Trong những thâ ̣p kỷ qua, các nước trên thế giới và Việt Nam đã nghiên cứu và vận dụng nhiều lý thuyết và phương pháp dạy học theo hướng hiện đại nhằm phát huy tính tích cực học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
KHOA TOÁN
Nhóm 1 – Toán 4B Phan Thị Thu Phương Nguyễn Thị Thùy Nhung Hoàng Xuân Lãm
ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO, KẾT HỢP
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHÉP VỊ TỰ
Huế, Tháng 9 năm 2014
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 3
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
A Lý thuyết kiến tạo 4
1 Lý thuyết kiến tạo của Jean Piaget 4
2 Lý thuyết kiến tạo trong dạy học 5
3 Một số luận điểm về dạy học theo quan điểm kiến tạo 6
4 Hoạt động của giáo viên và học sinh trong môi trường dạy học kiến tạo 7
5 Quy trình dạy học theo lối kiến tạo 7
B Phương pháp dạy học theo nhóm 7
C Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 9
II ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO, KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHÉP VỊ TỰ 9
1 Đặt vấn đề 9
2 Định nghĩa 11
3 Các tính chất của phép vị tự 12
4 Ảnh của đường tròn qua phép vị tự 14
5 Ứng dụng của phép vị tự 15
III TIÊN NGHIỆM 18
IV KẾT LUẬN 19
V TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nâng cao chất lươ ̣ng da ̣y ho ̣c nói chung, chất lượng da ̣y ho ̣c môn Toán nói riêng đang là mô ̣t yêu cầu cấp bách đối với ngành Giáo du ̣c nước ta hiê ̣n nay Mô ̣t trong những khâu then chốt để thực hiê ̣n yêu cầu này là đổi mới nô ̣i dung và phương pháp da ̣y ho ̣c Quan điểm chung của đổi mới phương pháp là làm cho học sinh tích cực, chủ động, hay nói một cách khác, giáo viên phải lấy người học làm trung tâm nhằm chống lại thói quen học tập thụ động
Trong những thâ ̣p kỷ qua, các nước trên thế giới và Việt Nam đã nghiên cứu và vận dụng nhiều lý thuyết và phương pháp dạy học theo hướng hiện đại nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, trong đó có da ̣y ho ̣c kiến ta ̣o nhâ ̣n thức của tác giả Jean Piaget Lý thuyết kiến tạo có thể tạo ra những cơ hội thuận lợi hơn cho việc áp dụng các phương pháp da ̣y ho ̣c mới vào thực tiễn da ̣y ho ̣c toán ở trường THPT Viê ̣t Nam nhằm phát huy tối đa năng lực tư duy của người học và nâng cao chất lượng dạy học
Lý thuyết kiến tạo còn đưa ra một số cách tiếp cận mang tính kiến tạo, trong đó dạy học hợp tác theo nhóm là một cách đặc trưng cơ bản giúp đưa học sinh trở thành trung tâm trong hoạt động học tập
Ngoài ra, công nghệ thông tin cũng được xem như “một khía ca ̣nh đặc biê ̣t quan trọng trong hành trang văn hóa dạy học của thế kỷ 21”, hỗ trợ các mô hình phát triển đổi mới cho phép mở rộng bản chất và kết quả ho ̣c tâ ̣p của học sinh
Phép vị tự là một nội dung rất quan trọng trong phần hình ho ̣c lớp 11 Đây là một mảng kiến thức khó đối với học sinh Phần lớn các em học sinh đều cảm thấy lúng túng khi gặp các bài toán về phép vị tự Làm sao để học sinh học tập chủ đề này cho tốt luôn là vấn đề trăn trở với nhiều giáo viên Do đó, viê ̣c áp du ̣ng các phương pháp da ̣y ho ̣c tích cực vào da ̣y ho ̣c chủ đề này là rất cần thiết
Nội dung của đề tài gồm 4 phần:
I Cơ sở lý luận và thực tiễn
II Vận dụng lý thuyết kiến tạo, kết hợp với dạy học hợp tác theo nhóm và công nghệ thông tin vào dạy học chủ đề Phép vị tự
III Tiên nghiệm
IV Kết luận
Trang 4Huế, Tháng 9 năm 2014
Thực hiện: Nhóm 1- Toán 4B
Trang 5I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Lý thuyết kiến tạo của Jean Piaget
Theo J Piaget lý thuyết kiến tạo có các quan điểm chủ đạo sau:
Học tập là quá trình cá nhân hình thành các tri thức cho mình
Đó là quá trình cá nhân tổ chức các hành động tìm tòi, khám phá thế giới tri thức bên ngoài và cấu tạo chúng dưới dạng các cấu trúc nhận thức
Cấu trúc nhận thức tạo ra sự thích ứng của cá thể với các kích thích của môi trường và tổ chức lại thế giới quan của chính mỗi người Các cấu trúc nhận thức được hình thành theo cơ chế đồng hóa và điều ứng
Đồng hóa là quá trình chủ thể tái lập lại một số đặc điểm của khách thể được nhận thức đưa chúng vào trong các cấu trúc nhận thức đã có Như vậy, nếu gặp một tri thức mới tương tự tri thức đã biết thì tri thức mới này có thể được kết hợp trực tiếp vào cấu trúc nhận thức đang tồn tại, hay nói cách khác, học sinh có thể dựa vào những kiến thức cũ để giải quyết một tình thuống mới
Điều ứng là quá trình thích ứng của chủ thể với những yêu cầu của môi trường bằng cách thiết lập những đặc điểm của khách thể vào cái đã có qua đó biến đổi cấu trúc đã có tạo ra cấu trúc mới cân bằng giữa chủ thể và môi trường Như vậy, khi gặp một tri thức mới hoàn toàn khác biệt với những cấu trúc nhận thức đang có và không thể vận dụng những kiến thức đang có để giải quyết thì người học phải thay đổi, điều chỉnh thậm chí loại bỏ những kiến thức và kinh nghiệm đã có Khi đó tình huống mới được giải quyết, kiến thức mới được hình thành và bổ sung vào hệ thống kiến thức đã có, tức là cấu trúc hiện có được thay đổi để phù hợp với tri thức mới
Tóm lại, khi cá thể tiếp nhận một tri thức mới thì có các khả năng sau xảy ra: Nếu tri thức mới đó không được gắn kết với kiến thức đã có thì tri thức
không được đồng hóa, lúc này không xảy ra việc học tập
Nếu tri thức mới đó có thể gắn kết được kiến thức đã có thì quá trình đồng hóa xảy ra Lúc này, nếu tri thức mới tương hợp hoàn toàn với cấu trúc nhận thức đã có thì việc học tập cái mới không xảy ra.Và ngược lại, nếu tri thức mới tương hợp hoàn toàn với cấu trúc nhận thức đã có thì xảy ra quá trình điều ứng, nếu thành công thì việc học tập cái mới xảy ra và ngược lại không xảy ra việc học tập
Trang 6 Quá trình phát triển nhận thức trước hết phụ thuộc vào sự trưởng thành và chin muồi các chức năng sinh lí thần kinh của học sinh, vào sự luyện tập và kinh nghiệm thu được thông qua hành động với đối tượng, vào tương tác của các yếu tố
xã hội và vào tính chủ thể và sự phối hợp chung của hành động
2 Lý thuyết kiến tạo trong dạy học
Học theo quan điểm kiến tạo
Theo Brooks (1993) thì: “Quan điểm về kiến ta ̣o trong dạy học khẳng đi ̣nh rằng HS cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiê ̣m mới vào trong những cái mà họ đã có trước đó HS thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hê ̣ tương tác với những chủ thể và ý tưởng …”
Còn theo M Briner thì: “Ngươ ̀ i học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiê ̣m đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới, hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong trí óc”
Qua đây ta thấy học theo quan điểm kiến tạo là hoạt động nhận thức của học sinh dựa trên những tri thức đã có, kinh nghiệm đã có nhằm tương tác với các tình huống nhằm hiểu chúng để xây dựng các kiến thức mới Bằng cách xây dựng trên các kiến thức đã có, học sinh có thể nắm bắt tốt các kiến thức, khái niệm, quy luật
đi từ nhận biết sự vật sang hiểu nó và phát hiện kiến thức mới Kiến thức nhận được khuyến khích tư duy phê phán, cho phép học sinh tích hợp được các khái niệm, các quy luật theo nhiều cách khác nhau, khi đó học sinh có thể trình bày các khái niệm, quan hệ, kiểm chứng, phê phán các khái niệm, quan hệ được xây dựng
Như vậy, học theo quan điểm kiến tạo là người ho ̣c không ho ̣c bằng cách thu nhâ ̣n mô ̣t cách thu ̣ đô ̣ng những kiến thức do người khác truyền cho mô ̣t cách áp
đă ̣t mà kiến thức được nhận bằng sự tương tác trực tiếp của học sinh với các hoạt động tư duy, tích cực, độc lập, sáng tạo
Dạy theo quan điểm kiến tạo
Theo Mebrien và Brandt (1997) thì: “Kiến tạo là một cách tiếp cận “Dạy”
dựa trên nghiên cứu về viê ̣c “Học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với viê ̣c nó được nhận từ người khác”
Trang 7Như vậy, dạy theo quan điểm kiến tạo không phải là giáo viên đọc và giảng giải, giải thích cho học sinh, cố gắng truyền tải tri thức sách giáo khoa một cách thụ động đối với học sinh mà giáo viên là người tạo tình huống sư phạm để học sinh hoạt động tương tác dựa trên vốn kinh nghiệm, tri thức đã có để tìm và chiếm lĩnh tri thức
3 Một số luận điểm về dạy học theo quan điểm kiến tạo
Luận điểm 1: Học sinh tiếp nhận tri thứ c thông qua các hoạt động tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo chứ không phải tiếp thu mô ̣t cách thu ̣ đô ̣ng từ bên
ngoài
Luận điểm 2:Nhận thức là quá trình thích nghi với môi trường và tổ chức lại thế giới quan của chính mỗi người Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể Ở đây quá trình nhận thức của học sinh chỉ nhằm mục đích chủ động tái tại tạo lại tri thức của nhân loại trong chính bản thân mình và quá trình nhận thức của học sinh được diễn ra trong môi trường đặc biệt là môi trường dạy học
Luận điểm 3: Kiến thứ c và kinh nghiê ̣m mà cá nhân thu nhâ ̣n được phải phù hợp vớ i những yêu cầu mà tự nhiên và xã hô ̣i đă ̣t ra Tức là tri thức và kinh nghiệm được dạy ở trường phải xuất phát từ điều kiện tự nhiên xã hội, hướng việc dạy gắn với các nội dung, thực tiễn phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, đáp ứng nhu cầu của xã hội
Luận điểm 4: Kiến thức và kinh nghiệm đã có là nền tảng nảy sinh các kiến thức mới Xuất phát từ tri thức, kinh nghiệm đã có, học sinh thực hiện các phán đoán, dự đoán, nêu giả thuyết một vấn đề nào đó và tiến hành các hoạt động kiểm nghiệm kết quả bằng suy diễn logic Nếu giả thuyết không đúng thì tiến hành điều chỉnh lại giả thuyết sau đó kiểm nghiệm lại giả thuyết để đi đến kết quả mong muốn, dẫn đến sự thích nghi với tình huống và tạo ra kiến thức mới
Luận điểm 5: Trong dạy học kiến tạo, song song với việc hình thành tri thức và kinh nghiệm mới cần chú trọng các tri thức phương pháp, hình thành các hoạt động trí tuệ để chiếm lĩnh các tri thức đó Cùng với các tri thức, kinh nghiệm mới cần nhấn mạnh việc học sinh chiếm lĩnh cách thức tạo ra tri thức đó, nghĩa là hình thành các thao tác trí tuệ tương ứng
Trang 84 Hoạt động của giáo viên và học sinh trong môi trường dạy học kiến tạo
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
1 Chuẩn bi ̣ các tình huống Tự do chia sẻ niềm tin và quan
điểm riêng
2 Đưa ra các bài toán, tình huống,
đô ̣ng viên HS vâ ̣n đô ̣ng kiến thức và
kinh nghiê ̣m đã có để tìm cách giải
Vâ ̣n du ̣ng kiến thức và kinh nghiê ̣m sẵn có để giải quyết vấn đề
3 Tạo môi trường tương tác Tôn tro ̣ng ý kiến của người khác
4 Tổ chức cho HS tự nghiên cứu
5 Quy trình dạy học theo lối kiến tạo
Ôn tập, tái hiện
Nêu vấn đề
Tập hợp ý tưởng của học sinh, so sánh, đánh giá các ý tưởng đó và đưa ra ý tưởng chung của cả lớp
Dự đoán (đề xuất giả thuyết)
Học sinh kiểm tra giả thuyết (thử - sai)
Rút ra kết luận chung (tri thức mới)
Dạy học hợp tác theo nhóm là một thuật ngữ để chỉ cách dạy trong đó HS trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, được giao nhiệm vụ và được khuyến khích thảo luận, hướng dẫn hợp tác làm việc với nhau để cùng đạt được kết quả chung là hoàn thành nhiệm vụ cá nhân
Trang 9Các bước của quá trình dạy học hợp tác theo nhóm :
a) Trao đổi ý kiến thảo luận trong nhóm hoặc
b) Phân công trong nhóm từng cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi;
c)Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp
a) Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
b) Thảo luận chung
c) GV tổng kết đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo
Cách thực hiện chia nhóm:
Chia nhóm theo qui mô
Chia nhóm theo đặc điểm HS
Chia nhóm theo nội dung học tập
Chia nhóm theo điều kiện phương tiện học tập
Tác động tích cực của phương pháp dạy học theo nhóm:
Dạy học theo nhóm nâng cao tính tương tác giữa các thành viên trong nhóm
Sự phụ thuộc giữa các thành viên trong nhóm
Tính trách nhiệm cá nhân cao
Sử dụng hợp lí những kĩ năng giao tiếp và kĩ năng xã hội
Trang 10C Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là xu thế phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đại Xem yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học có sự hỗ trợ của các
phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết Với yêu cầu đó các phần mềm hỗ trợ công tác dạy học Toán ngày càng được phát triển, một số phần mềm được ứng dụng phổ biến như Cabri 3D, Maple, Geometer’s Sketchpad
II ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO, KẾT HỢP
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHÉP VỊ TỰ
Phép biến hình trong mặt phẳng cụ thể là phép vị tự là một nội dung quan trong trong chương trình hình học 11 và có tính ứng dụng thực tiễn cao, tuy nhiên lâu nay việc dạy và học còn mang nhiều ảnh hưởng lối dạy truyền thống đó là giáo viên giảng giải, truyền thụ kiến thức một chiều, tách rời học sinh còn học sinh có nhiệm vụ lắng nghe, ghi chép Lối dạy này hạn chế khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh, vì vậy cần có một cách dạy mới khắc phục những nhược điểm trên Dạy học dựa trên nền tảng lý thuyết kiến tạo, kết hợp phương pháp dạy học theo nhóm và công nghệ thông tin đã và đang đem lại nhiều hiệu quả tích cực, khắc phục được những hạn chế trên
1 Đặt vấn đề
Khi dạy bất kì một nội dung toán học nào người giáo viên cũng nên xuất phát từ
điều kiện tự nhiên xã hội, hướng việc dạy gắn với các nội dung, thực tiễn phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, đáp ứng nhu cầu của xã hội Do đó giáo viên cần chỉ rõ
Ôn tập, tái hiện kiến thức cũ
Để dẫn dắt học sinh vào bài mới người giáo viên sẽ bắt đầu từ những kiến thức và
kinh nghiệm đã có là nền tảng nảy sinh các kiến thức mới Giáo viên sẽ đưa ra một số
hình ảnh sau:
Trang 122 Định nghĩa
Để học sinh tiếp nhận tri thức thông qua các hoạt động tư duy tích cực, độc lập,
sáng tạo chư ́ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài thầy giáo sẽ đưa ra một
số câu hỏi gợi ý : Hãy nhắc lại định nghĩa một phép biến hình Từ đó cho biết: Với điểm
O cho trước và số k 0, qui tắc đặt tương ứng mỗi điểm M trong mặt phẳngvới một điểm M’ sao cho : OM'k OM có là phép biến hình không ? Vì sao ? Nếu phải thì đó là phép biến hình nào ?
Dự đoán (đề xuất giả thuyết)
Quy tắc trên là một phép biến hình và nó không phải là một trong những phép biến hình đã học
Học sinh kiểm tra giả thuyết (thử - sai)
Dựa vào khái niệm phép biến hình và kiến thức về các phép biến hình đã được học
Với câu hỏi trên nhận thức của học sinh xảy ra quá trình đồng hóa ở chỗ dựa vào định nghĩa phép biến hình (kiến thức cũ) có thể chứng minh được (giải quyết được) quy tắc trên cũng là một phép biến hình (tình huống mới) Lúc này cấu trúc nhận thức được
mở rộng thêm, đầy đủ thêm Tuy nhiên cùng với kiến thức đã có về các phép biến hình
(kiến thức cũ) học sinh không thể trả lời được (không giải quyết được) câu hỏi đó là phép biến hình nào (tình huống mới)
Giáo viên cho các học sinh khác nhận xét câu trả lời và bổ sung (nếu có), sau đó
giáo viên nhận xét và chính xác hóa kiến thức cũ (Hoạt động này giúp học sinh khắc sâu
hơn kiến thức cũ cũng như hoàn thiện cấu trúc nhận thức)
Rút ra kết luận chung (tri thức mới)
Tổng kết: Giáo viên khẳng định phép biến hình trên được gọi là phép vị tự và đưa ra
định nghĩa chính xác (Lúc này quá trình điều ứng xảy ra)
Định nghĩa: Cho một điểm O cố định và một số k không đổi, k 0 Phép biến hình biến mỗi điểm M thành điểm M'sao cho OM kOMđược gọi là phép vị tự tâm O