sát Đây là mẫu được chọn trong khách thể, bởi vì người
nghiên cứu không thể có đủ quĩ thời gian và kinh phí xem xét toàn bộ khách thể
7) Phạm vi nghiên cứu Có hai loại phạm vi được xem xét:
Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
Giới hạn phạm vi thời gian diễn biến của sự kiện để xem xét
8) Vấn đề nghiên cứu (Cần phải trả lời những câu hỏi nào trong nghiên cứu?)
9) Giả thuyết nghiên cứu (luận điểm khoa học là gì?)
10) Lựa chọn luận cứ và phương pháp thu thập thông tin (Cần dùng luận cứ nào về
lý thuyết và thực tiễn để chứng minh luận điểm khoa học đã đề ra) Phương phápthu thập thông tin được phân chia thành các nhóm: phương pháp nghiên cứu tàiliệu, phương pháp thực nghiệm và phương pháp phi thực nghiệm Tùy theo điềukiện thực tế để lựa chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp
11) Lập danh sách cộng tác viên Mô hình nhóm nghiên cứu, dưới dạng cộng tác
viên, ngày càng chứng tỏ ưu thế trong nghiên cứu khoa học Nhân lực nhóm
thường bao gồm các loại sau:
Nhân lực chính nhiệm, là loại nhân lực làm việc toàn thời gian
Nhân lực kiêm nhiệm là nhân lực chỉ dành một phần quỹ thời gian thamgia nghiên cứu
Nhân lực chính nhiệm qui đổi, là loại nhân lực nhận khoán việc, tính qui
đổi bằng một số tháng chính nhiệm
Thư ký hành chính, thực hiện các thủ tục hành chính, mua sắm thiết bị, văn
phòng phẩm, diều hành chi tiêu và làm quyết toán với tài vụ, liên hệ vớicác cộng tác viên, tổ chức hội nghị, in ấn tài liệu, …
Nhân viên phụ trợ, như thí nghiệm viên, kỹ thuật viên, chuyên viên xử lý
số liệu thống kê và các phiếu điều tra, …
12) Tiến độ thực hiện đề tài.
Kế hoạch tiến độ được xây dựng căn cứ vào yêu cầu của cơ quan giao nhiệm vụ
Cơ quan giao nhiệm vụ có thể là cấp trên của người nghiên cứu hoặc đối tác giao nhiệm
vụ theo hợp đồng
13) Dự toán kinh phí nghiên cứu Dự toán kinh phí có thể bao gồm một số chi phí
phục vụ cho việc nghiên cứu như sau:
a Các nội dung chi giao khoán cho tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án, bao gồm:
Trang 22 Chi tiền công, thù lao cho cán bộ khoa học, cán bộ kỹ thuật thực hiện các nộidung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chi thù lao chuyên gia nhậnxét, phản biện, đánh giá (trong và ngoài nước); chi tiền công lao động khác thamgia trực tiếp thực hiện đề tài, dự án.
Chi về vật tư, hóa chất nguyên, nhiên, vậtliệu cần thiết (đã có định mức kinh tế
-kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành) cho thí nghiệm, thử nghiệm; chimua tài liệu, tư liệu, số liệu quan trắc, số liệu điều tra, sách, tạp chí tham khảo, tàiliệu kỹ thuật, bí quyết công nghệ, tài liệu chuyên môn, dụng cụ, vật rẻ tiền mauhỏng, bảo hộ lao động, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu khoa học vàphát triển công nghệ của đề tài, dự án
Các khoản chi: hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển giao kết quảnghiên cứu; chi công tác phí trong nước; chi đoàn vào; chi hội nghị, hội thảo khoahọc của đề tài, dự án; chi văn phòng phẩm, in ấn, thông tin, liên lạc; chi dịch tàiliệu từ tiếng nước ngoài; chi biên soạn và in ấn sách chuyên khảo để phổ biếntrong khuôn khổ của đề tài, dự án; phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đốivới kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (nếu có); chi hoạt độngquảng cáo, tiếp thị, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm của đề tài, dự án (đốivới các đề tài, dự án có các hoạt động này và được bố trí trong dự toán do cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt)
Một số khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học vàphát triển công nghệ của đề tài, dự án
b Các nội dung chi không giao khoán cho tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự
án, bao gồm:
Chi về vật tư, hóa chất, nguyên nhiên vật liệu (không có định mức kinh tế - kỹthuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành) cho thí nghiệm, thử nghiệm phục vụyêu cầu nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án
Chi đoàn ra (nếu có)
Chi mua sắm mới tài sản cố định thiết yếu, chi sửa chữa cơ sở vật chất kỹ thuậtphục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài,
Văn bản pháp lý theo yêu cầu của cơ quan quản lý đề tài hoặc cơ quan tài trợ
Loại văn bản này phải làm theo mẫu do các cơ quan này qui định
Văn bản để thảo luận và sử dụng nội bộ theo nhóm nghiên cứu Về nội dung, văn
bản này phải nhất quán với văn bản trên, nhưng qui định cụ thể hơn các quan hệnội bộ giữa các thành viên của nhóm nghiên cứu
15) Chuẩn bị phương tiện nghiên cứu Các đề tài trong khoa học tự nhiên và kỹ thuật
thường có nhu cầu về thiết bị thí nghiệm, nghiên cứu Người nghiên cứu có thểđược cung cấp một số phương tiện, thiết bị, phòng thí nghiệm của trường, viện
nghiên cứu; cũng có thể phải thuê mướn hoặc mua sắm mới
6.3 Bước 3: Thu thập và xử lý thông tin
Công việc này thường được tiến hành sau khi đề tài đã được phê duyệt kinh phí
Trang 23 Lập danh mục tư liệu Người nghiên cứu cần dành thời gian làm việc để khai thác
thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu trong các kho lưu trữ, các trung tâm
thông tin, tư liệu, thư viện và tiếp xúc trao đổi với các chuyên gia đầu ngành Lậpdanh mục tư liệu cần theo hệ thống phân loại phù hợp để có khả năng tương hợpvới hệ thống thông tin, tư liệu chung
Lập phiếu thư mục Người nghiên cứu phải tự lập các phiếu thư mục để tiện tra
cứu Phiếu thư mục nên làm theo mẫu của của các thư viện để tiện đối chiếu, cũng
có thể cải tiến theo thói quen của cá nhân, nhưng cần đảm bảo yêu cầu là ghi rõnguồn tư liệu, mã số của thư viện để tiện tra cứu
Quản lý dữ liệu bằng máy vi tính Lưu trữ trên đĩa từ để làm việc trên máy vi tính.
Người nghiên cứu cần khai thác triệt để sự hỗ trợ của máy vi tính, các chương
trình phần mềm xử lý thông tin, nâng cao hiệu suất nghiên cứu
Xử lý kết quả nghiên cứu Người nghiên cứu cần lựa chọn các phương pháp xử lý
thông tin thu thập để phát hiện động thái và qui luật biến động của sự vật nghiêncứu, để tìm kiếm các mối liên hệ lôgic
6.4 Bước 4: Viết báo cáo tổng kết đề tài
Báo cáo khoa học của đề tài nghiên cứu là một công việc hệ trọng, vì đây là cơ sở
để các hội đồng khoa học đánh giá những đóng góp khoa học của tác giả, đồng thời cũng
là bút tích để lại của tác giả cho các đồng nghiệp đi sau Mẫu báo cáo khoa học được
trình bày ở chương V
6.5 Bước 5: Đánh giá và nghiệm thu đề tài
Nghiệm thu đề tài là sự đánh giá chất lượng của đề tài để công nhận hay khôngcông nhận kết quả nghiên cứu Nghiệm thu đề tài là công việc của cơ quan quản lý đề tàihoặc bên giao nhiệm vụ nghiên cứu, gọi chung là bên A Tác giả (hoặc nhóm tác giả)thực hiện đề tài nghiên cứu, gọi chung là bên B
Thể thức nghiệm thu đề tài thường được thực hiện như sau:
Một hoặc hai chuyên gia am hiểu lính vực nghiên cứu được mời viết nhận xétphản biện theo các tiêu chuẩn mà bên A đặt ra Tùy mức độ cần thiết, bên A cóthể sử dụng phản biện công khai hoặc phản biện bí mật để đảm bảo khách quancho ý kiến phản biện
Một hội đồng nghiệm thu được thành lập với một số lẻ thành viên do bên A mời
Số lượng thành viên được quyết định theo qui định của bên A
Hội đồng sẽ nghe bên B báo cáo kết quả nghiên cứu, nghe các ý kiến phản biện vànhững đánh giá của các thành viên khác, trao đổi thảo luận đối chất với bên B để
đi đến bỏ phiếu nghiệm thu đề tài
Kết quả bỏ phiếu của Hội đồng là cơ sở để bên A xem xét nghiệm thu đề tài
6.6 Bước 6: Công bố kết quả nghiên cứu
Trừ những kết quả nghiên cứu có tính hệ trọng về an ninh và quốc phòng, mọi kếtquả nghiên cứu khoa học cần được công bố Một kết quả NCKH được công bố mangnhiều ý nghĩa, như đóng góp một nhận thức mới trong hệ thống tri thức của bộ môn khoahọc; mở rộng sự trao đổi thông tin để tiếp tục phát triển lĩnh vực nghiên cứu; khẳng định
về mặt sở hữu của người nghiên cứu đối với sản phẩm Kết quả nghiên cứu có thể công
bố trên báo, tạp chí chuyên ngành, cũng có thể công bố trên các phương tiện truyền
thông đại chúng
Trang 24§7 MỘT SỐ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN
1 Đánh giá nguồn lợi
2 Dự báo ngư trường
3 Qui hoạch cơ cấu nghề khai thác hợp lý
4 Công nghệ vật liệu mới dùng trong nghề cá
5 Cải tiến, hoàn thiện ngư cụ và công nghệ khai thác
6 Ứng dụng tiến bộ khoa học, chuyển giao công nghệ khai thác cá
7 Sử dụng hợp lý các trường vật lý trong khai thác cá
8 Thiết bị và phương pháp khai thác chọn lọc đối tượng
9 An toàn cho người và phương tiện khai thác thủy sản
10 Mô hình tổ chức, quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Trang 25CHƯƠNG III: XÂY DỰNG LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC
§1 KHÁI NIỆM LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC
Khoa học ngày càng phát triển và mang tính xã hội cao, song chủ trì một đề tàinghiên cứu lại là cá nhân nhà nghiên cứu Vì vậy, mỗi cá nhân nhà nghiên cứu phải thểhiện được ý tưởng trong tư duy của mình thông qua luận điểm khoa học mang bản sắcriêng
Luận điểm khoa học là ý kiến, quan niệm có tính lý luận về bản chất sự vật Luận
điểm khoa học là kết quả của những suy luận trực tiếp từ nghiên cứu lý thuyết, quan sát
hoặc thực nghiệm
Bài báo khoa học, luận văn khoa học, báo cáo khoa học của bất kỳ công trìnhkhoa học nào cũng đều phải là văn bản trình bày và chứng minh luận điểm khoa học củatác giả Quá trình xây dựng luận điểm khoa học được hình thành theo sơ đồ chỉ trên Hình
3 dưới đây
Hình 3 Quá trình hình thành luận điểm khoa học
Quá trình có thể được mô tả như sau:
1) Bắt đầu từ việc quan sát để nắm bắt sự kiện, ví dụ, sự kiện tai nạn giao thông.2) Phát hiện những mâu thuẫn trong sự kiện, ví dụ, đầu tiên trên công luận đưa ra ýkiến, tai nạn là do đường xá chật hẹp Nhưng qua quan sát, người nghiên cứunhận ra rằng: đường càng rộng thì số lượng tai nạn càng tăng và càng nghiêmtrọng hơn
3) Đặt câu hỏi về nguyên nhân và cách xử lý mâu thuẫn đó Có thể có rất nhiều câuhỏi đặt ra, chẳng hạn, vì sao đường càng rộng càng nhiều tai nạn, mà tai nạn càngnghiêm trọng? Phải chăng những người tham gia giao thông không tôn trọng luật
Giả thiếtKhoa học
Luận điểmKhoa học
Trang 26giao thông? Phải chăng những người thừa hành công vụ không làm hết tráchnhiệm? …
4) Đưa câu trả lời sơ bộ, tức giả thuyết, tức luận điểm cần chứng minh của ngườinghiên cứu về cách thức xử lý, ví dụ, tai nạn không phải do đường chật hẹp, cũngkhông phải những người thi hành công vụ thiếu trách nhiệm, mà là do ý thức củanhững người tham gia giao thông
§2 VẤN ĐỀ KHOA HỌC
2.1 Khái niệm “Vấn đề khoa học”
Vấn đề khoa học, cũng được gọi là vấn đề nghiên cứu hoặc câu hỏi nghiên cứu, làcâu hỏi được đặt ra khi người nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của trithức khoa học hiện có với yêu cầu phát triển tri thức đó ở trình độ cao hơn
Phát hiện vấn đề nghiên cứu là giai đoạn quan trọng trên con đường phát triểnnhận thức Tuy nhiên, nêu vấn đề lại chính là công việc khó nhất đối với người mới bắttay vào NCKH Câu hỏi thường gặp là “nghiên cứu một đề tài khoa học nên bắt đầu từcái gì?” Câu trả lời là: “Hãy bắt đầu từ việc phát hiện vấn đề nghiên cứu, nghĩa là đặtcâu hỏi”
2.2 Phân lớp vấn đề khoa học
Trong NCKH luôn tồn tại hai lớp vấn đề: Thứ nhất, vấn đề bản chất sự vật cầntìm kiếm; Thứ hai, vấn đề về phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ, về lý thuyết và vềthực tiễn những vấn đề thuộc lớp thứ nhất
Ví dụ, khi nghiên cứu các dụng cụ khai thác cá truyền thống trong các vùng nướcnội địa, câu hỏi đầu tiên được đặt ra là: những dụng cụ này có từ niên đại nào? Câu hỏitiếp theo được đặt ra là: Làm thế nào để xác định được chúng đích thực thuộc niên đại
ấy? Do vậy, xuất hiện lớp vấn đề thứ hai, nghĩa là phương pháp xác định niên đại của
các dụng cụ đánh cá
2.3 Các tình huống của vấn đề khoa học
NCKH, trong mọi trường hợp đều nhằm vào những điều chưa biết (qui luật chưa
được khám phá, giải pháp chưa được sáng tạo, hình mẫu chưa được kiểm chứng), nghĩa
là đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu
Hình 4 Các tình huống của vấn đề khoa học
Có vấn đề
Không cóvấn đề
Giả vấn đề
Cónghiên cứu
Không cónghiên cứu
Không cóvấn đề
Có vấn đềkhác
Không cónghiên cứu
Nghiên cứu theo
hướng khác
Trang 27Như vậy, khi nhận được nhiệm vụ nghiên cứu, người nghiên cứu trước hết cần
phải xem xét có những vấn đề nào đặt ra Có thể có ba tình huống được thể hiện trênHình 4 dưới đây
Tình huống thứ nhất: Có vấn đề nghiên cứu Như vậy sẽ có nhu cầu trả lời vàovấn đề nghiên cứu, nghĩa là sẽ tồn tại hoạt động nghiên cứu
Tình huống thứ hai: Không có vấn đề hoặc không còn vấn đề Trường hợp nàykhông xuất hiện nhu cầu trả lời, nghĩa là không có nghiên cứu
Tình huống thứ ba: Tưởng là có vấn đề, nhưng sau khi xem xét thì lại không cóvấn đề hoặc có vấn đề khác Tình huống đó được gọi là giả vấn đề Ví dụ, vấn đề chenlấn trong thang máy …
2.4 Phương pháp phát hiện vấn đề khoa học
Có nhiều phương pháp để phát hiện vấn đề nghiên cứu, xin giới thiệu một sốphương pháp sau:
Phân tích theo cấu trúc lôgic của các tài liệu thu thập được Quá trình nghiên cứu,đọc và thu thập tài liệu nghiên cứu giúp cho nhà khoa học phát hiện hoặc nhận racác “vấn đề” và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu (phát triển “vấn đề” rộng hơn
để nghiên cứu) Đôi khi người nghiên cứu thấy một điều gì đó chưa rõ trongnhững nghiên cứu trước và muốn chứng minh lại Đây là tình huống quan trọngnhất để xác định “vấn đề” nghiên cứu
Nhận dạng những bất đồng trong tranh luận tại các hội nghị thảo luận về phápluật, chính sách Trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học, kỹ thuật, … đôikhi có những bất đồng, tranh cãi và tranh luận khoa học đã giúp cho các nhà khoahọc nhận thấy được những mặt yếu, mặt hạn chế của “vấn đề” tranh cãi và từ đóngười nghiên cứu nhận định, phân tích lại và chọn lọc rút ra “vấn đề” cần nghiêncứu
Nghĩ ngược lại những quan điểm thông thường Ví dụ, nhiều người cho rằng: trẻ
em suy dinh dưỡng là do các bà mẹ kém hiểu biết về dinh dưỡng trẻ em Tuynhiên, câu hỏi ngược lại là: “Các bà mẹ là trí thức chắc chắn phải hiểu biết vềdinh dưỡng trẻ em hơn các bà mẹ là nông dân Vậy thì tại sao tỷ lệ trẻ em suydinh dưỡng trong nhóm con các bà mẹ là trí thức lại cao hơn nhóm các bà mẹ lànông dân?”
Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế Trong mối quan hệ giữacon người với con người, con người với tự nhiên, qua hoạt động thực tế lao độngsản xuất, yêu cầu kỹ thuật, mối quan hệ trong xã hội, cư xử, … làm cho con ngườikhông ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những sản phẩm tốt hơn nhằm phục vụ cho nhucầu đời sống con người trong xã hội Những hoạt động thực tế này đã đặt ra chongười nghiên cứu các câu hỏi hay người nghiên cứu phát hiện ra các “vấn đề” cầnnghiên cứu
Lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu “Vấn đề” nghiên cứucũng được hình thành qua những thông tin bức xúc, lời nói phàn nàn nghe đượcqua các cuộc nói chuyện từ những người xung quanh mà chưa giải thích, giảiquyết được “vấn đề” nào đó
Những câu hỏi bất chợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào Các “vấn đề” haycác câu hỏi nghiên cứu có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên trong suy nghĩ của
Trang 28các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu qua tình cờ quan sát các hiện tượng của tựnhiên, các hoạt động xảy ra trong xã hội hàng ngày.
Tính tò mò của nhà khoa học về những điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay
“vấn đề” nghiên cứu
§3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
3.1 Khái niệm giả thuyết khoa học
Giả thuyết khoa học, còn gọi là giả thuyết nghiên cứu, là một nhận định sơ bộ,một kết luận giả định về bản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa ra để chứng minhhoặc bác bỏ
Đối với các ngành khoa học, sau khi tìm được vấn đề nghiên cứu, người nghiêncứu phải tập trung xây dựng giả thuyết nghiên cứu để chứng minh hay bác bỏ đối tượngnghiên cứu Nếu vấn đề khoa học là “câu hỏi” thì giả thuyết chính là “câu trả lời” vàocâu hỏi mà vấn đề khoa học đã nêu ra
Để chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết cần phải có các luận cứ và phương pháp.Phương pháp ở đây bao gồm phương pháp tìm kiếm luận cứ và phương pháp sắp xếpluận cứ để chứng minh giả thuyết
Một giả thuyết có thể được đặt ra đúng với bản chất sự vật, song giả thuyết có thểsai và bị bác bỏ, nhưng như Men-lê-đê-ev đã viết “ Có một giả thuyết sai còn hơn không
có một giả thuyết nào cả” Lịch sử khoa học cho thấy, một giả thuyết bị bác bỏ cũng cónghĩa là một điều được khẳng định, rằng trong khoa học không có bản chất như giảthuyết đã nêu ra
3.2 Liên hệ giữa giả thuyết với vấn đề khoa học
Sau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên cứuhình thành ý tưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề chưa biết(đặt giả thuyết) Ý tưởng khoa học này còn gọi là sự tiên đoán khoa học (hay tiền giảthuyết) giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận tới mục tiêucần nghiên cứu Trên cơ sở những quan sát bước đầu, những tình huống đặt ra (câu hỏihay vấn đề), những cơ sở lý thuyết (tham khảo tài liệu, kiến thức đã có,…), sự tiên đoán
và những dự kiến tiến hành thực nghiệm, … sẽ giúp cho người nghiên cứu hình thànhmột cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết khoa học
Một cách đơn giản nhất, có thể hiểu giả thuyết là câu trả lời vào những câu hỏi đã
được nêu ra trong vấn đề khoa học
Sơ đồ mối liên hệ giữa vấn đề khoa học với quá trình xuất hiện ý tưởng khoa học
và giả thuyết khoa học được trình bày trên Hình 5
(câu hỏi) (Hướng trả lời) (Giả thuyết khoa học)
Hình 5 Liên hệ giữa giả thuyết với vấn đề khoa học
Vấn đề Ý tưởng KH Giả thuyết KH
Trang 293.3 Các đặc tính của giả thuyết khoa học
Giả thuyết có những đặc tính sau:
- Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay trong suốt quá trình nghiêncứu
- Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết
- Giả thuyết càng đơn giản càng tốt
- Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi
Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau:
- Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin
- Phải có mối quan hệ nhân - quả
- Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu
3.4 Cấu trúc của một giả thuyết khoa học
3.4.1 Cấu trúc có mối quan hệ “nhân-quả”
Cần phân biệt cấu trúc của một “giả thuyết” với một số câu nói khác không phải
là giả thuyết Ví dụ, khi nói: “Cá bỏ chạy khi nghe tiếng máy tàu” hoặc “Lưới kéo đáyven bờ gây ra sự hủy hoại môi trường”, câu này như là một câu kết luận, không phải làcâu giả thuyết
Đôi khi giả thuyết đặt ra không thể hiện mối quan hệ ướm thử và không thể thựchiện thí nghiệm để chứng minh Thí dụ: “tôi chơi vé số, vậy thì tôi sẽ giàu” hoặc “nếu tôigiữ ấm men bia, vậy thì nhiều hơi gas sẽ sinh ra”
Cấu trúc của một giả thuyết có chứa quá nhiều “biến quan sát” và chúng có mốiquan hệ với nhau Khi làm thay đổi một biến nào đó, kết quả sẽ làm thay đổi biến cònlại Ví dụ: Cải tiến dụng cụ khai thác cá sẽ cho năng suất cao Có quá nhiều yếu tố ảnhhưởng đến khả năng cải tiến ngư cụ
Một cấu trúc “giả thuyết” tốt phải chứa đựng “mối quan hệ nhân-quả” và thường
sử dụng từ ướm thử “có thể”
Ví dụ: giả thuyết “Tăng công suất nguồn sáng có thể làm gia tăng lượng cá tậptrung quanh nguồn” Mối quan hệ trong giả thuyết là quan hệ giữa ánh sáng và sự tậptrung của cá, còn nguyên nhân là công suất nguồn sáng và kết quả là lượng cá tập trungquanh nguồn
3.4.2 Cấu trúc “Nếu-vậy thì”
Một cấu trúc khác của giả thuyết “Nếu-vậy thì” cũng thường được sử dụng để đặtgiả thuyết như sau:
“Nếu” (hệ quả hoặc nguyên nhân) … có liên quan tới (nguyên nhân hoặc hệ quả) …,
“Vậy thì” nguyên nhân đó có thể hay ảnh hưởng đến hệ quả
Ví dụ: “Nếu cường độ khai thác cá liên quan đến trữ lượng của chúng, vậy thìcường độ khai thác lớn sẽ làm cho trữ lượng cá ngày càng giảm sút ”
Một số nhà khoa học đặt cấu trúc này như là sự tiên đoán và dựa trên đó để xâydựng thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết Ví dụ: Nếu kích thước mắt lưới rê ảnh hưởngđến kích thước cá mắc lưới, vậy thì tăng kích thước mắt lưới có thể tăng kích cỡ cá đánhbắt được
Trang 303.5 Cách đặt giả thuyết
Điều quan trọng trong cách đặt giả thuyết là phải đặt như thế nào để có thể thựchiện thí nghiệm kiểm chứng “đúng” hay “sai” giả thuyết đó Vì vậy, trong việc xây dựngmột giả thuyết cần trả lời các câu hỏi sau:
1 Giả thuyết này có thể tiến hành thực nghiệm được không?
2 Các biến hay các yếu tố nào cần được nghiên cứu?
3 Phương pháp thí nghiệm nào (trong phòng, khảo sát, điều tra, bảng câu hỏi, phỏngvấn, …) được sử dụng trong nghiên cứu?
4 Các chỉ tiêu nào cần đo đạc trong suốt thí nghiệm?
5 Phương pháp xử lý số liệu nào mà người nghiên cứu dùng để bác bỏ hay chấp nhậngiả thuyết?
Một giả thuyết hợp lý cần có các đặc điểm chính sau đây:
Giả thuyết đặt ra phải phù hợp và dựa trên quan sát hay cơ sở lý thuyết hiện tại(kiến thức vốn có, nguyên lý, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu tương tự trướcđây, hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo), nhưng ý tưởng trong giả thuyết làphần lý thuyết chưa được chấp nhận
Giả thuyết đặt ra có thể làm sự tiên đoán để thể hiện khả năng đúng hay sai (thí
dụ, một tỷ lệ cao những người hút thuốc lá bị chết do ung thư phổi khi so sánh vớinhững người không hút thuốc lá Điều này có thể tiên đoán qua kiểm nghiệm)
Giả thuyết đặt ra có thể làm thí nghiệm để thu thập số liệu, để kiểm chứng haychứng minh giả thuyết (đúng hay sai)
Tóm lại, giả thuyết đặt ra dựa trên sự quan sát, kiến thức vốn có, các nguyên lý,kinh nghiệm trước đây hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu tương
tự trước đây để phát triển nguyên lý chung hay bằng chứng để giải thích, chứng minhcâu hỏi nghiên cứu Xét về bản chất lôgic, giả thuyết được đặt ra từ việc xem xét bảnchất riêng, chung của sự vật và mối quan hệ của chúng hay gọi là quá trình suy luận Quátrình suy luận là cơ sở hình thành giả thuyết khoa học
Ví dụ: khi quan sát sự nẩy mầm của các hạt đậu hoặc dựa trên các tài liệu nghiêncứu khoa học người nghiên cứu nhận thấy ở hạt đậu bình thường, hạt no, vỏ hạt bóngláng thì nẩy mầm tốt và đều (đây là một kết quả được biết qua lý thuyết, tài liệu nghiêncứu trước đây,…) Như vậy, người nghiên cứu có thể suy luận để đặt ra câu hỏi đối vớicác hạt đậu có vỏ bị nhăn nheo thì nẩy mầm như thế nào? (Đây là câu hỏi) Giả thuyếtđược đặt ra là “Nếu sự nẩy mầm của hạt đậu có liên quan tới vỏ hạt, vậy thì hạt đậu có
vỏ nhăn có thể không nẩy mầm” Đây là một giả thuyết mà có thể dễ dàng làm thínghiệm để kiểm chứng
3.6 Kiểm chứng giả thuyết qua so sánh giữa tiên đoán với kết quả thí nghiệm
Bên cạnh việc kiểm nghiệm, một yếu tố quan trọng là đánh giá sự tiên đoán Nếunhư sự tiên đoán được tìm thấy là không đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thínghiệm), người nghiên cứu kết luận rằng giả thuyết (một phần giả thuyết) “sai” (nghĩa làbác bỏ hay chứng minh giả thuyết sai) Khi sự tiên đoán là đúng (dựa trên kết quả haybằng chứng thí nghiệm), kết luận giả thuyết là “đúng”
Trang 31CHƯƠNG IV: CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC
§1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC
Vấn đề của người nghiên cứu là phải chứng minh luận điểm khoa học của mình,tức là chứng minh giả thuyết do mình đặt ra
Muốn chứng minh một luận điểm khoa học, người nghiên cứu phải có đầy đủluận cứ khoa học Muốn tìm được các luận cứ và làm cho luận cứ có sức thuyết phục,người nghiên cứu phải sử dụng những phương pháp nhất định Phương pháp ở đây ở đâybao gồm hai loại: phương pháp tìm kiếm luận cứ và phương pháp sắp xếp các luận cứ đểchứng minh luận điểm khoa học
Đó là những việc làm cần thiết của người nghiên cứu trong quá trình chứng minhluận điểm khoa học của mình
1.1 Cấu trúc lôgic của phép chứng minh
Cấu trúc lôgic của phép chứng minh gồm ba bộ phận hợp thành: Luận điểm, Luận
cứ và phương pháp
Luận điểm (còn gọi là Luận đề) là điều cần chứng minh trong một NCKH Luận
đề trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều gì?” trong nghiên cứu Luận điểm là một “phánđoán” hay một “giả thuyết”, mà tính chân xác của nó cần được chứng minh Thí dụ: Khidòng chảy lớn, cá không thể tập trung quanh nguồn sáng
Luận cứ là bằng chứng được đưa ra để chứng minh luận điểm Luận cứ bao gồm
thu thập các thông tin, tài liệu tham khảo; quan sát và thực nghiệm Luận cứ trả lời câuhỏi “Chứng minh bằng cái gì?” Các nhà khoa học sử dụng luận cứ làm cơ sở để chứngminh một luận điểm
Phương pháp là các cách thức được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổ chức luận
cứ để chứng minh luận điểm (luận đề)
Trong bước khởi đầu của một công trình NCKH, việc phân tích cấu trúc lôgicđược áp dụng để phân tích tài liệu, nhằm nhận dạng luận điểm mà tác giả cần chứngminh trong tài liệu; phân tích mặt mạnh, mặt yếu của luận điểm; tìm các luận cứ đượctác giả sử dụng để chứng minh luận điểm; phân tích mặt mạnh, mặt yếu của luận cứ; xácđịnh phương pháp được tác giả sử dụng trong quá trình dùng luận cứ để chứng minh luậnđiểm
1.2 Luận cứ
Có hai loại luận cứ được sử dụng trong nghiên cứu khoa học:
Luận cứ lý thuyết: bao gồm các lý thuyết, luận điểm, tiền đề, định lý, định luật,qui luật đã được khoa học chứng minh và xác nhận là đúng Luận cứ lý thuyếtcũng được xem là cơ sở lý luận Luận cứ lý thuyết được khai thác từ các tài liệu,công trình khoa học của các đồng nghiệp đi trước Việc sử dụng luận cứ lý thuyết
sẽ giúp người nghiên cứu tiết kiệm thời gian, không phải chứng minh những gì
mà đồng nghiệp đi trước đã chứng minh
Luận cứ thực tiễn được thu thập từ trong thực tế bằng cách quan sát, thực nghiệm,phỏng vấn, điều tra hoặc khai thác từ các công trình nghiên cứu của các đồngnghiệp Về mặt lôgic, luận cứ thực tiễn là các sự kiện thu thập được từ quan sáthoặc thực nghiệm khoa học Toàn bộ quá trình NCKH, sau khi hình thành luậnđiểm, là quá trình tìm kiếm và chứng minh luận cứ
Trang 32Như vậy, trong quá trình tìm kiếm và chứng minh luận cứ, tùy tính chất củanghiên cứu, người nghiên cứu có thể chỉ cần làm việc trong thư viện, phòng thí nghiệm,song cũng có khi phải tiến hành những hoạt động ngoài hiện trường, xưởng trại thựcnghiệm, trong các nhà máy hoặc các doanh nghiệp, v.v
Theo mục đích cuối cùng của nghiên cứu, các luận cứ được sử dụng để chứngminh luận điểm Một giả thuyết được chứng minh hay bị bác bỏ đều có nghĩa là “mộtchân lý được chứng minh” Điều đó có nghĩa rằng: trong khoa học tồn tại hoặc khôngtồn tại bản chất sự vật như đã nêu trong giả thuyết
1.3 Phương pháp hình thành và sử dụng luận cứ
Nhiệm vụ của người nghiên cứu phải làm ba việc: tìm kiếm luận cứ, chứng minh
độ chân xác của bản thân luận cứ và sắp xếp luận cứ để chứng minh giả thuyết Để làm
ba việc đó phải có phương pháp Phương pháp trả lời câu hỏi: Chứng minh bằng cáchnào”?
Trong NCKH, luận cứ là một sự kiện khoa học được thể hiện dưới dạng thông tin
Dù luận cứ đó là một hiện vật, thì bản chất của nó vẫn là thông tin Ví dụ, nhà nghiêncứu địa chất sử dụng các mẫu khoáng vật để chứng minh niên đại đại chất, thì mẫukhoáng vật đó, xét về bản chất cũng là thông tin Còn vật mẫu chỉ là vật mang thông tin
Người nghiên cứu cần những loại thông tin sau:
Cơ sở lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu
Tài liệu thống kê và kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp đi trước
Kết quả quan sát hoặc thực nghiệm của bản thân người nghiên cứu
Muốn có luận cứ, người nghiên cứu phải biết thu thập thông tin Phương pháp thuthập thông tin có vai trò quyết định đến độ tin cậy của luận cứ Sự cân nhắc để có thể tìmkiếm được những thông tin tin cậy được gọi là tiếp cận
Tiếp cận là tìm kiếm chỗ đứng để quan sát sự kiện, tìm cách thức để xem xét sựkiện Tùy thuộc phương pháp tiếp cận được lựa chọn mà sự kiện có thể được xem xétmột cách toàn diện hay phiến diện Ví dụ: tiếp cận lịch sử, tiếp cận lôgic, tiếp cận hệthống, …
Như vậy, toàn bộ công việc của người nghiên cứu trong giai đoạn này bao gồm:1) Lựa chọn phương pháp tiếp cận để thu thập thông tin
2) Thu thập thông tin
3) Sắp xếp thông tin để chứng minh giả thuyết khoa học
1.4 Thông tin và phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành luận cứ đểchứng minh luận điểm khoa học Độ tin cậy của toàn bộ công trình nghiên cứu phụ thuộcvào những thông tin mà người nghiên cứu thu thập được
Một số phương pháp thu thập thông tin thường gặp như sau:
1) Nghiên cứu tài liệu hoặc phỏng vấn để kế thừa những thành tựu mà cácđông nghiệp đã đạt được trong nghiên cứu
2) Trực tiếp quan sát trên đối tượng khảo sát ngay tại nơi diễn ra những quátrình mà người nghiên cứu có thể sử dụng làm luận cứ
3) Tiến hành các hoạt động thực nghiệm trực tiếp trên đối tượng khảo sáthoặc trên mô hình tương tự các quá trình diễn ra trên đối tượng nghiêncứu
4) Thực hiện các trắc nghiệm trên đối tượng khảo sát để thu thập các thôngtin phản ứng từ phía đối tượng khảo sát
Trang 33Đó là những phương pháp mà người NCKH trực tiếp làm việc trên đối tượngkhảo sát Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp người nghiên cứu không thể trực tiếp thuthập thông tin trên đối tượng khảo sát, ví dụ, núi lửa đã tắt, trận động đất đã ngưng, một
sự kiện lịch sử đã đi vào dĩ vãng, … Khi đó người nghiên cứu phải thu thập thông tinmột cách gián tiếp qua những người trung gian Người ta gọi chung là phương phápchuyên gia Nói “phương pháp chuyên gia” chỉ là một cách nói qui ước, vì trong thực tế,không phải tất cả những người tham gia vào công việc thu thập thông tin đều là chuyêngia
Phương pháp chuyên gia bao gồm:
Phỏng vấn những người có am hiểu hoặc có liên quan đến những thông tin
về sự kiện khoa học
Gửi phiếu điều tra (bảng hỏi) để thu thập thông tin liên quan đến sự kiệnkhoa học
Thảo luận dưới các hình thức hội nghị khoa học
Các phương pháp thu thập thông tin nói trên được chia thành 4 nhóm: Nghiên cứutài liệu; Phi thực nghiệm; Thực nghiệm; Trắc nghiệm Đặc điểm của mỗi nhóm thể hiệnnhư sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu là phương pháp thu thập thông tin hoàn toàngián tiếp, không tiếp xúc với đối tượng khảo sát
Phương pháp phi thực nghiệm là phương pháp thu thập thông tin trực tiếp trên đốitượng khảo sát, nhưng không tác động lên đối tương khảo sát
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp thu thập thông tin trực tiếp, có tácđộng gây biến đổi các biến của đối tượng khảo sát và môi trường quanh đối tượngkhảo sát
Phương pháp trắc nghiệm, trong nghiên cứu công nghệ gọi là thử nghiệm, làphương pháp thu thập thông tin có tác động gây biến đổi các biến của môi trườngkhảo sát, không gây tác động nào làm biến đổi các thông số trạng thái của bảnthân đối tượng khảo sát
§2 CHỌN MẪU KHẢO SÁT
2.1 Khái niệm chọn mẫu
Mẫu, tức là đối tượng khảo sát, được lựa chọn từ khách thể Bất cứ nghiên cứutrong lĩnh vực khoa học nào, người nghiên cứu đều phải chọn mẫu khảo sát, ví dụ:
Chọn địa điểm khảo sát trong hành trình điều tra tài nguyên;
Chọn các nhóm xã hội để điều tra dư luận xã hội;
Chọn mẫu vật liệu để khảo nghiệm tính chất cơ, lý, hóa trong nghiên cứu vật liệu;
Chọn một số mẫu bài toán để nghiên cứu phương pháp giải
V.v…
Việc chọn mẫu có ảnh hưởng mang tính quyết định tới độ tin cậy của kết quảnghiên cứu và chi phí các nguồn lực cho công việc khảo sát thu thập số liệu Việc chọnmẫu phải đảm bảo tính ngẫu nhiên, nhưng có tính đại diện, tránh chọn mẫu theo địnhhướng chủ quan của người nghiên cứu
2.2 Các phương pháp chọn mẫu
Mục đích của tất cả các phương pháp lấy mẫu là đạt được mẫu đại diện cho cảquần thể nghiên cứu Khi chọn phương pháp lấy mẫu thì cần hiểu rõ các đặc tính của