1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luật thơ (10 tiết)

15 763 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thi luật
Người hướng dẫn Thiếu Tá, Th/s Phan Thị Yến
Trường học Trường Sĩ Quan Lục Quân 2
Chuyên ngành Khoa Học Cơ Bản
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2005
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích -Giúp h/v hiểu được tính nhạc trong văn tiếng Việt, vai trò của “tiếng” trong thơ ca và các thể loại thơ của dân tộc thơ lục bát, hát nói, thơ thất ngôn, thơ mới.. Nội dung, th

Trang 1

TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 2 PHÊ CHUẨN KHOA: KHOA HỌC CƠ BẢN

Ngày…tháng…năm 2005

P TRƯỞNG KHOA

Thiếu tá, Th/s Phan Thị Yến

BÀI GIẢNG

BÀI 6: THI LUẬT

Giảng viên:………

Trang 2

Tháng - 2006 PHÊ CHUẨN GIÁO ÁN

Ngày…tháng…năm 2004

TRƯỞNG BỘ MÔN

Bài 6: Thi luật

Đối tượng: Học viên dự bị – Khối A

Giảng viên:………

Thời gian giảng bài:10 tiết

1 Mục đích

-Giúp h/v hiểu được tính nhạc trong văn tiếng Việt, vai trò của “tiếng” trong thơ ca và các thể loại thơ của dân tộc ( thơ lục bát, hát nói, thơ thất ngôn, thơ mới).

-Rèn luyện kĩ năng lĩnh hội, phân tích, lí giải tính nhạc trong văn, cách ngắt nhịp và cách gieo vần trong thơ.

-Bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào về ngôn ngữ tiếng Việt với giá trị văn hóa tinh thần cao quí của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam.

2.Yêu cầu

- H/v phải nắm được khái niệm tính nhạc, phương pháp phân tích tính nhạc, vai trò của tiếng trong thơ ca và các thể loại thơ của dân tộc.

- Biết vận dụng những hiểu biết của mình về “Thi luật” vào bài tập thực hành.

3 Nội dung

- Tính nhạc trong văn tiếng Việt, vai trò của tiếng trong thơ ca

- Thơ lục bát, hát nói, thơ thất ngôn, thơ mới

4 Tổ chức

Biên chế theo lớp học

Trang 3

5 Nội dung, thời gian, phương pháp

TT Nội dung Thời gian Phương pháp V.C

1 Phần mở đầu

- Nhận lớp, kiểm tra bài

-Quán triệt YĐHL

25 phút Thuyết trình, nêu

vấn đề, nhận xét, đánh giá

2 Phần nội dung:

-Tính nhạc trong văn tiếng

Việt, vai trò của “tiếng”

trong thơ ca

-Thơ lục bát, hát nói, thơ

thất ngôn, thơ mới

-Thực hành

350 phút

70 phút

70 phút

210 phút

-Thuyết trình, đàm thoại, nêu vd minh hoạ, hệ thống hoá kiến thức

Thuyết trình, đàm thoại, nêu vd minh hoạ, hệ thống hoá kiến thức

-Ra bài tập, gợí ý, hướng dẫn học viên thực hành

3 Kết luận

-Kết luận bài

-Hướng dẫn nghiên cứu

25 phút -Khái quát nội

dung bài học

-Ra câu hỏi và bài tập về nhà

6.Địa điểm: Giảng đường

7.Tài liệu

Sách Tiếng Việt – Lớp 11 – NxbGD – 2000

8.Vật chất bảo đảm

Bảo đảm đủ phò ng học, tài liệu dạy và học cho giáo viên và học viên

9.Những mốc thời gian chuẩn bị của giáo viên

9.1Chuẩn bị: Đọc sách, nghiên cứu và soạn bài trước 1 tháng

9.2Thông qua bài cấp Tổ1 tuần trước khi lên lớp

GIẢNG VIÊN

Trang 4

MỞ ĐẦU

Chúng ta đã được tìm hiểu về nền văn học của nước nhà Qua đó, chúng ta không những hiểu được giá trị nội dung mà còn hiểu được giá trị nghệ thuật của các tác phẩm, trong đó có các thể loại thơ Trong bài học này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về “Thi luật” để hiểu hơn về thi ca Việt Nam

PHẦN NỘI DUNG

1 Tính nhạc trong văn tiếng Việt, vai trò của “tiếng” trong thơ ca 1.1 Tính nhạc trong văn tiếng Việt

Đọc một câu văn có tính nhạc, ta thấy dễ đọc, thuận miệng, thuận hơi Nghe một câu văn có tính nhạc, ta thấy dễ nghe, dễ nhớ Tính nhạc có thể tạo ra một sự tương hợp nào đấy giữa hình thức ngữ âm và nội dung Những đoạn văn hay, bài văn hay thường là có tính nhạc tốt

11.1 Khái niệm tính nhạc

Tính nhạc của văn là kết quả của việc sử dụng tổng hợp các yếu tố thanh điệu, vần điệu, độ cao, độ dài, độ mạnh của “ tiếng” (âm tiết) để tạo nên sự hài hoà về âm thanh cho lời văn

VD:

“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” (Hồ Chí

Minh)

-Tính nhạc ở đoạn văn trên thể hiện bằng sự phối nhịp, phối thanh

do lặp cấu trúc, lặp từ ngữ làm cho đoạn văn mạnh mẽ, hùng hồn

- Tính nhạc sẽ không còn, nếu ta diễn đạt nội dung đoạn văn như sau:

“Dân tộc Việt Nam phải được tự do, độc lập vì đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp 80 năm nay và đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phất xít mấy năm nay”

1.1.2 Phương pháp phân tích

Trang 5

Muốn phân tích, lí giải tính nhạc trong văn, ta phải so sánh cái đã được người viết tuyển chọn với cái không thấy được người viết tuyển chọn về các mặt phối thanh, phối âm, phối nhịp trong một câu, giữa các câu trong một đoạn văn hay một bài văn

VD:

So sánh hai lời văn đều cùng dịch từ nguyên văn chữ Hán bài “Bình Ngô đại cáo”

Lời dịch theo nghĩa câu chữ:

“Đánh một hồi trống thì diệt lũ giặc mạnh như cá kình, cá ngạc Đánh một hồi trống nữa thì lũ giặc hoảng sợ, tan tác như chim muông Giặc thua tan tác như ta quét lá khô, giặc tan vỡ như đê cũ bị đổ sụt bởi tổ kiến đào”.

Lời dịch của Bùi Kỷ:

“Đánh một trận, sạch không kình ngạc Đánh hai trận, tan tác chim muông.

Cơn gió to, quét sạch lá khô, Tổ kiến hổng, sụt toang đê cũ”

*Phân tích:

-Đối với lời dịch theo nghĩa câu chữ:

+Phối nhịp, phối thanh(lặp cấu trúc, lặp từ ngữ)

+Độ dài trùng lặp của từng cặp câu

-Đối với lời dịch của Bùi Kỷ:

+Phối nhịp: nhịp 3 / 4, lặp cú pháp tuyệt đối(nhân quả)

+Phối thanh: liệt kê tăng tiến (đánh một trận, đánh hai trận…), kết thúc câu: ngạc, muông, khô, cũ (nhóm thanh thấp)

+Phối thanh, phối nhịp: sạch không / tan tác; quét sạch / sụt toang

 Lời văn của Bùi Kỷ tuy chưa sát từng chữ theo câu chữ, nhưng nhờ tính nhạc trong đoạn dịch(đó là âm điệu nhịp nhàng, có hơi văn mạnh tương hợp với nội dung) cho nên trên cơ sở dữ kiện của văn bản và cách đọc diễn cảm, đoạn dịch đã bộc lộ sự quyết đoán của chiến thuật, sự thuận lợi nhanh chóng và tuyệt đối của cuộc chiến, niềm tự hào của người chiến thắng Đó là điều mà lời dịch theo nghĩa câu chữ không có được

1.2 Vai trò của “tiếng” trong thơ ca

“Tiếng” không chỉ đóng vai trò quyết định tạo ra tính nhạc trong văn mà còn đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra ngôn ngữ thơ ca

1.2.1 “Tiếng” trong truyền thống thơ ca

Trang 6

Từ xưa, các “tiếng” trong thơ của ta có thể “ca” theo các làn điệu dân ca, theo các điệu hò Bắc - Trung – Nam Khi đặt lời cho làn điệu, người ta cũng thường làm thơ để có “tiếng”mà “ca” theo làn điệu

- “Tiếng”là cái cầu nối gắn thơ với ca: thơ có thể ca, ca có thể dùng thơ làm lời Cho nên ta nói “thơ”, ta lại cũng có thể nói “thơ ca”để chỉ

“thơ”

VD:

Các bài thơ lục bát có thể ca theo các làn điệu như: Cò lả, trống quân, hát ví…v.v

1.2.2 “Tiếng” là căn cứ để lập ra các thể thơ

Các thể thơ của ta ( lục bát, song thất lục bát, nói lối) và các thể thơ mượn của Trung Quốc xưa (thơ ngũ ngôn, thơ thất ngôn) đều lấy số

“tiếng” trong mỗi câu thơ để xác định vì mỗi “tiếng” có một diện mạo ngữ âm rõ ràng, tách rời “tiếng” khác

VD:

-Thơ lục bát

“Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

(Ca dao)

-Thơ thất ngôn tứ tuyệt:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ Người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.

(Cảnh khuya – Hồ Chí Minh)

-Thơ ngũ ngôn:

…“Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc

Ôi ! con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng”…

(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)

1.2.3 “Tiếng” là căn cứ để ngắt nhịp trong mỗi câu thơ

- Ngắt nhịp không chỉ để hiểu thơ mà còn để đọc thơ

Trang 7

- Nhịp thơ căn cứ vào số tiếng trong mỗi bộ phận của câu thơ

VD:

“Trèo lên / cây bưởi / hái hoa Bước xuống / vườn cà / hái nụ / tầm xuân” (Ca dao)

“Mình về / với Bác / đường xuôi Thưa giùm / Việt Bắc / không nguôi / nhớ Người” (Tố Hữu)

“Bắt phong trần / phải phong trần Cho thanh cao / mới được phần / thanh cao” (Nguyễn Du)

1.2.4 “Thanh” của tiếng là căn cứ xác định luật bằng trắc

-Tiếng bằng: các tiếng có thanh ngang, thanh huyền

-Tiếng trắc: các tiếng có thanh sắc, hỏi, ngã, nặng

-Mỗi thể thơ cũ đều có luật bằng trắc riêng

+Thơ lục bát: trừ các “tiếng” thứ nhất, thứ ba, thứ năm của mỗi câu thơ không phải theo luật bằng trắc Còn lại phải theo đúng luật bằng trắc VD:

“Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” (Nguyễn Du)

Câu sáu: 1 / bằng / 3 / trắc / 5 / bằng

Câu tám: 1 / bằng / 3 / trắc / 5 / bằng / 7 / bằng

Các tiếng ở vị trí 1, 3, 5, 7 không theo luật bằng trắc(không bắt buộc)

1.2.5 Vần của mỗi “tiếng” là căn cứ để xác định hiệp vần

- Hiệp vần là cách liên kết câu thơ này với câu thơ kia bằng “vần” của tiếng trong câu thơ này trùng hợp (hay gần trùng hợp) với “vần”của tiếng trong câu thơ kia

-Vần của hai tiếng hoàn toàn trùng hợp là vần chính

-Vần của hai tiếng không hoàn toàn trùng hợp là vần thông

-Vần của tiếng cuối câu thơ là vần chân (cước vận)

-Vần của tiếng ở giữa câu thơ là vần lưng (yêu vận)

VD:

Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy đầy bát cơm Lấy rơm đun bếp

* “Tiếng” cùng các bộ phận thanh điệu , vần của tiếng là cơ sở ngữ âm để tạo ra thể thơ và luật thơ

2 Thơ lục bát, hát nói, thơ thất ngôn, thơ mới

Trang 8

2.1.1 Đặc điểm

- Số tiếng của mỗi câu được quy định

+ Câu trên 6 tiếng (lục)

+ Câu đưới 8 tiếng (bát)

- Cách hiệp vần trong thơ lục bát

+ Tiếng cuối của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát

+ Tiếng cuối câu bát vần với tiếng cuối câu lục tiếp theo (câu bát có

2 vần: vần lưng ở tiếng thứ 6, vần chân ở tiếng thứ 8)

VD:

“Aùo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu Aùo anh sứt chỉ đã lâu

Mai mượn cố ấy về khâu cho cùng”

(Ca dao)

- Về ngắt nhịp

Ngắt nhịp chẵn là chủ yếu, trong đó nhịp đôi là cơ sở

VD:

“Đầu lòng / hai ả / Tố Nga Thuý Kiều / là chị / em là / Thuý Vân”

(Nguyễn Du)

+ Đôi khi cũng có những linh hoạt

VD:

“Bắt phong trần / phải phong trần Cho thanh cao / mới được phần / thanh cao”

- Về thanh

Thường là tiếng thứ 2 là thanh bằng, tiếng thứ 4 là thanh trắc, tiếng thứ 6 và tiếng thứ 8 là thanh bằng, còn các tiếng ở vị trí lẻ tự do theo luật

“nhất, tam, ngũ bất luận”

VD:

“Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

(Ca dao)

+Nếu có tiểu đối ở câu lục thì có thể thay đổi thanh

VD:

Trang 9

“Người quốc sắc / kẻ thiên tài

Tình trong như đã / mặt ngoài còn e‘’

(Nguyễn Du)

+ Về thanh còn có luật cao – thấp: Nếu tiếng thứ 6 của câu bát là thanh ngang thì tiếng thứ 8 của câu thơ ấy là thanh huyền và ngược lại VD:

“Thương nhau xin nhớ lời nhau

Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy

Chén đưa, nhớ bữa hôm nay

Chén mừng, xin đợi ngày rày năm sau” (Nguyễn Du)

2.1.2 Lục bát biến thể

- Thêm bớt một số tiếng hoặc xê dịch cách hiệp vần, cách phối thanh

VD1:

“Nước xanh lơ lửng cá vàng, Cây ngô cành bích, phượng hoàng đậu cao” (Ca dao)

“Nước trong xanh lơ lửng cái con cá vàng Cây ngô cành bích con chim phượng hoàng nó đậu cao ”

(Hát xẩm)

Như vậy, trong bài hát xẩm câu lục đổi thành 9 tiếng, câu bát đổi thành 11 tiếng nên vị trí hiệp vần ở câu bát cũng bị xê dịch

VD2:

“Núi cao chi lắm núi ơi, Núi che mặt trời, chẳng thấy người thương”

Ở VD này xê dịch cách hiệp vần, cách phối thanh

2.2 Hát nói

2.2.1 Khái niệm

Hát nói gồm 2 phần – phần lời thơ và phần nhạc Phần lời thơ có thể xem là biến thể của hai thể lục bát và song thất lục bát Phần nhạc của lời thơ theo lối hát nói, một lối của hát ả đào

2.2.2 Đặc điểm cấu tạo phần lời thơ của hát nói

Phần lời thơ gồm 2 phần: Mưỡu và lời của lối hát nói (mưỡu có thể khuyết)

*Mưỡu

Là những câu làm theo thể lục bát đi kèm với bài hát nói, đặt ở trên gọi là mưỡu đầu, đặt ở dưới gọi là mưỡu hậu

- Tác dụng của mưỡu là làm cho mọi người biết ý bao trùm của cả

Trang 10

Mưỡu đầu

“Đàn thông phách suối vang lừng Cá nghe lắng kệ, chim rừng nghe kinh”

Bài hát nói

“Bầu trời cảnh bụt Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay.

Kìa non non, nước nước, mây mây

“Đệ nhất động”, hỏi rằng đây có phải?

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái, Lững lờ khe yến cá nghe kinh.

Thoảng bên tai một tiếng chày kình, Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng, Này âm Phật Tích, này động Tuyết Quynh.

Nhác trông lên ai khéo hoạ hình, Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.

Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt, Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây.

Chừng giang sơn còn đợi ai đây, Hay tạo hoá khéo ra tay xếp đặt?

Lần tràng hạt, niệm “Nam vô Phật…”

Cửa từ bi công đức xiết là bao Càng trông phong cảnh càng yêu…”

(Hương Sơn phong cảnh ca – Chu Mạnh Trinh)

* Bài hát nói

- Ở dạng đầy đủ, mỗi bài hát nói gồm 11 câu chia làm 3 khổ: khổ đầu có 4 câu, khổ giữa có 4 câu, khổ cuối có 3 câu

- Có bài hát nói dôi thêm khổ giữa hay khuyết đi khổ giữa (VD trên) + Vần cuối trong 4 câu đầu lần lượt là: trắc, bằng, bằng, trắc

+ Vần cuối trong 4 câu tiếp lần lượt là: trắc, bằng, bằng, trắc

+ Vần cuối trong 4 câu đầu lần lượt là: trắc, bằng, bằng, trắc

+ Vần cuối trong 3 câu cuối lần lượt là: trắc, bằng, bằng

2.3 Thơ thất ngôn

2.3.1 Cách tìm hiểu thơ thất ngôn

* Căn cứ vào số câu, thơ thất ngôn được chia ra:

- Thất ngôn bát cú (mỗi bài 8 câu)

- Tứ tuyệt (mỗi bài 4 câu)

Trang 11

- Tràng thiên (còn gọi là hành, mỗi bài trên 8 câu)

*Căn cứ vào luật thơ, thơ thất ngôn được chia ra:

- Thất ngôn cổ phong (không theo niêm luật nhất định)

- Thất ngôn Đường luật (niêm luật có từ thời Đường- Trung Quốc)

2.3.2 Thơ thất ngôn bát cú Đường luật

Trong thơ Đường luật, thể thất ngôn bát cú là thể cơ bản nhất

- Thất ngôn bát cúĐường luật làm theo luật bằng vần bằng:

luật bằng là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng bằng, vần bằng ở cuối câu VD:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con

(Tự tình – Hồ Xuân Hương)

- Thất ngôn bát cú đường luật làm theo luật trắc vần bằng:

luật trắc là luật thơ bắt đầu bằng 2 tiếng trắc, vần bằng ở cuối câu

VD:

“Đã bấy lâu nay bác tới nhà,

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Đầu trò tiếp khách, trầu không có, Bác đến đây chơi, ta với ta”

(Nguyễn Khuyến)

* Nhận xét về ngắt nhịp

Ngắt nhịp theo kiểu phối hợp chẵn lẻ 4-3

* Nhận xét về phối thanh

Trong quy luật phối thanh cần xem xét hai khía cạnh: luật và niêm

- Về luật: Luật bằng trắc được khái quát như sau:

+ Thơ luật bằng vần bằng

b b t t t b b

Trang 12

t t b b b t t

b b t t t b b

b b t t b b t

t t b b t t b

t t b b b t t

b b t t t b b

+ Thơ luật trắc vần bằng

t t b b t t b

b b t t t b b

b b t t b b t

t t b b t t b

t t b b b t t

b b t t t b b

b b t t b b t

t t b b t t b

Chú ý: Tiếng thứ nhất, thứ 3, thứ 5 có thể linh hoạt về luật bằng trắc.

- Về niêm: Niêm là sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ Đường luật

+ Hai câu thơ niêm với nhau khi chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật(cùng là bằng hoặc cùng là trắc)

+Các cặp trong thơ thất ngôn bát cú Đường luật niêm với nhau: 1 –

8, 2- 3, 4- 5, 6-7, 8 –1

VD:

Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Đầu trò tiếp khách, trầu không có, Bác đến đây chơi, ta với ta

(Nguyễn Khuyến)

- Về hiệp vần:

Vần chân, độc vận vào tiếng cuối ở các câu 1, 2, 4, 6, 8

“Việc đời bối rối tuổi già vay, Trời đất vô cùng, một cuộc say.

Bần tiện gặp thời, lên cũng dễ,

Anh hùng lỡ bước, ngẫm càng cay.

Vai khiêng trái đất mong phò chúa,

Trang 13

Giáp gột sông trời khó vạch mây.

Thù trả chưa xong đầu đã bạc,

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày!

(Thuật hoài – Đặng Dung)

* Nhận xét về bố cục

- Hai câu đề: Câu1 mở bài(phá đề)

Câu 2 vào bài (thừa đề)

- Hai câu thực: Câu 3 và 4 đối nhau, dùng để giảithích rõ đề

- Hai câu luận: Câu 5 và 6 đối nhau, dùng để bàn luận về đề

- Hai câu kết: Câu 7 và 8 tóm tắt ý nghĩa cả bài

2.4 Thơ mới

2.4.1 Khái niệm

Thơ mới được khởi xướng từ năm 1932, là thơ không theo luật lệ của thơ cũ(Đường luật, Cổ phong), nghĩa là không hạn chế số câu, số tiếng trong câu, không theo niêm luật Thơ mới coi trọng vần và điệu

2.4.2Đặc điểm

- Thể thơ

+ số câu: Không hạn chế

+ Số tiếng trong câu: không hạn chế, nhưng thường gặp thơ có câu 5 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng

VD1:

“Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ?”

(Lưu Trọng Lư)

VD2:

“Dù đường trần khe khắt hiểm nghèo, Dù gập ghềnh, dù lắm hùm beo.

Cứ quả quyết đường hoàng ta tiến;

Đời thảm đạm, ta càng vinh hiển”

(Huy Thông)

VD3:

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan,

Ngày đăng: 01/06/2013, 08:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w