1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh

99 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 868,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Đây là một loại doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất - kinh doanh nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối sản phẩm xã hội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Hoạt động tín dụng là một hoạt động chủ chốt và vô cùng quan trọng trong hoạt động của bất kì NHTM nào. Đây là nghiệp vụ tạo ra lợi nhuận cao nhất. Nhưng đây cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Có vô số các rủi ro khác nhau khi cho vay, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đến việc không thanh toán được nợ khi đến hạn làm cho Ngân hàng bị phá sản gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển như nước ta hiện nay, đầu tư dự án càng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hoạt động tín dụng.Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao hạn chế được rủi ro cho hoạt động này. Để có những khoản tín dụng đầu tư vào dự án tốt thì những dự án này phải đảm bảo chất lượng, tức là phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án. Kết quả thẩm định cho ta thấy được tính khả thi và hiệu quả tài chính của dự án. Làm tốt công tác thẩm định sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng, đảm bảo việc sử dụng vốn vay có hiệu quả và khả năng thu hồi vốn đầu tư, giảm rủi ro cho Ngân hàng. Chính vì vậy, vai trò to lớn của công tác thẩm định dự án đầu tư, đặc biệt là thẩm định tài chính dự án đầu tư là không thể phủ nhận được. Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng hiện nay, trải qua thời gian nghiên cứu, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên cứu Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về thẩm định tài chính dự án đầu tư, chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư; phân tích đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại NHNo&PTNT Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận nội dung chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư. Bên cạnh đó, đề tài đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh từ năm 2012 đến năm 2014. Trên cơ sở đó đánh giá mặt được và mặt hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng, cũng như sự quan trọng của việc nâng cao hiệu quả chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được dùng trong luận văn là phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp điều tra, thống kê, tổng hợp, phân tích so sánh… 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 03 chương: Chương 1: Lý luận cơ bản về chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh.

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứuđược trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trìnhnào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Hoan

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 4

1.1.1 Ngân hàng thương mại 4

1.1.2 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 5

1.1.3 Các hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 6

1.2 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 8

1.2.1 Vai trò của thẩm định tài chính dự án đầu tư 8

1.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư 10

1.2.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 19

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính DAĐT trong hoạt động cho vay của NHTM 22

1.3.1 Các nhân tố chủ quan 22

1.3.2.Nhân tố khách quan 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH 33

Trang 5

2.1 Hệ thống tổ chức và hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam, những đặc

trưng về tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam 33

2.1.1 Hệ thống tổ chức và hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam 33

2.1.2 Những đặc trưng về tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam 35

2.2 Khái quát về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 36

2.2.1 Quá trình hình thành phát triển 36

2.2.2 Cơ cấu tổ chức 37

2.2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh 40

2.3.Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 47

2.3.1 Thực trạng cho vay dự án tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 47

2.3.2 Phân tích chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 56

2.2 Đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 57 2.2.1 Kết quả đạt được 57

2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NHNo&PTNT VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH 68

3.1 Định hướng phát triển của NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 68

3.1.1 Định hướng phát triển chung 68

3.1.2 Định hướng hoạt động cho vay 69

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính DAĐT trong hoạt động

Trang 6

cho vay tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 70

3.2.1 Nâng cao chất lượng và đảm bảo số lượng đội ngũ cán bộ tham gia côngtác thẩm định 703.2.2 Đa dạng hóa các nguồn thông tin, nâng cao chất lượng công tác thu thập

và xử lý thông tin 733.2.3 Hoàn thiện nội dung và phương pháp thẩm định tài chính DAĐT 763.2.4 Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn công tác thẩm định dự án vàthẩm định tài chính DAĐT 813.2.5 Chuyên môn hóa trong tổ chức hoạt động thẩm định DAĐT 82

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay 83

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan 833.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại 853.3.3 Đối với chủ đầu tư (khách hàng vay vốn) 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN 89

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DIỄN GIẢI

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ

SƠ ĐỒ:

Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định tài chính dự án 26

Sơ đồ 2.1: Hệ thống cơ cấu tổ chức tại NHNo&PTNT Việt Nam 34

Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức của NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 39

BẢNG: Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu về huy động vốn giai đoạn 2012 - 2014 40

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu về dư nợ tín dụng giai đoạn 2012-2014 42

Bảng 2.3: Phân loại nợ, trích lập dự phòng và thu hồi nợ đã xử lý rủi ro: 44

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động dịch vụ 45

Bảng 2.5: Kết quả kinh doanh giai đoạn 2012-2014 46

Bảng 2.6: Dư nợ cho vay theo dự án 47

Bảng 2.7: Dư nợ cho vay dự án qua các năm theo nhóm nợ 48

Bảng 2.8: Tổng mức vốn đầu tư dự án 51

Bảng 2.9 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho dự án 52

BIỂU ĐỒ: Biểu đồ 2.1: Tổng nguồn vốn huy động từ năm 2012 - 2014 40

Biểu đồ 2.2: Tổng dư nợ từ năm 2012 - 2014 43

Biểu đồ 2.3: Dư nợ theo loại tiền cho vay 43

Biểu đồ 2.4: Dư nợ xét theo thời hạn cho vay 44

Trang 9

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Đây là một loại doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất - kinh doanh nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối sản phẩm xã hội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế.

Hoạt động tín dụng là một hoạt động chủ chốt và vô cùng quan trọng trong hoạt động của bất kì NHTM nào Đây là nghiệp vụ tạo ra lợi nhuận cao nhất Nhưng đây cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất Có vô số các rủi ro khác nhau khi cho vay, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đến việc không thanh toán được nợ khi đến hạn làm cho Ngân hàng bị phá sản gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế

Trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển như nước ta hiện nay, đầu

tư dự án càng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hoạt động tín dụng.Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao hạn chế được rủi ro cho hoạt động này.

Để có những khoản tín dụng đầu tư vào dự án tốt thì những dự án này phải đảm bảo chất lượng, tức là phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án Kết quả thẩm định cho ta thấy được tính khả thi và hiệu quả tài chính của dự án Làm tốt công tác thẩm định sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng, đảm bảo việc sử dụng vốn vay có hiệu quả và khả năng thu hồi vốn đầu tư, giảm rủi ro cho Ngân hàng Chính vì vậy, vai trò to lớn của công tác thẩm định dự án đầu tư, đặc biệt là thẩm định tài chính dự án đầu tư là không thể phủ nhận được Xuất

Trang 10

phát từ quan điểm đó và thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư

tại ngân hàng hiện nay, trải qua thời gian nghiên cứu, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về thẩm định tài chính dự án đầu tư, chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư; phân tích đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại NHNo&PTNT Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận nội dung chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư Bên cạnh đó, đề tài đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp

và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh từ năm 2012 đến năm 2014 Trên cơ sở đó đánh giá mặt được và mặt hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng, cũng như sự quan trọng của việc nâng cao hiệu quả chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng.

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được dùng trong luận văn là phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp điều tra, thống kê, tổng hợp, phân tích so sánh…

5 Kết cấu của luận văn

Trang 11

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 03 chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu

tư tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh.

Trang 12

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH

DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

1.1.1 Ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh

tế, có lịch sử hình thành và phát triển gắn với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng, đếnlượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy nềnkinh tế phát triển Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thươngmại thông qua chức năng, các dịch vụ và vai trò mà ngân hàng thực hiện trong nềnkinh tế Một trong những cách tiếp cận thận trọng nhất có thể xem xét là trênphương diện những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, theo đó “Ngân hàng là loạihình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất –đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năngtài chính nhất so với bất cứ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” – Trích

Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội (2004)

Lịch sử phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam còn khá non trẻ so với lịch

sử hình thành và phát triển của các ngân hàng trên thế giới Tổ chức tín dụng đầutiên tại Việt Nam được ra đời năm 1951 (là tiền thân của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam hiện nay) với chức năng chính là huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, cơquan đoàn thể, tổ chức kinh tế và dân cư để cho vay Ngân hàng Nhà nước vừa là cơquan quản lý về tiền tệ vừa là tổ chức kinh doanh phi lợi nhuận nhằm thực hiện cácmục tiêu trong thời kỳ chiến tranh Do hoàn cảnh lịch sử, phải đến năm 1990 khiPháp lệnh ngân hàng được ban hành thì các tổ chức tín dụng tại Việt Nam mới bướcvào giai đoạn phát triển Đến nay, tại Việt Nam có rất nhiều tổ chức tín dụng đang

Trang 13

hoạt động gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liêndoanh Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (số 47/2010/QH12, có hiệu lực từ ngày01/01/2011) định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thựchiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quyđịnh của Luật tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”

1.1.2 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại

Với chức năng là một trung gian tài chính, trung gian thanh toán trong nềnkinh tế, ngân hàng thương mại có các hoạt động có bản sau:

- Hoạt động huy động vốn: nguồn vốn huy động của ngân hàng là từ tiền gửi

của các tổ chức và dân cư trong nền kinh tế, do đó, hoạt động huy động vốn củangân hàng thương mại chính là việc ngân hàng nhận tiền gửi của các tổ chức, cánhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm,phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửikhác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏathuận Nguồn vốn chủ sở hữu ngân hàng thường chỉ chiếm một tỷ lệ nhất định trongquy mô nguồn vốn của ngân hàng, để đảm bảo lượng vốn cần thiết cho hoạt động,ngân hàng phải thường xuyên thực hiện huy động vốn trong nền kinh tế

- Hoạt động sử dụng vốn: được hiểu bao gồm hoạt động cấp tín dụng và đầu

tư của ngân hàng Cấp tín dụng là việc ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử

dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyêntắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, leasing, bao thanh toán, bảolãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác Đầu tư là việc ngân hàng bỏvốn vào các hoạt động sinh lời như mua trái phiếu kho bạc, duy trì tiền gửi tại các tổchức tín dụng khác, góp vốn thành lập công ty con,… để đem lại cho ngân hàng mộtlợi ích kỳ vọng nhất định trong tương lai Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàngthương mại phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt về quản lý, kiểm soát rủi rocủa Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt đối với hoạt động cấp tín dụng

- Hoạt động trung gian thanh toán: được thể hiện thông qua việc cung ứng

phương tiện thanh toán và các dịch vụ thanh toán qua tài khoản Cùng với sự phát

Trang 14

triển của nền kinh tế và sự gia tăng các nhu cầu của con người, các dịch vụ thanhtoán ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng, như thực hiện dịch vụ thanh toán séc,lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và cácdịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng

Bên cạnh các dịch vụ cho vay, thanh toán cơ bản, ngân hàng thương mạingày nay còn cung cấp rất nhiều dịch vụ hiện đại như dịch vụ bảo quản tài sản hộ,dịch vụ ủy thác và tư vấn, dịch bảo hiểm, dịch vụ đại lý, dịch vụ môi giới đầu tưchứng khoán… đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và đòi hỏi của quá trìnhphát triển

1.1.3 Các hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kếtgiao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong mộtthời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” –Trích Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (số 47/2010/QH12, có hiệu lực từ ngày01/01/2011)

Cùng với sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng hiện đại, các loại hình chovay của Ngân hàng thương mại cũng ngày càng đa dạng và đáp ứng tốt hơn các nhucầu của khách hàng

- Theo thời hạn của khoản vay, các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại được chia thành:

+ Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng + Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến

60 tháng

+ Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng

- Theo phương thức bảo đảm cho khoản vay, các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại được chia thành: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay

không có bảo đảm bằng tài sản

- Theo mục đích cho vay, các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại được chia thành:

Trang 15

+ Cho vay thương mại: thường là các khoản vay ngắn hạn, phục vụ nhu cầu

bổ sung vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng

+ Cho vay tiêu dùng: đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộgia đình

+ Cho vay theo dự án: cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự ánđầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương ánphục vụ đời sống

Cùng với nhu cầu đầu tư phát triển gia tăng, cho vay theo dự án đang dần trởthành một trong những hình thức cho vay phổ biến của các ngân hàng thương mại

Cho vay theo dự án mang những đặc trưng cơ bản sau:

+ Thời gian cho vay vốn dài: các DAĐT có thời gian sử dụng vốn vay dài docần có thời gian cho việc hình thành các tài sản cố định và thời gian để tài sản cốđịnh đó tạo ra đủ nguồn thu bù đắp chi phí đầu tư ban đầu Vì vậy, cho vay theo dự

án thuộc loại hình cho vay trung dài hạn của ngân hàng

+ Số tiền cho vay lớn: các DAĐT mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị,xây dựng cơ sở hạ tầng… của khách hàng thường có nhu cầu vốn lớn Có nhữngDAĐT nhu cầu vốn vượt quá khả năng đáp ứng của một ngân hàng, đòi hỏi nhiềungân hàng cùng tham gia tài trợ

+ Mức sinh lời cao, rủi ro lớn: nguyên nhân cơ bản do thời gian thực hiện dự

án kéo dài, khiến cho dự án chịu tác động từ nhiều yếu tố thị trường, pháp luật và tựnhiên, trong trường hợp biến động bất lợi thì ngân hàng khó có thể bảo toàn đượcvốn Để đáp ứng nhu cầu vốn cho các cam kết dài hạn, ngân hàng cũng phải chấpnhận nhiều rủi ro hơn khi cân đối nguồn vốn huy động Vì vậy, ngân hàng thường

áp dụng mức lãi suất cho vay đối với dự án trung dài hạn cao hơn so với các dự ánvay vốn ngắn hạn Điều này đồng nghĩa với việc, cho vay theo dự án là hoạt độngmang lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng

Hiện nay, cùng với nhu cầu đầu tư phát triển của nền kinh tế, ngày càngnhiều các DAĐT có quy mô lớn có nhu cầu vay vốn ngân hàng, đây là cơ hội chonhững ngân hàng có đủ tiềm lực tiếp tục mở rộng phát triển thị trường tín dụng

Trang 16

1.2 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

1.2.1 Vai trò của thẩm định tài chính dự án đầu tư

Đặc trưng cơ bản của hoạt động cho vay theo dự án là tiềm ẩn nhiều rủi ro,mức độ rủi ro này phụ thuộc vào các yếu tố như: thời gian thực hiện dự án, quy mô

dự án, mục đích dự án, năng lực chủ đầu tư, các nguồn vốn tài trợ dự án Trong khi

đó, hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại phải chịu sự quản lý giám sát

chặt chẽ của hệ thống quy định pháp luật, phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản là “hoàn

trả cả gốc và lãi” đúng hạn, đồng thời đạt mục tiêu sinh lợi cho ngân hàng Do đó,

yêu cầu đặt ra đối với Ngân hàng thương mại là làm thế nào để lựa chọn đượcphương án khả thi nhất trong các nhu cầu vay vốn của khách hàng, hạn chế tối đacác rủi ro đối với ngân hàng

Để đáp ứng yêu cầu này, trước khi đưa ra quyết định tài trợ vốn cho dự án,các Ngân hàng thương mại phải tổ chức thẩm định dự án đầu tư để có thể đánh giá

tính khả thi và hiệu quả của dự án Thẩm định dự án đầu tư chính là việc tổ chức,

xem xét một cách khách quan, có cơ sở khoa học và toàn diện các nội dung cơ bảncủa dự án, nhằm khẳng định tính hiệu quả và tính khả thi của dự án, từ đó, ra quyếtđịnh về đầu tư và cho phép đầu tư Thẩm định DAĐT đòi hỏi phải xem xét dự ántrên tất cả các khía cạnh: tính pháp lý của dự án; thị trường của dự án; giải pháp kỹthuật, công nghệ của dự án; tài chính dự án; tài sản bảo đảm tiền vay; các rủi ro liênquan tới dự án Do đó, thẩm định DAĐT đòi hỏi những điều kiện nhất định về thờigian và nguồn lực thẩm định Kết quả của việc thẩm định DAĐT là phải đưa ra kếtluận về tính khả thi hay không khả thi của dự án

Thẩm định tài chính DAĐT là một nội dung, một khâu trong quy trình thẩm

định dự án đầu tư, đó là việc rà soát, đánh giá một cách khách quan, có cơ sở khoahọc và toàn diện các nội dung cơ bản của dự án trên khía cạnh tài chính, từ đó, đưa

ra kết luận về tính khả thi và hiệu quả tài chính của dự án, là cơ sở quyết định đầutư/tài trợ vốn cho dự án Thẩm định tài chính DAĐT trong hoạt động của NHTM làviệc ngân hàng tổ chức thẩm định tài chính dự án trên quan điểm của ngân hàng,làm cơ sở đưa ra kết luận cho vay hay không đối với dự án đó

Trang 17

Thẩm định tài chính DAĐT là cần thiết và đóng vai trò đặc biệt quan trọngtrong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

Thứ nhất, các dự án đầu tư xin vay vốn thường rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh

vực với quy mô và tính chất khác nhau Trong điều kiện và khả năng có hạn, ngânhàng khó có thể thẩm định chi tiết tất cả các khía cạnh, do đó, ngân hàng chủ yếutập trung vào khía cạnh tài chính – đây là thế mạnh, phù hợp với chuyên mônnghiệp vụ của ngân hàng

Thứ hai, thẩm định tài chính DAĐT giúp ngân hàng đánh giá được hiệu quả

tài chính của dự án trên quan điểm của người tài trợ vốn, từ đó lựa chọn được các

cơ hội đầu tư tốt, có khả năng thu hồi vốn cao, hạn chế rủi ro phát sinh Một dự ánđầu tư dù được tiến hành soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu cũng vẫn mang tính chủ quancủa người soạn thảo Dự án do chủ đầu tư lập hoặc thuê đơn vị tư vấn lập dự ánnhìn chung đều dựa trên ý đồ kinh doanh và ý muốn chủ quan của chủ đầu tư Trênquan điểm của chủ đầu tư thì dự án của họ bao giờ cũng khả thi, có hiệu quả về mặttài chính và họ mong muốn được ngân hàng cho vay, do đó, có thể chủ đầu tư chưaxem xét và đánh giá đầy đủ về các rủi ro liên quan trong quá trình thực hiện dự án

Để đảm bảo an toàn vốn và sinh lời, trước khi đưa ra quyết định tài trợ, ngân hàngphải xem xét, đánh giá lại tính khả thi và hiệu quả tài chính của dự án Thông quathẩm định tài chính dự án, ngân hàng có thể lựa chọn và đưa ra quyết định tài trợđối với các dự án khả thi và có hiệu quả, hạn chế các rủi ro mang tính chủ quan

Thứ ba, thẩm định tài chính DAĐT giúp ngân hàng xác định được dòng tiền

dự kiến của dự án, từ đó, ngân hàng có cơ sở đưa ra các điều kiện vay vốn phù hợp

về số tiền cho vay, thời hạn cho vay, thời hạn trả nợ, mức lãi suất, biện pháp quản lýnguồn trả nợ…, đây là cơ sở cho việc thu hồi cả gốc và lãi theo đúng tiến độ, hạnchế rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, là điều kiện cho sự tăng trưởng và pháttriển của ngân hàng

Yêu cầu đặt ra đối với công tác thẩm định tài chính DAĐT của Ngân hàngthương mại là trước hết là phải đánh giá được hiệu quả tài chính của dự án, được thểhiện thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính của dự án như giá trị hiện tại

Trang 18

ròng (NPV), tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), thời gian thu hồi vốn đầu tư (T)… Bêncạnh đó, phải đánh giá mức độ an toàn tài chính của dự án, được thể hiện qua cácchỉ tiêu an toàn về khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn và khả năngtrả nợ và sự chắc chắn của hiệu quả tài chính khi các yếu tố khách quan có tác độngbất lợi Để đảm bảo các yêu cầu đó, khâu thẩm định tài chính dự án đầu tư cần tuântheo một quy trình và nội dung thẩm định khoa học

1.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư

Thẩm định tài chính DAĐT trong hoạt động cho vay của NHTM bao gồmnhiều nội dung có liên hệ chặt chẽ với nhau, các nội dung thẩm định phải bao hàmđầy đủ các khía cạnh tài chính của dự án như vốn đầu tư, hiệu quả tài chính, khảnăng trả nợ và rủi ro của dự án Nội dung thẩm định càng chi tiết thì độ chính xáccủa kết quả thẩm định càng cao, nhưng cũng đòi hỏi tiêu tốn nhiều nguồn lực chocông tác thẩm định Vì vậy, tùy vào quy mô, tính chất của từng dự án mà mức độyêu cầu chi tiết có thể khác nhau

* Thẩm định tổng vốn đầu tư và cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho dự án:

- Thẩm định tổng vốn đầu tư là việc xác định lại tính hợp lý của tổng vốn đầu

tư do khách hàng đưa ra so với phương án thiết kế kỹ thuật của dự án Đây là nộidung quan trọng đầu tiên ngân hàng cần xem xét khi tiến hành thẩm định tài chínhDAĐT

Tổng vốn đầu tư của dự án là toàn bộ số vốn cần thiết để thiết lập và đưa dự ánvào hoạt động, bao gồm:

+ Vốn đầu tư cố định: là toàn bộ các chi phí để hình thành lên tài sản cố địnhcủa dự án gồm chi phí đầu tư xây dựng, chi phí thiết bị, lãi vay trong thời gian xâydựng, chi phí quản lý dự án và các chi phí hợp lý khác trước khi đưa dự án vào vậnhành khai thác

+ Vốn lưu động ban đầu: là các chi phí để tạo ra tài sản lưu động cho chu kỳsản xuất đầu tiên đối với dự án sản xuất, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, nhiênliệu, dự trữ hàng tồn kho, chi phí nhân công … đảm bảo cho dự án có thể đi vàohoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế - kỹ thuật đã dự tính

Trang 19

+ Vốn dự phòng: là khoản dự trù cho các chi phí phát sinh trong quá trìnhtriển khai dự án

Xác định chính xác tổng mức vốn đầu tư là cơ sở để lập kế hoạch và quản lývốn đầu tư, cơ sở để xác định hiệu quả tài chính của DAĐT và ngược lại, xác địnhkhông chính xác tổng mức vốn đầu tư có thể dẫn đến những kết luận sai lầm về hiệuquả dự án Nếu tổng mức vốn đầu tư xác định quá thấp thì dự án không thể triểnkhai theo đúng kế hoạch, không bảo đảm cho khả năng thu hồi vốn của ngân hàng.Đồng thời, nếu xác định tổng mức vốn đầu tư thấp sẽ làm cho các chỉ tiêu hiệu quảtài chính của dự án được tốt hơn, có thể dễ dẫn đến lựa chọn sai lầm là tài trợ chocác dự án không thực sự hiệu quả Ngược lại, nếu xác định tổng mức vốn đầu tư quácao sẽ làm giảm các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án, không phản ánh chính xáchiệu quả tài chính dự án, có thể dẫn tới quyết định bỏ qua một dự án khả thi và hiệuquả Khi xác định mức vốn đầu tư quá cao có thể làm tăng tỷ lệ tài trợ vốn của ngânhàng trên nhu cầu vốn đầu tư thực tế, giảm mức vốn tự có tham gia của chủ đầu tư,khi đó, phần lớn các rủi ro sẽ được đẩy về phía ngân hàng

- Thẩm định cơ cấu nguồn vốn của dự án trước hết là việc xác định các

nguồn vốn tài trợ cho dự án và phương thức huy động các nguồn vốn đó Các nguồnvốn tài trợ cho dự án bao gồm: nguồn vốn tự có của chủ đầu tư, nguồn vốn huyđộng khác trong quá trình triển khai dự án, nguồn vốn vay ngân hàng Mỗi nguồnvốn có chi phí khác nhau, do đó, cần xác định cơ cấu vốn có chi phí bình quân giaquyền thấp nhất để đảm bảo tối đa hóa lợi ích ròng thu được từ dự án Tiếp đó phảixem xét, đánh giá khả năng đảm bảo chắc chắn của các nguồn tài trợ này và sự phùhợp của tiến độ huy động các nguồn tài trợ so với tiến độ sử dụng vốn của dự án.Kết quả của bước thẩm định này giúp ngân hàng đánh giá được tính khả thi củaphương án huy động vốn cho dự án, xác định được số vốn mà ngân hàng cần chovay, đồng thời là cơ sở để xác định kế hoạch giải ngân, thu nợ

* Thẩm định về doanh thu, chi phí và xác định báo cáo tài chính dự kiến cho từng năm của dự án:

Trang 20

- Thẩm định về kế hoạch doanh thu: doanh thu được xác định cho từng năm

hoạt động của dự án, bao gồm doanh thu do bán sản phẩm và cung cấp dịch vụ chobên ngoài Trong thẩm định kế hoạch doanh thu, ngân hàng cần làm rõ hai vấn đề:sản lượng sản xuất, tiêu thụ hàng năm và giá bán sản phẩm Sản lượng sản xuất phảiphù hợp với công suất thiết kế và kế hoạch vận hành hàng năm, cũng như khả năngbảo đảm về các nguồn lực đầu vào Sản lượng tiêu thụ và giá bán phải phù hợp vớicác phân tích dự báo về nhu cầu thị trường, với giá thành sản xuất dự kiến

- Thẩm định về kế hoạch chi phí: chi phí cũng được tính cho từng năm hoạt

động của dự án, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, nhân công, dịch vụ mua ngoài,chi phí khấu hao, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi vay, chi phí sửa chữa,bảo dưỡng trong quá trình vận hành, … Khi thẩm định kế hoạch chi phí, ngân hàngcần làm rõ các vấn đề:

+ Chủ đầu tư đã tính đầy đủ các loại chi phí cần thiết hay chưa, nếu chưa đủthì cần bổ sung thêm các chi phí này trước khi xác định các chỉ tiêu hiệu quả tàichính của dự án

+ Các chi phí đưa ra có hợp lý hay không: ở đây cần xem xét sự phù hợp củacác chi phí với định mức kinh tế - kỹ thuật theo quy định, theo thiết kế của dự án,với kế hoạch sản xuất kinh doanh dự kiến (bao gồm: sản lượng sản xuất, nhu cầu dựtrữ hàng hóa, nhu cầu tiền mặt, các khoản phải thu, phải trả …), với các dự báo vềthị trường đầu vào

+ Đối với chi phí khấu hao: do đây không phải là chi phí thực bằng tiền, nênchủ đầu tư có thể điều chỉnh để làm thay đổi lợi nhuận kế toán của dự án, do đó,ngân hàng cần kiểm tra sự phù hợp về thời hạn và phương pháp khấu hao đối vớitừng hạng mục tài sản với quy định hiện hành về trích khấu hao tài sản cố định

- Lập báo cáo tài chính dự kiến: gồm Báo cáo kết quả kinh doanh, Bảng cân

đối kết toán và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Khi thẩm định các báo cáo tài chính dựkiến của dự án, ngân hàng cần kiểm tra tính chính xác của báo cáo so với kế hoạchdoanh thu, chi phí mà khách hàng đưa ra, thẩm định về sự phù hợp với các quy định

về chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành, về các quy định pháp luật về thuế thunhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu

Trang 21

Lưu ý khi thẩm định các kế hoạch doanh thu, chi phí và báo cáo tài chính dựkiến, cán bộ thẩm định ngân hàng không chỉ thẩm định sự phù hợp của các khoảndoanh thu, chi phí phát sinh mà cần phải kiểm tra tính chính xác của các tính toán

mà khách hàng đưa ra ở khâu nhập số liệu, công thức tính

* Xác định dòng tiền của dự án và tỷ suất chiết khấu:

- Xác định dòng tiền dự án trên quan điểm của ngân hàng (quan điểm tổng đầu tư): Dòng tiền dự án là dòng chi phí và lợi ích kỳ vọng xuất hiện tại các mốc

thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án Khi xác định dòng tiền dự án cầnchú ý:

+ Phân biệt dòng tiền dự án theo quan điểm của chủ đầu tư và theo quanđiểm của ngân hàng: trên quan điểm của chủ đầu tư, thì vốn vay ngân hàng đượctính là dòng tiền vào của dự án và khoản trả nợ gốc, lãi hàng năm được tính là dòngtiền ra của dự án, do đó, dòng tiền thu hàng năm của dự án phải trừ đi số tiền trả nợgốc và lãi hàng năm cho ngân hàng Tỷ suất chiết khấu khi xác định dòng tiền theoquan điểm của chủ đầu tư chính là chi phí vốn tự có tham gia dự án Dự án do kháchhàng cung cấp thông thường chỉ xét đến hiệu quả tài chính dự án trên quan điểm củachủ đầu tư, ngân hàng cần xác định lại hiệu quả này trên quan điểm của người tàitrợ (quan điểm tổng vốn đầu tư), vì dự án muốn triển khai thực hiện cần phải huyđộng vốn từ nhiều nguồn khác nhau, trên quan điểm tổng đầu tư ngân hàng sẽ đánhgiá đầy đủ về khả năng sinh lời của dự án đối với tất cả các nguồn vốn bỏ ra để thựchiện dự án

+ Phân biệt giữa doanh thu và khoản thu, giữa khoản mua và khoản chi.Doanh thu là giá trị hàng hóa được bán trong kỳ, nhưng có thể chưa được thanhtoán Khoản thu là giá trị hàng hóa đã được thanh toán Khoản mua là giá trị muavào nhưng có thể chưa phải thanh toán, được phản ánh trong tài khoản nợ Khoảnchi là giá trị hàng mua vào đã được thanh toán

+ Phân biệt giữa dòng tiền dự án và lợi nhuận kế toán hàng năm của dự án

Dự án có lợi nhuận kế toán dương, nhưng dòng tiền thuần âm thì cũng không đảmbảo khả năng thanh khoản của dự án

Trang 22

Xác định dòng tiền dự án là nội dung thẩm định quan trọng nhất để ngânhàng đưa ra quyết định có cho vay đối với dự án hay không, nếu cho vay thì mứccho vay là bao nhiêu, phương án giải ngân – thu nợ, phương án điều chỉnh lãi suấtnhư thế nào là phù hợp

- Xác định tỷ suất chiết khấu: Do yếu tố giá trị thời gian của tiền mà các

khoản tiền tại thời điểm hiện tại luôn được coi có giá trị cao hơn số tiền tươngđương trong tương lai Trong khi đó, các lợi ích và chi chí của DAĐT lại thườngxảy ra trong một thời gian dài, nên để có thể so sánh khi xác định hiệu quả tài chínhcủa dự án cần chuyển các khoản tiền phát sinh trong thời kỳ phân tích về cùng mộtmặt bằng thời gian hiện tại hoặc tương lai thông qua một tỷ suất chiếu khấu “r”

Tỷ suất chiết khấu này được hiểu là tỷ lệ sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêucầu đối với một dự án, được coi là giới hạn để đánh giá hiệu quả của các dự án đầu

tư Tỷ suất chiết khấu “r” được xác định xuất phát từ điều kiện cụ thể của từng dự

án, dựa vào cơ cấu nguồn vốn và chi phí sử dụng mỗi nguồn vốn đó Dự án thườngđược tài trợ từ nhiều nguồn vốn khác nhau, mỗi nguồn vốn có chi phí sử dụng riêng,

đó là suất sinh lời tối thiểu do người cấp vốn yêu cầu Tỷ suất chiết khấu “r” chính

là chi phí sử dụng vốn của dự án đó, được xác định là bình quân trọng số của chi phícác nguồn vốn tài trợ cho dự án Khi sử dụng vốn nợ (vốn vay ngân hàng), chi phíđối với phần vốn vay là chi phí nợ sau thuế

Tỷ suất chiết khấu “r” có thể biến đổi theo thời gian Giả sử tại thời điểmthẩm định khoản vay, vốn tín dụng đang khan hiếm nên mức lãi suất sẽ cao mộtcách bất thường, do đó, suất chiết khấu theo thời gian sẽ có xu hướng giảm dần khicung cầu thị trường vốn trở về mức bình thường Ngược lại, nếu hiện nguồn cungvốn đang dư thừa, có khả năng mức chiết khấu lựa chọn sẽ thấp hơn mức trung bìnhdài hạn và sẽ tăng khi cung cầu vốn dần quay lại xu hướng dài hạn Do đó, khi lựachọn tỷ suất chiết khấu để tính hiệu quả tài chính của dự án cần phải dựa trên xuhướng dài hạn của thị trường vốn, trong trường hợp không xác định được chi phívốn hợp lý trong dài hạn, có thể điều chỉnh tỷ suất chiết khấu để đảm bảo tính chínhxác của kết quả thẩm định

Trang 23

* Xác định các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính của dự án: Về lý

thuyết thì có nhiều chỉ tiêu khác nhau để phản ánh hiệu quả tài chính của DAĐT,mỗi chỉ tiêu có những ưu, nhược điểm riêng Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn lực

có hạn, ngân hàng cần căn cứ vào quy mô, tính chất của từng dự án để lựa chọnđánh giá đầy đủ các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính hay chỉ đánh giá một số chỉtiêu nhất định

Dưới đây là các chỉ tiêu tài chính cơ bản mà ngân hàng xem xét khi thẩmđịnh hiệu quả tài chính DAĐT:

+ Giá trị hiện tại ròng – NPV (Net present value): là số chênh lệch giữa tổng

các khoản thu và khoản chi phí của cả đời dự án được đưa về thời điểm hiện tại

NPV được xác định theo công thức:

Trong đó: Bi, Ci: là các khoản thu, khoản chi của dự án ở năm i;

n: số năm hoạt động của đời dự án;

r: tỷ suất chiết khấu được chọn

NPV được xem là chỉ tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu quả dự án đầu

tư, là chỉ tiêu tốt nhất để lựa chọn các dự án loại trừ lẫn nhau (trong trường hợpkhông giới hạn về nguồn lực) Nếu một dự án có NPV ≥ 0 khi được chiết khấu với

tỷ lệ chiết khấu bằng chi phí cơ hội của vốn, thì khi đó nguồn thu từ dự án đủ bùđắp cho những chi phí đầu tư bỏ ra và còn tạo ra lợi nhuận bằng giá trị NPV Chỉtiêu này đề cao các dòng tiền ngắn hạn hơn là các dòng tiền dài hạn, do đó, ngânhàng thường xem xét chỉ tiêu này khi lựa chọn dự án vì vấn đề ngân hàng quan tâm

là khả năng tạo nguồn thu sớm của dự án để thu hồi nợ Giá trị của chỉ tiêu NPVphụ thuộc vào việc lựa chọn tỷ suất chiết khấu, lựa chọn tỷ suất chiết khấu càng caothì NPV càng thấp và ngược lại

Việc xem xét chỉ tiêu NPV trên quan điểm của ngân hàng có sự khác biệt

so với khi xem xét trên quan điểm của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp, tiêuchuẩn lựa chọn dự án là khi NPV ≥ 0, còn đối với ngân hàng, NPV không phải là

Trang 24

chỉ tiêu quyết định trong việc lựa chọn dự án đầu tư Ngân hàng có thể chấpthuận tài trợ cho một dự án đầu tư có NPV < 0 nhưng dòng tiền ròng dươngtrong thời gian vay vốn, vì khi đó, dự án vẫn đảm bảo có nguồn thu để trả nợ chongân hàng theo kế hoạch

+ Tỷ suất hoàn vốn nội bộ – IRR (Interal Rate of Return): là tỷ suất chiết

khấu làm cho giá trị hiện tại ròng của đầu tư NPV = 0, hay thu nhập ròng hiện tạiđúng bằng giá trị hiện tại của vốn đầu tư, tức là:

Dự án đươc chấp nhận khi IRR ≥ r giới hạn (r giới hạn là tỷ suất chiết khấu lựachọn) IRR phán ánh mức sinh lợi tối đa đối với vốn đầu tư, do đó, IRR được coi làmức lãi suất tiền vay cao nhất nhà đầu tư có thể nhận được mà không bị thua thiệtnếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều là vốn vay (cả gốc và lãi) được trả bằngnguồn tiền thu được từ dự án mỗi khi chúng phát sinh IRR khắc phục được nhượcđiểm của NPV ở chỗ có thể so sánh được các dự án có thời gian khác nhau hay vốnđầu tư khác nhau, nó thể hiện tỷ suất sinh lời bình quân hàng năm của dự án

Hạn chế khi sử dụng chỉ tiêu IRR: trong một số trường hợp không thể xácđịnh được IRR hoặc có nhiều giá trị IRR đối với một dự án Điều này thường xảy rađối với dự án mà trong quá trình vận hành phải tiến hành sửa chữa định kỳ hoặc đầu

tư tiếp với chi phí lớn, dẫn tới việc dòng tiền ròng của năm đó âm, tức là dòng tiềnròng dự án đổi chiều, khi đó, người ta sử dụng chỉ tiêu MIRR – tỷ suất hoàn vốn nội

bộ có điều chỉnh để thay cho IRR Khi so sánh các dự án, chỉ tiêu IRR có thể dẫnđến các kết luận khác với chỉ tiêu NPV, khi đó, cần kết hợp với việc xem xét chỉtiêu NPV để đưa ra kết luận về hiệu quả dự án

+ Tỷ số lợi ích – chi phí (B/C: Benefits – Cost Ratio): được xác định bằng tỷ

số giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra của dự án được quy về cùng một thời điểm,thường là thời điểm hiện tại

Trang 25

Trong đó, PV(B) và PV(C) là giá trị hiện tại của dòng lợi ích và chi phí trongtương lai của dự án Giá trị thanh lý tài sản cuối đời dự án sẽ được khấu trừ vàodòng chi phí của dự án sau khi chuyển về cùng mặt bằng thời gian

Dự án được chấp nhận khi có tỷ số B/C ≥ 1, tức là tổng các khoản lợi ích của

dự án đủ bù đắp cho các chi phí phải bỏ ra của dự án, dự án có khả năng sinh lợi.Hạn chế của chỉ tiêu này: là khi sử dụng để so sánh các dự án có thể dẫn đến kếtluận không đúng nếu các dự án khác nhau về quy mô Do đó, cần phải xem xét kếthợp với chỉ tiêu NPV khi đánh giá, lựa chọn dự án

+ Thời gian thu hồi vốn đầu tư – PP: là thời gian cần thiết mà dự án hoạt

động để thu hồi đủ số vốn đầu tư ban đầu, nói cách khác, đó là khoảng thời gian đểhoàn trả số vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận thuần và khấu hao thu hồihàng năm từ dự án Thời gian thu hồi vốn đầu tư có thể được xác định khi chưa tínhđến yếu tố thời gian của tiền (thời gian hoàn vốn giản đơn) hoặc khi có tính đến yếu

tố giá trị thời gian của tiền (thời gian hoàn vốn của chiết khấu) Đây là một chỉ tiêuquan trọng mà ngân hàng quan tâm khi tài trợ cho dự án vì những dự án có thời gianhoàn vốn nhanh, đồng nghĩa với việc rút ngắn thời gian cho vay, giảm các rủi ro chongân hàng Tuy nhiên, hạn chế của chỉ tiêu này là bỏ qua các dòng tiền vào sau thời

kỳ thu hồi vốn, điều này có thể dẫn kết quả sai lệch trong những trường hợp dự ánđầu tư có tuổi thọ kéo dài và người ta biết khá chắc chắn về lợi ích và chi phí của dự

án này trong tương lai

* Thẩm định khả năng trả nợ của DAĐT: Là việc xem xét sự cân đối giữa

số tiền nợ gốc và lãi phải trả với nguồn trả nợ của khách hàng Ngân hàng xác địnhtổng số nợ gốc và lãi mà khách hàng phải trả trên cơ sở kế hoạch giải ngân và thu

nợ của dự án Nguồn trả nợ từ dự án chính là nguồn lợi nhuận sau thuế và khấu haohàng năm Dự án đảm bảo cân đối trả nợ khi mà nguồn lợi nhuận sau thuế và khấuhao hàng năm của dự án lớn hơn so với tổng số tiền nợ gốc mà khách hàng phải trả

(Khoản lãi phải trả bao gồm: lãi vay vốn cố định khi dự án đi vào vận hành ổn định

và lãi vay vốn lưu động hàng năm, được tính là một khoản chi phí hoạt động khi

Trang 26

xác định lợi nhuận hàng năm của dự án) Mức độ an toàn về khả năng trả nợ của dự

án được phản ánh qua chỉ tiêu Tỷ số khả năng trả nợ hàng năm – là tỷ số giữa nguồntrả nợ hàng năm của dự án chia cho nợ phải trả hàng năm (gốc và lãi) của dự án Dự

án được đánh giá là an toàn về khả năng trả nợ nếu tỷ số khả năng trả nợ của dự ánđạt mức quy định đối với từng ngành nghề Ngân hàng có thể điều chỉnh kế hoạchtrả nợ để đảm bảo độ an toàn của phương án cho vay

* Thẩm định tính chắc chắn về hiệu quả tài chính của DAĐT: Là việc xem

xét các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án trong điều kiện biến động của các yếu

tố đầu vào và đầu ra của dự án Mục tiêu là xác định mức độ rủi ro của dự án thôngqua việc đánh giá sự biến động của hiệu quả tài chính dự án và khả năng trả nợ chongân hàng trong điều kiện có biến động bất lợi, từ đó, đưa ra quyết định có chấpnhận rủi ro của dự án hay không và có biện pháp quản lý trong trường hợp chấpnhận các rủi ro này Việc thẩm định tính chắc chắn của hiệu quả tài chính được thựchiện thông các phân tích sau:

+ Phân tích độ nhạy: là việc xem xét sự thay đổi của các chỉ tiêu hiệu quả tàichính của dự án khi các yếu tố liên quan tới chỉ tiêu đó thay đổi, tức là xác định hiệuquả tài chính dự án trong điều kiện có biến động của các yếu tố liên quan Có thểphân tích ảnh hưởng của từng yếu tố liên quan đến chỉ tiêu hiệu quả tài chính nhằmtìm ra yếu tố gây thay đổi lớn đối với chỉ tiêu tài chính đang xét Hoặc phân tích sựthay đổi đồng thời của nhiều yếu tố tới chỉ tiêu tài chính đang xét

Phân tích độ nhạy cho phép ngân hàng đánh giá được tính chắc chắn về hiệuquả tài chính của dự án đầu tư, là cơ sở đưa ra quyết định loại bỏ dự án có rủi ro quá

lớn (các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố bất

lợi), đưa ra các biện pháp giải quyết, quản lý đối với nhân tố gây nên sự thay đổi

nhiều nhất cho các chỉ tiêu hiệu quả tài chính trong trường hợp lựa chọn tài trợ cho

dự án Đây là phương pháp phổ biển trong việc phân tích rủi ro, tuy nhiên, phươngpháp này có hạn chế là không tính đến xác suất xảy ra sự kiện (phạm vi các giá trị

có thể có của những yếu tố thay đổi được phản ánh trong sự phân bố xác suất củachúng) và chưa tính đến tác động qua lại giữa các nhân tố với nhau

+ Phân tích xác suất (phân tích tình huống): là xem xét sự thay đổi hiệu quả

Trang 27

tài chính của dự án khi các biến số đầu vào có thay đổi, sự thay đổi của các biến sốđầu vào có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và có sự kết hợp với nhau Trong cùngmột thời điểm, một số yếu tố có thể biến động theo hướng bất lợi nhưng một sốkhác lại biến động theo hướng có lợi cho dự án Do đó, khắc phục một phần hạn chếkhi phân tích độ nhạy Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có hạn chế nhất định làkhông xác định được tất cả các trường hợp kết hợp lẫn nhau của các yếu tố và chỉphân tích được một vài kết cục của dự án (biến cố rời rạc), trong khi thực tế có thể

có vô số khả năng kết hợp có thể xảy ra giữa các biến cố của dự án và việc xác địnhchính xác khả năng xuất hiện của một tình huống là rất khó khăn

+ Phân tích mô phỏng Monter Carlo: là việc phân tích hiệu quả dự án dưới

sự tác động đồng thời của các yếu tố trong các tình huống khác nhau có tính tớiphân bố xác suất và giá trị có thể của các yếu tố đó Kết quả phân tích được biểndiễn bởi hàm mật độ xác suất, là một đường liên tục và việc tính toán các hệ số đolường rủi ro sẽ chính xác hơn Phương pháp này đòi hỏi người phân tích phải cókinh nghiệm, kỹ năng thực hiện tốt và có sự trợ giúp của kỹ thuật hiện đại Trongđiều kiện hiện tại, các ứng dụng của công nghệ thông tin phát triển, phân tích môphỏng là phương pháp được các ngân hàng ưu tiên sử dụng

1.2.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

1.2.3.1 Khái niệm

Chất lượng là một khái niệm được nhắc tới thường xuyên, nhưng chưa đượcthống nhất nên hiện có nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau về chất lượng.Người sản xuất coi chất lượng có nghĩa là phải đáp ứng những chỉ tiêu kỹ thuật đề

ra cho sản phẩm Người tiêu dùng coi chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu hoặc hơnnữa nhưng với chi phí là thấp nhất Theo ISO 9000:2005: “Chất lượng là mức độcủa một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” Như vậy, hiểu một các

cơ bản nhất, chất lượng nhằm mục đích chung là đáp ứng nhu cầu và mong đợi củakhách hàng và các bên quan tâm, và được đo lường bởi mức độ thỏa mãn nhu cầucủa các bên

Trong hoạt động thẩm định tài chính DAĐT, mục tiêu của ngân hàng là lựa

Trang 28

chọn được những dự án khả thi và hiệu quả để tài trợ, nhằm bảo đảm an toàn vốn vàmang lại lợi nhuận cho ngân hàng trong giới hạn nhất định về nguồn lực thẩm định.Tức là, phải đánh giá chính xác hiệu quả tài chính của dự án, nói cách khác là phảixác định chính xác dòng tiền tương lai của dự án, từ đó, đưa ra lời giải tối ưu chobài toán: cho dự án nào vay, cho vay bao nhiêu, thời gian cho vay, lãi suất chovay… trong thời gian nhanh nhất và với chi phí thấp nhất, hạn chế tối đa rủi ronhưng không bỏ lỡ cơ hội đầu tư đối với những dự án tốt Đối với khách hàng vayvốn, nhu cầu trước tiên của khách hàng (Chủ đầu tư) là được tài trợ đủ nhu cầu vốnvới thời hạn và lãi suất phù hợp, thời gian thẩm định và ra quyết định của ngân hàngngắn, không bị lỡ thời cơ kinh doanh, bên cạnh đó là được ngân hàng cung cấp cáctiện ích khác như tư vấn tài chính, tư vấn quản lý dự án… nhằm hạn chế rủi ro vàtận dụng tốt cơ hội kinh doanh

Như vậy, có thể hiểu chất lượng thẩm định tài chính DAĐT trong hoạt

động cho vay của NHTM là mức độ thỏa mãn đồng thời các mục tiêu đặt ra củangân hàng và khách hàng trong hoạt động cho vay theo dự án đầu tư Trên quanđiểm của ngân hàng, thẩm định tài chính DAĐT được coi là có chất lượng khi ngânhàng có thể xác định chính xác dòng tiền tương lai của dự án, đưa ra các điều kiệnvay vốn phù hợp về số tiền cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay trong thờigian ngắn nhất và với chi phí thẩm định thấp nhất Trên quan điểm có doanh nghiệp(người vay vốn), thẩm định tài chính DAĐT của ngân hàng được coi là có chấtlượng khi ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu vốn cho những dự án khả thi củadoanh nghiệp, đồng thời đưa ra những tư vấn đối với những dự án không khả thi,hiệu quả, để chủ đầu tư có thể tham khảo và xem xét lại về quyết định của mình,đảm bảo an toàn cho nguồn vốn của chính họ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài,tác giả sẽ đi vào phân tích chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trên quanđiểm của ngân hàng thương mại Chất lượng thẩm định tài chính dự án là chỉ tiêuphản ánh mức độ chuẩn xác của các quyết định cho vay đối với dự án đầu tư củangân hàng được đưa ra trong thời gian ngắn nhất với chi phí thấp nhất Độ chuẩnxác của các quyết định cho vay thể hiện ở việc xác định đúng số tiền cho vay, thời

Trang 29

gian cho vay, kế hoạch giải ngân, thu nợ, lãi suất cho vay tối ưu

Chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự tácđộng của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chấtlượng mong muốn cần phải xác định và quản lý một cách đúng đắn các yếu tố liênquan này Do đó, để công tác thẩm định tài chính DAĐT đạt chất lượng tốt, đòi hỏingân hàng phải tuân thủ chặt chẽ trình tự và nội dung thẩm định, lựa chọn phươngpháp thẩm định khoa học, đảm bảo cho quá trình thẩm định phải hội tụ đầy đủ cácnhân tố tích cực tác động đến nó

1.2.3.2.Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.

Chất lượng nói chung không thể lượng hóa thành một chỉ tiêu đo lường trựctiếp mà được phản ánh thông qua hệ thống các chỉ tiêu đo lường mức độ thỏa mãncủa khách hàng và các bên liên quan Trong hoạt động cho vay của ngân hàngthương mại, chất lượng thẩm định tài chính DAĐT được đo lường thông qua các chỉtiêu phản ánh mức độ thỏa mãn các yêu cầu đặt ra của ngân hàng, đó có thể là cácchỉ tiêu định tính như chất lượng báo cáo thẩm định, chất lượng quyết định cho vay,tuy nhiên, để có thể xác định và so sánh chất lượng thẩm định thì cần thiết phảiphản ánh nó thông qua các chỉ tiêu định lượng, bao gồm:

- Tỷ lệ nợ quá hạn và số dự án phải điều chỉnh lại thời hạn trả nợ: mục tiêu

đặt ra đối với ngân hàng khi thẩm định tài chính DAĐT là việc xem xét toàn diệncác khía cạnh tài chính của dự án để đảm bảo xác định chính xác nhất dòng tiềntương lai của dự án, tức là dòng tiền thực của dự án khi triển khai càng sát với dòngtiền dự tính càng tốt Bởi lẽ, khi dòng tiền của dự án được dự báo chính xác, tức làcác nguồn thu dự kiến đủ trả nợ cho ngân hàng đầy đủ, đúng hạn theo kế hoạch banđầu, không phát sinh nợ quá hạn và nhu cầu điều chỉnh dự án, Do đó, tỷ lệ nợ quáhạn thấp và số dự án xin điều chỉnh ít chính là kết quả của hoạt động thẩm định tàichính có chất lượng tốt

- Thời gian thẩm định: là khoảng thời gian cần thiết cho quá trình thu thập xử

Trang 30

lý thông tin, phân tích và ra quyết định Thời gian thẩm định nếu quá ngắn sẽ khôngbảo đảm có thể thẩm định đầy đủ các nội dung liên quan, ngược lại, nếu quá dài sẽlàm mất cơ hội đầu tư của khách hàng, cũng như cơ hội tài trợ vốn của ngân hàngnhất là trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay Các khách hàng khi đến vay vốn tạingân hàng bao giờ cũng mong muốn ngân hàng có câu trả lời sớm nhất dù là chovay hay không cho vay Vì vậy, thời gian thẩm định là một yếu tố thể hiện thế mạnhtrong cạnh tranh giữa các ngân hàng, đặt ra cho ngân hàng yêu cầu phải rút ngắnthời gian thẩm định ở mức hợp lý để vừa đảm bảo điều kiện cho kết quả thẩm địnhchính xác, vừa đảm bảo khả năng cạnh tranh của ngân hàng

- Chi phí thẩm định: là các chi phí cần thiết mà ngân hàng phải chi trả cho

việc tiến hành thẩm định tài chính dự án, bao gồm các chi phí mua thông tin, côngtác phí của cán bộ đi thẩm định và các chi phí khác, kể cả chi phí cơ hội đối với việcxem xét cho vay dự án khác cùng thời điểm Để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận, ngânhàng cần cân đối giữa thu nhập có được từ dự án với các chi phí phải bỏ ra, baogồm cả chi phí thẩm định, chi phí huy động vốn, chi phí cho việc giám sát, quản lýquá trình sử dụng vốn Vì vậy, ngân hàng cần xây dựng hệ thống định mức chi phímột cách khoa học, bao gồm cả định mức đối với chi phí thẩm định, vì đây là cácchi phí ban đầu mà ngân hàng có thể kiểm soát được tốt hơn so với chi phí huyđộng vốn, hay chi phí giám sát, quản lý sử dụng vốn Kiểm soát tốt khoản chi phínày là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng thẩm định của ngân hàng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính DAĐT trong hoạt động cho vay của NHTM

Thẩm định tài chính dự án là một quá trình thu thập thông tin, phân tích đánhgiá về hiệu quả tài chính của DAĐT, do đó, chất lượng thẩm định tài chính dự án sẽchịu ảnh hưởng từ các nhân tố tác động tới quá trình thẩm định dự án, bao gồm:

Trang 31

Đây là nhân tố đầu tiên, quan trọng và ảnh hưởng lớn tới chất lượng thẩmđịnh của ngân hàng Vì lãnh đạo ngân hàng là người quyết định định hướng pháttriển chung của ngân hàng, định hướng phát triển hoạt động tín dụng và quản trị rủi

ro trong từng thời kỳ, là người đưa ra quyết định cuối cùng về việc cho vay haykhông cho vay đối với dự án

Quan điểm của lãnh đạo ngân hàng về công tác thẩm định được thể hiện quaviệc nhận thức đúng đắn và coi trọng vai trò của công tác thẩm định Khi lãnh đạongân hàng nhận thức đúng vai trò và coi trọng công tác thẩm định, lãnh đạo ngânhàng sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công tác thẩm định như có chính sáchtuyển dụng, đạo tạo và đãi ngộ phù hợp, tạo điều kiện hỗ trợ về cơ sở vật chất kỹthuật, xây dựng cơ chế đánh giá và kiểm soát chất lượng thẩm định, coi trọng kếtquả thẩm định và coi đó làm căn cứ cho việc ra quyết định cho vay hay không chovay Đây là những điều kiện cần thiết bảo đảm cho chất lượng hoạt động thẩm địnhnói chung và chất lượng thẩm định tài chính DAĐT nói riêng Và ngược lại, nếnlãnh đạo ngân hàng không coi trọng công tác thẩm định, không có những chính sách

hỗ trợ, kiểm soát chất lượng thẩm định, không coi kết quả thẩm định là căn cứ để raquyết định tài trợ dự án, thì công tác thẩm định của ngân hàng không thể có chấtlượng tốt, không thể đạt được mục tiêu của ngân hàng và khách hàng

Chất lượng của đội ngũ cán bộ thẩm định thể hiện ở trình độ kiến thức, kinhnghiệm, năng lực, tính kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp Kiến thức ở đây không chỉ

là những hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần mà bao gồm cả những hiểubiết tổng hợp về kinh tế, xã hội, khoa học Kinh nghiệm là cái được tích luỹ theothời gian hoạt động thực tế Năng lực là khả năng nắm bắt xử lý công việc rất phức

Trang 32

tạp không đơn thuần chỉ là tính toán trên những bảng biểu có sẵn, nên ngoài việccần có kiến thức tốt, cán bộ thẩm định cần phải có quá trình tích lũy kinh nghiệmthực tế và lòng say mê công việc Năng lực của cán bộ thẩm định hạn chế thì khôngthể có kết quả thẩm định đáng tin cậy, tuy nhiên, nhiều dự án thất bại không phải doyếu tố năng lực mà do tư cách, đạo đức của cán bộ thẩm định Vì vậy, ý thức kỷ luậtcao và đạo đức nghề nghiệp tốt là điều kiện để có được chất lượng thẩm định tàichính tốt Chất lượng cán bộ thẩm định tốt là nhân tố quan trọng bảo đảm cho chấtlượng thẩm định của ngân hàng

Bên cạnh chất lượng, số lượng của đội ngũ cán bộ thẩm định cũng là mộtnhân tố cần xem xét Quá trình thẩm định đòi hỏi phải có một thời nhất định đủ đểcho cán bộ thẩm định có thể xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận Một cán bộ thẩmđịnh dù có trình độ, năng lực tốt đến đâu cũng chỉ xử lý được một số lượng giới hạncác công việc trong một khoảng thời gian nhất định, nếu sức ép về thời gian và khốilượng công việc xử lý quá lớn sẽ làm giảm chất lượng của công tác thẩm định

1.3.1.3 Thông tin và cơ sở vật chất kỹ thuật

- Thông tin là những gì đem lại cho con người sự hiểu biết, nhận thức tốt

hơn về một thực thể nào đó, có thể thu thập, lưu trữ và xử lý được Thông tin đóngvai trò quan trọng trong công tác thẩm định tài chính dự án của ngân hàng, vì thẩmđịnh tài chính dự án được tiến hành trên cơ sở phân tích các thông tin trực tiếp vàgián tiếp liên quan đến dự án Do đó, để đảm bảo chất lượng thẩm định tài chính dự

án, ngân hàng rất cần những thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về khách hàng, về

dự án vay vốn và yếu tố liên quan tới dự án Nguồn cung cấp thông tin cho ngânhàng trước hết là từ hồ sơ do khách hàng cung cấp Tuy nhiên nguồn thông tin nàythường mang tính chủ quan của chủ đầu tư nên sẽ có những hạn chế nhất định do lỗi

cố ý hoặc giới hạn về khả năng của chủ đầu tư gây ra Do đó, để đảm bảo chấtlượng thẩm định, ngân hàng không thể chỉ căn cứ vào thông tin do khách hàng cungcấp mà cần thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, như Ngân hàng Nhà nước, các bộngành, các công ty chuyên cung cấp thông tin, các chuyên gia trong các lĩnh vựcv.v và từ chính nguồn kinh nghiệm tích lũy của ngân hàng trong quá trình cho vay

Trang 33

các dự án đầu tư

Thông tin không đầy đủ, chính xác, kịp thời sẽ gây khó khăn cho công tácthẩm định, dẫn tới những nhận định mang tính phiến diện, không khách quan,không phản ánh đúng lợi ích và rủi ro của dự án, làm ảnh hưởng tới lợi ích của nhàđầu tư, của ngân hàng và gây thiệt hại cho nền kinh tế Để đảm bảo và nâng caochất lượng công tác thẩm định, ngân hàng cần thiết lập một hệ thống thông tin cóchất lượng

- Cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác thẩm định: đây là nhân tố ảnh hưởng

tới thời gian thẩm định và độ chính xác của kết quả thẩm định tài chính dự án Cùngvới sự phát triển hội nhập kinh tế, sự tiến bộ của khoa học, công nghệ và sự gia tăngcác nhu cầu của con người, các dự án đầu tư ngày càng đa dạng, mở rộng về quy

mô, có tính chất phức tạp và khó dự báo hơn Vì vậy, việc phân tích các chỉ tiêuhiệu quả dự án cũng trở lên phức tạp và khó khăn hơn, để đảm bảo chất lượng thẩmđịnh, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của hệ thống máy tính điện tử và các phần mềm ứngdụng chuyên dùng Yếu tố cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng ngàycàng gay gắt, đặt ra yêu cầu đối với ngân hàng phải tăng cường cơ sở vật chất kỹthuật cho công tác thẩm định, trang bị các thiết bị hiện đại, các phần mềm ứng dụnghữu ích trong việc thu thập xử lý thông tin nhanh chóng, tính toán các chỉ tiêu hiệuquả và dự báo, phân tích rủi ro dự án, hạn chế những sai lầm phát sinh do việc xử lýthông tin bằng tay, từ đó, nâng cao chất lượng thẩm định

1.3.1.4 Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư

Quy trình thẩm định tài chính DAĐT là một loạt những quy định, hướng dẫnchi tiết về cách thực hiện thẩm định tài chính dự án theo một trình tự từng bước vớinhững nội dung công việc cụ thể, người thực hiện, cách thực hiện, thời gian hoànthành… giúp cán bộ ngân hàng hoàn thành việc thẩm định tài chính DAĐT theomột trình tự thống nhất, lặp đi lặp lại Thông qua quy trình, ngân hàng có thể kiểmsoát được chất lượng công tác thẩm định, đảm bảo sự ổn định và nâng cao chấtlượng thẩm định tài chính dự án Với kinh nghiệm và thời gian, ngân hàng có thểcải tiến quy trình bằng cách quan sát quy trình để giảm bớt các công đoạn thừa, đổi

Trang 34

mới cải tiến những công đoạn chưa tốt, phát hiện và loại trừ những việc sử dụng tàinguyên nhân lãng phí, từ đó, nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án

Một quy trình thẩm định tài chính DAĐT cơ bản gồm các bước sau:

Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định tài chính dự án

Thu thập và xử

lý thông tin

Lựa chọn phương pháp thẩm định

Thẩm định tài chính dự án

Kết luận về tính khả thi và hiệu quả tài chính của dự án

- Thu thập và xử lý thông tin: Cán bộ thẩm định tiến hành thu thập thông tin

dự án trước hết từ hồ sơ vay vốn của khách hàng (đề nghị vay vốn, hồ sơ tài chính,

hồ sơ dự án, lịch sử quan hệ tín dụng…), thu thập các thông tin liên quan khác từ cơ

sở dữ liệu thông tin của ngân hàng về các dự án tương tự, các thông tin về thịtrường, về quy định chính sách hiện hành của Nhà nước, của địa phương Trên cơ

sở các thông tin thu thập được, Cán bộ thẩm định cần so sánh, loại trừ các yếu tố bấthợp lý, mâu thuẫn, thiếu căn cứ, lựa chọn các thông tin cần thiết và có độ tin cậylàm cơ sở cho việc thẩm định tài chính dự án

- Lựa chọn phương pháp thẩm định: trên cơ sở nguồn thông tin thu thập

được, cán bộ thẩm định lựa chọn phương pháp thẩm định phù hợp tùy vào quy mô,tính chất của dự án, có thể áp dụng một phương pháp hoặc kết hợp các phương phápthẩm định khác nhau đối với mỗi nội dung cần thẩm định để đưa ra kết luận chínhxác về tính khả thi và hiệu quả tài chính của dự án

- Thẩm định tài chính dự án: trên cơ sở nguồn thông tin thu thập được, cán

bộ thẩm định đưa ra các điều kiện giả định của dự án, tiến hành thẩm định hiệu quảtài chính dự án theo trình tự: thẩm định về tổng vốn đầu tư, lập các bảng tính trunggian phản ánh doanh thu, chi phí của dự án, lập báo cáo tài chính hàng năm của dự

án, xác định dòng tiền dự án, xác định các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính dựán… trong các điều kiện đã giả định và các chỉ tiêu phản ánh tính chắc chắn củahiệu quả tài chính khi các yếu tố khách quan có tác động bất lợi (phân tích rủi ro, độnhạy của dự án)

- Kết luận về tính khả thi và hiệu quả tài chính dự án: trên cơ sở kết quả

Trang 35

thẩm định, cán bộ thẩm định đưa ra các kết luận về tính khả thi, hiệu quả tài chínhcủa dự án và các điều chỉnh cần thiết về mặt tài chính (tổng vốn đầu tư, số tiền vayvốn, kỳ hạn vay vốn, trả nợ, …) để đảm bảo khả năng trả nợ của dự án

Quy trình thẩm định này được lặp lại nhiều lần trong quá trình cấp tín dụngcho dự án, bao gồm: thẩm định trước khi cho vay, thẩm định trong quá trình chovay và thẩm định sau khi cho vay

- Thẩm định trước khi cho vay: là quá trình thẩm định trước khi đưa ra quyết

định có tài trợ cho dự án hay không, đây là bước thẩm định đầu tiên và rất quantrọng, giúp ngân hàng đưa ra được lựa chọn và quyết định cho vay chính xác

- Thẩm định trong quá trình cho vay: là quá trình thẩm định khi ngân hàng

đã ra quyết định cho vay đối với khách hàng Sau khi đưa ra quyết định cho vay,ngân hàng phải thường xuyên giám sát quá trình sử dụng tiền vay của khách hàng,quá trình hình thành tài sản bảo đảm (thông thường tài sản bảo đảm cho các khoảncho vay dự án là tài sản hình thành từ vốn vay), quá trình thanh toán các khoản nợđịnh kỳ Trường hợp có những biến động, ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định lại dự

án để có những điều chỉnh cần thiết về phương án cho vay, đảm bảo an toàn vốncho ngân hàng

- Thẩm định sau khi cho vay: các dự án đầu tư thường có thời gian thực hiện

dài, sau khi kết thúc quá trình trả nợ khoản vay theo hợp đồng tín dụng, dự án vẫntrong giai đoạn vận hành, khai thác, do đó, về phía ngân hàng vẫn nên thực hiệnthẩm định để tìm hiểu tình trạng thực tế quá trình triển khai thực hiện và vận hành

dự án, từ đó có được những tổng kết, rút ra những kinh nghiệm phục vụ cho việcxây dựng hệ thống các chỉ tiêu tham số cho quá trình thẩm định sau này

Thẩm định tài chính dự án là một quá trình gồm nhiều bước, nhiều nội dungthẩm định khác nhau nhưng giữa các nội dung có mối liên hệ với nhau theo mộttrật tự nhất định, do đó, nếu thẩm định theo một trình tự khoa học thì các bướcthẩm định sẽ hỗ trợ nhau, rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng thẩm định.Một quy trình thẩm định được xây dựng một cách khoa học, logic, đầy đủ và phùhợp với điều kiện của ngân hàng, nó sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định

Trang 36

tài chính dự án đầu tư Ngược lại, nếu việc thẩm định không tuân theo một quytrình khoa học, logic sẽ không đảm bảo việc khai thác đầy đủ các nguồn thông tinhữu ích, không xem xét đầy đủ các nội dung cần thẩm định, có thể phải lặp lại quátrình xem xét, gây lãng phí thời gian và nguồn lực, hoặc có thể đưa ra nhận địnhphiến diện về dự án

1.3.1.5 Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư

Phương pháp thẩm định tài chính DAĐT chính là cách thức mà ngân hàngthực hiện các nội dung thẩm định tài chính dự án Thẩm định tài chính dự án có thểđược thực hiện theo các phương pháp khác nhau, căn cứ vào quy mô, tính chất của

dự án, cũng như các điều kiện về nguồn lực thẩm định, Ngân hàng thương mại cóthể lựa chọn áp dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp khác nhau đối với mỗinội dung tài chính cần thẩm định Các phương pháp cơ bản đang được sử dụng:

- Phương pháp so sánh: Là phương pháp được thực hiện bằng cách so sánh

các chỉ tiêu tài chính, kinh tế - kỹ thuật của DAĐT đang thẩm định với các dự án cótính chất tương tự đã và đang được triển khai, hoặc so sánh với các quy định, tiêuchuẩn đang áp dụng của quốc gia, địa phương trong từng lĩnh vực

Đây là phương pháp phổ biến, đơn giản để đánh giá tính hợp lý và chính xáccác chỉ tiêu của dự án, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về thời gian thẩm định đốivới Ngân hàng thương mại Phương pháp này thường được áp dụng để thẩm địnhcác chỉ tiêu: tổng mức đầu tư, suất vốn đầu tư, tiêu chuẩn sản phẩm, định mức tiêuhao nguyên vật liệu, nhân công… Khi áp dụng phương pháp này cần lưu ý vậndụng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, vìthực tế không có các dự án hoàn toàn giống nhau khi so sánh

- Phương pháp thẩm định theo trình tự: Là phương pháp thẩm định được tiến

hành theo một trình tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, từ kết luận trước làmtiền đề cho kết luận sau

Thẩm định tổng quát: Là việc xem xét tổng quát các nội dung cần thẩm địnhcủa dự án, qua đó phát hiện các vấn đề hợp lý hay chưa hợp lý cần phải đi sâu xemxét Thẩm định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ qui mô tầm

Trang 37

quan trọng của dự án

Thẩm định chi tiết: được tiến hành sau thẩm định tổng quát và thực hiện đốivới từng nội dung thẩm định tài chính của dự án Trong bước thẩm định này, các kếtluận rút ra từ nội dung trước có thể là điều kiện để tiếp tục nghiên cứu nội dung sau,nếu một chỉ tiêu tài chính quan trọng bị bác bỏ thì có thể không cần đi vào thẩmđịnh toàn bộ các chỉ tiêu tiếp theo

- Phương pháp phân tích tĩnh: Là phương pháp xác định các chỉ tiêu tài

chính của DAĐT trong điều kiện các yếu tố dự kiến sẽ diễn ra như giả định ban đầu.Phương pháp này cho phép xác định được hiệu quả tài chính dự án với các kỳ vọngban đầu của ngân hàng về dự án đó, là có sở để tiến hành phân tích dự án trong điềukiện có biến động của các yếu tố đầu vào, đầu ra

- Phương pháp phân tích động: Là phương pháp xác định các chỉ tiêu tài

chính của DAĐT trong điều kiện giả định có biến động của các yếu tố đầu vào, đầu

ra so với phương án kỳ vọng ban đầu Phương pháp này cho phép ngân hàng xácđịnh được tính chắc chắn về hiệu quả tài chính của các dự án đầu tư, dự kiến cáctính huống bất trắc có thể xảy ra và mức độ rủi ro tối đa mà ngân hàng có thể chấpnhận được Qua đó, ngân hàng có thể lựa chọn các dự án có độ an toàn cao và cónhững biện pháp để hạn chế các rủi ro trong những tình huống bất lợi Phương phápnày cần thiết được áp dụng trong điều kiện hội nhập hiện nay, khi mà mọi sự biếnđộng của thị trường thế giới đều có thể gây ảnh hưởng tới thị trường trong nước

Để đảm bảo chất lượng thẩm định tài chính dự án, ngân hàng không nên chỉ

áp dụng một phương pháp thẩm định duy nhất, vì điều đó không chắc chắn cho mộtnhận định toàn diện về hiệu quả tài chính dự án Ngược lại, cũng không thể cùng lúc

áp dụng tất cả các phương pháp thẩm định cho một dự án, vì điều này đòi hỏi phải

có thời gian và có thể gây ra lãng phí không cần thiết Do đo, việc lựa chọn phươngpháp thẩm định cho phù hợp với điều kiện từng dự án, với từng nội dung cần thẩmđịnh là rất quan trọng Bên cạnh các phương pháp truyền thống, ngân hàng cần ápdụng các phương pháp thẩm định tài chính hiện đại để xem xét dự án trong cả trạngthái tĩnh và trong điều kiện biến động của thị trường

1.3.1.6 Công tác tổ chức, điều hành

Trang 38

Thẩm định tài chính dự án là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động có mốiliên quan chặt chẽ với nhau, do đó, đòi hỏi phải có sự tổ chức quản lý điều hành mộtcách khoa học và phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận liên quan Bao gồm việcphân công trách nhiệm cho từng cá nhân phù hợp với trình độ chuyên môn từngngười và quy mô, tính chất của từng dự án, kết hợp với việc giám sát chặt chẽ quátrình triển khai thực hiện và đánh giá kết quả công việc Việc tổ chức điều hànhcông tác thẩm định tài chính dự án nếu được xây dựng khoa học, chặt chẽ, phát huyđược năng lực, sức sáng tạo của từng cá nhân và sức mạnh tập thể tạo thành một hệthống đồng bộ sẽ nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án Đồng thời, ngânhàng phải có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình thẩm định đối với từng cánhân và bộ phận thẩm định, hạn chế rủi ro đạo đức và rút ngắn thời gian thẩm định.Tuy nhiên, các quy định trên không được cứng nhắc, gò bó mất đi tính chủ động,sức sáng tạo của từng cá nhân làm giảm chất lượng thẩm định dự án.

1.3.2 Nhân tố khách quan

Đây là những nhân tố không thuộc tầm kiểm soát của ngân hàng, ngân hàngchỉ có thể tự điều chỉnh mình để hạn chế bớt tác động tiêu cực và thích nghi với cácthay đổi này Các nhân tố khách quan tác động đến chất lượng thẩm định tài chính

dự án gồm:

1.3.2.1 Những nhân tố từ phía khách hàng:

- Chất lượng hồ sơ do khách hàng cung cấp: Nguồn thông tin quan trọng đầu

tiên mà ngân hàng sử dụng khi thẩm định tài chính dự án chính là các thông tin, hồ

sơ do khách hàng cung cấp Vì vậy, chất lượng hồ sơ do khách hàng cung cấp cóảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm định của ngân hàng Các thông tin do kháchhàng cung cấp có chất lượng thể hiện ở tính đầy đủ của các thông tin và hồ sơ, sốliệu cung cấp phản ánh trung thực tình hình doanh nghiệp và dự án xin vay vốn, cácbáo cáo của doanh nghiệp được lập một các khoa học, rõ ràng và có căn cứ Thôngtin có chất lượng là điều kiện để khâu thẩm định của ngân hàng cho kết quả chínhxác, tiết kiệm thời gian và chi phí thẩm định

- Tư cách đạo đức của khách hàng: được thể hiện ở tính trung thực của

Trang 39

khách hàng trong việc cung cấp thông tin cho ngân hàng Nếu thông tin cung cấpkhông trung thực, thậm chí khách hàng cố tình làm giả, làm sai lệch báo cáo, sổsách sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm định của ngân hàng, ngân hàng sẽphải mất nhiều công sức hơn cho việc xác minh thông tin, hoặc phải chấp nhận mộtmức độ rủi ro nhất định do một số thông tin không thể xác minh, từ đó làm tăng yếutốt rủi ro trong quyết định tài trợ của ngân hàng

- Tiềm lực tài chính, kinh nghiệm tổ chức quản lý của chủ đầu tư: chủ đầu tư

có tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xin vay vốn đầu tư

là điều kiện thuận lợi cho việc triển khai dự án theo như kế hoạch Tuy nhiên, một

số khách hàng có tiềm lực và vị thế trong nền kinh tế, là đối tượng được các kháchhàng thu hút có thể gây áp lực cho ngân hàng trong quyết định cho vay cũng nhưcông tác thẩm định Ngân hàng có khi phải đưa ra quyết định cho vay trên cơ sởkhông có đầy đủ các thông tin về tình hình hiện tại của khách hàng

1.3.2.2 Những nhân tố khách quan khác:

- Môi trường kinh tế - xã hội: trình độ phát triển của nền kinh tế cũng có tác

động tới chất lượng thẩm định tài chính dự án, vì nó tác động tới độ tin cậy của cácthông tin cung cấp, của những dự báo về thị trường, chính sách, … trong quá trìnhthẩm định Ở các quốc gia có nền đang phát triển, thường có những hạn chế trongviệc thống kê, phân tích và cung cấp thông tin, hệ thống chính sách cũng thiếu đồng

bộ và thường xuyên phải điều chỉnh hơn với những nền kinh tế phát triển Chínhyếu tố thiếu công khai, minh bạch và không ổn định này sẽ hạn chế nguồn thông tin

mà ngân hàng có thể thu thập, cũng như giảm tính chính xác của các dự báo đưa ra,

vì vậy, làm giảm chất lượng thẩm định tài chính dự án của ngân hàng

- Môi trường pháp lý: tính đồng bộ, hiệu lực và sự ổn định của các quy định,

chính sách của Nhà nước, của địa phương có tác động không nhỏ tới chất lượngthẩm định tài chính dự án cũng như kết quả hoạt động của dự án trong thực tế Tạithời điểm thẩm định, ngân hàng thường dựa trên các quy định pháp luật hiện hành

để đánh giá về dự án, đồng thời cũng phải dự báo về sự thay đổi của các chính sách

có tác động tới dự án trong tương lai Nếu các chính sách thiếu đồng bộ, chồng

Trang 40

chéo, thiếu ổn định sẽ gây khó khăn cho ngân hàng khi thẩm định dự án ban đầu vàlàm tăng sự sai lệch giữa kết quả thẩm định hiện tại với kết quả triển khai dự ántrong thực tế, giảm chất lượng thẩm định của ngân hàng

- Môi trường tự nhiên: điều kiện tự nhiên của mỗi quốc gia, địa phương cũng

ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng triển khai dự án Điều kiện tự nhiên bất lợi cóthể ảnh hưởng xấu tới việc triển khai xây dựng công trình dự án, tới nguồn nguyênliệu đầu vào của dự án … do đó, cản trở việc triển khai dự án đúng tiến độ Khithẩm định dự án, ngân hàng cần tính đến các yếu tố này

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương I đã đưa ra là lý luận cơ bản về chất lượng thẩm định tài chínhDAĐT, các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định DAĐT trong hoạt động chovay của NHTM Các nội dung trình bày tại Chương I trên đây là những cơ sở lýthuyết quan trọng làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng thẩmđịnh tài chính DAĐT tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh tạiChương II

Ngày đăng: 22/04/2020, 03:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ phận thẩm định, NHNo&amp;PTNT Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, Báo cáo thẩm định, tái thẩm định “Dự án xây dựng nhà máy và lắp đặt máy móc thiết bị để sản xuất bia, nước giải khát của công ty TNHH Hoà Long” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án xây dựng nhà máy và lắp đặt máy móc thiết bị để sản xuất bia, nước giải khát của công ty TNHH Hoà Long
8. Hồ sơ dự án “Dự án xây dựng nhà máy và lắp đặt máy móc thiết bị để sản xuất bia, nước giải khát của công ty TNHH Hoà Long” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án xây dựng nhà máy và lắp đặt máy móc thiết bị để sản xuất bia, nước giải khát của công ty TNHH Hoà Long
17.Tổng giám đốc Agribank (2014), Quyết định 766/QĐ-NHNo- KHDN ngày 01/08/2014 quy định về “Quy trình cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp trong hệ thống NHNo&amp;PTNT Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam
Tác giả: Tổng giám đốc Agribank
Năm: 2014
18. Tổng giám đốc Agribank (2014), Quyết định 836/QĐ-NHNo-HSX ngày 07/08/2014) quy định về : “Quy trình cho vay đối với khách hàng là hộ gia đình, cá nhân trong hệ thống NHNo&amp;PTNT Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình cho vay đối với khách hàng là hộ gia đình, cá nhân trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam
Tác giả: Tổng giám đốc Agribank
Năm: 2014
2. Bộ xây dựng(2010), Quyết định số 411/QĐ-BXD ban hành ngày 31/3/2010 quy định về suất vốn đầu tư xây dựng công trình Khác
3. Chính phủ(2009), Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/03/2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt Khác
4. Chính phủ(2011), Nghị định số 113/2011/NĐ-CP ngày 08/12/2011 sửa đổi nghị định 26/2009/NĐ-CP Khác
5. Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam(2010), Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành ngày 29/06/2010 Khác
6. Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam(2008), Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 Khác
7. Hội đồng khoa học NHNo&amp;PTNT Việt Nam, Phương pháp và quy trình thẩm định dự án đầu tư thẩm định cho vay, Nhà in Ngân hàng I, 2006 Khác
9. Hội đồng thành viên Agribank (2014), Quyết định 66/QĐ – HĐTV- Khác
11.NHNo&amp;PTNT Việt Nam( 2004), Sổ tay tín dụng sử dụng cho toàn hệ thống Khác
12. NHNo&amp;PTNT Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2012, 2013, 2014 Khác
13. NHNo&amp;PTNT Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, Báo cáo kết quả hoạt động cho vay theo dự án đầu tư năm 2012, 2013, 2014 Khác
14. NHNo&amp;PTNT Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, Biên bản kiểm tra tiến độ thực hiện dự án, biên bản kiểm tra sử dụng vốn vay Khác
15. PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Thống Kê, 2008 Khác
16. Peter S.Rose, Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, 2001 ThS. Đinh Thế Hiển, Lập - thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư, Trung tâm ứng dụng kinh tế, Viện Kinh tế Tp.HCM, NXB Thống kê, 2002 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w