. Di chỉ khảo cổ học Dương Xá thuộc thôn Dương Đình, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là một di chỉ khảo cổ học cũng đã từng được khai quật 1 lần (năm 1987) và thám sát 1 lần (năm 1998). Kết quả của các cuộc khai quật và thám sát đó đã bước đầu cho thấy đây là một di chỉ có quy mô rộng lớn, có tầng văn hóa dày và được thành tạo vào giai đoạn chuyển tiếp từ văn hóa Gò Mun sang văn hóa Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng. Tháng 12 năm 2008, Bộ môn Khảo cổ học của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tiến hành khai quật tiếp ở di chỉ này nhằm bổ sung thêm những tư liệu cho việc nghiên cứu về di chỉ Dương Xá nói riêng và về thời đại kim khí ở lưu vực sông Hồng nói chung.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Mục đích, lý do chọn đề tài 3
2 Nguồn tư liệu 4
3 Phương pháp nghiên cứu 4
4 Bố cục của khóa luận 4
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, CẢNH QUAN, MÔI TRƯỜNG VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU DI CHỈ DƯƠNG XÁ 7
1.1 Vị trí địa lý, cảnh quan, môi trường khu vực Dương Xá 7
1.2 Quá trình phát hiện và nghiên cứu 9
1.2.1 Cuộc khai quật năm 1987 9
1.2.2 Cuộc đào thám sát năm 1998 10
CHƯƠNG 2 VỊ TRÍ HỐ KHAI QUẬT, HỐ THÁM SÁT, DIỄN BIẾN ĐỊA TẦNG VÀ DI TÍCH 12
2.1 Vị trí hố khai quật và hố thám sát 12
2.2 Diễn biến địa tầng (Ba.09 – Ba.12; Bv.03) 13
2.3 Di tích 14
2.3.1 Cụm gốm 14
2.3.2 Cụm đất nung, đất cháy 15
2.3.3 Xương, răng 16
2.3.4 Mộ táng và các hố đất đen 16
CHƯƠNG 3 DI VẬT 19
3.1 Đồ đá (Bảng 03) 19
3.1.1 Công cụ sản xuất 19
3.1.1.1 Bàn mài (Ba.32; Bảng 05) 19
3.1.1.2 Chày đá (Ba.36; Bảng 06) 21
3.1.2.1 Khuyên tai 22
3.1.2.2 Hạt chuỗi (Ba.44; Bv.19) 24
Trang 23.1.3 Hiện vật đá khác (Ba.50; Bảng 08) 25
3.2 Đồ đồng (Bảng 04) 26
3.2.1 Vũ khí (Ba.52; Bảng 09) 26
3.2.1.1 Mũi giáo 26
3.2.1.2 Mũi lao 27
3.2.2 Công cụ sản xuất – lưỡi câu (Ba.57; Bv.29, Bảng 10) 28
3.2.3 Hiện vật đồng khác 31
3.2.4 Nghề luyện và chế tác đồng ở Dương Xá 32
3.3 Đồ gốm 34
3.3.1 Loại hình đồ gốm 35
3.3.2 Chất liệu gốm 35
3.3.3 Màu sắc 35
3.3.4 Hoa văn 36
3.3.5 Kỹ thuật chế tác 36
CHƯƠNG 4 ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC DI CHỈ KHÁC 37
4.1 Mối quan hệ với các di chỉ khác 37
4.1.1 Với di chỉ Đình Tràng 37
4.1.2 Với di chỉ Chiền Vậy 37
4.1.3 Với di chỉ Đường Cồ 38
4.2 Niên đại và chủ nhân của di chỉ Dương Xá 39
4.3 Đời sống của cư dân Dương Xá cổ 39
4.3.1 Đời sống kinh tế 39
4.3.2 Đời sống văn hóa tinh thần 41
KẾT LUẬN 43
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHẦN PHỤ LỤC 47
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Mục đích, lý do chọn đề tài
Lịch sử loài người là một chuỗi quá trình phát triển lâu dài Trong quátrình phát triển lâu dài đó, loài người đã trải qua các thời kỳ tiền sử, sơ sử vàlịch sử Việt Nam cũng không nằm ngoài sự phát triển chung, cũng phải trảiqua các thời đại đó Khảo cổ học Việt Nam ngày càng làm rõ hơn quá trìnhphát triển của con người trên đất nước Việt Nam từ thời tiền sử, sơ sử và lịchsử
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, quá trình nghiên cứu khảo cổ học ởViệt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, còn nhiều vấn đề cần được làm rõ hơn Vìvậy, các cuộc khai quật khảo cổ học hàng năm vẫn được diễn ra thường xuyên
để bổ sung thêm nhận thức của chúng ta về lịch sử Việt Nam, đặc biệt là thờitiền sử và sơ sử Di chỉ khảo cổ học Dương Xá thuộc thôn Dương Đình, xãDương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là một di chỉ khảo cổ học cũng
đã từng được khai quật 1 lần (năm 1987) và thám sát 1 lần (năm 1998) Kếtquả của các cuộc khai quật và thám sát đó đã bước đầu cho thấy đây là một dichỉ có quy mô rộng lớn, có tầng văn hóa dày và được thành tạo vào giai đoạnchuyển tiếp từ văn hóa Gò Mun sang văn hóa Đông Sơn ở lưu vực sôngHồng Tháng 12 năm 2008, Bộ môn Khảo cổ học của Khoa Lịch sử, TrườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) đãtiến hành khai quật tiếp ở di chỉ này nhằm bổ sung thêm những tư liệu choviệc nghiên cứu về di chỉ Dương Xá nói riêng và về thời đại kim khí ở lưuvực sông Hồng nói chung
Sau 2 tuần làm việc khẩn trương và nghiêm túc tại hiện trường, cuộckhai quật đã thành công tốt đẹp Tiếp đó, công việc xử lý hiện vật được thựchiện tại Bảo tàng Nhân học và chúng tôi đã đưa ra được những nhận định banđầu Được sự giúp đỡ của thầy Nguyễn Chiều, các thầy cô của bộ môn và các
Trang 4anh chị công tác tại Bảo tàng Nhân học, tôi đã nhận đề tài “Báo cáo khai quật
di chỉ Dương Xá năm 2008” làm khóa luận tốt nghiệp của mình Song song
với “Báo cáo khai quật di chỉ Dương Xá năm 2008” này còn có một khóa
luận khác viết riêng về đồ gốm của di chỉ Dương Xá Vì vậy, tôi sẽ chỉ trìnhbày sơ lược về đồ gốm Bài khóa luận này là sự hoàn thiện các bước của quátrình khai quật Dương Xá tháng 12/2008, cùng với sự tổng hợp tư liệu của lầnkhai quật trước và rút ra nhận xét về di chỉ khảo cổ này
2 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu sử dụng trong khóa luận bao gồm các tài liệu thực địaqua các lần khai quật năm 1987, 1998 và 2008; các báo cáo và các bài viếttrên các tạp chí; các tài liệu địa phương
3 Phương pháp nghiên cứu
- Trực tiếp tham gia khai quật tại hiện trường
- Quan sát, đo, vẽ, chụp ảnh hiện trường và hiện vật khai quật
- Chỉnh lý, phân loại và thống kê tư liệu
- Phân tích, khảo tả, so sánh, rút ra kết luận tổng hợp
4 Bố cục của khóa luận
Bố cục khóa luận gồm hai phần lớn: phần chính văn và phần phụ lục
Trang 5quan tự nhiên ở khu vực phân bố của di chỉ Dương Xá, quá trình phát hiện vànghiên cứu.
Chương 2 Cấu tạo địa tầng và di tích Chương này đi sâu tìm hiểu diễn
biến địa tầng và trình bày về các di tích như cụm gốm, cụm đất nung, mộ táng
Phần phụ lục bao gồm:
- Bảng thống kê: Các bảng thống kê tổng hợp, đồ đá, đồ đồng và đồgốm
- Bản vẽ: Bản đồ, bản vẽ địa tầng, di tích, hiện vật
- Bản ảnh: Bản ảnh hiện trường, di tích, hiện vật
Để hoàn thành khóa luận này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Chiều, người đã tận tình chỉ bảo tôi suốt thời gian thực tập và là người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận Đồng thời cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Khảo cổ học và khoa Lịch sử, các anh chị làm việc ở Bảo tàng Nhân học, các cô chú công tác ở Viện Khảo cổ
Trang 6học, các cán bộ, nhân dân địa phương và bạn bè, người thân đã tận tình giúp
đỡ, động viên tôi hoàn thành khóa luận.
Do những hạn chế về nhận thức và hạn hẹp về thời gian, chắc chắn bản khóa luận này còn nhiều thiếu sót Vì vậy, rất mong được sự phê bình, góp ý của các thầy cô, các nhà nghiên cứu và bè bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2009 Chu Mạnh Quyền
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, CẢNH QUAN, MÔI TRƯỜNG VÀ LỊCH SỬ
NGHIÊN CỨU DI CHỈ DƯƠNG XÁ.
1.1 Vị trí địa lý, cảnh quan, môi trường khu vực Dương Xá.
Di chỉ Dương Xá thuộc thôn Dương Đình, xã Dương Xá, huyện GiaLâm, thành phố Hà Nội Khu di tích được phân bố bên bờ Bắc sông ThiênĐức, cách sông Thiên Đức khoảng 1km, “cách quốc lộ 5 khoảng 300m vềphía đông, cách Trâu Quỳ 3km về phía nam, cách Hà Nội 24km theo trụcđường bộ số 5 Hà Nội – Hải Phòng” [26, 208]
Di chỉ có toạ độ 210 00’ 06” vĩ độ Bắc và 105058’ 18” kinh độ Đông đotại trước cửa lăng mộ tổ họ Dương, thuộc khu đất Mả Cả (sân bóng Ủy banNhân dân xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội (Ba 01; Bv 02)).Khu đất Mả Cả vốn là một khu nghĩa địa của thôn Dương Đình, theo một sốngười trong thôn, trong quá trình quy hoạch khuôn viên Ủy ban Nhân dân xã,người ta đã san ủi đi khoảng 0,8 đến 1m đất so với bề mặt hiện tại (Hiện tại,trên khu đất này vẫn còn để lại một ngôi mộ tổ của họ Dương trên bề mặt caohơn so với mặt bằng của sân bóng khoảng 0,8 đến 1m (Ba.02))
Di chỉ Dương Xá gần như nằm trọn trong vùng trung tâm của châu thổsông Hồng, độ cao trung bình từ 5 đến 20m so với mực nước biển
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậunhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa.Thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trờirất dồi dào và có nhiệt độ cao Do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm vàlượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Một đặc điểm rõ nétcủa khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùanóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình
Trang 829,2ºC Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa lạnh với nhiệt độtrung bình 15,2ºC Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10,thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông [8].
Khí hậu bình quân của Hà Nội (theo wikipedia.org)
Trung bình cao °C
(°F)
19(66)
19(67)
22(72)
27(80)
31(87)
32(90)
32(90)
32(89)
31(88)
28(82)
24(76)
22(71)Trung bình thấp °C
(°F)
14(58)
16(60)
18(65)
22(71)
25(77)
27(80)
27(80)
27(80)
26(78)
23(73)
19(66)
16(60)
Về văn hóa và lịch sử, Dương Xá là vùng đất cổ, có lịch sử lâu đời trêndưới 3000 năm Tên gọi của các làng Dương có từ lâu đời Thuở đầu gọi làngõ, nằm trong trang Thổ Lỗi Trang Thổ Lỗi sau đổi thành hương Thổ Lỗi.Năm 1066 đổi thành hương Siêu Loại (hơn người) thuộc lộ Bắc Giang (hayThiên Bắc Giang) Tới thời Trần đặt ra lộ Bắc Giang sau đổi thành Kinh Bắc.Năm 1469, thời vua Lê Thánh Tông, triều đình lập ra phủ Thuận An gồm 5huyện: Gia Lâm, Lương Tài, Gia Bình, Siêu Loại và Văn Giang Xã Dương
Xá ngày nay còn lưu đậm địa danh dấu tích của một lỵ sở khi hương SiêuLoại được nâng lên thành huyện Siêu Loại và sau là phủ Thuận An cũng lấySiêu Loại làm trung tâm [3, 13]
Xung quanh di chỉ cũng có nhiều di tích lịch sử đã được xếp hạng cấpQuốc gia Cách di chỉ hơn 100m về phía tây bắc là quần thể đình – chùa –nghè của thôn Dương Đình đang được đề nghị xếp hạng di tích lịch sử - vănhóa Còn cách di chỉ hơn 200m về phía đông nam là đền Bà Tấm (hay còn gọi
là đền Nguyên Phi Ỷ Lan) vốn đã được xếp hạng di tích Quốc gia
Cách di chỉ khoảng 500m về phía bắc còn có dấu tích của 2 dòng chảy
cổ Đó là một dãy ao lớn nối tiếp nhau Đây vốn là nhánh của sông Thiên Đứcnhưng trải qua thời gian đã bị đổi dòng, để lại những chiếc ao này (Ba 01)
Trang 91.2 Quá trình phát hiện và nghiên cứu
Di chỉ Dương Xá được phát hiện một cách ngẫu nhiên Trong quá trìnhcải tạo và quy hoạch đất đai, nhân dân địa phương phát hiện những ngôi mộgạch và những đồ đồng, đồ gốm mang phong cách Đông Sơn [26, 211]
1.2.1 Cuộc khai quật năm 1987
Sau khi phát hiện, tháng 4 năm 1987, Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nộikết hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật di chỉ này Cuộc khai quật
do Ngô Sĩ Hồng làm trưởng đoàn với diện tích 30m2
Cuộc khai quật lần này đã đào được một ngôi mộ mang phong cáchĐông Sơn giai đoạn muộn Hiện vật bao gồm:
- Đồ đồng: 3 chiếc lưỡi câu có ngạnh, 3 đoạn kim đồng (những đoạndây đồng nhỏ được mài tròn), 1 mũi nhọn đồng, 1 chiếc đục và một chiếc búađồng
- Đồ đá: Một mảnh vòng bằng đá nephrit xanh ngọc, 1 chiếc đe bị vỡlàm đôi
- Đồ gốm: hơn 10000 mảnh gốm các loại
- Ngoài ra, trong quá trình khai quật, các nhà khảo cổ còn sưu tầmđược một số hiện vật trong nhân dân như 1 chiếc trống đồng loại nhỏ có 4hình chim bay, 1 liễn đồng có nắp hoa văn hổ phù, một số mũi tên, mũi giáo,tiền ngũ thù thời Đông Sơn [6, 65]
Kết quả khai quật này cho thấy, Dương Xá là di chỉ cư trú kết hợp mộtáng, rộng khoảng 3 vạn m2, có tầng văn hóa dày và khá ổn định, nếu tính cảphần đất bị san ủi thì tầng văn hóa dày trên dưới 2m Diễn biến đồ đá, đồng,gốm…có thể chia tầng văn hóa thành hai lớp: Gò Mun lớp dưới và Đông Sơn
Trang 10cổ làm nhiều nghề khác nhau, đặc biệt là nghề gốm, nghề luyện đồng và nghề
cá khá phát triển Tuy nhiên, các dấu tích nghề nông không rõ nét Có nhiều
lý do để giải thích hiện tượng này hoặc có thể do diện đào chưa rộng [6, 65]
1.2.2 Cuộc đào thám sát năm 1998
Để thẩm định lại kết quả nghiên cứu trước đây, tìm mối liên hệ với các
di chỉ đồng đại phân bố bên tả ngạn sông Hồng và điều tra mức độ bảo tồncủa di tích, tháng 1 năm 1998, Viện Khảo cổ học đã đào thám sát di chỉDương Xá Cuộc đào thám sát lần này do Lại Văn Tới làm trưởng đoàn
Hiện vật đào được chỉ gồm đồ đá và đồ gốm:
- Đồ đá gồm 11 hiện vật trong đó có 2 mảnh vòng, 5 cục đá nguyênliệu, 3 viên cuội và 1 mảnh tước cuội
- Đồ gốm gồm 1 chì lưới, 164 mảnh chạc, 1057 cục đất nung, 15360mảnh gốm (gốm Đông Sơn và Gò Mun)
Kết quả của lần đào thám sát năm 1998 cho thấy Dương Xá là di chỉ cưtrú có 1 tầng văn hóa chia thành 2 lớp phát triển liên tục, không có lớp vô sinhngăn cách: Lớp dưới là nơi cư trú của cư dân Gò Mun; lớp trên là nơi cư trúcủa cư dân Đông Sơn và mộ táng Đông Sơn
Trong hố thám sát không phát hiện được đồng, đồ đá nghèo nàn, đồgốm (các mảnh vỡ) có số lượng lớn Diễn biến đồ gốm rất phù hợp với sựphân chia các lớp văn hóa Từ lớp I đến lớp III: Gốm Đông Sơn mang đặctrưng loại hình Đường Cồ có số lượng áp đảo
- Qua diễn biến hiện vật, đặc biệt là đồ gốm, cho thấy đồ gốm Gò Mun –Đông Sơn ở di chỉ Dương Xá có chất liệu, màu sắc, hoa văn trang trí và loạihình rất giống với đồ gốm Gò Mun ở lớp văn hóa II di chỉ Đình Tràng và đồ
Trang 11gốm di chỉ Đường Mây, Đình Tràng (lớp văn hóa I), thuộc loại hình Đường
Cồ [26, 211]
Tháng 12 năm 2008, đoàn thực tập của Khoa Lịch sử, Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) do thầy NguyễnChiều làm trưởng đoàn đã tiến hành khai quật 50 m2 Dưới đây là kết quả củacuộc khai quật
Trang 12Chương 2 VỊ TRÍ HỐ KHAI QUẬT, HỐ THÁM SÁT, DIỄN BIẾN ĐỊA TẦNG
VÀ DI TÍCH
2.1 Vị trí hố khai quật và hố thám sát
Cuộc khai quật lần 2 này chỉ đào một hố chính với diện tích 50m2(5x10) và một hố thám sát có diện tích 4m2 (2x2) Như đã nói, hố khai quậtchính nằm ở địa phận khu sân bóng Ủy ban Nhân dân xã, khu đất vốn là nghĩađịa Mả Cả của thôn Dương Đình Hố khai quật (Ba.02; Bv.02) nằm gần gócphía Đông của sân bóng, cách mộ tổ họ Dương khoảng 20m về phía TâyNam, cách tường bao phía Đông Nam của sân bóng khoảng 5m
Hố khai quật được mở theo hướng Đông Bắc – Tây Nam Bốn góc hốđược ký hiệu A, B, C và D tương ứng với bốn hướng Bắc, Đông, Nam vàTây Mặt bằng của hố được chia làm 15 ô, trong đó có 10 ô (mỗi ô có diệntích 4m2 (2x2)) và 5 ô (mỗi ô có diện tích 2m2 (1x2)) Cạnh AD và BC dài10m chia làm 5 phần 2m được ký hiệu lần lượt là 1, 2, 3, 4, 5 Cạnh AB và
CD dài 5m được chia làm ba phần lần lượt ký hiệu là a, b, c; 2 phần a và b dài2m, phần còn lại (c) dài1m (Bv.37)
Địa tầng được đào theo từng lớp, mỗi lớp dày khoảng 15cm Riêng ởlớp thứ nhất, do mặt bằng chưa đều nên việc bóc tách ở lớp này có sự khácbiệt:
- Khu vực góc D thấp nhất nên chỉ làm sạch bề mặt
- Khu vực góc A đào khoảng 25cm
- Khu vực góc B cao nhất nên đào xuống khoảng 30cm
- Khu vực góc C đào đi khoảng 10cm
Trang 13Hố thám sát (Bv.02) được đào cách hố khai quật khoảng 16m về phíaTây Hướng trùng với hướng của hố khai quật Bốn góc cũng được đánh dấubằng A, B, C, D theo hố khai quật và được chia làm 4 ô, mỗi ô 1m2 (Bv.38).
Cả hố khai quật và hố thám sát đều lấy mặt bằng giả định (Cos 0) làmặt trên góc phía Nam của lăng mộ tổ họ Dương
2.2 Diễn biến địa tầng (Ba.09 – Ba.12; Bv.03)
Do trước đây khu đất vốn cao hơn hiện tại khoảng 1m, sau khi san bạt,đất lại bị bỏ hoang nên không có lớp đất canh tác Chúng tôi chỉ cần làm sạchlớp cỏ bề mặt là đến tầng đất văn hóa Tầng văn hóa có độ dày khoảng 90 đến130cm Màu sắc đất ở tầng văn hóa là màu xám đen hoặc xám nâu Tuy nhiênxen giữa tầng văn hóa là một dải đất màu vàng nhạt
Lớp đất xám đen có độ dày lớn nhất, đất tơi xốp Xen lẫn trong lớp đấtxám này là các đám đất sét nâu trắng, xám mốc, độ dày khoảng 5 đến 10cmchủ yếu ở phía Tây Nam của hố khai quật (Ba.12; Bv.03 - vách CD)
Đáng chú ý là có một dải đất vàng nhạt xuất lộ loang lổ từ lớp 4 đếnlớp 5, độ dày không đều (từ 0 - 25cm), kết cấu đất khá rắn và hầu như khôngtìm thấy di vật (Ba.09; Ba.10; Bv.03 - vách AD và BC)
Tầng đất văn hóa màu xám nâu chủ yếu là ở lớp 6 Độ dày khoảng20cm Đất nhão do có nước ngầm Hiện vật ở lớp đất này mang nhiều yếu tố
Gò Mun Thấy rõ nhất là ở vách Tây Nam (Ba.12; Bv.03 - vách CD)
Dưới cùng là tầng sinh thổ, đất màu vàng, cứng và lẫn nhiều sạn
Như vậy, địa tầng của hố khai quật có các lớp đất xám đen, xám nâu,vàng nhạt và sinh thổ Trong đó lớp đất xám đen chiếm tỷ lệ lớn và được ngăncách với lớp xám nâu bởi một dải đất vàng nhạt Thông qua các hiện vật thuđược ở các lớp đất ta có thể thấy rõ, lớp đất xám đen tương ứng với văn hóa
Trang 14Đông Sơn, lớp đất xám nâu mang nhiều yếu tố của văn hóa Gò Mun Còn lớpđất vàng nhạt gần giống như sinh thổ có thể là lớp đất do cư dân Đông Sơnđào những hố sâu qua lớp văn hóa Gò Mun xuống sinh thổ Đất đào từ các hố
đó được đổ phủ lên mặt lớp văn hóa Gò Mun và chính các hố đó trở thànhnhững hố đất đen mà ta thấy có 7 hố đất đen ở lớp 6 ăn sâu xuống sinh thổ(Ba.08)
2.3 Di tích.
Do bề mặt hố khai quật đã bị san ủi nên ngay từ lớp đầu, nhiều di vậtcũng như di tích đã bắt đầu xuất lộ
2.3.1 Cụm gốm.
Trong hố khai quật lần này xuất hiện khá nhiều cụm gốm, trong đó có
cả những cụm gốm là những đồ gốm được xếp chồng chất lên nhau và có cảnhững cụm gốm phân bố rải rác trong một khoảng nhất định
Ở lớp 1 xuất lộ 4 cụm gốm (Ba.03; Bv.04) Đáng chú ý nhất là cụmgốm b4-b5 (Ba.14) Đây là cụm gốm có đặc điểm khá đặc biệt Diện tíchkhoảng 40cm2, phân bố dày và chồng chất nhiều mảnh gốm ở giữa và giảmdần ở xung quanh Theo nhận định ban đầu, đây có thể là một ngôi mộ ĐôngSơn Sau khi đào sang lớp thứ 2, ở cụm gốm này lại thấy có một mũi giáocắm ngược chếc 45o về phía Bắc Do vậy có thể khẳng định đây là một ngôi
mộ Đông Sơn Tuy nhiên, do đặc điểm thổ nhưỡng và khí hậu ở đây nên khóxác định được biên mộ Đến lớp 3 thì cụm gốm không còn dấu vết gì nữa
Cùng ở lớp 1 này còn có 3 cụm gốm khác Đó là các cụm gốm a1(Ba.18), a2 (Ba.17), b2-c2 (Ba.20), c3 (Ba.19) Các cụm gốm này gồm rấtnhiều mảnh gốm được phân bố rải rác khá rộng, khó có thể gắn ghép được vớinhau
Trang 15Xuống đến lớp 4, tại ô b5, lại xuất lộ một cụm gốm mới (Ba.27;Bv.07) Đây là một nồi gốm úp ngược miệng xuống và đã bị vỡ, chỉ còn lạicác mảnh miệng Màu gốm sáng hồng Đây cũng có thể là một mộ của ĐôngSơn Vị trí của cụm gốm này rất gần với cụm gốm mộ b4-b5 đã xuất lộ ở lớpthứ nhất Rất có thể hai cụm gốm này đều là vết tích của một mộ Ngoài gốm
ra thì chúng tôi cũng đã tìm được một số mảnh xương vụn ở xung quanh cụmgốm nhưng chưa xác định được là loại xương gì?
2.3.2 Cụm đất nung, đất cháy
Có rất nhiều cụm đất nung và đất cháy trong hố khai quật lần này.Ngay từ lớp đầu tiên, các cụm đất nung đã xuất hiện Các cụm đất nungthường xuất lộ bên cạnh các cụm gốm, có những cụm đất nung phân bố thànhmột dải khá dài (Ba.17; Bv.04)
Cụm đất nung có ký hiệu 08.DX.L1.a3 (Ba.16) ở bề mặt của lớp 1 cócụm gốm đi kèm, đây là hai khối đất nung cạnh nhau nhô ra khỏi bề mặt, màuvàng đỏ, có nhiều sạn, hình dạng không định hình Trên bề mặt của một khối
có một mảnh chân giò gốm nổi lên
Dải đất nung có ký hiệu 08.DX.L1.a2 khá bằng phẳng, mầu nâu đỏ, kếthợp với cụm gốm (Ba.17)
Dải đất nung có ký hiệu 08.DX.L1.a1 gồ ghề, màu nâu xám, cũng cócụm gốm bên cạnh (Ba.18)
Cụm đất nung có ký hiệu 08.DX.L1.b3, màu đỏ xám, có cụm gốm bêncạnh (Ba.19)
Cách cụm gốm 08.DX.L1.b3 không xa là cụm đất nung màu đỏ có kýhiệu 08.DX.L1.b2-3 Cụm gốm này gồm nhiều mảnh đất nung được dựng lêntrông như một cái bếp lò Bên cạnh cũng có một số mảnh gốm (Ba.21)
Trang 16Như vậy, phần lớn các cụm đất nung đều có màu đỏ của đất sét nung và
có cụm gốm xung quanh Một số cụm được xếp kiểu gần như bếp lò và cónhiều cục đất sét cháy xung quanh Điều này làm chúng ta liên tưởng đếnnhững cái lò nung gốm Có lẽ, những hiện vật gốm thu được ở đây phần lớn
đã được làm ra từ những chiếc lò này
Đáng chú ý, ở lớp 6 có một khu đất cháy có chiều dài nhất khoảng20cm, màu đỏ nâu, bên cạnh Hđđ6 (Ba.30; Ba.31; Bv.08) Dưới Hđđ6 cònmột vài mảnh xương có vết cháy Như vậy có thể cho rằng, đây là vết tích củađống rác bếp của cư dân cổ
2.3.3 Xương, răng.
Xương và răng xuất hiện trong hầu hết các lớp đất khai quật nhưng chỉthấy các di tích xương, răng đơn lẻ và chúng hầu như đều bị mủn nát Trongcác hố đất đen cũng thấy hiện tượng này Với đặc điểm khí hậu và đất đai ẩmướt như ở đây thì khó có thể tìm được một cụm xương, răng nguyên vẹn Cácvết tích xương, răng tìm được phần lớn là xương, răng của các loài động vật
ăn thịt và ăn cỏ trên cạn Một vài mảnh xương có cả vết cháy Ngoài ra còn cómột số mảnh mai rùa
2.3.4 Mộ táng và các hố đất đen
Ngay ở lớp thứ nhất, một cụm gốm ở ô b4-5 (Ba.23) đã xuất hiện.Nhưng phải đến lớp thứ hai, khi xuất lộ một mũi giáo dựng ngược, chúng tôimới có thể nhận định nó là cụm gốm mộ Ngoài gốm và một mũi giáo ra còn
có một vài mẩu xương vụn Không thể biết chắc đó là xương người hayxương động vật Xuống đến lớp 4, cách cụm gốm mộ b4-5 ở lớp 1-2 không
xa, một cụm gốm khác lại xuất hiện ở ô b5 (Ba.27) Hiện vật thu được chỉ cógốm Đất xung quanh cụm gốm này khá ẩm ướt
Trang 17Sau khi vét sạch hết đất của lớp 3 thì một số khoảnh đất vàng sạn lộ raloang lổ xen lẫn với các khoảng đất xám đen và trong các khoảng đất vàngsạn lại có một số hố đất đen (Ba.05; Ba.24; Ba.26; Bv.06;) Khi tiến hành đàocác hố đất đen này thì mới phát hiện thấy dưới lớp đất vàng sạn vẫn còn tầngvăn hóa Do đó, những khoảnh đất vàng sạn đều được bóc tách cùng với lớp
4 Hết lớp 4 thì những khoảnh đất vàng sạn mở rộng hơn (Ba.06; Bv.07)
Phải đến lớp 6, các hố đất đen mới hoàn toàn lộ diện rõ ràng Có khánhiều hố đất đen lớn nhỏ khác nhau nhưng đáng chú ý có 7 hố được ký hiệu
từ Hđđ1 đến Hđđ7 (Ba.08; Ba.28 – Ba.30; Bv.08)
Hđđ1 (Ba.28) là một hố đất đen khá rộng và sâu, nằm ở góc B Chiềudài nhất theo hướng AB là khoảng 1,3m, chiều rộng theo hướng BC khoảng1m, chỗ sâu nhất là -269cm so với mặt bằng giả định
Hđđ2 nhỏ hơn Hđđ1 và nằm sát cạnh Hđđ1, sát vách BC Độ sâu khôngđánh kể (-234cm)
Hđđ3 và Hđđ4 là hai hố đất đen cũng khá nhỏ Hđđ3 nằm cạnh Hđđ1,thuộc ranh giới giữa ô c1 và c2 Hđđ4 nằm giữa ô c2 Hđđ3 có độ sâu -247.Hđđ4 có độ sâu -263
Hđđ5 nằm ở ô c3, tuy diện tích chỉ tương đương với hai hố đất đenHđđ3 và Hđđ4 nhưng khá sâu (-270cm)
Sát cạnh Hđđ5 là Hđđ6 Đây là hố đất đen khá rộng, nằm ở vị trí trungtâm của hố (thuộc các ô a3, a4, b3 và b4 Chiều dài nhất khoảng 1,2m Độ sâutương đương Hđđ1 (-296)
Hố đất đen sâu nhất chính là Hđđ7 (Ba.29) Hđđ7 hình dạng gần trònvới đường kính lớn nhất 0,75m Độ sâu của nó là -369cm
Trang 18Hiện vật thu được ở các hố đất đen này không nhiều, bao gồm hiện vậtĐông Sơn và Gò Mun như các mảnh gốm, hiện vật đồng, đá và cả các mảnhxương mủn Có lẽ đến sinh sống ở đây, những người Đông Sơn đã tiến hànhđào những hố đất đen vì mục đích nào đó? Lớp đất sạn vàng ở lớp 5 chính làđất ở các hố đất đen được đào lên, phủ lên phần lớn tầng văn hóa của người
Gò Mun trước đó
Trang 19Chương 3 DI VẬT
Di vật thu được trong đợt khai quật lần này bao gồm ba loại (theo chấtliệu): đồ đá, đồ đồng và đồ gốm Tổng số hiện vật đá và đồng là 111 tiêu bản(Bảng 01)
Đồ đá trong đợt khai quật này không nhiều mà chủ yếu là bàn mài,chày đá, đồ trang sức và một số hiện vật đá không định hình Không thấy xuấthiện các loại công cụ rìu, bôn, dao … như ở những di chỉ đồng đại khác Tổngcộng trong đợt khai quật lần này có 60 hiện vật bằng đá Trong đó, công cụsản xuất (bàn mài và chày đá) chiếm tỷ lệ cao nhất (48%) Còn lại là đá khôngđịnh hình (37%) và đồ trang sức chiếm 15%
Thông thường, ở các di chỉ khảo cổ học khác, công cụ sản xuất bằng đáthường rất đa dạng, nhất là các loại rìu, bôn, cuốc, dao…bằng đá Song ở đâychỉ có hai loại hình là bàn mài và chày đá
Trong 17 tiêu bản bàn mài thì có tới 16 tiêu bản là mảnh vỡ của bànmài Chỉ có một chiếc ký hiệu 08.DX.L6.hđđ6-103 (Ba.32, h16; Bv.11) làcòn nguyên, có hình bình hành, một góc gần vuông, một cạnh vát 45o Kích
Trang 20thước dài 3,7cm, rộng 1,75cm, dày 0,7cm Chiếc bàn mài này được làm từphiến thạch màu nâu xám và mịn, khá cứng.
Cũng được làm từ phiến thạch màu xám và cứng, còn có 3 mảnh bànmài khác Đó là các mảnh có ký hiệu 08.DX.L1-10 (Ba.32, h5), 08.DX.L1-11(Ba.32, h6) và 08.DX.L6.hđđ6-104 (Ba.35) Các mảnh này có hình khốikhông xác định nên khó xác định được kích thước Riêng mảnh bàn mài08.DX.L6.hđđ6-104 có màu đen xám và bị vỡ đôi, chúng tôi đã tìm và ghépchúng lại với nhau
Những mảnh bàn mài có ký hiệu 6 (Ba.32, h3),
08.DX.L1-16 (Ba.32, h8), 08.DX.L1-3 (Ba.32, h1), 08.DX.L1-5 (Ba.32, h2) đều đượclàm từ đá quắczit màu xám hoặc nâu hồng, rất cứng Hình khối đa diện, trônggiống đá tự nhiên nhưng có dấu vết mài nên chúng tôi vẫn xếp vào loại đámài
Mảnh bàn mài mang ký hiệu 08.DX.L5-91 (Ba.32, h13) vốn từ 1 bànmài (hay chày nghiền) bằng cả viên cuội sa thạch màu nâu xám nhưng đã bị
vỡ mất một nửa theo chiều dọc Kích thước: dài 10,5cm, rộng còn lại 4,4cm,dày 3,2cm
Mảnh bàn mài ký hiệu 08.DX.L5-92 (Ba.33; Bv.10) được làm bằng sathạch màu vàng nhạt và có hình gần tam giác, độ dày tương đối đều, có mộtmặt được sử dụng để mài Chiều dài nhất: 11,8cm, rộng nhất: 7cm và dày2,6cm
Mảnh bàn mài mang ký hiệu 08.DX.L6.c1-101 (Ba.32, h15) được làm
từ loại sa thạch màu xám đen Đây là một khối đá nhiều mặt, trong đó có mộtmặt hình tứ giác được mài rất nhẵn
Những mảnh đá mài còn lại được làm từ các loại sa thạch mịn, với
Trang 213.1.1.2 Chày đá (Ba.36; Bảng 06).
Cũng là một loại hình công cụ, chày đá thường được dùng trong việcđập, nghiền, tán nhỏ các loại thực vật, nguyên liệu đá hoặc sử dụng trongviệc chế tác công cụ bằng đá, đồng
Ở di chỉ Dương Xá trong đợt khai quật năm 2008 có 12 tiêu bản chày
đá, trong đó có hai tiêu bản còn nguyên vẹn Tất cả đều được mài xung quanh,hình gần trụ, trên mỗi đầu đều có vết rỗ do giã, đập mạnh vào vật cứng
Hai chiếc chày đá còn nguyên có ký hiệu lần lượt là 08.DX.L3-49 (Ba
36, h5; Bv.14) và 08.DX.L4-73 (Ba.38; Bv.13) Chiếc thứ nhất hình gầngiống quả trứng, hơi dẹt, có một đầu to, một đầu nhỏ, đều có vết rỗ ở hai đầu,được làm bằng đá vụn kết, cứng, màu trắng vàng Kích thước dài 9,75cm,rộng 5,2cm, dày 3,6cm Chiếc thứ hai làm bằng sa thạch đen xám, mịn Hìnhhạnh nhân, hai đầu tương đối đều nhau Khúc giữa được mài lõm, hai đầu vàrìa xung quanh đều có vết rỗ do giã/ đập Có lẽ, ngoài là chày đá, đây cònđược dùng làm bàn mài Kích thước: dài 10,07cm, rộng 6,3cm, dày 3,7cm
Mảnh chày đá có ký hiệu 08.DX.L3-53 (Ba.37; Bv.12) là một mảnh sathạch thạch anh mịn, lõi trắng, vỏ nâu đỏ Bề mặt được mài nhẵn, ở rìa cạnhcũng có vết rỗ
Mảnh chày đá có ký hiệu 08.DX.L4-78 (Ba.36; h11) là chày đá duynhất được làm bằng đá quắczit màu nâu hồng Hình dạng không xác định
Mảnh chày đá ký hiệu 08.DX.L4-81 (Ba.39; Bv15) vốn có thể cũng làmột viên cuội hình hạnh nhân, hiện trạng chỉ còn một đầu tác dụng có dấu vết
sử dụng rất rõ Vết vỡ tương đối phẳng Kích thước: dài còn lại 3,9cm, rộng6,8cm, dày 3,7cm
Trang 22Những tiêu bản còn lại chỉ là những mảnh, nhưng vẫn thấy những dấuvết sử dụng ở rìa hay đầu Tất cả đều được làm từ các loại sa thạch cứng, mịn,màu xám.
Như vậy, các công cụ sản xuất bằng đá đều được làm từ các loại đá có
độ cứng khác nhau Sa thạch và quắczit là hai loại đá có đủ độ cứng đáp ứngnhu cầu đó do đó được sử dụng nhiều trong các loại hình bàn mài và chày đá.Phiến thạch là loại đá thường có độ cứng thấp, dễ bị vỡ thành từng lớp Tuynhiên, ở di chỉ này, loại đá này cũng được sử dụng Một số mảnh phiến thạchcũng có dấu vết sử dụng như 08.DX.L1-10 (Ba.32, h5), 08.DX.L1-11 (Ba.32,h6), 08.DX.L6.hđđ6-104 (Ba.35) được dùng làm bàn mài
Các loại đá được sử dụng làm công cụ ở đây có lẽ đều được lấy từ nơikhác bởi xung quanh di chỉ này không thấy có nguồn nguyên liệu đá nào cả.Các loại hình công cụ sản xuất bằng đá cũng rất đơn giản, hầu hết chúng đềukhông được trải qua quá trình gia công chế tác mà chỉ được trải qua quá trình
sử dụng từ những loại đá tự nhiên Khi thật cần thiết, người ta mới dùng kỹthuật đập, ghè đẽo tạo hình dạng và quy mô thích hợp cho công cụ
3.1.2 Đồ trang sức (Ba.40; Bảng 07)
Trong cuộc khai quật lần này có tổng cộng 9 hiện vật trang sức bằng
đá, trong đó có 8 tiêu bản là khuyên tai đá và một tiêu bản là hạt chuỗi
Trong số 8 hiện vật khuyên tai này thì chỉ có 1 hiện vật còn nguyên, 1hiện vật gồm hai mảnh Còn lại là các mảnh của các khuyên tai khác nhau
3.1.2.1 Khuyên tai
- Chiếc khuyên tai còn nguyên có ký hiệu 08.DX.L6.hđđ6-105 (Ba.48;Bv.23) được làm bằng đá ngọc xanh lục, hơi vàng Đường kính mép ngoài1,8cm, đường kính lõi 0,8cm, phần vành rộng nhất 0,65cm, dày 0,2cm Đây là
Trang 23mài phẳng Mặt cắt gần giống hình thang nhưng ở mép được mài vát ở cả haimặt Trên vành đối diện với phần khe hở còn dấu vết cưa ở cả hai mặt Dấuvết cưa này do sơ suất khi người ta cưa tạo khe hở.
- Hai mảnh nhỏ của cùng một mảnh khuyên tai nhưng không gắn đượcvới nhau có ký hiệu 08.DX.L2.a4-31 (Ba.42; Bv.17) Tiêu bản này được làm
từ sa thạch mịn, đen và tương đối cứng Chiều dài tổng cộng của hai mảnh là5,4cm, đường kính mép ngoài 6cm, vành rộng 1,5cm Mặt dưới của nó đượcmài phẳng, mặt trên mài hơi vát ở phía mép Mép vành trong được khoan sau
đó mài gia công nên vết khoan không còn rõ
- Mảnh khuyên tai được tìm ngay ở lớp đầu tiên ký hiệu 08.DX.L1-1(Ba.41; Bv.16) có màu trắng ngà Đường kính mép ngoài 5,5cm, dày 0,15cm,vành rộng 1,9cm Mặt dưới được mài phẳng, mặt trên ở mép ngoài được màivát tạo mặt cắt hình thang Mép vành trong được khoan từ mặt dưới và cũnghơi vát Đây là một mảnh khuyên tai bị gãy, một đầu còn vết cưa tạo khe hởcho khuyên tai
- Tiêu bản có ký hiệu 08.DX.L2.b5- 42 (Ba.43; Bv.18) có màu trắngxám loang lổ Kích thước: đường kính mép ngoài 6,5cm, vành rộng 2cm(trong đó mép vành là 0,5cm), độ dài còn lại là 4,9cm Mặt dưới cũng đượcmài phẳng, mặt trên mài vát ở phần mép tạo mặt cắt hình thang
- Tiêu bản có ký hiệu 08.DX.L3.b3-62 (Ba.45; Bv.20) được làm bằng
đá ngọc xanh lục sẫm, có vân Đường kính mép ngoài 5,5cm, vành rộng 1cm,dày 0,2cm Cũng giống như những mảnh khuyên tai trên, mảnh này cũngđược mài phẳng mặt dưới, mặt trên được mài vát phần mép tạo mặt cắt hìnhthang Lõi trong được lấy bằng cách khoan nhưng chưa được gia công vì còn
để lại vết gãy Đặc biệt ở mặt dưới cạnh mép gãy có một vết khoan dở dang
Có lẽ, chiếc khuyên tai này bị gãy, người ta muốn khoan lỗ buộc dây để tận