1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LUẬT HÀNH CHÍNH MỚI NHẤT VÀ ĐẦY ĐỦ NHẤT

32 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 233,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬT HÀNH CHÍNHCâu 2: Hệ thống và nguồn của Luật HC Việt NamNguồn của Luật Hành chính Việt Nam chỉ có 1 hình thức duy nhất đó là các văn bản QPPL. Đó chính là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng XHCN (Điều 1 Luật Ban hành văn bản QPPL). Tuy nhiên không phải bất cứ văn bản QPPL nào có chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính – những quy phạm được ban hành ra để điều chỉnh quan hệ quản lý hành chính nhà nước mới được coi là nguồn của Luật hành chính.Như vậy, nguồn của Luật Hành chính là các văn bản quy phạm pháp luật trong đó có chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính. Một văn bản được coi là nguồn của Luật Hành chính nếu văn bản đó thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu sau:Do chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Luật định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ban hành ra.Văn bản được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục dưới hình thức do luật định.Nội dung văn bản đó có chứa đựng quy phạm pháp luật hành chính.b Hệ thống của Luật Hành chính Việt Nam:Tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nguồn Luật Hành chính Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải phân loại chúng một cách khoa học, hợp lý. Căn cứ vào chủ thể ban hành, hệ thống văn bản là nguồn của Luật Hành chính được phân chia thành:+ Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm: Hiến pháp: là đạo luật cơ bản quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của quốc gia. Hiến pháp là nguồn của mọi ngành luật trong đó có Luật Hành chính. Những quy phạm pháp luật hành chính trong Hiến pháp là những quy định mang tính chung, nguyên tắc làm cơ sở ban hành ra các quy phạm pháp luật hành chính khác. Ví dụ Điều 112, HP năm 1992 quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ. Luật (bao gồm bộ luật và các văn bản luật khác): là loại văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, Luật có nhiệm vụ cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp để “quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân”. Có những văn bản luật chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính như Luật tổ chức Chính phủ; Luật Hội đồng nhân dân và UBND; Luật khiếu nại, tố cáo; Luật đất đai … Đây là bộ phận quan trọng của nguồn Luật Hành chính. Ngược lại, cũng có những luật trong đó không chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính nên nó không phải là nguồn của Luật Hành chính Việt Nam. Ví dụ: Bộ Luật hình sự, Bộ Luật tố tụng hình sự, … Nghị quyết của Quốc hội: đây là văn bản được ban hành để “quyết định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, điều chỉnh ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc tế, quyết định chế độ làm việc của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội , đại biểu Quốc hội và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội” (Điều 20 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Pháp lệnh: đây là văn bản quy phạm pháp luật do ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành “Quy định về những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành Luật” (Điều 21 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật). như vậy

Trang 1

LUẬT HÀNH CHÍNH

Câu 2: Hệ thống và nguồn của Luật HC Việt Nam

Nguồn của Luật Hành chính Việt Nam chỉ có 1 hình thức duy nhất đó là các văn bản QPPL

Đó chính là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan

hệ xã hội theo định hướng XHCN (Điều 1 Luật Ban hành văn bản QPPL) Tuy nhiên không phải bất cứ văn bản QPPL nào có chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính – những quy phạm được ban hành ra để điều chỉnh quan hệ quản lý hành chính nhà nước mới được coi là nguồn của Luật hành chính

Như vậy, nguồn của Luật Hành chính là các văn bản quy phạm pháp luật trong đó có chứa

đựng các quy phạm pháp luật hành chính Một văn bản được coi là nguồn của Luật Hành chính nếu văn bản đó thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu sau:

Do chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Luật định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ban hành ra

Văn bản được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục dưới hình thức do luật định

Nội dung văn bản đó có chứa đựng quy phạm pháp luật hành chính

b- Hệ thống của Luật Hành chính Việt Nam:

Tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nguồn Luật Hành chính Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải phân loại chúng một cách khoa học, hợp lý Căn cứ vào chủ thể ban hành, hệ thống văn bản là nguồn của Luật Hành chính được phân chia thành:

+ Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm:

- Hiến pháp: là đạo luật cơ bản quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của quốc gia Hiến pháp là nguồn của mọi ngành luật trong đó có Luật Hành chính Những quy phạm pháp luật hành chính trong Hiến pháp là những quy định mang tính chung, nguyên tắc làm cơ sở ban hành ra các quy phạm pháp luật hành chính khác Ví dụ Điều 112, HP năm 1992 quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ

- Luật (bao gồm bộ luật và các văn bản luật khác): là loại văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, Luật có nhiệm vụ cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp để “quy định các vấn đề

cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng

an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân” Có những văn bản luật chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính như Luật tổ chức Chính phủ; Luật Hội đồng nhân dân và UBND; Luật khiếu nại,

tố cáo; Luật đất đai … Đây là bộ phận quan trọng của nguồn Luật Hành chính Ngược lại, cũng có những luật trong đó không chứa đựng các quy phạm pháp luật hành chính nên nó không phải là nguồn của Luật Hành chính Việt Nam Ví dụ: Bộ Luật hình sự, Bộ Luật tố tụng hình sự, …

- Nghị quyết của Quốc hội: đây là văn bản được ban hành để “quyết định kế hoạch phát triển

kinh tế - xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, điều chỉnh ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc tế, quyết định chế

độ làm việc của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội , đại biểu Quốc hội và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội” (Điều 20 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật)

- Pháp lệnh: đây là văn bản quy phạm pháp luật do ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành

“Quy định về những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành Luật” (Điều 21 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật) như vậy pháp lệnh điều chỉnh những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật Nhưng do chưa có điều kiện ban hành luật, Quốc hội giao cho Ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để đáp ứng kịp thời các yêu cầu của đời sống xã hội Pháp lệnh có hiệu lực pháp lý thấp hơn so với luật, nó cũng là văn bản dưới luật Những pháp lệnh có chứa đựng quy phạm pháp luật hành chính là nguồn của luật hành chính Ví dụ: pháp lệnh

- Nghị định của Chính phủ:

Trang 2

Nghị định Chính phủ được sử dụng với tư cách là văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản áp dụng quy phạm pháp luật.

Với tư cách là văn bản quy phạm pháp luật Nghị định của Chính phủ quy định dung để quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội (việc ban hành nghị định trong trường hợp này phải được sự đồng ý của ủy ban Thường vụ Quốc hội) Tất cả các nghị định của Chính phủ ban hành với tư cách là văn bàn quy phạm pháp luật hành chính nêu trên đều là nguồn của luật hành chính vì nó chứa đựng trong nội dung các quy phạm pháp luật hành chính Ví dụ Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 7/8/19999 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật nại, tố cáo

- Nghị định của ủy ban Thường vụ Quốc hội: là văn bản được ban hành để “giải thích Hiến

pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, toà án nhân dân tối cao, giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương hoặc quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của ủy ban Thường vụ Quốc hội” (Điều 21 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật) Những Nghị quyết nào của ủy ban Thường

vụ Quốc hội chứa đựng quy phạm pháp luật hành chính là nguồn của Luật hành chính

- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp: đây là hình thức văn bản quy phạm pháp luật duy nhất mà cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương có thẩm quyền ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp đề cập đến các chính sách về kinh tế, văn hóa- xã hội, an ninh quốc phòng cũng như giải quyết các vấn đề cụ thể khác ở địa phương thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật Những Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp có chứa đựng QPPL hành chính là nguồn của Luật hành chính

- Văn bản QPPL của cơ quan hành chính nhà nước.

Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật Chính vì vậy các văn bản là nguồn của Luật hành chính do cơ quan này ban hành chiếm một số lượng lớn trong hiện thống nguồn luật hành chính Việt Nam

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: được ban hành để quyết định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ TW đến cơ sở; quy định chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ

- Chỉ thị cảu Thủ tướng Chính phủ có chứa đựng QPPL hành chính là nguồn Luật hành chính

Ví dụ: Chỉ thị 359-TTg của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển những loại động vật hoang dã

- Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ

- Văn bản QPPL liên tịch: thông tư liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của các cơ quan đó

Trang 2/32

Trang 3

Câu 4-5: Quan hệ pháp luật hành chính-Chủ thể-Khách thể của quan hệ pháp luật HC

Các quan hệ quản lý hành chính nhà nước khi được QPPL điều chỉnh sẽ trở thành các QHPLHC Luật hành chính điều chỉnh các quan hệ này bằng các quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ cũng như các vấn đề khác có liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ này

Là 1 dạng cụ thể của QHPL, quan hệ PLHC mang đầy đủ các đặc điểm của 1 quan hệ pháp luật Chúng là những quan hệ xã hội được QPPL điều chỉnh Đồng thời, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ có tính chất tương ứng với nhau, nghĩa là quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại

Bên cạnh những đặc điểm chung nêu trên, quan hệ PLHC còn có những đặc điểm đặc trưng, những

đặc điểm đặc trưng này giúp ta phân biệt được quan hệ PLHC với các loại quan hệ pháp luật khác.

- Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ PLHC gắn liền với hoạt động quản lý hành chính nhà nước

- Thứ hai, quan hệ PLHC có thể phát sinh do yêu cầu hợp pháp của bất kỳ bên nào, sự thoả thuận của phía bên kia không phải là điều kiện bắt buộc để hoàn thành quan hệ PLHC

- Thứ ba, 1 bên trong quan hệ PLHC phải là chủ thể được sử dụng quyền lực nhà nước để áp đặt ý chí của mình lên chủ thể bên kia của quan hệ PLHC Chủ thể được sử dụng quyền lực nhà nước trong quan hệ PLHC được gọi là chủ thể bắt buộc bởi lẽ quan hệ PHLC không thể phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức bình đẳng với nhau về mặt ý chí

- Thứ tư, phần lớn các tranh chấp phát sinh trong quan hệ PLHC do cơ quan hành chính nhà nước giải quyết, theo trình tự thủ tục hành chính Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của quan hệ PLHC gọi là tranh chấp hành chính

- Thứ năm, bên vi phạm nghĩa vụ trong quan hệ PLHC phải chịu trách nhiệm pháp lý trước nhà nước chứ không phải với bên kia của quan hệ PLHC Khác với quan hệ pháp luật dân sự, trong đó quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ này gắn với lợi ích của bản thân các chủ thể, trong quan hệ PLHC quyền và nghĩa vụ của các bên gắn liền với hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước

Tóm lại, quan hệ PLHC là quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được

các QPPL HC điều chỉnh giữa các chủ thể mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của PLHC

Các đối tượng nêu trên muốn trở thành chủ thể quan hệ PLHC phải có đầy đủ năng lực chủ thể bao gồm năng lực PLHC và năng lực hành vi hành chính Cơ quan hành chính nhà nước cũng phải các cơ quan trong

bộ máy nhà nước từ khi được thành lập đều được pháp luật quy định cho những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể

để thực hiện những công việc khác nhau, phát sinh trong các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; năng lực chấm hết chúng bị giải thể

Năng lực chủ thể của các tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang … phát sinh khi nó được thành lập 1 cách hợp khác và PLHC quy định cho những quyền và nghĩa vụ cụ thể, chấm dứt khi bị giải thể

Năng lực chủ thể của CBCC phát sinh khi CBCC được giao đảm nhiệm 1 công việc nhất định, chấm dứt khi không còn đảm nhiệm 1 công việc nhất định

* Khách thể của quan hệ PLHC là trật tự quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của

đời sống xã hội Đây chính là các mà các bên chủ thể hướng tới khi thiết lập với nhau 1 quan hệ PLHC nhằm mục đích duy trì, củng cố và bảo vệ trật tự quản lý hành chính của nhà nước mà nhà nước đã thiết lập

Trang 3/32

Trang 4

Câu (6-7): Quản lý nhà nước; các khái niệm quản lý nhà nước, quản lý hành chính , điều kiện, tính chất?

* Quản lý nhà nước là gì?

- Quản lý chung các cơ quan trong bộ máy nhà nước

- Quản lý toàn dân, toàn diện (chính trị, kinh tế, văn hóa, …), quản lý bằng pháp luật

- Được sử dụng quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước là 1 dạng quản lý xã hội đặc biệt được sử dụng pháp luật, để điều chỉnh các quan hệ xã hội và những hành vi hoạt động của con người do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm duy trì

sự ổn định và phát triển xã hội

* Ý nghĩa: quản lý nhà nước là 1 dạng quản lý xã hội đặc biệt Vì chỉ có các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền theo pháp luật quy định được thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với xã hội, được ban hành các VBQPPL để quản lý xã hội; quản lý nhà nước là sự quản lý đặc biệt, vì chỉ có nhà nước mới được ban hành các văn bản đặc biệt để quản lý xã hội; hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động điều chỉnh các giai tầng xã hội và các hành vi hoạt động của con người

* Quản lý hành chính nhà nước là sự tác động có tổ chức có điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với

xã hội, do các cơ quan trong hệ thống HP và HCNN thực hiện, để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của người nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao

Tính chất:

a- chính trị và pháp luật:

- Hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Do vậy, mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước phải phục tùng mục đích chính trị của Đảng, phục tùng chủ trương, đường lối chính sách của Đảng

- Trong mọi hoạt động, quản lý hành chính nhà nước đều phải chấp hành nghiêm chỉnh HP và PL

b- Tính chất dân chủ XHCN:

- Nhà nước ta là nhà nước XHCN

- Chế độ xã hội của nhà nước ta là chế độ XHCN, là 1 nhà nước thực hiện dân chủ, Vì: dân chủ với đại đa

số nhân dân lao động, không dân chủ đối với giai cấp thù địch, phản động, phản cách mạng

c- Tính khoa học:

Quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng là hoạt động khoa học hoặc còn gọi

là khoa học về quản lý hành chính nhà nước

Trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng là 1 hoạt động rất đa dạng, rất phức tạp toàn diện các hoạt động đời sống xã hội

d- Tính chất bao quát ngành và lĩnh vực:

Ngành: được hiểu là 1 ngành kinh tế kỹ thuật có điều kiện độc lập; lãnh vực được hiểu 1 lĩnh vực rộng lớn có liên quan đến nhiều ngành khác nhau

* CÁC ĐặC ĐIểM CƠ BảN CủA QUảN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯớC.

- Mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức rất cao, mệnh lệnh nhà nước mang tính đơn phương (tính quyền lực đặc biệt, là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ban hành ra các loại VBQPPL để quản lý xã hội) Tính tổ chức rất cao: cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương, cả nước phục tùng chính phủ

+ mệnh lệnh nhà nước mang tính đơn phương: xuất phát từ “quyền lực phục tùng”

- quản lý hành chính nhà nước có mục tiêu chiến lược, có chương trình xã hội để thực hiện mục tiêu trên.+ mục tiêu chiến lược: là cái đích cần đạt đến cho mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước là mục tiêu

đã định trước

+ chương trình: là 1 kế hoạch tổng hợp có hệ thống được dự kiến để thực hiện mục tiêu nào đó

- quản lý hành chính nhà nước có tính chủ động, sáng tạo linh hoạt

- quản lý hành chính nhà nước đảm bảo tính ổn định thường xuyên, liên tục

- quản lý hành chính nhà nước đảm bảo thứ bậc chặt chẻ

Trang 4/32

Trang 5

Câu 7: Luật TTHC và những nội dung cơ bản:

a) Khái niệm luật tố tụng hành chính:

Luật tố tụng hành chính ra đời do hu cầu bức xúc của xã hội Rõ ràng, cùng với các lĩnh vực khác, lĩnh vực giải quyết các tranh chấp về hành chính bằng thủ tục Toà án là rất quan trọng và rất cần thiết Chính vì vậy mà tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa IX ngày 28-10-1995 đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung luật tổ chức toà án nhân dân Nhiều văn bản liên quan đến vấn đề này đã được ban hành như luật khiếu nại tố cáo, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là hai trong số các văn bản quan trọng đó

Cũng như các ngành luật khác Luật tố tụng hành chính có đối tượng và phương pháp điều chỉnh của nó

- Đối tương điều chỉnh của luật tố tụng hành chính:

Đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng hành chính là các quan hệ xã hội phát sinh giữa các bên có liên quan trong quá trình toà án giải quyết vụ án hành chính (cơ quan, người tiến hành tố tụng, các bên tham gia tố tụng…)

- Phương pháp điều chỉnh của luật tố tụng hành chính :

Phương pháp điều chỉnh cơ bản của luật tố tụng hành chính là xác định địa vị pháp lý của các chủ thể trong quá trình tố tụng, (chủ thể tiến hành tố tụng, chủ thể tham gia tố tụng…), quy định điều kiện tố tụng, trình tự, thủ tục giải quyết vụ án…

- Định nghĩa, luật tố tụng hành chính: luật tố tụng hành chính là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp

luật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ

tố tụng hành chính giữa các chủ thể có liên quan trong quá trình giải quyết vụ án hành chính

b) Đặc điểm của luật tố tụng hành chính:

Luật tố tụng hành chính Việt Nam có những đặc điểm như sau:

- Một là: luật tố tụng hành chính Việt Nam qui định quá trình tài phán hành chính phải trải qua hai giai đoạn giai đoạn tiền tố tụng và giai đoạn tố tụng

+ Giai đoạn tiền tố tụng: Đây là giai đoạn tài phán hành chính được các cơ quan nhà nước thực hiện theo

qui định của pháp luật hành chính và thủ tục hành chính

+ Giai đoạn tố tụng: Là giai đoạn tài phán do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thực hiện theo qui định của pháp luật tố tụng hành chính

- Hai là: Tố tụng hành chính Việt Nam là tố tụng viện chứng cứ mà các bên nêu ra trong tố tụng hành chính được trao đổi công khai, các bên có nghĩa vụ chứng minh bằng văn bản

Quan hệ giữa các đương sự (bên bị khởi kiện và bên khởi kiện) trong vụ án hành chính là quan hệ bình đẳng theo qui định của pháp luật tố tụng chứ không phải là quan hệ “mệnh lệnh, phục tùng” bất bình đẳng Các đặc điểm trên được thể hiện rõ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Việt nam

3/ Nhiệm vụ của luật tố tụng hành chính:

Cũng như bất kỳ một ngành luật nào Luật tố tụng hành chính có những nhiệm vụ cụ thể của mình Những nhiệm vụ của luật tố tụng hành chính có thể được chia thành hai nhóm: các nhiệm vụ trực tiếp và các nhiệm

vụ gián tiếp Các nhiệm vụ gián tiếp của luật tố tụng hành chính bao gồm:

-Quy định thẩm quyền xét xử của các toà hánh chính các cấp: thành phần Hội đồng xét xử ở toà án mỗi cấp Quy định thành phần những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong từng giai đoạn của

tố tụng hành chính

Quy định trình tự, thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính

Quy định trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ; trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án hành chính

Quy định trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định của toà hành chính đối với các vụ án hành chính

Các nhiệm vụ gián tiếp của luật tố tụng hành chính bao gồm:

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế thông qua việc thực hiện các chức năng của mình

-Bảo đảm cho việc giải quyết các khiếu nại hành chính được đúng đắn kịp thời

-Bảo đảm cho việc thi hành các bản án, các quyết định của toà án về vụ án hành chính được nghiêm chỉnh,

có hiệu lực và hiệu quả

Trang 6

4/ Các giai đoạn của tố tụng hành chính:

Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức toà án, căn cứ pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án hành chính thành các giai đoạn sau đây:

a- Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính:

khi công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế thấy rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính cụ thể nào đó xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu toà án hành chính giải quyết Tuy nhiên, trước khi khởi kiện, cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức phải khiếu nại với cơ quan hành chính mà họ cho là trái pháp luật; trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì họ có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiếp của cơ quan nhà nước, người

đã ra quyết định hành chính hoặc có hành vi mà theo quy định của pháp luật có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đó hay khởi kiện vụ án hành chính tại toà án có thẩm quyền

c- Xét xử sơ thẩm:

Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật tố tụng kinh tế của nhà nước ta quy định về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm có khác nhau Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định thành phần của Hội đồng xét xử vụ án hành chính gồm một thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Quy định như vậy là phù hợp với quy định của Hiến pháp là toà án xét xử tập thể, có hội thẩm nhân dân tham gia đồng thời cũng tạo điều kiện để từng bước kiện toàn hoạt động của Tòa hành chính đang thiếu nhiều thẩm phán

d- xét lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm:

Pháp luật tố tụng nói chung, pháp luật tố tụng hành chính nói riêng đều có những quy định nhằm đảm bảo cho tòa án xét xử đúng Trách nhiệm của Tòa án là phải xét xử khách quan, vô tư và đúng pháp luật Mặt dù vậy cũng không loại trừ những trường hợp bản án vừa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không đáp ứng được những yêu cầu của pháp luật vì những lý do khác Để bảo vệ quyền lợi cho các đơn sự và kháng nghị của Viện kiểm sát để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm Xét lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm là một giai đoạn độc lập trong tố tụng hành chính Giai đoạn này có hiệu lực sửa chữa những sai lầm và vi phạm của tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm việc áp dụng pháp đúng đắn và thống nhất

e- Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm:

Đây là một giai đoạn đặc biệt trong tố tụng hành chính bao gồm giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Giai đoạn này nhằm bảo đảm quyền khiếu nại của đương sự và đặt trách nhiệm công tác giám đốc của tòa hành chính cấp trên đối với hành chính cấp dưới, công tác kiểm tra việc xét xử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Tòa hành chính Khoản 1 điều 67 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định: bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn

Trang 7

Câu 8: Những nguyên tắc cơ bản của Luật HC Việt nam:

Ba nguyên tắc:

- nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước

- nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

- nguyên tắc tập trung dân chủ

1- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước

Nhìn vào những thành quả cách mạng mà nhân dân ta giành được trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước, đặt biệt là những thành công đạt được trong công cuộc đổi mới hiện nay, chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý nhà nước là một tất yếu khách quan Chính vì vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của nhà nước nói chung, hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng được thừa nhận là một nguyên tắc cơ bản và được đặt lên hàng đầu trong quản lý hành chính nhà nước Điều 4, Hiến pháp 1992 đã khẳng định “Đảng cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,

là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”

Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện cụ thể ở các hình thức và phương pháp hoạt động của tổ chức Đảng.

Trước hết, Đảng lãnh đạo quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra những đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước Các vấn đề quan trọng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng đều cần phải có đường lối của các tổ chức Đảng có trách nhiệm Các nghị quyết của các cấp ủy Đảng đưa ra các phương hướng hoạt động cơ bản tạo cơ sở quan trọng để các chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền thể chế hóa thành các văn bản pháp luật thực hiện trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Điều 22, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã xác định “Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội …” Khi quyết định những vấn đề cụ thể khác nhau của hoạt động quản lý hành chính nhà nước như: ban hành quyết định quản lý, xây dựng các biện pháp thuộc về tổ chức, các biện pháp kinh tế … đường lối chủ trương chính sách của Đảng về những vấn đề có liên quan bao giờ cũng được xác định là cơ sở rất quan trọng để các chủ thể quản lý hành chính nhà nước xem xét và đưa ra các quyết định quản lý của mình.

Thứ hai, vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ Đây là công việc có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước Vì lẽ đó, Điều 4, Pháp lệnh cán bộ, công chức đã ghi nhận “công tác cán bộ, công chức đặt dưới dự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” …

Sự lãnh đạo của Đảng về công tác này thể hiện ở chỗ: các tổ chức Đảng đã bồi dưỡng, đào tạo những đảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực để gánh vác những nhiệm vụ trong bộ máy hành chính nhà nước Tổ chức Đảng có ý kiến về việc bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của cơ quan hành chính nhà nước Những ý kiến này có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác tổ chức cán bộ Tuy nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các

cơ quan nhà nước theo nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Ý kiến của Tổ chức Đảng là cơ sở để các cơ quan nhà nước xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng.

Trang 8

Thứ ba, Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước không chỉ bằng đường lối, chủ trương, chính sách, bằng công tác tổ chức cán bộ mà còn bằng hình thức kiểm tra Kiểm tra của các Tổ chức Đảng là kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Việc kiểm tra này nhằm đánh giá hiệu quả, tính thực tế của các chính sách mà Đảng đề ra, trên cơ sở đó khắc phục những khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo Điều này đảm bảo cho hoạt động của các Tổ chức Đảng có tính thông tin hai chiều Cũng chính thông qua công tác kiểm tra Đảng, các Tổ chức Đảng biết được tình hình thực hiện các chủ trương, chính sách do mình đề ra, trên cơ sở

đó có các biện pháp uốn nắn kịp thời nhằm làm cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước đi theo đúng định hướng phù hợp với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc Song ở đây cũng cần phân biệt một cách rõ ràng hoạt động kiểm tra của Đảng với hoạt động kiểm tra mang tính quyền lực nhà nước do các chủ thể có thẩm quyền được pháp luật quy định thực hiện Việc phân biệt này cho ta cách nhìn nhận đúng đắn về tính chất, nội dung, trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động kiểm tra của Đảng và kiểm tra của các cơ quan nhà nước Nếu mắc sai lầm đồng nhất hai loại hoạt động này với nhau sẽ làm cho chúng không thực sự phát huy được hiệu lực trong quản lý hành chính nhà nước.

Là nguyên tắc cơ bản đặt lên hàng đầu trong quản lý hành chính nhà nước nên việc nhận thức và vận dụng nguyên tắc này phải đúng đắn và thực sự khoa học Cần tránh nhận thức mơ

hồ về nguyên tắc này dẫn đến tình trạng lẫn lộn chức năng của các tổ chức Đảng với chức năng của các cơ quan nhà nước Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước nhưng không bao biện làm thay đổi cơ quan nhà nước Hoạt động lãnh đạo của Đảng không đồng nghĩa với ý chí quyền lực nhà nước Một mặt không tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước, đồng thời cũng cần khắc phục khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cần vận dụng một cách khoa học và sáng tạo cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Trang 8/32

Trang 9

Câu 8-1:Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

Điều 2, Hiến pháp 1992 nêu rõ: nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Để nhân dân lao động thực sự giữ vai trò là người làm chủ đất nước, việc tạo mọi điều kiện

để nhân dân lao động tham gia vào quản lý hành chính nhà nước phải được ghi nhận và đảm bảo thực hiện như là một nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước Điều 3, Hiến pháp 1992 khẳng định “nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân” Quyền được tham gia vào quản lý các công việc của nhà nước và xã hội là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận và trên thực tế nó đã được bảo đảm thực hiện thông qua hàng loạt những hoạt động cụ thể.

Nguyên tắc này là 1 nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước Một mặt

nó khẳng định vai trò đặt biệt quan trọng của nhân dân lao động trong quản lý hành chính nhà nước, đúng như nguyên lý “nhân dân là gốc của quyền lực nhà nước” một nguyên lý thực sự khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã vạch ra và được thực tiễn lịch sử chứng minh Mặt khác

nó cũng xác định những nhiệm vụ mà nhà nước phải thực hiện trong việc đảm bảo những điều kiện cơ bản để nhân dân lao động được tham gia quản lý hành chính nhà nước Trong quản lý hành chính nhà nước, nguyên tắc này được biểu hiện cụ thể ở những hình thức tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động Đây là hình thức được ghi nhận trong pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng các phương tiện của nhà nước Các hình thức tham gia vào quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động bao gồm:

a- tham gia vào hoạt động của cơ quan nhà nước:

các cơ quan trong bộ máy nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước Vì vậy tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước là hình thức tham gia tích cực, trực tiếp và

có hiệu quả nhất của người lao động vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước Người lao động nếu trực tiếp đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy định đều có thể tham gia vào hoạt động các cơ quan nhà nước để trực tiếp hay gián tiếp thực hiện công việc quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

Trước hết, người lao động có thể tham gia vào cơ quan quyền lực nhà nước với tư cách là các thành viên của cơ quan này – những đại biểu được lựa chọn thông qua con đường bầu cử Ở cương vị này, người lao động trực tiếp xen xét và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, của từng địa phương, trong đó có các vấn đề quản lý hành chính nhà nước.

Bên cạnh đó, nhân dân lao động có thể tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước khác (cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan kiểm soát, cơ quan xét xử) với tư cách là những cán bộ, công chức Là cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước, nhân dân lao động sẽ sử dụng một cách trực tiếp quyền lực nhà nước để tiến hành những công việc khác nhau của quản lý hành chính nhà nước, thể hiện vai trò làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội của mình.

Ngoài ra, những người lao động có thể gián tiếp tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương Đây là cách thức rộng rãi nhất

để nhân dân lao động có thể tham gia vào quản lý các công việc của nhà nước.

b- Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội:

Trang 10

Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động có thể tham gia một cách tích cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội Các văn bản pháp luật của nhà nước có hàng loạt các quy định liên quan tới vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội trong quản

lý hành chính nhà nước nói riêng và quản lý nhà nước nói chung Điều 9, Hiến pháp 1992 khẳng định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”.

c- tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở:

Ở nơi cư trú, sinh hoạt, làm việc, nhân dân lao động thường xuyên thực hiện các hoạt động mang tính chất tự quản Đây là những hoạt động do chính nhân dân lao động tự thực hiện và chúng có mối liên quan chặt chẽ với các công việc khác nhau của quản lý nhà nước, quản lý

xã hội Trên thực tế, các hoạt động này được tiến hành một cách có hiệu quả bởi lẽ chúng rất gần gũi và thiết thực đối với cuộc sống của mỗi người dân như: hoạt động bảo vệ an ninh trật

tự, vệ sinh môi trường, tổ chức đời sống công cộng …

d- Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước:

Điều 53 Hiến pháp 1992 đã quy định công dân có quyền “tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” Để thực hiện quyền cơ bản này của công dân, pháp luật đã quy định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước Các quyền, nghĩa vụ này của công dân có thể thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội (như đã nêu ở phần trên) hoặc cũng có thể được chính người dân trực tiếp thực hiện.

Trang 10/32

Trang 11

Câu 8-2: Nguyên tắc tập trung dân chủ:

Tập trung - dân chủ là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta cho nên việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước lẽ tất nhiên cũng phải tuân thủ nguyên tắc này Nguyên tắc tập trung dân chủ được quy định cụ thể trong điều 6, Hiến pháp

1992 “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác nhau của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ” Nguyên tắc này bao hàm sự kết hợp giữa 2 yếu

tố tập trung và dân chủ; vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung Tập trung

là thâu tóm quyền lực nhà nước vào chủ thể quản lý để điều hành, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật Dân chủ là việc mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động quản lý, phát huy khả năng tiềm tang của đối tượng quản lý trong quá trình thực hiện pháp luật Cả 2 yếu tố này phải có sự phối hợp một cách đồng bộ, chặt chẽ với nhau, chúng có mối quan hệ qua lại phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý hành chính nhà nước Nếu chỉ có sự lãnh đạo tập trung mà không mở rộng dân chủ thì sẽ tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm quyền của công dân, cho các tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng phát triển Ngược lại, nếu không có sự lãnh đạo tập trung thống nhất, sự phát triển của xã hội sẽ trở thành tự phát Lực lượng dân chủ sẽ bị phân tán, không đủ sức chống lại các thế lực phản động, phản dân chủ Điều này sẽ làm nảy sinh tình trạng tùy tiện, vô chính phủ, cục bộ địa phương Trong điều kiện hiện nay sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ là một yêu cầu khách quan của “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý nhà nước, theo định hướng XHCN” (Điều 15, Hiến pháp 1992) Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện ở những điểm sau:

a- Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp:

Hiến pháp của nhà nước ta đã xác định nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Người dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước do chính họ bầu ra để thay mặt họ trực tiếp thực hiện những quyền lực đó Điều 6, Hiến pháp 1992 đã quy định “nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.

Để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước của nhân dân trên các lĩnh vực đời sống của xã hội, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương được thành lập Trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước luôn có sự phụ thuộc vào

cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.

Trước hết, cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, sáp nhập hay giải thể các cơ quan hành chính nhà nước ở cùng cấp.Ở trung ương, Quốc hội thành lập ra Chính phủ và trao cho nó quyền hành pháp Ở địa phương, các UBND do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở địa phương Các cơ quan khác trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (như Bộ, cơ quan ngang Bộ …) đều do các cơ quan quyền lực nhà nước ở cùng cấp trực tiếp hay gián tiếp quyết định việc thành lập, thay đổi hay bãi bỏ Trong hoạt động các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp Tất cả sự phụ thuộc nêu trên đều nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà

Trang 11/32

Trang 12

nước phù hợp với ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động Đồng thời, đó chính việc đảm bảo cho sự tập trung quyền lực vào hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước – cơ quan

do dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

b- Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với trung ương:

Sự phục tùng này đảm cho cấp trên và trung ương tập trung quyền lực để chỉ đạo, giám sát hoạt động của cấp dưới và của địa phương Thiếu sự phục tùng đó sẽ dẫn đến việc buông lỏng

sự lãnh đạo, sự quản lý tập trung của trung ương và cấp trên, làm nảy sinh tình trạng tùy tiện,

vô chính phủ, cục bộ địa phương Sự phục tùng này trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện ở cả 2 phương diện tổ chức và hoạt động Tất cả các yêu cầu, mệnh lệnh do cấp trên và trung ương đưa ra cấp dưới và địa phương có nghĩa vụ phải thực hiện.

c- Sự phân cấp quản lý:

Phân cấp quản lý là sự phân định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước Khi tiến hành phân cấp quản lý, đã có sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới nhằm đạt được một cách có hiệu quả nhất mục tiêu chung của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Mỗi cấp quản lý có những mục tiêu, nhiệm vụ, thẩm quyền và có những phương tiện cần thiết để thực hiện một cách tốt nhất những mục tiêu nhiệm vụ của cấp mình Trong phạm vi thẩm quyền được giao mỗi cấp quản lý, được phép tiến hành những hoạt động nhất định nhằm phát huy tính năng động sáng tạo của mình.

d- Sự hướng về cơ sở:

Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất, trực tiếp phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của người lao động Do vậy, trách nhiệm của mọi cơ quan nhà nước là phải tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh tế, văn hóa – xã hội hoàn thành tốt công việc của mình.

e- Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương:

Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều hay còn gọi là nguyên tắc song trùng trực thuộc Sự phụ thuộc này thể hiện ở cả hai mặt tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Sự phụ thuộc này được nhà nước xác định một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật Ở địa phương, UBND các cấp trước hết có sự phụ thuộc vào HĐND cùng cấp (mối phụ thuộc ngang) Đồng thời, chúng còn có sự phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp trên trực tiếp (mối phụ thuộc dọc).

Trang 12/32

Trang 13

Câu 9: Hình thức quản lý hành chính Nhà Nước

ĐN: Hình thức quản lý hành chính nhà nước là những hình thức biểu hiện bên ngoài của hoạt động chấp

hành, điều hành các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước thực hiện, như: ban hành các văn bản quản lý,

áp dụng các biện pháp tổ chức trực tiếp …

*các hình thức quản lý hành chính nhà nước:

a- Hoạt động ban hành văn bản QPPL:

đây là hình thức pháp lý của hoạt động chấp hành điều hành của cơ quan hành chính nhà nước Nó dựa trên chức năng cơ bản của cơ quan hành chính nhà nước Luật thường chỉ quy định những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội, không quy định chi tiết việc điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể Vì vậy trong quá trình thực hiện cần phải có những văn bản quản lý quy định chi tiết những vấn đề mà luật chưa quy định hoặc quy định chưa cụ thể Những văn bản này đảm bảo việc chấp hành luật bằng cách bổ sung những quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa, chi tiết hóa những quy phạm của luật, làm cơ sở cần thiết để các đối tượng quản lý có liên quan thực hiện luật một cách đầy đủ và đạt hiệu quả cao

Trong các văn bản quy phạm pháp luật của mình, các cơ quan hành chính nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chấp hành, điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước được gọi là hoạt động xây dựng pháp luật, còn được gọi là hoạt động lập quy

b- Hoạt động ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hành chính:

Đây là hình thức hoạt động chủ yếu của các cơ quan hành chính nhà nước Thông qua hình thức này các

cơ quan có thẩm quyền áp dụng quy phạm pháp luật hiện hành của nhà nước để giải quyết những công việc cụ thể Những hoạt động này trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể Ví dụ: việc ra quyết định bổ nhiệm, thuyên chuyển công tác, bãi miễn viên chức nhà nước là những hoạt động ban hành văn bản áp dụng pháp luật trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật giữa nhà nước và người lao động

c- Áp dụng các biện pháp tổ chức trực tiếp:

Trang 13/32

Trang 14

Nội dung những hình thức hoạt động này không mang tính chất quyền lực nhà nước, không có tính chất bắt buộc cứng rắn như các hình thức ban hành văn bản quản lý.

Những hoạt động mang tính chất tổ chức trực tiếp này rất đa dạng Chúng thường xuyên được sử dụng và có vai trò rất quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước Thông qua các hoạt động đó, các chủ thể của quản

lý hành chính nhà nước kiểm tra, hướng dẫn các đối tượng quản lý trong việc thực hiện pháp luật, cung cấp thông tin, tư liệu tuyên truyền, giải thích pháp luật, tổng kết kinh nghiệm công tác thực hiện pháp luật

d- Những hoạt động mang tính chất pháp lý khác như:

Cấp văn bằng, chứng chỉ, lập biên bản vi phạm, thu tiền phạt, …cũng là những hình thức quản lý hành chính nhà nước Chúng có thể trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính

cụ thể Chúng được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thông thường các hoạt động này gắn chặt với các hoạt động ban hành các văn bản quản lý hành chính nhà nước Ví dụ: hoạt động lập biên bản về

vi phạm hành chính của cấp có thẩm quyền đã tạo cơ sở cần thiết cho việc ra quyết định xử phạt đối với người

vi phạm; quyết định xử phạt sẽ dẫn đến việc vào sổ, thu tiền phạt, …

Câu 10: Các phương pháp cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước:

Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đã đặt ra theo kế hoạch định trước.

1- Phương pháp thuyết phục:

Thuyết phục là phương pháp quản lý bao gồm một loạt những hoạt động như giải thích, hướng dẫn, động viên, khuyến khích, trình bày, chứng minh, để đảm bảo sự cộng tác, tuân thủ hay phục tùng tự giác của đối tượng quản lý nhằm đạt được một kết quả nhất định Trong chủ nghĩa xã hội, lợi ích của nhân dân lao động, của tập thể và của nhà nước về cơ bản là nhất trí với nhau Sự thống nhất ấy thuộc bản chất dân chủ của nhà nước xã hội chủ nghĩa Do đó, mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhân dân là cơ sở để thực hiện phương pháp thuyết phục.

Thông qua phương pháp này, các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước, chủ yếu là các cơ quan hành chính giáo dục chính trị, tư tưởng cho mọi công dân, đặt biệt là công nhân viên chức, ý thức đúng đắn về trật tự kỷ cương xã hội, kỷ luật nhà nước trên cơ sở am hiểu đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của nhà nước Các tổ chức xã hội là chỗ vựa vững chắc, chủ yếu của các cơ quan hành chánh nhà nước trong việc nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa của công dân, trong việc mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa.

2- Phương pháp cưỡng chế nhà nước:

Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một cá nhân hay tổ chức nhất định về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc cá nhân hay tổ chức đó thực hiện những hành vi nhất định do pháp luật quy định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể của cá nhân đó.

Trang 14/32

Trang 15

Phương pháp cưỡng chế đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa Nếu không có cưỡng chế nhà nước thì kỷ luật nhà nước sẽ bị lung lay, pháp chế xã hội chủ nghĩa không được tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tệ nạn xã hội phát triển và kẻ thù giai cấp, kẻ thù dân tộc hoạt động chống phá nhà nước Nếu chỉ có cưỡng chế mà không

có thuyết phục thì hoạt động quản lý nhà nước sẽ không có hiệu quả, không động viên được

sự chấp hành pháp luật của nhân dân Và như vậy, việc thực hiện phương pháp quản lý sẽ trái với bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Cưỡng chế của nhà nước xã hội chủ nghĩa là biện pháp của đa số đối với thiểu số và được áp dụng trong giới hạn do pháp luật quy định một cách chặt chẽ.

Có 4 loại cưỡng chế nhà nước:

- Cưỡng chế hình sự: là biện pháp cưỡng chế nhà nước được các cơ quan tư pháp (cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử) áp dụng đối xử với những người có hành vi phạm tội, tòa án sẽ căn

cứ vào các quy định của pháp luật, vào mức độ tội lỗi của các bị cáo để giải quyết hình phạt, tức là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Cưỡng chế dân sự: là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với

cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm các quy phạm pháp luật dân sự, gây thiệt hại cho nhà nước, tập thể hoặc công dân Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định mức bồi thường dân

sự, tức là truy cứu trách nhiệm dân sự đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm đó.

- Cưỡng chế kỷ luật: là biện pháp cưỡng chế nhà nước do cơ quan nhà nước áp dụng đối với công nhân viên chức có hành vi vi phạm kỷ luật lao động trong nội bộ cơ quan, không gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với trật tự xã hội.

- Cưỡng chế hành chính: là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan hành chính nhà nước và trong những trường hợp nhất định thì do Tòa án nhân dân, quyết định đối với cá nhân hay tổ chức đã có hành vi vi phạm hành chính, nhằm ngăn ngừa những vi phạm có thể xảy ra hay ngăn chặn những thiệt hại do thiên tai, địch họa gây ra.

Cưỡng chế hành chính có 4 nhóm: các biện pháp phòng ngừa hành chính, các biện pháp ngăn chặn hành chính, các biện pháp xử lý phạt hành chính, và các biện pháp xử lý hành chính khác.

3- Phương pháp hành chính:

Đây là phương pháp ra chỉ thị từ cấp trên xuống, nghĩa là ra những quyết định bắt buộc đối với các đối tượng quản lý Nếu đối tượng quản lý không tuân thủ sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật Phương pháp này bao hàm cả hai nhân tố: thuyết phục và cưỡng chế Nó dực trên nguyên tắc tập trung dân chủ, vừa thể hiện hoạt động chỉ đạo, điều hành đối với các đối tượng quản lý vừa tạo ra những điều kiện cần thiết, tối thiểu cho đối tượng quản lý để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ.

4- Phương pháp kinh tế trong quản lý hành chính:

Đây là biện pháp dung đòn bẩy kinh tế, nhằm động viên cá nhân, tập thể tích cực lao động sản xuất, phát huy tài năng sáng tạo, hoàn thành nhiệm vụ được giao với năng suất chất lượng hiệu quả cao, bảo đảm kết hợp chặt chẽ lợi ích chung của xã hội và lợi ích riêng của người lao động.

Ở phương pháp quản lý này, yếu tố lãnh đạo đơn thuần bằng chỉ thị không phải là yếu tố chính Hoạt động quản lý được thực hiện trên cơ sở trách nhiệm vật chất của đối tượng quản lý.

Trang 15/32

Trang 16

Việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế có tác dụng tạo những điều kiện kinh tế cho hoạt động có hiệu quả của các đối tượng quản lý, làm cho họ phát huy và khai thác hợp lý nhất là tài năng của họ nhất là các điều kiện thiên nhiên và tài nguyên sẵn có Giữa phương pháp quản lý hành chính và phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước không có sự đối lập nhau, nhà nước xã hội chủ nghĩa sử dụng cả hai phương pháp đó không chỉ trong lĩnh vực quản lý kinh tế mà cả trong các lĩnh vực khác như: văn hóa, xã hội, … Mặt khác, cả hai phương pháp này đều được hình thành do sự kết hợp giữa thuyết phục và cưỡng chế trong quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa, đều do các cơ quan quản lý hành chính nhà nước sử dụng trên cơ sở pháp luật, chúng được thực hiện thông qua việc thực hiện quy phạm pháp luật, nhất là các quy phạm pháp luật hành chính.

Trang 16/32

Ngày đăng: 03/08/2016, 07:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w