Thẻ có thể được sử dụng để rút tiền, nộp tiền, chuyển khoản hoặc để thanh toán hàng hóa dịch vụ… Hoạt động thanh toán qua thẻ của các ngân hàng phát triển đã mang đến cho các ngân hàng
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ công nhân viên của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tiên Du cùng thầy Nguyễn Trần Hưng – giáo viên hướng dẫn nghiên cứu khóa luận trong suốt thời gian hoàn thành bài khóa luận này Tuy nhiên do còn nhiều thiếu sót về mặt kinh nghiệm thực tiễn và sự hạn hẹp về thời gian nên bài báo cáo không tránh khỏi sai sót, mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để bài báo cáo được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Minh Khuê
Trang 2MỤC LỤC
STT iv
Tên viết tắt iv
Tên đầy đủ Tiếng Anh iv
Tên đầy đủ Tiếng Việt iv
1 iv
TMĐT iv
Thương mại điện tử iv
2 iv
TTĐT iv
Thanh toán điện tử iv
3 iv
TTTT iv
Thanh toán trực tuyến iv
4 iv
DN iv
Doanh nghiệp iv
5 iv
ATM iv
Automated teller machine iv
6 iv
KH iv
Khách hàng iv
7 iv
CNTT iv
Công nghệ thông tin iv
8 iv
CBCNV iv
Cán bộ công nhân viên iv
9 iv
POS iv
Point of sales iv
10 iv
NHNN & PTNT iv
Ngân hàng Nông nghiệp Và phát triển Nông thôn iv
11 iv
NHTM iv
Ngân hàng thương mại iv
12 iv
NHTW iv
Ngân hàng trung ương iv
13 iv
NHPHT iv
Ngân hàng phát hành thẻ iv
14 iv
GTGT iv
Gía trị gia tăng iv
15 iv
ĐVCNT iv
Đơn vị chấp nhận thẻ iv
Trang 3NHTMCP iv
Ngân hàng thương mại cổ phần iv
17 iv
Agribank iv
Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development iv
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam iv
18 iv
WTO iv
World Trade Organization iv
Tổ chức thương mại thế giới iv
19 iv
E-mail iv
Electric Mail iv
Thư điện tử iv
BẢNG DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG, BIỂU ĐỒ v
2.4.2 Kết quả xử lý giữ liệu thứ cấp 43
BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4STT Tên viết tắt Tên đầy đủ Tiếng Anh Tên đầy đủ Tiếng Việt
machine
PTNT
Ngân hàng Nông nghiệp Và phát triển Nông thôn
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam
Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5BẢNG DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1 Số lượng phát hành các loại thẻ thanh toán tại ngân hàng qua 3
Biểu đồ 6 Mức độ hài lòng của khách hàng về độ an toàn khi sử dụng
phương thức thanh toán qua thẻ của Agribank 43
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
ơ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, hệ thống ngân hàng đã cho ra đời nhiều phương tiện thanh toán mới dựa trên nền tảng công nghệ tin học hiện đại trong đó thẻ được coi là một bước đột phá Thẻ có thể được sử dụng để rút tiền, nộp tiền, chuyển khoản hoặc để thanh toán hàng hóa dịch vụ…
Hoạt động thanh toán qua thẻ của các ngân hàng phát triển đã mang đến cho các ngân hàng một vị thế mới, một diện mạo mới Ngoài sự khẳng định sự tiên tiến về công nghệ, triển khai dịch vụ thanh toán qua thẻ cũng xây dựng được hình ảnh thân thiện với từng khách hàng, tăng các sản phẩm dịch vụ thanh toán qua thẻ với tính chuẩn hóa quốc tế cao là những sản phẩm dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao trong quá trình hội nhập Chính vì vậy dịch vụ thanh toán qua thẻ đã và đang được các ngân hàng thương mại nhìn nhận là một lợi thế cạnh tranh hết sức quan trọng trong công cuộc đua ngắm tới thị trường bán lẻ
Nhận thức được vai trò và lợi ích mà hoạt động thanh toán qua thẻ mang lại cho ngân hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam nói chung và chi nhánh huyện Tiên Du nói riêng đã có những bước đi tích cực nhằm thâm nhập thị trường đang trên đà phát triển mạnh này Agribanhk đã tích cực triển khai sản phẩm dịch vụ thẻ nhằm phát triển hoạt động thanh toán qua thẻ của ngân hàng và đem lại những tiện ích cho khách hàng đã bước đầu gặt hái được những thành công, tuy vậy, hoạt động thanh toán qua thẻ của Agribank vẫn còn nhiều vấn đề bất cập Những vấn
đề này cần được giải quyết như thế nào để hoạt động thanh toán qua thẻ thực sự trở thành một lợi thế cạnh tranh của Agribank - đó là vấn đề bức xúc đặt ra với ngân hàng Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ thanh toán qua thẻ tại ngân hành Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Tiên Du” để nghiên cứu cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng nghiệp vụ thanh toán qua thẻ tại ngân hàng qua 3 năm 2010-2012 Đồng thời tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến nghiệp vụ này của ngân hàng Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động thanh toán qua thẻ cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam huyện Tiên Du
Trang 7b Mục tiêu cụ thể
Đề tài này bao gồm các mục tiêu sau:
- Giới thiệu và phân tích khái quát về tình hình hoạt động 2011- 2013 của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và chi nhánh tại huyện Tiên Du
- Phân tích thực trạng của hoạt động kinh doanh thẻ thanh toán tại ngân hàng trong 3 năm 2011- 2013
- Phân tích các nhân tố hoạt động kinh doanh thẻ thanh toán tại ngân hàng trong thời gian vừa qua
- Đề xuất các giải pháp để phát triển hoạt động thanh toán qua thẻ tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn huyện Tiên Du
3 Phạm vi, đối tượng của nghiên cứu:
a Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về hoạt động thanh toán thẻ mà không tập trung nghiên cứu về tất cả các mặt hoạt động kinh doanh của ngân hàng như huy động vốn, cho vay, kinh doanh ngoại tệ…
Thời gian nghiên cứu cũng là thời gian thực tập tại đơn vị
b Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng chính của đề tài:
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thẻ, hoạt động thanh toán qua thẻ của ngân hàng
- Thực tiễn hoạt động thanh toán qua thẻ của ngân hàng NN & PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Tiên Du
4 Xác định và tuyên bố vấn đề
Nhận thức được tầm quan trọng của việc thanh toán qua thẻ vào trong quá trình kinh doanh, Ngân hàng NN & PTNT Việt Nam nói chung và chi nhánh huyện Tiên Du nói riêng đã áp dụng dịch vụ thanh toán qua thẻ Sau khi triển khai hoạt động kinh doanh qua thẻ ngân hàng đã thu được nhiều thành công và mang lại lợi nhuận lớn Tuy nhiên trong quá trình thực tập tại ngân hàng, được làm việc trực tiếp tại phòng thanh toán quốc tế và qua điều tra phỏng vấn trực tiếp với giám đốc, nhân viên trong ngân hàng, em đã thấy được những hạn chế trong hoạt động kinh doanh thanh toán qua
Trang 8thẻ của chi nhánh Tiên Du Là một cử nhân quản trị TMĐT trong tương lai em nhận thấy cần phải có những giải pháp để hoàn thiện hơn nữa dịch vụ thanh toán qua thẻ
của ngân hàng Đó là lý do em quyết định lựa chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ thanh
toán qua thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Tiên Du”
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, sơ đồ khóa luận gồm 3 phần chính:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng dịch vụ thanh toán qua thẻ tại chi nhánh NHNN & PTNT huyện Tiên Du
Chương 3: Giải phát phát triển dịch vụ thanh toán qua thẻ tại chi nhánh NHNN
& PTNT huyện Tiên Du.
Trang 9CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỂ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
- Khái niệm dịch vụ thanh toán qua thẻ là cách thức thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
1.2.1 Đăc điểm của dịch vu thanh toán qua thẻ:
- Thanh toán qua thẻ không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: hoạt động
TT không còn bị hạn chế trong phạm vi một quốc gia, một khu vực mà được kết nối trên phạm vi toàn cầu trong suốt 24h/ngày và 7 ngày/tuần Một giao dịch thanh toán giữa người dùng và đơn vị chấp nhận thẻ ở hai quốc gia cách xa nhau có thể thực hiện trong vài chục giây kể từ khi nhấn nút hoàn thành giao dịch
- Các phương thức thanh toán đa dạng, phù hợp với nhiều nhóm khách hàng khác nhau như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ… tạo điều kiện thuận lợi cho người dử dụng trong quá trình giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ
1.2.2 Phân loại thẻ:
1.2.1.1Phân loại theo công nghệ sản xuất:
• Thẻ băng từ (Magnetic): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông
tin đằng sau mặt thẻ Thẻ này được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua, nhưng đã bộc
lộ một số nhược điểm: do thông tin trên thẻ không tự mã hóa được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hóa, bảo mật thông tin…
• Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ
có cấu trúc hoàn toàn như máy vi tính
1.2.1.2Phân loại theo chủ thể phát hành
• Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát
hành giúp cho ngân hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng
• Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của
các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn… phát hành như Diners Club, Amex…
Trang 101.2.1.3Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ
• Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó
người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay, chấp nhận loại thẻ này Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định Cũng từ đặc điểm trên người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả
• Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với
tài khoản tiền gửi Loại thẻ này khi được sử dụng mua hàng hóa hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại của hàng, khách sạn… đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn… Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:
- Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khảo chủ thẻ
- Thẻ offline: là loại thẻ mà gí trị những giao dịch được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày
1.2.1.4Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
• Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy
đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó
• Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các
ngoại tệ mạnh để thanh toán
1.2.3 Các chủ thể tham gia thị trường thẻ
• Ngân hàng phát hành là ngân hàng cung cấp thẻ cho khách hàng Ngân hàng
phát hành chịu trách nghiệm nhận hồ sơ xin cấp hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ thẻ
Ngân hàng phát hành thẻ quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho các chủ thẻ Ngân hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba là một ngân hàng hoặc một tổ chức tài chính tín dụng khác nhau trong việc thnah toán hoặc phát hành thẻ
Trang 11• Ngân hàng đại lý hay ngân hàng chấp nhận thanh toán:
Ngân hàng đại lý là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ trên địa bàn Mỗi ngân hàng có thể vừa đóng vai trò thanh toán thẻ vừa đóng vai trò phát hành
Trong hợp đồng chấp nhận thẻ ký kết với các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch
vụ, ngân hàng thanh toán thẻ cam kết: chấp nhận các đơn vị này vào hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng, cung cấp các thiết bị thẻ đọc tự động cho các đơn vị này kèm theo hướng dẫn sử dụng hoặc chương trình đào tạo nhân viên cách thức vận hành cùng với dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng đi kèm trong suốt thời gian hoạt động, quản lý và sử lý những giao dịch có thể sử dụng thẻ tại những đơn vị này
Thông thường ngân hàng thanh toán thu từ các đơn vị cung ứng hàng hóa dịch
vụ có kí kết hợp đồng chấp nhận thẻ một mức phí chiết khấu cho việc xử lý các giao dịch có thể sử dụng thẻ tại đây
• Tổ chức thẻ quốc tế là hiệp hội các tổ chức thẻ tài chính, tín dụng lớn tham
gia phát hành và thanh toán thẻ quốc tế Tổ chức thẻ quốc tế là đơn vị đứng đầu, quản
lý mọi hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, có mạng lưới rộng khắp và có các thương hiệu nổi tiếng khắp thế giới với các sản phẩm thẻ đa dạng, ví dụ tổ chức thẻ Visa, Master, công ty thẻ American Express, công ty thẻ JCB, công ty thẻ Dinners Club…
Tổ chức thẻ quốc tế đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức và các công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thnah toán giữa các công ty thành viên, cung cấp một mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thnah toán, cấp phép cho ngân hàng thành viên một cách nhanh chóng
• Chủ thẻ
Là người có tên ghi trên thẻ được dùng thẻ để chi trả thanh toán tiền mua hàng hoán dịch vụ Chỉ có chủ thẻ mới có thể sử dụng thẻ của mình Mỗi khi thanh toán cho các cơ sở chấp nhận thẻ về hàng hóa dịch vụ hoặc trả nợ chủ thẻ phải xuất trình thẻ để nơi đây kiểm tra theo quy trình và lập biên lai thanh toán
- Chủ thẻ chính: là người có tên trên thẻ, đã đứng ra xin được ngân hàng cấp phát thẻ để sử dụng
- Chủ thẻ phụ: là người được chủ thẻ chính đề nghị ngân hàng cấp hành thẻ để dùng chung một tài khoản với chủ thẻ chính
Trang 12Chủ thẻ chính có trách nghiệm khai báo thông tin đầy đủ chính xác với ngân hàng phát hành khi đăng ký làm thẻ Chủ thẻ cũng chịu trách nhiệm thanh tón mọi giao dịch của cả chủ thẻ chính và phụ Các giao dịch của chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ
có cùng bản sao kê và được gửi về ngân hàng thanh toán sau mỗi giao dịch Dù dùng thẻ chính hay thẻ phụ, khách hàng cũng chỉ được sử dụng trong hạn mức tín dụng được ngân hàng đồng ý
• Đơn vị chấp hành thẻ
Là các thành phần kinh doanh hàng hóa và dịch vụ có ký kết với ngân hàng thanh toán về việc chấp nhận thẻ như: nhà hàng, khách sạn, cửa hàng… Các đơn vị này phải trang bị thiết bị máy móc kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán tiền mua hàng hóa nào đó, đơn vị này phải có tình hình tài chính tốt và năng lực kinh doanh
1.2.4 Những tiện ích và rủi ro thường gặp trong dịch vụ thanh toán qua thẻ
1.2.4.1Những tiện ích của dịch vụ thanh toán qua thẻ
a Đối với ngân hàng
- Mang lại lợi nhuận và hiệu quả cao trong thanh toán
Thông qua hoạt động kinh doanh thẻ, các ngân hàng sẽ thu được khoản lợi nhuận từ các chi phí sử dụng thẻ, phí thường niên hay phí thu từ dịch vụ Ngân hàng và đầu tư kèm theo… Khoản lợi nhuận này hầu như rất chắc chắn bởi khi mỗi khách hàng khi muốn sử dụng thẻ đều phải ký quỹ hoặc nộp vào tài khoản thẻ mà chủ thẻ không được sử dụng vượt quá số tiền đó Trong khi đó, lượng giao dịch bằng thẻ hàng ngày
có thể lên tới hàng trăm hàng nghìn thẻ, vì vậy khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh thẻ hoàn toàn không nhỏ
Hơn nữa, ngân hàng có thể sử dụng số tiền tạm thời nhàn rỗi trong tài khoản thẻ của khách hàng để đầu tư hoặc cho vay vốn nhằm mục đích sinh lãi mà vẫn đảm bảo tính thanh khoản cho khách hàng
Tỷ lệ lợi nhuận tương đối cao từ hoạt động kinh doanh thẻ có thể bù đắp cho những hoạt động kém sinh lãi hơn của Ngân hàng như kinh doanh trên tài khoản vãng lai vì lãi suất thấp hơn
- Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng
Thẻ thanh toán ra đời góp phần làm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng, mang tới cho ngân hàng một loại hình thanh toán đa tiện ích và tạo cơ hội cho ngân hàng phát triển các dịch vụ song song như đầu tư, bảo hiểm,… nhằm thỏa mãn
Trang 13tốt nhất nhu cầu của khách hàng Chính điều này đã giúp ngân hàng vừa thu hút được những khách hàng tiềm năng vừa giữ được khách hàng truyền thống.
- Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, tăng cường các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Để có thể áp dụng nghiệp vụ thanh toán thẻ, đòi hỏi mỗi ngân hàng phải không ngừng nâng cao trình độ, trang bị thêm các loại hình máy móc thiết bị kỹ thuật mang tính công nghệ cao,… nhằm cung cấp cho khách hàng những điều kiện tốt nhất trong thanh toán, đảm bảo uy tín, an toàn và tăng khả năng cạnh tranh
Với việc tham gia vào các tổ chức thẻ quốc thẻ quốc tế như Visa hay Master Card hay trở thành thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế,… Ngân hàng có mối quan
hệ làm ăn với nhiều ngân hàng và nhiều tổ chức tài chính trong và ngoài nước Nhờ mối quan hệ này, một ngân hàng dù lớn hay nhỏ trên thế gới cũng có thể cho khách hàng một phương tiện thanh toán quốc tế có chất lượng như bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào Điều này tạo điều kiện cho ngân hàng tăng cường hoạt động kinh doanh, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập với cộng đồng quốc tế
- Tăng nguồn vốn cho ngân hàng
Nhờ thẻ thanh toán, số lượng tiền gửi của khách hàng trong ngân hàng nhằm mục đích thanh toán thẻ và số lượng tài khoản của các ĐVCNT ngày càng tăng lên Các tài khoản này tạo cho ngân hàng một lượng vốn nhàn rỗi đáng kể, có thể coi là một nguồn sinh lợi cao cho ngân hàng
b Đối với chủ thẻ
- Nhanh chóng, thuận tiện
Với việc sử dụng thẻ thanh toán, người sử dụng có thể cảm nhận được sự tiện lợi của nó hơn hẳn các phương tiện thanh toán khác
Trước hết thẻ có kích thước nhỏ gọn do đó người sử dụng có thể dễ dàng mang theo khi đi du lịch hay công tác xa Với việc sư dụng thẻ, khách hàng tránh được tình trạng mang theo một khối lượng lớn tiền mặt, cồng kềnh và bất tiện Khi thực hiện mua bán dịch vụ hàng hóa chủ thẻ chỉ cần xuất trình thẻ và ký vào hóa đơn là có thể thực hiện xong một giao dịch Đặc biệt với một số quốc gia trên thế giới không chấp nhận cho mang quá nhiều tiền mặt qua biên giới thì việc sử dụng thẻ trong thanh toán càng trở lên hữu ích vì mạng lưới thanh toán thẻ trên thế giới là rất rộng Điều này có nghĩa là khi ra nước ngoài, thay vì viêc phải chuyển bị trước một lượng ngoại tệ hay
Trang 14séc du lịch, chủ thẻ chỉ cần mang theo thẻ thanh toán để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình.
Ngoài ra khách hàng còn có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt một cách nhanh chóng và thuận tiện tại các rút tiền tự động 24h/24h mà không cần thiết phải đến ngân hàng thực hiện giao dịch như một số phương tiện thanh toán khác
- An toàn và hiệu quả trong sử dụng
Thẻ thanh toán được chế tạo bằng công nghệ hiện đại, hết sức tinh vi và khó làm giả Thẻ được bảo vệ bằng số PIN và những thông tin được mã hóa đằng sau chiếc thẻ, tránh được nguy cơ bị người khác lạm dụng hay mất tiền trong tài khoản Khi bị lộ
số PIN hay mất thẻ, chủ thẻ có thể báo ngay cho ngân hàng để phong tỏa tài khoản thẻ
Đối với các gia đình có con em đi du học nước ngoài thì thẻ thực sự mang lại hiệu quả trong sử dụng Với việc sử dụng thẻ thanh toán, các gia đình có thể chu cấp tiền sinh hoạt phí một cách nhanh chóng thuận tiện, không mất thời gian như các hình thức chuyển ngân khác
- Tiết kiệm và kiểm soát được chi tiêu
Khi sử dụng thẻ, chủ thẻ sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí vận chuyển, kiểm đếm tiền Khi có nhu cầu sử dụng tiền, khách hàng có thể tới rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động vào thời điểm trong ngày mà không cần đến ngân hàng hay căn
cứ vào giờ làm việc
Hơn nữa, với bản sao kê hàng tháng do ngân hàng gửi đến hoặc căn cứ vào hóa đơn rút tiền hay thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ, chủ thẻ có thể hoàn toàn kiểm soát được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính toán được phí và lãi phải trả cho mỗi khoản giao dịch
c Đối với đơn vị chấp nhận thẻ
- Tăng doanh số bán hàng hóa dịch vụ và thu hút khách hàng
Khi đời sống của người dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu cho đời sống ngày càng tăng Cùng với quá trình hội nhập, đầu tư nước ngoài, du lịch quốc tế cũng ngày càng tăng Với phương châm “khách hàng là thượng đế”, các điểm bán hàng phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng, có như vậy mới mong có khả năng thu hút và giữ chân được khách hàng Chấp nhận thanh toán thẻ một hoạt động trong chiến lược đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Chấp nhận thanh toán thẻ là cung cấp cho khách hàng, đặc biệt là khách du lịch hay nhà đầu tư nước ngoài một phương tiện thanh toán
Trang 15đơn giản, tiện lợi Do đó, khả năng thu hút khách hàng sẽ tăng lên dẫn tới khối lượng hàng hóa dịch vụ cung ứng cũng tăng lên Thanh toán thẻ tạo cho các ĐVCNT khả năng cạnh tranh lớn hơn các đối thủ khác do môi trường văn minh, hiện đại trong mua bán giao dịch khi chấp nhận thanh toán thẻ.
- An toàn, đảm bảo và giảm chi phí bán hàng
Trong giao dịch được thanh toán bằng thẻ, số tiền trong giao dịch được trả ngay vào tài khoản của ĐVCNT Hơn nữa thẻ có tính bảo mật rất cao nên cho dù chưa được thanh toán ngay thì thanh toán thẻ cũng có ít nguy cơ bị mất cắp hơn so với sử dụng séc hay tiền mặt Cùng một lượng tiền trong giao dịch, nếu là tiền mặt hay séc, luôn là mục tiêu của các đối tượng trộm cắp hay những nhân viên không trung thực; nhưng nếu là trong hóa đơn thẻ thì nó hoàn toàn vì nó chỉ có ý nghĩa duy nhất với ĐVCNT Chính vì vậy, sử dụng thẻ trong thanh toán là rất hữu ích vì tính an toàn của nó
Cùng với việc chấp nhận thanh toán thẻ, các ĐVCNT sẽ giảm được một lượng đáng kể các chi phí cho việc kiểm kê, vận chuyển và bảo quản tiền,… do vậy giảm được chi phí bán hàng
- Thu hồi và quay vòng vốn nhanh
Việc chấp nhận thanh toán thẻ giúp các cơ sở đa dạng hóa các phương thức thanh toán, giảm tình trạng trả chậm của khách hàng Khi dữ liệu về giao dịch thẻ được truyền qua hệ thống máy móc tới NHTTT thì tài khoản của ĐVCNT lập tức được ghi có ĐVCNT có thể sư dụng ngay số tiền này nhằm mục đích quay vòng vốn hoặc mục đích khác
- Hưởng ưu đãi từ phía ngân hàng phát hành và ngân hàng thanh toán thẻ
Khi chấp nhận thanh toán thẻ, các ĐVCNT sẽ nhận được rất nhiều ưu đãi từ chính sách khách hàng của ngân hàng Các cơ sở sẽ được ngân hàng cung cấp máy móc thiết bị cho việc thanh toán thẻ mà không cần bỏ vốn đầu tư
Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các cơ sơ kinh doanh đều hoạt động với phần lớn lượng vốn vay từ ngân hàng Việc thiết lập mối quan hệ trược tiếp với ngân hàng giúp các ĐVCNT được hưởng các khoản ưu đãi tín dụng từ phía ngân hàng
1.2.4.2 Những rủi ro thường gặp trong thanh toán qua thẻ
- Thẻ giả
Thẻ giả là loại rủi ro lớn nhất và nguy hiểm nhất hiện nay mà tất cả các tổ chức thẻ phải quan tâm Với trình độ công nghệ ngày càng hiện đại, các tổ chức tội phạm ăn
Trang 16cắp thông tin trên thẻ bằng cách sử dụng máy móc chuyên dụng để mã hóa thông tin khách hàng rồi in băng từ lên thẻ mới Đây là loại rủi ro vừa nguy hiểm vừa khó quản
lý vì nguồn thông tin nằm ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng Trường hợp này đặt ra cho ngân hàng phát hành phải có những biện pháp bảo mật thông tin trên thẻ cũng như các ràng buộc kiểm tra
- Thẻ mất cắp hay thất lạc
Trong trường hợp chủ thể bị mất cắp hay làm thất lạc thẻ mà không kịp thông báo ngay cho NHPHT để có những hạn chế sử dụng hoặc thu hồi thẻ mà thẻ đó bị sử dụng, rủi ro xảy ra thì chủ thẻ phải chịu hoàn toàn
- Lộ số PIN
Mã số bí mật cá nhân (PIN) được giao cho chủ thẻ và chỉ chủ thẻ được phép biết cũng như thay đổi để đảm bảo yếu tố cá nhân và bí mật PIN được sử dụng khi thực hiện các giao dịch tự động với các thiết bị tự động như ATM,… Giao dịch rút tiền mặt qua ATM thực hiện hoàn toàn dựa trên số PIN mà không cần quan tâm chủ thẻ là ai Do vậy khi chủ thẻ vô tình làm lộ số PIN và làm mất thẻ, người lấy thẻ biết được số PIN, họ có thể thực hiện việc rút tiền qua ATM Trong trường hợp này chủ thẻ phải chịu toàn bộ rủi ro về số tiền bị mất
- Rủi ro do sử dụng vượt quá hạn mức
Khi chủ thẻ cố tình thực hiện các giao dịch dưới mức phải xin cấp phép giao dịch và kết quả là dẫn tới tổng số dư sử dụng lớn hơn rất nhiều so với hạn mức được cấp khi ngân hàng phát hiện ra thì khả năng thanh toán quá hạn mức của thẻ đã ở mức cao, khó kiểm soát và ngân hàng phải chịu toàn bộ tổn thất do chủ thẻ mất khả năng thanh toán
- Rủi ro về công nghệ thông tin và công nghệ ngân hàng
Các rủi ro này thường xảy ra do hệ thống máy móc, trang thiết bị, trung tâm chuyển mạch,… gặp vấn đề trục trặc, không ổn định, phải ngừng hoạt động hoặc gây lỗi trong quá trình xử lý gây ảnh hưởng tới nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ Trong điều kiện hiện nay, khối lượng các giao dịch ngày càng tăng với tốc độ chóng mặt, tất yếu dẫn tới sự lệ thuộc của các giao dịch vào máy móc thiết bị ngày càng cao
Do đó, rủi ro trong khâu máy móc ngày càng lớn
Bên cạnh đó, việc bảo mật thông tin, bảo mật dữ liệu lỏng lẻo cũng là nguyên nhân gây nên những rủi ro vô cùng nghiêm trọng
Trang 171.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.3.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, thẻ thanh toán đã được biết đến hơn 10 năm trước đây, nhưng phải đến năm 1998 thị trường thẻ mới trở nên sôi động khi có sự tham gia của nhiều ngân hàng Bởi lợi nhuận từ dịch vụ này rất hấp dẫn đối với các ngân hàng và đó chính
là cơ hội để các Ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh và đây cũng là một trong những nghiệp vụ ngân hàng hiện đại giúp Việt Nam đi tắt đón đầu trong dịch vụ ngân hàng, giúp hoạt động ngân hàng trong nước có sức mạnh cạnh tranh về công nghệ với các ngân hàng nước ngoài trong lĩnh vực mới mẻ này Tuy nhiên, đây cũng là dịch vụ đem lại không ít những khó khăn cho các ngân hàng Việt Nam như: khó khăn về kinh tế xã hội, khoa học công nghệ nói chung và bản thân ngân hàng nói riêng đã gây nhiều trở ngại đối với việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh thẻ đạt tới những giá trị tiềm năng vốn có của nó, buộc ngân hàng phải không ngừng tự mình nhìn lại và đưa ra các biện pháp giải quyết để có thể đứng vững và khẳng định vị thế của mình trên thị trường Hoạt động sôi nổi của thị trường thẻ những năm qua đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề thẻ, có thể tổng hợp các công trình đó như sau:
- Trần Mai Ước, “ Phát triển thanh toán thẻ tại Việt Nam thách thức và cơ hội”, tạp chí Công nghệ ngân hàng, tác giả tổng quan về tình hình phát triển trong lĩnh
vực thanh toán thẻ tại Việt Nam trong thời gian qua, bên cạnh đó đề cập những tiện ích, cũng như thách thức và đưa ra những gợi ý phát triển lĩnh vực này trong thời gian tới
- Nguyễn Đức, “Để phát triển thị trường thẻ ngân hàng”, diễn đàn Thị trường
chủ nhật, tác giả nêu lên thực trạng hoạt động thị trường thẻ ngân hàng các ngân hàng
và đưa ra những giải pháp để phát triển thị trường thẻ ngân hàng
Các công trình trên đã nghiên cứu thẻ ngân hàng nói chung ở góc độ khác nhau, tuy nhiên hiện vẫn chưa có tài liệu nào tập trung nghiên cứu một cách hệ thống vai trò hoạt động dịch vụ thanh toán qua thẻ của Ngân hàng NN & PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Tiên Du Vì vậy, đề tài này được lựa chọn để tìm hiểu đánh giá vai trò của việc phát triển dịch vụ thanh toán qua thẻ nói chung và Ngân hàng NN & PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Tiên Du nói riêng, định hướng và đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh, đổi mới hiệu quả phát triển dịch vụ thanh toán qua thẻ trong thời gian tới
Trang 181.3.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Nhìn chung ở ngước ngoài đã có rất nhiều đề tài luận án tiến sĩ, sách báo, tạp
chí nghiên cứu về vấn đề dịch vụ thanh toán qua thẻ, thanh toán trực tuyến,… Qua những công trình nghiên cứu này chúng ta có thể học hỏi, chia sẻ những lý thuyết, những bài học được rút ra từ đó áp dụng và thay đổi một cách linh hoạt sao cho phù hợp với bối cảnh nề giáo dục và nề kinh tế nước nhà
• Một trong những công trình nghiên cứu khá nổi tiếng của tác giả Peter S.Rose, được NXB Quốc Gia biên dịch và xuất bản thành cuốn sách mang tựa đề
“Quản trị ngân hàng thương mại” Vấn đề phát triển dịch vụ thanh toán qua thẻ được
nằm trong 1 chương của cuốn sách, tác giả đánh giá được tổng quan hoạt động kinh doanh qua thẻ của các ngân hàng thương mại trên thế giói hiện nay và tiềm năng phát triển của nó trong tương lai Cuốn sách cũng là một kinh nghiệm quý báu cho những ai muốn tìm hiểu về hoạt động quản trị hoạt động thương mại nói chung và hoạt động thanh toán qua thẻ nói riêng
toàn cảnh về lịch sử của các dịch vụ thanh toán trên thế giới, các phương thức thanh toán của ngày “hôm qua”, “hôm nay” và trong “tương lai” trên thế giới Cuốn sách là
sự giới thiệu đầy đủ về các kỹ thuật bảo mật an toàn hệ thống trong TTĐT nói chung
và TTTT nói riêng cho từng lĩnh vực khác nhau như tài chính, ngân hàng, chứng khoán…
1.4 PHÂN ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đa dạng hóa các dịch vụ thanh toán qua thẻ (cả về số lượng và chủng loại)
Hình thức thanh toán thẻ đã và đang trở nên rất phổ biến trên thế giới Ở các nước tiên tiến, phần lớn các giao dịch mua bán đều được thanh toán bằng thẻ, giao dịch sử dụng tiền mặt rất ít Thẻ thanh toán đã khẳng định được vai trò của mình trong việc đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng khắt khe của khách hàng; tạo niềm tin, uy tín với khách hàng; đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống ngân hàng; thúc đẩy phát triển thương mại, kinh tế của đất nước; phù hợp với xu thế toàn cầu trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy việc đa dạng hóa cả về số lượng lẫn chủng loại của các dịch vụ thanh toán qua thẻ là vô cùng quan trọng
- Về số lượng: Duy trì tốc độ tăng trưởng cao về phát hành thẻ Hàng năm đặt
ra mục tiêu phát hành thẻ một cách cụ thể, tối đa hóa doanh số sử dụng thẻ Tăng cường hệ thống ATM rộng khắp trên địa bàn
Trang 19- Về chủng loại: Phát triển các sản phẩm thẻ đa dạng, phù hợp với từng đối tượng khách hàng, với thẻ ghi nợ nội địa “Success”; với sản phẩm thẻ liên kết sinh viên với các cơ sở đào tạo; sản phẩm thẻ Lập nghiệp với Ngân hàng chính sách xã hội; với sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế hạng Bạch kim (thẻ Platinum) dành riêng cho khách hàng VIP kèm theo các dịch vụ ưu đãi như hạn mức tín dụng cao, quyền lợi bảo hiểm
Phát triển thẻ tín dụng quốc tế dành cho công ty v.v…
1.4.2 Phát triển về mặt chất lượng các dịch vụ thanh toán qua thẻ:
Hoạt động trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, nhiều ngân hàng thương mại thực hiện nhiều chương trình miễn, giảm phí phát hành thẻ,… Đây chính là thách thức để các ngân hàng nên cải tiến chất lượng dịch vụ thanh toán qua thẻ, cần phải nỗ lực không ngừng nghỉ, phối hợp chặt chẽ của các đơn vị trên toàn hệ thống trong quá trình triển khai nghiệp vụ thẻ, trên nền tảng hệ thống công nghệ thông tin hoạt động ổn định, an toàn cộng với lợi thế về mạng lưới rộng khắp cả nước, cơ sở khách hàng đa dạng v.v… Như vậy mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
1.4.3 Phát triển dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ:
Triển khai hệ thống tra soát trực tuyến tới 100% chi nhánh loại I, loại II trong toàn quốc để đẩy nhanh thời gian xử lý những thắc mắc, khiếu nại của khách hàng sử dụng thẻ một cách kịp thời, thỏa đáng và dứt điểm Khiến khách hàng cảm thấy tin tưởng hơn với các dịch vụ thanh toán qua thẻ của ngân hàng
1.4.4 Nâng cao kỹ năng, trình độ của các nhân viên cung cấp dịch vụ thanh toán qua thẻ:
Kỹ năng, trình độ của các nhân viên là yếu tố quan trọng trong việc tạo dựng lên thành công của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Phải bồi dưỡng, nâng cao hơn nữa trình độ của nhân viên thông qua các buổi tập huấn thực tế hoặc các khóa học theo tiêu chuẩn quốc tế
Trang 20CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HÌNH DỊCH VỤ THANH TOÁN QUA THẺ CỦA NHNN & PTNT VIỆT NAM
CHI NHÁNH TIÊN DU TRONG 3 NĂM 2010-2012 2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
2.1.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Phương pháp sử dụng phiếu điều tra
- Phiếu điều tra: bảng phiếu câu hỏi điều tra khách hàng sử dụng phương thức thanh toán của NHNN & PTNT Việt Nam
- Mục đích áp dụng: Phương pháp này giúp thu thập, xử lý dữ liệu một cách nhanh chóng chính xác và tiết kiệm chi phí từ đó đưa ra những đánh giá chính xác
- Ưu, nhược điểm của phương pháp phiếu điều tra:
Ưu điểm: Nhanh chóng, tiện lợi, dễ dàng thu thập thông tin cần thiết bằng cách đưa ra các câu hỏi với người được điều tra
Nhược điểm: Việc nhận được câu trả lời phiếu điều tra qua mail là rất ít Với số lượng phiếu điều tra ít sẽ không đánh giá chính xác được thực trạng, sai số là tương đối cao
Với việc sử dụng phiếu điều tra giúp tìm hiểu được các thông tin: về các hình thức thanh toán tại NHNN & PTNT Việt Nam; có được cái nhìn tổng quan về tình trạng thanh toán qua thẻ của ngân hàng; nắm bắt được những suy nghĩ, phản ứng của khách hàng với các phương thức thanh toán mà NHNN & PTNT Việt Nam Từ đó đưa
ra được những ưu điểm, những tồn tại trong hoạt động thanh toán của ngân hàng để
có các biện pháp đẩy mạnh hoạt động thanh toán điện tử tại ngân hàng
2.1.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Tác giả có thể thu thập dữ liệu thứ cấp từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau:
• Thu thập số liệu thứ cấp từ chi nhánh ngân hàng NN & PTNT huyện Tiên Du qua 3 năm 2011, 2012, 2013 Bao gồm:
- Bảng cân đối kế toánBáo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Báo cáo về dịch vụ thẻ thanh toán
- Các thông tin có liên quan khác liên quan đến thẻ thanh toán, ngân hàng từ các tạp chí, mạng internet…
2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Trang 21 Các phương pháp định lượng:
Phương pháp sử dụng phần mềm spss
Với phương pháp này các kết quả thu thập được khi điều tra sẽ được tổng hợp
và đưa ra thành các bảng biểu, từ đó có được cái nhìn rõ rệt và đánh giá so sánh chính xác Từ việc ứng dụng phương pháp này cũng đưa ra được các thông số về giá trị trung bình, về phương sai
+ Ưu điểm của phương pháp sử dụng phần mềm SPSS: có được sự phân tích, thống kê và biểu đồ rõ rệt về các đáp án trả lời từ phiếu điều tra Có thể phân tích, sử
lý dữ liệu ở nhiều cấp độ
+ Nhược điểm: không có bảng tính, sử dụng các hàm tính toán không thuận tiện.Phương pháp này được sử dụng trong phân tích phiếu điều tra nhân viên để tổng hợp và đưa ra biểu đồ, số liệu thống kê, phân tích thực trạng thanh toán qua thẻ tại ngân hàng
Các phương pháp định tính:
Phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch
Các phương pháp này được sử dụng kết hợp với các phương pháp phân tích định lượng trong việc sử lý dữ liệu điều tra sơ cấp và thứ cấp
Các phương pháp so sánh:
- Sử dụng phương so sánh bằng số tuyệt đối để so sánh số liệu của từng chỉ tiêu giữa năm tính toán với năm trước để xem có biến động hay không và tìm ra nguyên nhân biến động, từ đó sẽ đề ra biện pháp khắc phục
- Sử dụng phương pháp so sánh bằng số tương đối nhằm làm rõ tình hình biến động về mức độ của các chỉ tiêu kinh tế trong thời gian đó và để so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các năm, giữa các chỉ tiêu với nhau
Trang 222.2 TÌNH HÌNH DỊCH VỤ THANH TOÁN QUA THẺ CỦA NGÂN HÀNG TRONG 2010- 2012
2.2.1 Giới thiệu tổng quát về chi nhánh:
Được thành lập ngày 1/8/1998 tại Quyết định số 334/QĐ-NHNN-02 của Tổng giám đốc NHNN & PTNT Việt Nam với:
Tên gọi: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh Tiên Du
Địa chỉ: thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Slogan: Mang phồn thịnh đến với khách hàng
Agribank Tiên Du là ngân hàng cấp I, loại 2 trực thuộc trung tâm điều hành NHNN & PTNT Việt Nam, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và điều lệ hoạt động của NHNN & PTNT
Việt Nam Với mục tiêu hoạt động trong năm 2014 là: có những chính sách hoạt động thích hợp, phát triển các hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và các hoạt động khác theo hướng tăng dần quy mô, điều chỉnh cơ cấu hợp lý, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, mang lại lợi nhuận cho khách hàng
Cơ cấu tổ chức:
Chi nhánh cấp 2 Việt Đoàn
Giám đốc
Phó giám đốc Phó giám đốc Phó giám đốc
-P.Kế toán ngân quỹ-P.Hành chính -P.Tin học
-P.Tín dụng-P.Kế hoạch nguồn vốn-P.Thẩm định
-P.Thanh toán quốc tế
-P.Dịch vụ và Marketing
Trang 232.2.2 Giới thiệu tổng quát về dịch vụ thẻ tại ngân hàng từ 2010- 2012
Bắt đầu tham gia thị trường thẻ tại Việt Nam từ năm 2003, sau 5 năm triển khai dịch vụ thẻ của Agribank được triển khai trên khắp 64 tỉnh thành phố với hơn 30 triệu điểm chấp nhận thanh toán, 1200 máy ATM, 2000 EDC tại quầy rộng khắp toàn quốc Năm 2005, Agribank ra mắt sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa với tên gọi “thẻ success” với
ưu thế vượt trội như: thủ tục đơn giản, hạn mức thấu chi cao, mức chi phí hấp dẫn, an toàn, hỗ trợ khách hàng 24/24,… Sản phẩm thẻ Success đã thu hút được số lượng khách hàng sử dụng thẻ Đến nay, số lượng phát hành thẻ đạt trên 2 triệu thẻ, nâng thị phần thẻ của ngân hàng tại Việt Nam lên 19%, đứng thứ 2 trong tổng số 40 ngân hàng tham gia hoạt động thẻ tại Việt Nam Bên cạnh sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa (Success)
ra đời từ năm 2005, với tính đa năng, tiện dụng cho việc chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, Agribank tiếp tục khẳng định vị thế trong cung ứng các sản phẩm thẻ quốc tế Điều này đã khẳng định sự thành công của sản phẩm thẻ Success trên thị trường thẻ Việt Nam
Nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thanh toán qua thẻ của khách hàng, đồng thời đem đến cho khách hàng sự tiện lợi tối đa Agribank đã không ngừng hiện đại hóa công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ
Agribank có mạng lưới chấp nhận thẻ thanh toán rộng khắp toàn quốc Không những thế vào 11/2007 tại NHNN & PTNT chính thức tổ chức lễ khai trương kết nối thẻ thanh toán Visa – Master, Banknetvn diễn ra vào thời điểm xu thế thanh toán qua thẻ đang ngày càng trở lên phổ biến Theo đó các sản phẩm thanh toán mang thương hiệu Visa, Banknetvn sẽ được chấp nhận thanh toán tại bất kỳ ATM/POS có logo Agribank trong và ngoài nước Việc kết nối thẻ thanh toán Visa, Banknetvn là bước triển khai tất yếu của Agribank trong quá trình hội nhập nâng cao khả năng cạnh tranh
và khẳng định vị thế của Agribank trên thị trường thẻ Việt Nam, đồng thời đây là động thái khẳng định vươn mình ra quốc tế của một thương hiệu mạnh
Trong nhiều năm liền Agribank được nằm trong TOP 20 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam theo bình chọn của chương trình phát triển Liên hợp quốc – UNDP Không dừng lại ở những thành công đạt được, Agribank cam kết sẽ tiếp tục mang đến cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ thẻ hoàn hảo với nhiều tiện ích và dịch vụ gia tăng để xứng đáng với sự tin cậy của hàng triệu khách hàng Điều này một lần nữa
Trang 24khẳng định quyết tâm của ngân hàng trong việc xây dựng, phát triển thương hiệu gắn liền với đảm bảo lợi ích của khách hàng.
Các sản phẩm thẻ lưu hành tại ngân hàng hiện nay như:
• Thẻ ghi nợ nội địa (thẻ Success): là thẻ rút tiền do ngân hàng phát hành trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng, được sử dụng để rút tiền mặt hay thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác tại máy ATM, thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ của Agribank
• Thẻ thanh toán quốc tế Visa- Master: bao gồm 2 loại thẻ sau:
Thẻ tín dụng quốc tế (Visa Credit): Agribank phát hành 3 loại thẻ: thẻ Chuẩn (Classic), thẻ Vàng (Gold), hạng thẻ Bạch Kim (Platium) Hạng thẻ chuẩn có hạn mức tín dụng tối đa đến 50 triệu đồng; Hạng thẻ Vàng có hạn mức tín dụng từ trên 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng Ngoài hạn mức tín dụng cao, chủ thẻ còn được hưởng ưu đãi miễn lãi ngân hàng trong vòng 45 ngày kể từ ngày giao dịch phát sinh
Thẻ ghi nợ quốc tế (Visa Debit):
Agribank phát hành 3 hạng thẻ: Hạng thẻ Vàng (Gold), hạng thẻ chuẩn (Classic), hạng thẻ Bạch kim (Platium) Khách hàng có thể sử dụng chính số tiền trên tài khoản của mình để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ với hạn mức thanh toán tối đa
100 triệu/ngày; rút tiền mặt hoặc chuyển khoản với hạn mức tối đa 50 triệu đồng/ngày; Ngoài ra, khách hàng có thể thực hiện các chức năng các tiện ích khác như: vấn tin số
dư tài khoản, đổi PIN, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn,… tại ATM/POS
2.2.3 Tình hình phát triển của dịch vụ thẻ giai đoạn 2010-2012
2.2.3.1Đánh giá sự tăng trưởng về số lượng thẻ thanh toán
Bảng 1: Số lượng phát hành các loại thẻ thanh toán tại ngân hàng qua 3 năm
(Nguồn: Báo cáo kết quả triển khai sản phẩm- dịch vụ năm 2012)
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy tình hình tăng trưởng về số lượng phát hành thẻ thanh toán sau mỗi năm của NH không được ổn định
Các loại thẻ: thẻ quốc tế, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ từ năm 2010 – 2011 đều có sự gia tăng về số lượng phát hành Cụ thể là: so với năm 2010, năm 2011 thẻ quốc tế tăng 47,83%; phát hành thêm 11 thẻ; đưa tổng số thẻ lên 34 thẻ Thẻ ghi nợ tăng mạnh tăng
Trang 25151,67%; phát hành thêm 182 thẻ; đưa tổng số thẻ lên 302 thẻ Thẻ tín dụng cũng tăng mạnh tăng 117,78%; phát hành thêm 530 thẻ; đưa tổng số thẻ lên 980 thẻ.
Tuy nhiên từ năm 2011 - 2012 cả 3 loại thẻ trên lại đồng loạt giảm về mặt số lượng phát hành Cụ thể là: thẻ quốc tế giảm 26,47%, thẻ ghi nợ giảm 4,3%, thẻ tín dụng 13,78% Ta thấy rằng thể quốc tế giảm mạnh nhất
Riêng đối với thẻ Succes (thẻ ghi nợ nội địa) lại có sự tăng trưởng đồng đều, qua các năm đều tăng về mặt số lượng phát hành Cụ thể là: năm 2011, có mức tăng trưởng cao nhất với tỉ lệ tăng 167,12% so với năm 2010, phát hành thêm được 6950 thẻ đưa tổng số thẻ ghi lên tới 17.304 thẻ và cao hơn mức tăng trưởng của năm 2012, đạt mức tăng so với 2011 là 64,66% Tuy nhiên dù tốc độ tăng có chậm đôi chút so với năm 2011, nhưng tổng số thẻ phát hành thêm trong năm 2012 lại cao hơn 2011 với 10.745 thẻ ghi nợ nội địa được phát hành thêm, nâng tổng số thẻ đang lưu hành tại chi nhánh NHNN & PTNN chi nhánh huyện Tiên Du đạt con số 28.049 thẻ
Nguyên nhân của sự tăng trưởng trên là do từ đầu năm 2010 ngân hàng đã chú trọng nhiều hơn tới công tác quảng bá, tiếp thị: miễn phí phát hành thẻ, phí thường niên, áp dụng số dư tối thiểu linh hoạt trong tài khoản, đơn giản hóa thủ tục làm thẻ… chính sách này đã góp phần thu hút khách hàng tới mở tài khoản thẻ thanh toán ngày càng đông Chính sách khuyến mãi, miễn phí phát hành tương tự như thế cũng được nhiều ngân hàng trong địa bàn áp dụng nhưng do có ưu thế hơn các ngân hàng thương mại khác- tham gia triển khai dịch vụ trên cùng địa bàn, thì hiện tại số lượng máy ATM của NHNN & PTNN chi nhánh huyện Tiên Du đứng hàng thứ 4 (19 máy, chiếm
tỉ trọng 9,84) Ngoài thế mạnh nêu trên thì ưu điểm hệ thống máy ATM của đơn vị là rút được nhiều tiền, tiền chẵn nhiều hơn tiền lẻ và có tốc độ xử lý giao dịch nhanh…
Vì vậy khách hàng chọn làm thẻ thanh toán ở ngân hàng ngày càng nhiều Bên cạnh
đó có một lý do khách quan là từ giai đoạn 2010- 2012, thị trường thẻ trở lên sôi động
và Việt Nam ngày càng gia nhập vào các tổ chức quốc tế nhiều như WTO, APEC… ngày càng có thêm ngân hàng nước ngoài đầu tư vào dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ- một vũ khí đắc lực giúp cho ngân hàng này thâm nhập thị trường Hàng loạt sản phẩm thẻ thanh toán ra đời, mở ra cuộc so tài phát hành thẻ giữa các ngân hàng trong nước Cuộc so tài diễn ra tương tự trên địa bàn thành phố ta Số lượng thẻ mới phát hành tăng lên không ngừng trong thời gian này
Trang 26Và Từ tháng 09/2008, ngân hàng bắt đầu phát hành thêm loại sản phẩm thẻ mới
là thẻ quốc tế (Visa – Master Card) Tuy nhiên, tính từ khi bắt đầu triển khai đến năm
2012 thì số thẻ phát hành mới còn ít, song số lượng tăng liên tục qua các năm Đây cũng là điểm cân phải quan tâm và cần có kế hoạch phát triển Như vậy, thẻ ghi nợ nội địa (Success) đang chiếm tỉ trọng rất cao trong cơ cấu thẻ của ngân hàng và đối với các thẻ quốc tế cần có những giải pháp để phát triển nhanh chóng đúng mức Bởi lẽ, nguyên nhân số lượng thẻ ghi nợ quốc tế phát hành còn quá khiêm tốn là do đây là loại sản phẩm còn khá mới, công tác Marketing cho loại thẻ này còn hạn chế, chưa được giới thiệu sâu rộng tới đối tượng khách hàng có nhu cầu
Tuy vậy, chúng ta cũng không thể chủ quan về thị phần thẻ của ngân hàng đang nắm giữ tại huyện Tiên Du vì hiện nay các ngân hàng thương mại cũng đang đặt dịch
vụ thẻ là dịch vụ có tiềm năng, làm định hướng phát triển trong tương lai Cho nên việc cạnh tranh để mở rộng thị phần của ngân hàng năm vừa qua trong thời gian sắp tới càng thêm gay gắt Biểu hiện là tốc độ tăng số lượng phát hành có sự giảm sút vào năm 2012 so với 2011 Cuộc đua phát hành thẻ thời gian tới sẽ khó khăn hơn nhiều
• Tổng số dư trên tài khoản thẻ, lượng giao dịch và doanh số giao dịch
Bảng 2: Tình hình chi tiết của thẻ thanh toán tại ngân hàng từ năm 2010- 2012
hành(thẻ) 10.354 17.304 28.049 6.950 67,12 10.754 64,66
Số dư bình quân 0,767 0,819 0,959 0,052 6,77 0,14 17,09Lượng giao dịch(lượt) 83.564 182.093 344.916 98.529 117,90 162.823 89,41Doanh số giao dịch 83.925 247.354 489.588 163.429 194,73 242,243 97,93
(Nguồn: Báo cáo kết quả triển khai sản phẩm- dịch vụ năm 2012)
Trong 3 năm vừa qua số dư tiền gửi trên tài khoản thẻ liên tục đạt mức tăng trưởng mạnh Năm 2011 tăng 78,7% so với năm 2010 với mức tăng tuyệt đối là 6.248 triệu đồng Năm 2012 còn có mức tăng trưởng khá hơn năm 2011, tỷ lệ tăng gần 90% với giá trị gia tăng là 12.720 triệu đồng trong tài khoản thẻ
Đồng thời có điểm khá lạc quan khi nhận thấy rằng tốc độ tăng của số thẻ thanh toán đã phát hành 3 năm qua Cụ thể, năm 2011 có tốc độ tăng của số dư trên tài khoản thẻ là 178,7% trong khi tốc độ tăng của số thẻ phát hành chỉ với 167,12% Chênh lệch
Trang 27giữa 2 tốc độ tăng của 2 chỉ tiêu là 11,58% và chênh lệch này vào năm 2012 lên mức 25% Cùng với việc số thẻ phát hành không ngừng tăng lên thì số dư tài khoản thẻ tăng lên nhanh hơn, ta có thể nói rằng thẻ thanh toán của chi nhánh có sự tăng lên đồng đều
về số lượng phát hành và về số dư trên tài khoản Đây là biểu hiện thuận tốt, thuận lợi cho sự phát triển của dịch vụ thẻ của ngân hàng Vì nếu như vậy, số lượng phát hành tuy có tăng lên nhưng số dư trên tài khoản tăng lên chỉ với tốc độ chậm hơn hoặc bằng thì chứng tỏ chiếc thẻ thanh toán ít được khách hàng quan tâm Khách hàng chỉ tới ngân hàng để mở tài khoản thẻ và chỉ dừng lại ở đó, không mặn mà tới việc đến ngân hàng để sử dụng những tiện ích mà chiếc thẻ thanh toán mang lại tuy nhiên để có thể nhận định thêm về tình hình số dư và số thẻ, chúng ta cần phải kết hợp với chỉ tiêu số
dư bình quân trên tài khoản thẻ thanh toán
• Về tình hình số dư bình quân trên tài khoản thẻ thanh toán:
Mặc dù số dư trên tài khoản thẻ có mức tăng trưởng cao nhưng số dư bình quân trên tài khoản thẻ vào các năm chỉ ở mức 1 triệu đồng Năm 2008 là năm có số dư bình quân trên tài khoản thẻ cao nhất với giá trị là 0,959 triệu đồng/tài khoản và là năm thứ hai tăng liên tiếp trong 3 năm vừa qua, thế nhưng số dư bình quân cũng chỉ ở mức 1 triệu đồng Những con số trên vừa cho thấy điểm tốt và không tốt trong hoạt động thẻ của ngân hàng Điểm không tốt là qua giá trị bình quân trên mỗi thẻ, ta nhận thấy có những tài khoản thẻ có số dư tồn tại rất thấp, nhỏ hơn số dư tài khoản bình quân đầu năm Mặt tốt đó là qua 3 năm, tình hình số dư tài khoản không ngừng tăng lên làm cho
số dư tài khoản bình quân không ngừng được cải thiện
• Về chỉ tiêu lượng giao dịch:
Dựa vào bảng số liệu trên ta dễ dàng nhận thấy, số lượng giao dịch qua tài khoản thẻ thanh toán đều có mức tăng trưởng cao, năm sau cao hơn năm trước gần 90% Trong đó, lượng giao dịch năm 2012 tăng mạnh nhất với số lượng tăng so với cuối năm 2011 là 162.823 lượt, tỷ lệ tăng 89,41 còn tỷ lệ tăng của năm 2011 so với cùng kỳ năm 2010 lại là tỷ lệ tăng cao nhất trong các năm với tỷ lệ tăng gần 1,3 lần; giá trị tăng thêm là 98.529 lượt giao dịch
Một khi số lượng giao dịch tăng lên sau từng năm thì cũng dễ kéo theo sự tăng lên của doanh số giao dịch Thật vậy, tương tự như khuynh hướng tăng trưởng của lượng giao dịch, năm 2012 là năm có giá trị doanh số giao dịch tăng mạnh nhất với giá
Trang 28trị tăng 242.234 triệu đồng, tỷ lệ tăng 97,93% - không có tỷ lệ tăng mạnh nhất, mà tỷ lên tăng cao nhất là năm 2011 với tỷ lện tăng hơn 1,97 lần, giá trị tăng khoảng 163.429 triệu đồng so cùng kỳ năm 2010.
Số lượng giao dịch tăng, doanh số giao dịch cũng tăng lên từng năm là dấu hiệu tốt cho hoạt đọng thẻ tại ngân hàng Giá trị số lượng giao dịch và doanh số giao dịch tăng dần và năm 2012 tăng mạnh nhất là chứng tỏ dịch vụ thẻ của ngân hàng đang đi vào sự phát triển thuận lợi, doanh số được thực hiên giao dịch ngày càng nhiều cũng biểu thị cho việc ngày càng có nhiều khách hàng sử dụng thẻ thanh toán của ngân hàng giao dịch với những món tiền có giá trị ngày càng lớn điều này có nghĩa là thẻ thanh toán của ngân hàng ngày càng thu hút hơn với khách hàng, kéo lượng khách hàng tới giao dịch với ngân hàng ngày một đông Nhất là khi tốc độ phát hành thêm thẻ mới lại kém hơn tốc độ tăng của số lượng giao dịch và doanh số giao dịch (tốc độ phát hành mới giao động trong khoảng 64- 67% còn tốc độ tăng của 2 chỉ tiêu giao dịch dao động trong khoảng 90- 194%) càng thể hiện được chất lượng và tiện ích thẻ thanh toán của ngân hàng Nông nghiệp đang được sự tin dùng của khách hàng
Nguyên nhân của sự tăng trưởng từ giai đoạn 2010- 2012, huyện Tiên Du phát triển trong bối cảnh kinh tế cả nước hội nhập vào kinh tế thế giới, nền kinh tế đang tiếp tục tăng trưởng ổn định sau khủng hoảng, nhu cầu sử dụng thanh toán qua ngân hàng ngày càng gia tăng, lạm phát ở mức thấp, thu nhập bình quân đầu người tăng cao kéo theo tiền nhàn rỗi và mức tiêu dùng của người dân tăng cao, lượng dân số có thu nhập phát sinh qua ngân hàng thêm nhiều Những lý do này khiến số dư và số dư bình quan qua tài khoản thẻ, doanh số giao dịch và lượng giao dịch không ngừng tăng lên và tăng cao hơn tốc độ phát hành thẻ
Số dư tài khoản thẻ tăng cao qua các năm chứng tỏ người dân trên địa bàn huyện đã bắt đầu quen dần với hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Việc giao dịch qua thẻ được kết nối 24/24 giúp chúng ta thuận tiện hơn về thời gian và dễ dàng hơn trong việc đi lại một khi có thể đứng ở một nơi mà thanh toán tiền cho nhiều nơi (giao dịch rút tiền mọi lúc khi cần thiết, thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, đặt vé máy bay, chuyển khoản) đều được thực hiện nhanh chóng chỉ bằng vài thao tác trên máy ATM
Trang 29Chấp nhận Chỉ thị 20/2007/CT-TTg về trả lương qua tài khoản của những đối tượng được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đầu năm 2008 được sự đồng thuận của Giám đốc chi nhánh huyện Tiên Du bộ phận nghiệp vụ bắt đầu triển khai dịch vụ chuyển lương tự động.
Thống kê trong năm 2012 tại Hội sở đã thực hiện trả lương cho tổng cộng 85 đơn vị với tổng số 4.527 tài khoản cá nhân Thực hiện chuyển lương qua tài khoản năm 2012 là 53.061 lượt với số tiền 96.274 triệu đồng
Thời gian tới được sự khuyến khích của Nhà nước về việc các doanh nghiệp thực hiện trả lương qua tài khoản, lượng đối tượng làm trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng càng thêm đông cán bộ, công chức làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và mới đây đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước sẽ góp phần tăng nhu cầu sử dụng thẻ và thực hiện trả lương qua tài khoản Vì vậy ngân hàng cần có thêm giải pháp phát triển cho phân khúc này vì thực tế chỉ tính trên địa bàn huyện Tiên Du
có khá nhiều tổ chức doanh nghiệp đang hoạt động
Trang 302.2.2.2 Kết quả hoạt động của dịch vụ thanh toán thẻ từ 2010- 2011
• Tỷ trọng thu nhập (doanh thu) của dịch vụ thanh toán thẻ
Bảng 3: Tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ thẻ tại ngân hàng qua 3 năm
Đơn vị: triệu đồng
Số tiền % Số tiền %Thu từ thẻ 134,98 265,1 235,63 75,12 75,13 -29,47 -11,12Thu từ dịch vụ 2.806 3.548 8.146 742 26,44 4.598 129,59Tổng thu nhập 458.990 531.885 683.709 72.895 15,88 151.824 28,54
-(Nguồn: Báo cáo kết quả triển khai sản phẩm- dịch vụ năm 2012)
- Về chỉ tiêu tỷ trọng thu từ thẻ/ thu dịch vụ:
Tỷ trọng thu từ thẻ năm 2011 chiếm tỷ trọng cao nhất trong vòng 3 năm qua với
tỷ lệ 7,47% trong khi năm 2012 tỷ trọng này giảm xuống và là năm có tỷ trọng thấp nhất Tỷ trọng thu từ thẻ chỉ chiếm 2,89% trong tổng thu từ dịch vụ vào năm 2012 Do
đó đòi hỏi phải có biện pháp tạo thêm nguồn thu từ thẻ một cách hợp lý tạo điều kiện tăng thêm nguồn thu cho ngân hàng
Ta có kết luận trong giai đoạn 2010- 2012, mức đóng góp vào nguồn thu dịch
vụ cho ngân hàng của dịch vụ thẻ dao động từ khoảng hơn 2,8- 7,4% Mức đóng góp này tăng giảm không đều đặt ra một thách thức cho ngân hàng trong những năm sắp tới là làm sao ổn định và gia tăng mức đóng góp nguồn thu của dịch vụ thẻ vào trong tổng thu của dịch vụ - thu ngoài tín dụng Đây là điều đáng làm do thực tế phát triển các dịch vụ phi tín dụng, gia tăng tỷ trọng thu ngoài tín dụng là xu hướng phát triển an toàn, chứa ít rủi ro hơn hoạt động tín dụng trong ngành ngân hàng
Để phản ánh sát tình hình thu nhập từ thẻ, tỷ trọng thu nhập từ thẻ ta cần phải phân tích kết hợp cùng với chỉ tiêu thu nhập từ thẻ/ tổng thu nhập của ngân hàng
- Về chỉ tiêu tỷ trọng thu từ thẻ/ tổng thu nhập:
Nhận thấy ba năm qua tỷ trọng thu từ thẻ/ tổng thu nhập của ngân hàng tăng giảm không đều Năm 2011 là năm có tỷ trọng cao nhất, thu từ thẻ chiếm hơn 0,05% trong tổng thu của ngân hàng còn năm 2012 có tỷ trọng thấp nhất chỉ chiếm 0,02% tổng thu nhập Nguyên nhân năm 2012 có tỷ trọng thấp xuống do doanh thu từ thẻ giảm hơn năm 2011
Trang 31Mức đóng góp của dịch vụ thẻ lên tổng thu nhập dao động trong khoảng 0,02- 0,05% Như vậy mức đóng góp vào thu nhập của dịch vụ thẻ còn quá nhỏ, khả năng tăng dần tỷ trọng này nên là có thể do tiềm năng phát triển dịch vụ thẻ trên thị trường còn khá lớn.
Bảng 4: Kết quả hoạt động kinh doanh của dịch vụ thanh toán qua thẻ tại chi
-(Nguồn: Báo cáo kết quả triển khai sản phẩm- dịch vụ năm 2012)
- Tình hình kết quả kinh doanh của dịch vụ thanh toán qua thẻ tại ngân hàng 3 năm vừa qua đều thu được lợi nhuận Trong đó đáng chú ý là năm 2012 các chỉ tiêu đều giảm xuống so với cuối năm 2011 Cụ thể:
Giảm nhiều nhất là doanh thu với tỷ lệ giảm là 11,12% tương ứng với giảm 29,47 triệu đồng Lợi nhuận từ thẻ giảm 1.98% tương ứng với số tiền 3,47 triệu đồng
Nguyên nhân mà chi phí lại giảm xuống như vậy do năm này ngân hàng thực hiện chính sách khuyến mãi miễn phí phát hành thẻ nhiều hơn Đồng thời xét tới cơ cấu nguồn thu – chi từ thẻ thì phải chú ý đến những vấn đề sau:
Trong khoản phí pháp hành mà thẻ ngân hàng thu từ khách hàng thì 30% được tính là chi phí thẻ, ngân hàng phải nộp về Hội sở chính tại Hà Nội, còn 70% còn lại được tính là doanh thu từ thẻ thanh toán cho ngân hàng Vào năm 2012 có nhiều lần ngân hàng thực hiện khuyến mãi không thu phí phát hành từ khách hàng nên ngân hàng cũng không phải nộp 30% chi phí cho Hội sở chính Điều này làm giảm chi phí chi ngân hàng vào năm 2012
- Trong khi đó vào năm 2011, các chỉ tiêu đều đồng loạt tăng hơn so với năm
2010 Tăng nhiều nhất lại là chi phí với mức tăng 55 triệu đồng và tỷ lệ tăng lên tới 157,14% nhưng số tiền tăng lại không cao bằng doanh thu Doanh thu tăng tới tỷ lệ 96,4% tương đương với số tiền 130,12 triệu đồng Năm này lợi nhuận cũng tăng với tỷ
lệ khá, tăng 75,14% với số tiền tăng là 74,12 triệu đồng Tình hình tăng như vậy là hợp
lý, tương ứng với dịch vụ phát triển thẻ sau các năm ngân hàng có kế hoạch đầu tư cho các loại hình kinh doanh còn mới này Đây cũng là giai đoạn đang trong đà tăng
Trang 32trưởng Người dân đã bắt đầu quen dần với các khái nhiệm sản phẩm thẻ, giao dịch với ngân hàng cũng bắt đầu tăng lên Sự phát triển của nền kinh tế đã kéo theo sự tăng trưởng của dịch vụ thanh toán qua thẻ ngân hàng.
- Về chỉ tiêu chi phí/doanh thu:
Chỉ tiêu trên thể hiện hiệu quả của hoạt động thẻ và nó càng nhỏ hơn 1 càng tốt Qua số liệu cho ta thấy, hoạt động thẻ tại NHNN & PTNN Việt Nam chi nhánh huyện Tiên Du đạt hiệu quả tương đối cao Năm 2011, chi phí/doanh thu có tỷ lệ cao nhất nhưng cũng chỉ ở nức 0,34% có nghĩa là để có 1 đồng thu nhập ngân hàng sẽ phải bỏ
ra 0,34 đồng chi phí Còn trong 2 năm 2010, 2012 có hiệu quả kinh doanh càng cao hơn nữa, đạt giá trị tương ứng là 0,26 và 0,27% Như thế, năm 2011 mặc dù có lợi nhuận đạt mức tăng trưởng cao nhất nhưng lại là năm có hiệu quả kinh doanh không cao bằng so với năm 2010, 2012 Điều này đặt ra vấn đề cần phải đặt kế hoạch và thực hiện hiệu quả nguồn chi phí, doanh thu cho dịch vụ thẻ tốt hơn Mặc dù tình hình này
đã có chuyển biến tốt hơn vào năm 2012 nhưng đây không thể là vấn đề xem thường
Vì thực tế thời gian tới, sự cạnh tranh thị trường thẻ gay gắt giữa các ngân hàng thương mại trong cùng địa bàn, tình hình kinh tế đang bước đầu phục hồi sau khủng hoảng tăng trưởng kinh tế tăng trưởng chậm thì việc phát triển thị phần, gia tăng nguồn thu từ dịch vụ thẻ sẽ càng thêm khó khăn hơn
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ THANH TOÁN QUA THẺ TẠI NGÂN HÀNG
Trong hoạt động kinh doanh, bất kỳ một kết quả nào đạt được cũng bị chi phối bởi các yếu tố khách quan và chủ quan, bên ngoài và bên trong Hoạt động thẻ tại ngân hàng cũng không nằm ngoài sự chi phối đó Do đó, để nhìn nhận lại đúng kết quả kinh doanh thẻ, chúng ta cần phân tích kỹ đâu chính là nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả và tầm ảnh hưởng của nhân tố đó đến đâu Các nhóm nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động dịch vụ thanh toán qua thẻ bao gồm nhóm nhân tố từ môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp Đầu tiên, ta sẽ phân tích nhóm nhân tố xuất phát từ môi trường vĩ mô
2.3.1 Môi trường vĩ mô:
2.3.1.1 Kinh tế - chính trị - pháp luật
Việt Nam là một quốc gia Đông Nam Á vốn được xem có nền chính trị ổn định trong khu vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt bình quân 7%/năm dù trong những năm vừa qua nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng bị chậm lại (6,23%), tình trạng thất nghiệp nhiều Còn huyện Tiên
Trang 33Du với vai trò là 1 trong những trung tâm kinh tế với nhiều cụm công nghiệp vừa và nhỏ của tỉnh Bắc Ninh Vì vậy không có gì khó hiểu khi đây là một cơ hội thuận lợi cho sự phát triển của dịch vụ thanh toán qua thẻ thời gian qua và trong những năm trước mắt đối với NHNN & PTNT Việt Nam nói riêng và đối với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn nói chung.
Trong vài năm gần đây, thị trường thẻ ngân hàng tại Việt Nam phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt là trong năm 2011 Theo tạp chí Ngân hàng, hiện tại tỷ trọng thanh toán bằng thẻ ở nước ta chiếm tỷ trọng 6% trong tổng số món giao dịch của các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
Đáp ứng theo yêu cầu phát triển tất yếu của nền kinh tế, ngân hàng nhà nước đã phê duyệt Đề án xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất để kết nối các liên minh thẻ (bắt đầu đưa vào triển khai từ năm 2008) Trong khuôn khổ đề án phát triển các phương tiện và dịch vụ thanh toán phù hợp với quá trình hội phập kinh tế quốc tế, Ngân hàng nhà nước đã hoàn thành việc đánh giá sơ bộ về thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho chương trình chuyển đổi công nghệ thẻ từ sang thẻ chip theo chuẩn EMV và đang phối hợp với các tổ chức thẻ quốc tế nghiên cứu các kinh nghiệm thực tiễn và yêu cầu các mặt kỹ thuật để xây dựng lộ trình, kế hoạch nâng cấp công nghệ thẻ theo chuẩn EMV
Đồng thời, Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đã được phê duyệt tại quyết định số 291/2010/QĐ-TTg, đảm bảo phát triển hệ thống thanh toán phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế và hạ tầng kỹ thuật công nghệ, hoàn thiện
hệ thống thanh toán lõi của Ngân hàng nhà nước, huy động các nguồn lực của khu vực
tư nhân để đầu tư mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt
Quyết định số 20/2011/QĐ-NHNN về quy chế phát hành, thanh toán sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, cấp mã PIN cho tổ chức phát hành
Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án không dùng tiền mặt, ban hành chỉ thị số 20/2007/CT-TTg veef việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương qua ngân sách nhà nước
Tất cả các quyết định, chỉ thị của Nhà nước ban hành đều tạo môi trường thông thoáng thuận lợi, cơ sở pháp lý cho hoạt động thẻ của Agribank nói riêng và các ngân hàng nói chung phát triển Những điều trên giúp NH có khả năng kết nối, giao lưu với các dịch vụ thẻ của nước ngoài Vào năm 2008, Agribank đã liên kết cùng tổ chức thẻ Visa, Banknetvn Từ đó khẳng định vị thế của mình trên thị trường trong và ngoài
Trang 34nước Tuy vậy chúng chưa đạt ở tầm chặt chẽ, chưa có văn bản pháp lý nào quy định
rõ khi xảy ra rủi ro tranh chấp vi phạm trong hoạt động thanh toán thẻ của ngân hàng trong tương lai Cũng như hoạt động bảo mật, an ninh mạng trong thanh toán điện tử vẫn chưa được chú trọng Điều này làm giảm đi lòng tin và sự quan ngại khi tham gia dịch vụ thanh toán qua thẻ
2.3.1.2 Văn hóa
Khi nhắc tới nhân tố văn hóa gắn liền với ngành ngân hàng và với hoạt động thẻ thì không thể không nhắc tới thói quen dùng tiền mặt và thói quen chưa tha thiết sử dụng các dịch vụ tiện ích của ngành nào vào đời sống của người dân
Việt Nam có sự độc lập về chính trị trễ hơn nhiều so với các quốc gia Đông Nam Á khác nên thói quên không dùng tiền mặt, thanh toán bằng cách sử dụng các sản phẩm tiện ích hiện đại của ngân hàng thương mại chưa được phổ biến đến số đông đại
bộ phận dân cư, thói quen dùng tiền mặt còn đi sau, đi muộn so với các quốc gia khác trên thế giới Vì thực tế, dịch vụ thanh toán qua thẻ ngân hàng chỉ mới được phát triển thực sự qua mới năm gần đây Chính vì lẽ đó mà thanh toán không dùng tiền mặt chỉ mới được phát triển trong số ít dân số là tri thức, sinh viên, những người bắt buộc phải giao dịch thẻ (chẳng hạn là công nhân viên chức thực hiện trả lương qua tài khoản theo nghị định của chính phủ) Trở ngại lớn nhất khiến số lượng thẻ còn thấp so với tiềm năng thị trường, theo nhiều chuyên gia ngân hàng là do tập quán sử dụng tiền mặt trong tiêu dùng của người dân Việt Nam vẫn còn khá phổ biến trong khi đó, ở nhiều nước số lượng thẻ thanh toán có khi bằng cả dân số, mỗi năm có nước như Thái Lan phát hành thêm được hàng triệu thẻ Theo báo Sài Gòn Giải Phóng và theo các chuyên gia tài chính ước tính số lượng người dân sử dụng thẻ ở các nước trong khu vực cao hơn rất nhiều so với Việt nam: singapore chiếm 68,5%; Thái Lan chiếm 10,6%; Malaysia có gần 25 triệu dân nhưng có tới 5 triệu thẻ với doanh số 8 tỷ USD năm 2010; Hồng Kong (Trung Quốc) chỉ có 5 triệu dân nhưng có gần 9 triệu thẻ với doanh thu 26 tỷ USD…
Con số thẻ thanh toán được phát hành theo thống kê ở Việt Nam rõ ràng cho thấy thị trường Việt Nam còn ở mức sơ khai Nhưng ngược lại cũng có nghĩa nước ta
là một thị trường đầy tiềm năng cho thanh toán thẻ Sự tăng trưởng kinh tế ổn định trong thời gian qua đã góp phần không nhỏ làm thay đổi diện mạo thị trường tiêu thụ ở nước ta Hệ thống siêu thị mọc lên liên tục thay thế cho các ngôi chợ truyền thống, của
Trang 35hiệu tạp hóa nhỏ lẻ truyền thống; các shop thời trang với các nhãn hiệu cao cấp trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều hơn… Tất cả những biến chuyển đó cùng với đời sống kinh tế và thu nhập ngày càng cải thiện đã kéo theo sự nâng cấp nhu cầu thói quên tiêu dùng của người Việt Nam Điều này cũng tác động không nhỏ tới hoạt động dịch vụ kinh doanh qua thẻ của Agribank Số lượng phát hành thẻ của ngân hàng tuy
có tăng hàng năm nhưng tăng không nhiều và không xứng với tiềm năng của thị trường, điều này ảnh hưởng tới doanh thu của dịch vụ kinh doanh thẻ Chính vì thế trong tương lai Agribank nên có những định hướng phát triển cụ thể, để đưa sản phẩm thể tới gần hơn nữa với người sử dụng
2.3.1.3 Công nghệ thông tin:
Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, công nghệ số phát triển vượt bậc, công nghệ ngân hàng cũng phát triển với tốc độ tương ứng Đây là điều kiện tốt tạo cho ngân hàng Agribank một công cụ hỗ trợ đắc lực không thể thiếu trong công việc quản lý, thực hiện thanh toán giao dịch, bảo mật thông tin khách hàng… Giúp cho việc giao dịch, thanh toán qua thẻ tiện dụng và dễ dàng hơn bao giờ hết Từ
đó khách hàng sẽ dễ dàng tiếp cận và làm quen với việc thanh toán qua thẻ Nhưng bên cạnh đó, chúng ta không thể không nhắc tới sự phát triển song song của công nghệ thông tin làm ứng dụng cho ngành ngân hàng và sự bùng nổ của gian lận thông tin (do tin tặc xâm nhập máy tính chủ của ngân hàng ăn cắp thông tin khách hàng, tình trạng gian lận thẻ ngày càng tinh vi…) đem ngân hàng đến những khó khăn như: mất lòng tin khách hàng, giảm doanh thu… Agribank cũng thường xuyên phải giải quyết những trường hợp như: bị làm giả thẻ, lừa gạt để lấy số PIN, đăng nhập vào trang dữ liệu để
ăn cắp thông tin về tài khoản của khách hàng,… Agribank phải chú trọng hơn nữa công tác đảm bảo an toàn cho khách hàng khi tham gia thanh toán, vấn đề an toàn cũng là trở ngại lớn cho việc khách hàng tiếp cận dịch vụ thanh toán qua thẻ
2.3.1.4 Dân số
Theo thống kê sơ bộ thì huyện Tiên Du có khoảng gần 5000 dân, là huyện có cơ cấu dân số trẻ, dân số ở thị trấn chiếm hơn 30% dân số trong vùng Với lượng dân số đông như hiện nay và lượng đối tượng có tiềm năng phát triển dịch vụ thẻ còn nhiều Nhất là phải kể đến Thị trấn Lim, nơi tập trung cụm công nghiệp vừa và nhỏ cùng các tiểu thương buôn bán trên địa bàn, nơi đây quy tụ rất nhiều lao động làm việc cho doanh nghiệp, cơ quan nhà nước Và còn có những khu công nghiệp mới đang được
Trang 36xây dựng sẽ tạo nên nguồn cầu thẻ thanh toán lớn đối với các ngân hàng , là cơ hội lớn
để chi nhánh mở rộng hoạt động thanh toán thẻ ở tương lai
Hòa nhịp với sự tăng trưởng chung của cả nước thì những năm qua huyện Tiên
Du cũng đạt được sự tăng trưởng khá bình quân mỗi năm tăng trưởng kinh tế đạt hơn 16%), góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả tỉnh Bắc Ninh và đóng góp vào ngân sách nhà nước Lượng lao động trẻ dồi dào, thu nhập của người dân ngày một tăng lên, mật độ dân số sống ở thị trấn chiếm tỉ lệ khá sẽ là một nhân tố vô cùng thuận lợi cho ngân hàng phát triển thanh toán qua thẻ
Nắm bắt được lợi thế này, Agribank trong thời gian qua đã không ngừng gia tăng số lượng thẻ, đa dạng hóa dịch vụ thẻ Cùng với đó là những chương trình khuyến mại để thu hút người sử dụng như: liên kết với các siêu thị để khi mua hàng mà thanh toán bằng thẻ sẽ được giảm giá, liên kết với các công ty trong việc trả tiền lương thưởng cho lao động qua thẻ… Mở rộng hệ thống chi nhánh cùng hệ thống ATM và ĐVCNT rộng khắp tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng thẻ dễ dàng hơn
2.3.1.5 Điều kiện tự nhiên
Với vị thế về vị trí địa lý, huyện Tiên Du là trung tâm của tỉnh Bắc Ninh, nằm dọc trục đường quốc lộ 1A cũ Cách thủ đô Hà Nội 35km Huyện Tiên Du có nhiều dự
án lớn đã và đang được xây dựng thu hút vốn đầu tư cao do hệ thống giao thông thuận tiện, dân cư đến làm ăn sinh sống mua bán làm nhu cầu sử dụng thẻ thanh toán cao, nhờ những ưu điểm của nó(như việc không cần vận chuyển 1 lượng tiền mặt lớn mà tiền chỉ gửi trong tài khoản khi cần sử dụng người dân chỉ việc rút theo nhu cầu, việc giao dịch trao đổi mua bán bằng chuyển khoản nhanh chóng và thuận lợi làm rút ngắn thời gian bận, tiết kiệm chi phí đi lại….) Vì vậy việc sử dụng thẻ trong đời sống hàng ngày của những nhóm đối tượng này là cần thiết, Agribank có những đợt khuyến mại làm thẻ miễn phí, giảm phí duy trì thẻ,… để thu hút nhóm khách hàng tiềm năng này
2.3.1.6 Môi trường quốc tế
Từ khi Việt Nam ký kết tham gia tổ chức thương mại thế giới là khi các ngân hàng thương mại nước ta bước ra một sân chơi mới, môi trường mới với đầy những cơ hội và thách thức mới
- Gia nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng trong việc tiếp cận trình độ công nghệ mới đang thay đổi từng ngày, ứng dụng vào trong các sản phẩm, hoạt động dịch vụ cần ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại mà không bị giới
Trang 37hạn rào cản chính trị, quốc gia như trước kia Nhất là đối với thẻ thanh toán, rất cần có công nghệ cao và các ngân hàng có tham gia thị trường thẻ cần phải học hỏi thêm kinh nghiệm công tác quản lý, tổ chức phát triển của các ngân hàng nước ngoài Vì dầu sao đây cũng là lĩnh vực dịch vụ khá mới, chưa phát triển theo đúng tầm của thế giới Đồng thời khi hội nhập đòi hỏi phải thay đổi thói quen cũ, sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt còn mới mẻ với Việt Nam nhưng đã được phát triển khá lâu trên thế giới.
Agribank cũng hiểu được rằng để tồn tại và phát triển lâu dài thì buộc phải hội nhập, tiếp thu những thành tựu mới mẻ, như vậy mới có khả năng cạnh tranh với những ngân hàng trong và ngoài nước Hàng quý Agribank luôn luôn yêu cầu các chi nhánh có những bản báo cáo chi tiết về tình hình kinh doanh, tổng kết những hạn chế
để tìm ra phương hướng giải quyết nhanh nhất Agribank còn nhập những công nghệ tiên tiến của nước ngoài để nâng cao chất lượng thẻ và đảm bảo tính an toàn khi tham gia thanh toán
Liên kết với các tổ chức thẻ thanh toán uy tín trên thế giới (Visa, Banknetvn…)
- Gia nhập kinh tế quốc tế, ngành ngân hàng phải đối mặt với một môi trường đầy phức tạp, rủi ro nhiều hơn do nền kinh tế nước ta cũng bi tác động bởi những chuyển biến của kinh tế thế giới Nhất là nền kinh tế toàn cầu đang phải giải quyết những tổn thất do khủng hoảng kinh tế để lại, đây chính là một thách thức không nhỏ cho sự tồn tại và phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta
2.3.2 Môi trường tác nghiệp
2.3.2.1 Đối thủ cạnh tranh trong ngành
Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh huyện Tiên Du tham gia thị trường thẻ năm
2005, nằm trong top tiên phong phát triển loại hình này trên địa bàn Nhưng ngay từ đầu triển khai tới nay, ngân hàng đã phải gặp không ít khó khăn trong việc cạnh tranh thị trường Đến nay cả nước đã có 37 ngân hàng tham gia phát triển thanh toán qua thẻ
và trên địa bàn đã có 8 ngân hàng trong và ngoài nước đang hoạt động, huyện Tiên Du
là địa bàn nằm trong nhóm có số lượng ngân hàng thương mại hoạt động nhiều nhất trong tỉnh Bắc Ninh Trong đó 8 ngân hàng trên đều tham gia hoạt động thanh toán thẻ Như thế nếu tính trên địa bàn huyện Tiên Du với lượng dân số hơn 5000 người dân thị trấn chiếm hơn 30% dân số thì sẽ tạo nên một thị trường cạnh tranh vô cùng khó khăn không riêng gì đối với bản thân ngân hàng Đó là còn chưa kể đến các tổ
Trang 38chức tài chính, công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện trong nước, ngoài nước tham gia tạo thêm áp lực lớn trong cạch tranh, mở rộng thị phần.
Quy mô của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp của ngân hàng lớn nhỏ cũng là thách thức lớn cho hướng hoạt động sắp tới của ngân hàng Có ngân hàng quốc doanh với giá trị tổng tài sản tương đương, thị phần thẻ nắm giữ lớn, có ngân hàng nước ngoài vốn đã có kinh nghiệm trong hoạt động thẻ cùng với nguồn lực tài chính mạnh, chắc chắn làm gia tăng áp lực cho ngân hàng trong các đối sách nhắm vào đối thủ Trong đó tính riêng trên địa bàn huyện Tiên Du thì đáng kể nhất là các ngân hàng
có thương hiệu lớn như: Vietcombank, Sacombank, Đông Á , techcombank,… và cũng
là những đối thủ lớn của ngân hàng trong lĩnh vực thẻ
Các sản phẩm thẻ thanh toán của các ngân hàng khác có nhiều chức năng và tiện ích hơn, các dòng sản phẩm thẻ thanh toán ra đời lần lượt đều hướng tới sự thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng và có độ bảo mật cao Điển hình là sản phẩm thẻ của Vietcombank và thẻ đa năng của ngân hàng Đông Á Hiện Vietcombank đang phát hành hơn 6 loại thẻ và có thế mạnh trong lĩnh vực thẻ lâu đời hơn Một điển hình khác Đông Á đã liên kết với Visa tung ra thị trường thẻ thanh toán mới Với sản phẩm này, khách hàng chỉ cần có thu nhập từ 4 triệu đồng/tháng trở lên sẽ được cấp thẻ với hạn mức chỉ tiêu lên đến 150 triệu đồng và hưởng lãi xuất 0% trong vòng 45 ngày đối với các khoản chi tiêu
Mặt khác, điểm mạnh của Vietcombank là có mạng lưới rộng khắp cả nước, chỉ tính riêng số lượng máy ATM trên địa bàn huyện Tiên Du Vietcombank chiếm 32,58% với 15 máy, ngân hàng Đông Á có số lượng máy cao hơn ngân hàng Nông nghiệp với 12 máy chiếm 26%
Ta cũng có thể thấy quy mô của các ngân hàng đối thủ rất lớn, số lượng máy và điểm chấp nhận thanh toán rộng, thị phần phát hành thẻ đang nắm giữ của các đối thủ cao hơn Agribank (Vietcombank đang nắm giữ thị phần lớn nhất) Công nghệ thẻ đang ứng dụng tại các ngân hàng đối thủ cũng là công nghệ hiện đại hàng đầu Các chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ thẻ đối thẻ rất đa dạng, đầu tư nhiều cho hoạt động marketing thẻ
Nhận thức được những khó khăn và thách thức trên Agribank cũng không ngừng cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm thẻ, đi đôi với việc đa dạng hóa Cụ thể Agribank có các sản phẩm thẻ như: Thẻ nội địa, Thẻ quốc tế Visa – Master (gồm 3 hạng: