BIÊN BẢN HỘI THẢO Bảo vệ môi trường trong hệ thống các khu công nghiệp ở Việt Nam: Các lỗ hổng chính sách, vấn đề minh bạch thông tin và tác động đối với cộng đồng TP... 4 Thực trạng ô
Trang 1BIÊN BẢN HỘI THẢO Bảo vệ môi trường trong hệ thống các khu công nghiệp ở Việt Nam: Các lỗ hổng chính sách, vấn đề minh bạch thông
tin và tác động đối với cộng đồng
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 12 năm 2013
Trang 2Mục lục
Mục lục 2
1.Giới thiệu 3
2.Thời gian và địa điểm 4
3 Thành phần tham dự 4
4.Nội dung 4
Những nét lớn về phát triển các khu công nghiệp Việt Nam - GS Võ Thanh Thu 4
Thực trạng ô nhiễm môi trường ở các dự án công nghiệp và tác động đối với cộng đồng qua góc nhìn báo chí - Ông Hoàng Văn Chiên 6
Các kết quả, hạn chế chính của Đánh giá Môi trường Chiến lược, Đánh giá tác động môi trường và kiến nghị tiếp tục bổ sung chỉnh sửa các nội dung này trong dự thảo Luật BVMT sửa đổi – ThS Phạm Anh Đức 7
Các thách thức trong công tác tư pháp môi trường ở Việt Nam và kiến nghị - Luật sư Nguyễn Văn Hậu 8
Thảo luận phiên buổi sáng 9
Các lỗ hổng chính sách trong việc thực hiện ĐMC – ĐTM 12
Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý môi trường các khu công nghiệp và các gợi ý cho Việt Nam - TS Nguyễn Bình Giang 13
Thảo luận phiên buổi chiều 14
Vai trò của minh bạch thông tin và sự tham gia của cộng đồng trong công tác BVMT – Bà Trần Thanh Thủy 15
Các khó khăn và bài học kinh nghiệm trong điều tra báo chí về chủ đề BVMT và ĐTM các dự án phát triển, Nhà báo Trần Trung Thanh 16
Thảo luận báo chí 16
PHỤ LỤC A: Chương trình hội thảo 18
PHỤ LỤC B: Danh sách đại biểu tham dự 19
Trang 31.Giới thiệu
Đổi mới năm 1986 đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bùng nổ của các ngành kinh tế Trong đó, công nghiệp chế biến là lĩnh vực đã đạt được mức tăng trưởng ấn tượng và có những đóng góp rất tích cực cho kinh tế xã hội trong hai thập kỷ qua Theo số liệu thống kê năm 2012, công nghiệp chế biến đóng góp 17,39% tổng GDP quốc gia Để phục vụ hoạt động sản xuất, số lượng các khu công nghiệp (KCN) gia tăng nhanh chóng Tính đến cuối năm 2012, cả nước có
289 KCN do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ngoài ra, các cụm công nghiệp (CCN) cũng được hình thành theo cấp số nhân, đến cuối năm 2012 cả nước đã có 878 CCN
Có thể nói, việc thành lập các KCN-CCN là xu hướng tất yếu để quản lý tập trung hoạt động sản xuất Tuy nhiên, công tác quy hoạch và quản lý các KCN - CCN ở Việt Nam còn nhiều bất cập Theo một nghiên cứu gần đây, có một số nhóm lợi ích gắn liền với sự phát triển của các KCN – CCN gồm chính quyền các cấp, nhà đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp thuê đất, người lao động và người dân Những nhóm lợi ích trên có những mối quan tâm khác nhau liên quan đến KCN-CCN Điều này gây ra những khó khăn nhất định trong công tác quản lý và đôi khi dẫn đến những xung đột Ngoài ra, hiện nay việc phân quyền quản lý cho các bên liên quan chưa thực sự rõ ràng; dẫn đến sự chồng chéo, những lỗ hổng cũng như khó khăn trong công tác quản lý, đặc biệt trong công tác bảo vệ môi trường các KCN
Một phần do những lý do trên, trong những năm qua, có quá nhiều các KCN-CCN đã được thành lập mặc dù tỷ lệ điền đầy trong các khu đang hoạt động còn khá thấp Thực trạng này không chỉ gây lãng phí đất đai mà còn tạo ra các hệ lụy cho sinh kế người dân Bên cạnh đó, công tác BVMT đối với các KCN-CCN còn rất lỏng lẻo Trên thực tế, ô nhiễm môi trường tại các KCN-CCN diễn ra khá phổ biến và hết sức nghiêm trọng ở nhiều nơi, gây ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe cộng đồng và sinh kế của những người dân nghèo trực vốn tiếp phụ thuộc các nguồn tài nguyên như đất và nước Mặc dù công cụ chính sách Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được ban hành nhằm sàng lọc những dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên thực tế, sau quá trình thẩm định ĐTM, một số dự án đầu tư trong KCN - CCN có trình độ công nghệ lạc hậu vẫn được chấp thuận đưa vào sản xuất, gây ô nhiễm môi trường kéo dài và rất khó giải quyết
Thực trạng trên đặt ra những câu hỏi về tính hiệu quả của các công cụ quản lý cũng như sự minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường Cộng đồng địa phương là đối tượng ảnh hưởng nặng nề nhất do ô nhiễm môi trường Tuy nhiên hiện nay gần như chưa có cơ chế nào cho sự tham gia của cộng đồng trong các dự án trong đầu tư trong KCN Theo quy định hiện hành, cộng đồng địa phương chỉ được tham vấn trong quá thành lập KCN Và thực tiễn thực hiện tham vấn cũng còn tồn tại nhiều vấn đề Đối các dự án trong KCN, chủ đầu tư không phải thực hiện tham vấn cộng đồng trong quá trình đánh giá tác động môi trường Ngoài ra trong trường hợp xảy ra các sự cố môi trường ở giai đoạn hoạt động, cộng đồng dân cư cũng rất khó có thể tiếp cận với các doanh nghiệp đầu tư trong KCN
Trong thời gian qua, Quỹ Châu Á (TAF), PanNature và VFEJ đã tổ chức nhiều hoạt động hỗ trợ báo chí khai thác chủ đề BVMT và ĐTM, nhằm góp phần tăng cường minh bạch thông tin các
Trang 4dự án phát triển và đóng góp cho quá trình sửa đổi Luật BVMT 2005 Sau khi hoàn thành một
số chuyến điền dã, Trung tâm Con người và Thiên nhiên, Viện Khoa học Môi trường và Phát
triển phối hợp cùng các đối tác tổ chức hội thảo “Bảo vệ môi trường trong hệ thống các khu
công nghiệp ở Việt Nam: Các lỗ hổng chính sách, vấn đề minh bạch thông tin và các tác động đối với cộng đồng ” nhằm chia sẻ một số kết quả điền dã báo chí, tạo diễn đàn mở để các bên
liên quan cùng thảo luận về các bất cập trong chính sách bảo vệ môi trường nói chung và đánh giá tác tác động môi trường nói riêng
2.Thời gian và địa điểm
Thời gian: Ngày 27/12/2013
Địa điểm: Khách sạn Sen Việt – Sài Gòn, số 33 Cao Thắng, Quận 3, TPHCM
3 Thành phần tham dự
Hội thảo đã thu hút được 86 đại biểu tham gia Trong đó:
Đại diện cơ quan quản lý nhà nước: 25 đại diện
Đại diện các trường đại học, tổ chức nghiên cứu và xã hội dân sự: 30 đại diện
Đại diện cơ quan báo chí: 31 đại diện
(Danh sách đại biểu được đính kèm trong phụ lục B)
4.Nội dung
Phiên buổi sáng gồm 4 bài thuyết trình và được điều hành bởi ông Trịnh Lê Nguyên – Giám đốc PanNature Phần dưới đầy sẽ tóm tắt các nội dung thuyết trình và thảo luận trong phiên buổi sáng
Những nét lớn về phát triển các khu công nghiệp Việt Nam - GS Võ Thanh Thu, Trường Đại học Kinh tế TPHCM
GS Võ Thanh Thu đã vắn tắt trình bày thực trạng phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam
và phân tích các bất cập trong công tác quản lý quy hoạch Theo đó, KCX của đầu tiên của Việt Nam được thành lập từ năm 1991 Sau 23 năm, toàn quốc có 289 KCN và hàng ngàn cụm công nghiệp Trong những năm qua, các KCN – CCN của Việt Nam đã có những đóng góp tích cực như đã thu hút nhiều dự án FDI, đóng góp cho ngân sách nhà nước và giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động Nhìn chung, sự ra đời của các KCN – KCX đã góp phần đẩy mạnh
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng “công nghiệp hóa”.Tuy nhiên công tác quản lý và quy hoạch các KCN – KCX của Việt Nam còn nhiều bất cập Những tốn tại này làm hạn chế đóng góp tích cực của KCN-KCX đến sự phát triển bền vững kinh tế Việt Nam Giáo sư Thu đã phân tích 6 tồn tại lớn trong việc phát triển các KCN-KCX ở Việt Nam gồm:
Phát triển các KCN ồ ạt và hiệu quả thấp: Hầu tất cả các tỉnh đều phát triển KCN Hà Nội là
trung tâm chính trị - hành chính – văn hóa của cả nước nhưng cũng đã thành lập tới 19 KCN và
Trang 540 CCN Các tỉnh ĐBSCL cũng có tới 74 KCN và 214 CCN Tuy nhiên, tỷ lệ điền đầy ở các CCN rất thấp Hàng chục ngàn hecta đất đã bị bỏ hoang vì thành lập các KCN, tương ứng với hàng chục ngàn tỷ đồng bị lãng phí Nhìn chung, Việt Nam thiếu một chiến lược phát triển tổng thể các KCN Ban chỉ đạo các vùng kinh tế trọng điểm cũng chưa phát huy vai trò điều tiết kinh
KCN-tế trong vùng, trong đó có phát triển KCN
Ô nhiềm môi trường nghiêm trọng: Ví dụ ở DBSCL, hiện nay có tới 75% KCN và 85% CCN chưa
có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn Theo ước tính các CCN ở ĐBSCL đã thải 47 triệu m3 nước thải / năm Số lượng các nhà máy có vận hành hệ thống
KCN-xử lý nước thải cũng chỉ chiếm 42% Điều đáng lo ngại là rất nhiều doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý để đối phó, không vận hành mà xây dựng các hệ thống ống ngầm để thải trực tiếp nước thải ra sông, gây tác động tiêu cực đến kinh tế xã hội
Thiếu trầm trọng nguồn nhân lực về cả số lượng và chất lượng: Tuy được xây dựng giữa các
khu dân cư, nhiều KCN – CCN không tuyển dụng được đủ lao động Và nhiều ngành công nghệ cao không thể tuyển dụng được lao động Những nguyên nhân chính của hiện tượng khó thu hút lao động do đời sống của công nhân không đảm bảo, thường xuyên phải tăng ca trong khi thu nhập thấp và đa số doanh nghiệp chưa quan tâm đến đời sống công nhân, Ngoài ra, luật lao động và luật đình công chưa được hoàn thiện
Đa số các doanh nghiệp trong KCN thuộc ngành thâm dụng lao động hoặc gây ô nhiễm, ít doanh nghiệp có trình độ công nghệ cao: Theo kết quả khảo sát của Sở KHCN – TP.HCM ngày
6 tháng 1 năm 2010, số doanh nghiệp đạt trình độ công nghệ ở mức tiên tiến là 1 %, mức khá
là 4%, trung bình khá là 8% và trình độ thấp chiếm tới 51% Nhìn chung, các KCN-CCN mới chỉ tác động đến nền hình thế theo hướng “công nghiệp hóa” chưa chưa tham gia tích cực vào quá trình “hiện đại hóa”
Hiện tượng quy hoạch “treo” các KCN còn khá phổ biến: Chỉ riêng tại ĐBSCL có tới 100.000 hộ
dân bị mất đất cho các KCN – CCN Đời sống của người dân rất cơ cực vì không còn đất canh tác và cũng không thể tìm việc làm tại chỗ vì các KCN-CCN chưa đi vào hoạt động
Cơ sở hạ tầng các KCN – CCN còn yếu kém: Nhìn chung, hệ thống giao thông và điện lưới còn
khá kém dẫn đến hiện tượng nhiều KCN – CCN bị bỏ không Riêng ĐBSCL có tới 74 KCN và 214 CCN bỏ hoang, gây lãnh phí hàng chục ngàn ha
Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên gồm:
Trung ương và địa chưa có chiến lược phát triển KCN dẫn đến việc phát triển tùy tiện
và ngẫu hứng
Chất lượng quy hoạch KCN – CCN còn thấp: Nhiều KCN được quy hoạch gần sông để tiện xả thải và chưa gắn kết với các yếu tố khác như dân cư, lao động, nơi sinh hoạt cho công nhân
Hệ thống văn bản pháp luật liên quan như Luật lao động, Luật Môi trường còn nhiều điểm chưa phù hợp
Thực chất các công ty phát triển KCN là các công ty kinh doanh bất động sản, có một số hiện tượng như đầu cơ, chuyển nhượng kiếm lời, xẻ đất bán nền gây lãng phí và bức xúc cho người dân bị giải tỏa
Cơ chế quản lý môi trường còn chồng chéo, kém hiệu quả
Trang 6 Chiến lược thu hút đầu tư chưa bài bản và thiếu tầm nhìn
GS Võ Thanh Thu cũng đã đề xuất một số giải pháp để phát triển bền vững KCN như sau:
Xây dựng chiến lược phát triển KCN theo vùng kinh tế, đảm bảo phát huy thế mạnh đặc thù của từng vùng
Hoàn thiện các bộ luật và văn bản pháp quy để tạo hành lang pháp lý cho việc kiểm soát ô nhiễm
Xây dựng quy trình thành lập và vận hành KCN
Hoàn thiện các quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết các KCN
Thay đổi cơ cấu đầu tư vào các KCN tại các thành phố lớn theo hướng giảm các dự án thâm dụng lao động và gây ô nhiễm môi trường
Nhìn chung, để các KCN – KCX tác động tích cực tới sự phát triển bền vững kinh tế, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ từ Trung ương đến địa phương
Thực trạng ô nhiễm môi trường ở các dự án công nghiệp và tác động đối với cộng đồng qua góc nhìn báo chí - Ông Hoàng Văn Chiên, PanNature
Ông Hoàng Văn Chiên đã chia sẻ các câu chuyện cụ thể về tình hình phát triển các KCN và tác động môi trường – xã hội tại một số địa phương qua một số chuyến điền dã báo chí Nhìn chung, việc hình thành các KCN đã góp phần đóng góp tích cực cho kinh tế - xã hội thông qua giải quyết công ăn việc làm cho các lao động và tăng thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, nhiều KCN - CCN gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đời sống người dân và lãng phí đất đai Lào Cai có KCN Tằng Loỏng với diện tích 1100 ha, được thành lập chủ yếu để chế biến quặng Apatite và đồng Trong những năm gần đây, một số nhà máy được đầu tư trong KCN để chế biến phospho Hoạt động chế biến của nhà máy gây ô nhiễm và tiềm ẩn rất nhiều rủi ro do đặc thù dễ cháy của các sản phẩm phospho Một số chất thải từ nhà máy đã bị bốc cháy tại các con suối gần khu vực nơi sinh sống của 96 hộ dân Theo ước tính, có khoảng 1000 hộ dân đang sinh sống trong vùng nguy hiểm nhưng không thể di dời do ko có chi phí Người dân cũng đã phản ảnh về các bệnh lạ trong vùng chủ yếu liên quan xương Trâu bò cũng bị chết nhiều do nước suối ô nhiễm
Ông Chiên cũng đã chia sẻ thực trạng ở KCN Thụy Vân thuộc tỉnh Phú Thọ Sau 13 năm hoạt động, KCN vẫn chưa có có hệ thống xử lý nước thải tập trung Nước thải đã làm suy thoái 20
ha đất nông nghiệp dẫn đến việc người dân không thể canh tác
Trong KCN Hải Phòng, nhiều nhà máy sản xuất hóa chất được đầu tư xây dựng Khi nước mưa tràng, đưa hóa chất ra phía Lạch Huyện làm chết tôm cá do người dân đầu tư nuôi trồng Một
số KCN khác bị bỏ hoang do không có nhà đầu tư Nhiều hộ dân sinh sống xung quanh KCN Tràng Huyện, An Dương đã đầu tư tiền đi học nghề và mua xe tải để phục vụ KCN Tuy nhiên, sau 5 năm, KCN vẫn chưa đi vào hoạt động
Trang 7Các kết quả, hạn chế chính của Đánh giá Môi trường Chiến lược, Đánh giá tác động môi trường và kiến nghị tiếp tục bổ sung chỉnh sửa các nội dung này trong dự thảo Luật BVMT sửa đổi – ThS Phạm Anh Đức, Viện Khoa học Môi trường và Phát triển
Ông Phạm Anh Đức đã phân tích một số bất cập về việc thực hiện ĐMC và ĐTM ở Việt Nam Theo đó, Luật BVMT được thông qua 2005 và có vai trò quan trọng trong công tác BVMT ở Việt Nam hiện nay Trong Luật BVMT 2005, ĐMC – ĐTM là những nội dung quan trọng Năm vừa qua, Viện Khoa học Môi trường và Phát triển đã tổ chức các góp ý cho ĐMC-ĐTM tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng
Nhận xét về hiện trạng ĐMC, ông Đức cho rằng phần lớn các ĐMC còn hạn chế, mang tính minh họa và thiếu cơ sở lý luận Các nội dung chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quá rộng, thời gian quá dài và mang tính khái quát là những khó khăn lớn khi thực hiện ĐMC Báo cáo ĐMC nhìn chung chưa tính toán đầy đủ những tổn thất về môi trường và xã hội và thường không được lập đồng thời với quy hoạch Tham vấn trong ĐMC còn mang tính hình thức
Về hiện trạng ĐTM, ông Đức cho rằng ĐTM có hiệu quả cao hơn ĐMC mặc dù còn nhiều ý kiến phê phán Nhiều báo cáo ĐTM có chất lượng rất thấp Ví dụ, ĐTM của dự án Đồng Nai 6-6A không đưa ra đầy đủ các dự báo và dự báo ko rõ ràng Nhìn chung ĐTM được viết theo hướng tạo sự thuận lợi cho chủ đầu tư ĐTM chủ yếu quan tâm đến ô nhiễm như bao nhiêu chất thải phát sinh Trong khi đó, vấn đề sinh thái, đa dạng sinh hoạc và văn hóa bản địa lại rất ít được
đề cập trong báo cáo ĐTM
Ông Đức cũng đưa ra một số kiến nghị chỉnh sửa và bổ sung cho Luật BVMT sửa đổi nhằm nâng cao hiệu quả của ĐMC – ĐTM cho dự thảo Luật sửa đổi:
Sử dụng tham vấn các bên liên quan thay cho “tham vấn cộng đồng”, trong đó phải quy định rõ ràng về việc tham vấn cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp
Tham vấn các bên liên quan, cần làm suốt trong quá trình lập quy hoạch và thực hiện ĐCM Quy định tương tự như ĐTM
Hài hòa việc phân loại dự án với quy định quốc tế
Cần quy định chủ dự án đảm bảo thời gian và chi phí cho việc thực hiện ĐTM Ví dụ, Nhật Bản quy định cần tối thiểu 2 năm đề hoàn thành ĐTM
Bên cạnh việc sự báo khối lượng chất thải phát sinh, cần yêu cầu đánh giá các tác động của dự án đến môi trường và sinh thái
Cần khôi phục quy định về Hậu thẩm sau khi đã thẩm định báo cáo ĐTM
Ngoài ra, ông Đức đưa ra một số kiến nghị liên quan đến việc nghiên cứu, lập và thẩm định báo cáo ĐMC – ĐTM:
Chính phủ cần lập hướng dẫn chi tiết về ĐMC – ĐTM Các quy định hướng dẫn cần được lập dựa trên các quy định quốc tế để đàm bảo sự hài hòa
Cần nâng cao năng lực của hội đồng thẩm định, tránh tình trạng ko tập trung vấn đề cõi lõi và đảm bảo chú trọng nhữngng đặc thù của từng loại hình dự án
Cần nâng cao năng lực cho những cơ quan thực hiện ĐTM – ĐCM
Trang 8 Cần có cơ chế đảm bảo sự tham gia thực chất của các bên liên qua, đảm bảo tính minh bạch và sự đồng thuận
Cần làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường
Các thách thức trong công tác tư pháp môi trường ở Việt Nam và kiến nghị - Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM
Ông Hậu đã cung cấp một bức tranh chung về tranh chấp môi trường ở Việt Nam và các rào cản pháp lý Theo đó, tranh chấp môi trường ở Việt Nam ngày càng gia tăng Tuy nhiên, hiện nay có khá nhiều các rào cản về mặt pháp lý trong công tác môi trường Theo quy định, chủ thể bị xử lý là người xả thải chứ không phải giám đốc Quy định này là một trong những khó khăn cho công tác tư pháp môi trường Ông Hậu cũng đã phân tích đến một số vụ tranh chấp môi trường gồm Vedan, Nicotex và Sonadezi
Đối với vụ Vedan, Bộ Tài nguyên Môi trường đã ra quyết định xử phạt Công ty TNHH Vedan mấy trăm triệu và bắt phục hồi dòng sông Thị Vải Tuy nhiên, khi yêu cầu cưỡng chế thì UBND tình đồng Nai ko chấp hành Khi Hội Nông dân khiếu kiện với số tiền yêu cầu bồi thường là 800
tỷ đồng, các cơ quan thẩm quyền đổ trách nhiệm cho nhau Qua 3 năm đấu tranh, Vedan đã chấp thuận bồi thường 220 tỷ Tuy nhiên trên thực tế, việc khởi kiện không hề dễ dàng vì quá trình này nhiều thời gian và kinh phí
Về vụ Nicotex, công ty chôn hóa chất bảo vệ thực vật xuống lòng đất từ rất lâu Theo khảo sát,
từ khi nhà máy hoạt động, tỷ bệnh nhân ung thư tăng đột biến và hiện nay 30 – 40% dân số trong vùng mắc bệnh ung thư Người dân đề nghị khởi kiện công ty này ra tòa Để khởi kiện thì phải chứng minh được thiệt hại Tuy nhiên, việc chứng minh thiệt vô cùng khó khăn Việc xác định thiệt có thể dựa vào một số cơ quan nghiên cứu như Viện Tài nguyên và Môi trường Và
để đảm bảo tính pháp lý, UBND tỉnh phải có văn bản chỉ định có quan xác định thiệt hai Tuy nhiên, cơ quan thẩm quyền đã phản hồi bằng sự một im lặng đáng sợ Ông Hậu nhận định ràng công tác BVMT đồng hành với người dân là vô cùng khó khăn Ý thực pháp luật BVMT ở Việt Nam rất đáng báo động và các đoàn thể nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của công tác BVMT
Ông Hậu cũng phân tích các bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành Theo quy định, Người dân có quyền được kiện Tuy nhiên, việc kiện tập thể lại không có hiệu lực Trong vụ Vedan,
có tới 836 hộ dân bị ảnh hưởng Việc 836 hộ dân này đứng ra kiện đơn lẽ sẽ gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự và làm mất nhiều thời gian của các cơ quan thẩm quyền Một vấn đề khác
là thời gian hiệu lực cho các vụ kiện Thời hạn khởi hiện cho phép tối đa là 2 năm Do đó, nhiều chủ thể đã cố tình “cò cưa” kéo dài quá trình thương thuyết để hết khoảng thời gian có hiệu lực Hơn nữa, ảnh hưởng từ ô nhiễm nhiều khi chỉ bộc lộ sau hàng chục năm Ở Pháp, thời hạn quy định cho các vụ kiện môi trường là 30 năm Một số quốc gia châu Âu không quy định thời gian cho các vụ kiện môi trường Ngoài ra, các khả năng tài chính hạn chế từ người dân cũng
là một trong những khó khăn lớn trong quá trình khởi kiện Một bất cập khác là UBND cấp xã
có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp môi trường Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định rõ thành phần, quy định trình tự và giới hạn xử lý Khảo sát cho thấy cả 5 xã liện quan đến Nicotxe đều không biết về những quy định này Thỏa thuận bồi thường là cơ chế được các
Trang 9bên mong đợi Tuy nhiên pháp luật không quy định rõ về việc xử lý khi một trong các bên không thực hiện đúng thỏa thuận
Ông Hậu đưa ra một số kiến nghị chính sách như sau:
Về khởi kiện tập thể: Quốc hội nên xem xét cho phép khởi kiện tập thể cho hành vi ô nhiễm, được đại diện bởi 1 cá nhân hoặc 1 tổ chức như Xã hội dân sự hay Hội nông dân Nếu không có cơ chế này, vấn đề an ninh dễ bị ảnh hưởng Thực tế đã thấy hàng ngàn người dân chặn doanh nghiệp, mắc lều hay canh tang vật do bực xúc Nếu ko tạo điều kiện thuận lợi cho người thiệt hại, Luật BVMT khó có thể được thực hiện hiểu quả
Cơ chế này cũng sẽ góp phần giảm áp lực cho các cơ quan thẩm quyền
Về thời hạn khởi kiện: Hành vi ô nhiễm môi trường thường kéo dài, đặc biệt tác động đối với sức khỏe khó được phát hiện trong khoảng 2 - 5 năm Ở vụ Nicotex, tỷ lệ bệnh nhân ung thư chỉ được phát hiện sau một thời gian tương đối dài Đồng thời, người dân mất thời gian rất dài để khởi kiện Bởi vậy, cần kéo dài thời hạn khiếu kiện đối với các vụ xâm hại môi trường
Về trách nhiệm xác định thiệt hại: Cần quy định rõ cơ quan quan nào xác định thiệt hại
và cơ quan nào chịu trách nhiệm hỗ trợ người dân Hiện nay, luật không quy định cơ quan nào có trách nhiệm hỗ trợ người dân
Về cơ chế hòa giải: Cần quy định cơ chế xử lý khi không thực hiện các thỏa thuận đã cam kết
Về giải quyết tranh chấp: Cần sớm thành lập Tòa án chuyên trách các vấn đề môi trường trực thuộc UBND tỉnh Ngoài ra, cần đảm bảo tính minh bạch trong các vụ kiện môi trường
Thảo luận phiên buổi sáng
Ông An Sơn Phòng Quản lý Môi trường – Ban Quản lý các KCN tỉnh Bình Thuận
Ông Sơn bày tỏ sự đồng tình về các quan điểm trong bài thuyết trình của GS Thu Ông Sơn bổ sung thêm một số điểm chính như sau:
Về quy hoạch: Chính phủ quy hoạch các KCN dựa trên đề xuất từ các địa phương Trên thực
tế, nhiều KCN đăng ký một số ngành nghề nhất định nhưng khi đi vào hoạt động lại khó thu hút các ngành đã đăng ký nên đề xuất bổ sung hành nghề Việc ĐTM được thực hiện cho KCN khi chưa có đầy đủ thông tin chi tiết về các nhà máy đầu tư bên trong dẫn đến nhiều hạn chế Ngoài ra, việc bổ sung một số ngành nghề may mặc làmsố lượng công nhân tăng đột biến so với dự tính ban đầu Nhìn chung, ĐTM ban đầu chưa phân tích các tác động từ ngành nghề bổ sung
Về ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm không khí và nước ngày càng trầm trọng Ô nhiễm môi trường cũng liên quan đến vấn là quy hoạch KCN Quy hoach phân vùng không đúng cũng dẫn đến những ô nhiễm đi theo Đối với một số vùng trũng như Bình Thuật, nước thải rất khó tiêu thoát
Dù tất cả các nhà máy đều đạt tiêu chuẩn, ô nhiễm trong vũng vẫn gia tăng do nước không tiêu thoát Người dân tại Bình Thuận đã phàn nàn về tình trạng ô nhiễm nhưng khi kiểm tra nhà máy đạt quy chuẩn theo yêu cầu đối với nước thải Bởi vậy, cần đảm bảo xây dựng quy chuẩn theo vùng
Trang 10Ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Ban quản lý các Khu công nghiệp, tỉnh Đồng Nai
Đại diện từ BQL – KCN tỉnh Đồng Nai cũng bày tỏ đồng tình với thuyết trình của GS Thu KCN còn tồn tại nhiều vấn đề tổng thể từ quy hoạch, phát triển kinh tế, môi trường và lao động Hiện nay, đã có quy hoạch KCN của từng địa phương Tuy nhiên cần nghiên cứu chiến lược phát triển tổng thể KCN trên cả nước Cần tính toán các vấn đề như vị trí dễ thu hút đầu tư, vấn đề xử lý chất thải, cung ứng lao động trong các quy hoạch Việc bảo vệ môi trường trong các KCN còn nhiều tồn tại Vấn đề là tầm nhìn quan điểm về BVMT địa phương như thế nào Nếu chấp nhận đầu tư bằng mọi cách thì đương nhiên gây ô nhiễm môi trường Bản thân công
ty kinh doanh hạ tầng chưa hoàn thành trách nhiệm khi chưa xây hệ thống xử lý chất thải Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao các địa phương cho phép đầu tư các nhà máy khi KCN chưa hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung Ngoài ra, cần đặt câu hỏi về các công ty nhận
xử lý chất thải Khi hoạt động, nhiều doanh nghiệp sản xuất sẵn sàng bỏ chi phí xử lý nhưng họ không chuyên về xử lý chất thải Bởi vậy, các chất thải rắn và chất thải nguy hại được chuyển giao cho đơn vị xử lý Nhưng cần giám sát chặt chẽ hơn việc xử lý chất thải của các đơn vị này Ngoài ra, cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp làm tốt
Ông Trịnh Lê Nguyên (PanNature): Hiến pháp 2013 đã quy định về cơ chế bồi thường Hy vọng,
các cơ chế này sẽ được thể hiện rõ ràng hơn trong các Luật liên quan như Luật Bảo vệ Môi trường và Luật Hình sự Tuy nhiên, ý tưởng thành lập Tòa môi trường còn hơi xa thực tế Hiện nay, Trung Quốc cũng đã thành lập Tòa án Môi trường những mới dừng ở hình thức thử
nghiệm
Ông Bùi Mạnh Hùng, Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Phước
Ông Hùng bày tỏ sự băn khoăn về công tác BVMT ở Việt Nam Hiện nay, chính sách BVMT chủ yếu do chính phủ xây dựng Và việc triển khai trên thực tế còn nhiều vấn đề Tại nhiều nơi, người dân bày tỏ sự bức xúc về ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, khi các cơ quan chức năng kiểm tra thì lại kết luận doanh nghiệp làm đúng quy định và trong giới hạn cho phép Như vậy,
cơ quan ra quyết định chịu trách nhiệm như thế nào về tình trạng này Ví dụ cụ thể khi khai thác đá, nhà dân bị nứt do hoạt động nổ mìn Tuy nhiên kết quả kiểm tra của Bộ TNMT lại cho thấy độ rung nằm trong giới hạn cho phép Cần nghiên cứu hạn chế việc giao cho Chính phủ xây dựng các quy định Và nếu xây dựng quy định sai thì phải chịu trách nhiệm Về vấn đề ĐTM, dự án nào cũng làm ĐTM nhưng ô nhiễn môi trường vẫn diễn ra ngày càng trềm trọng Như vậy, nguyên nhân có thể do nhà máy thực hiện không nghiêm túc, ĐTM không đúng thực
tế hoặc cơ quan thẩm quyền không thẩm định tốt Cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thẩm định, cơ quan làm ĐTM Và khi xảy ra sự cố, các cơ quan này cần phải chịu trách nhiệm cùng
Ông Phạm Anh Đức, Viện Môi trường và Phát triển
Hiện nay, Việt Nam đã quy định những thông số chuẩn cho các Quy chuẩn Môi trường Vấn đề
ở đây là phương pháp lấy mẫu và phân tích Việc lấy mẫu không đúng thời điểm xả thải sẽ gây sai lệch lớn trong kết quả phân tích Hiện nay có một số phương pháp phân tích chính xác như
Trang 11chỉ thị sinh học Tuy nhiên, phương pháp này mất rất nhiều thời gian và khó có cơ quan lấy mẫu nào có thể áp dụng
Luật sư Nguyễn Văn Hậu,
Quay lại vấn đề lấy mẫu, cần quy định rõ cơ quan nào có trách nhiệm lấy mẫu và xác định thiệt hại Hiện nay, thiệt hại mới chủ yếu được xác định dựa trên “bề nổi” như lượng tôm cá bị chết Những vấn đề khác như thẩm thấu và phát tán vẫn chưa được đánh giá Các tỉnh có hai cơ quan trực tiếp phụ trách vấn đề liên quan là Sở TNMT và Sở NN & PTNT Tuy nhiên, Luật không quy định cơ quan nào quan nào xác định thiệt hại Ngoài ra, cần quy định cơ quan tiếp nhận phản ánh của người dân về các vấn đề môi trường
Đại diện
Một doanh nghiệp sẽ phải chi trả hàng trăm triệu để xử lý 1000 m3 nước thải / tháng Như vậy, các tổ chức khoa học công nghệ cần nghiên cứu thêm để giảm chi phí xử lý Nếu nhiều tổ chức đứng chuyển giao công nghệ xử lý với chi phí thấp, doanh nghiệp chắc chắn sẽ thực hiện Về ĐTM, hầu hết ĐTM đều được thông qua sau khi ra hội đồng Đơn vị tư vấn bắt buộc phải bảo
vệ chủ đầu tư Một vấn đề nữa là chủ đầu tư có thực hiện các cam kết trong ĐTM hay không
và cơ quan nào chịu trách nhiệm hậu thẩm Theo quy đinh của Ngân hàng thế giới, mỗi dự án cần ít nhất 6 tháng để thực hiện ĐTM Tuy nhiên ở Việt Nam, nhiều địa phương muốn thu hút đầu tư nên thời gian thực hiện ĐTM không đủ đảm bảo
Ông Trịnh Lê Nguyên: Nhiều doanh nghiệp đầu tư hệ thống xử lý nước thải nhưng chỉ chạy khi
có đoàn kiểm tra Theo quy trình, đoàn thanh tra phải báo trước doanh nghiệp trước khi tiến hành kiểm tra Bởi vậy, rất khó phát hiện sai phạm với quy trình thanh tra hiện hành
Ông An Sơn – trưởng phòng MT Ban QL các KCN tỉnh Bình Thuận
Cần phải nghiên cứu cải cách vấn đề bảo vệ môi trường từ giai đoạn đầu dự án Hiện nay, chúng ta cấp giấy phép tràn lan, vấn đề ô nhiễm nhiễm môi trường xử lý sau ĐTM hiện nay như một tấm vé để cấp giấy chứng nhận đầu tư chứ không phải là cơ sở để thực hiện như nhiều quốc gia khác Các tỉnh muốn thu hút đầu tư nên coi nhẹ và “linh hoạt” trong quá trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môii trường Cần phải xem xét vị trí đầu tư có phù hợp với loại hình dự án hay không Và chủ đầu tư cần phải làm gì để đảm bảo vấn đề môi trường
Ông Nguyễn Văn Hiếu - Ban Quản lý các Khu công nghiệp, tỉnh Vĩnh Long
Ông Hiếu phát biểu một số quan điểm từ góc độ quản lý nhà nước Việc phát triển các KCN là đầu vào cho phát triển kinh tế của địa phương Tuy nhiên vấn đề là thực thi chưa tốt do nhiều nguyên nhân Cần phải phải có cơ sở khoa học, tính toán phân vùng cho hợp lý đối với quy hoạch KCN Ông Hiếu cũng nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của cơ quan nghiên cứu khoa học Chất lượng quy hoạch sẽ tốt hơn nếu có sự tham gia đầy đủ của giới khoa học thay vì phụ thuộc ý chí chủ quan của các các cơ quan quản lý nhà nước