Trong lĩnh vực nội dung việc vận dụng nghiên cứu cấu trúc hệ thống không thể phù hợp và không thấy được tính đa dạng cũng như tính chiều sâu của tư duy và giao tiếp thể hiện qua các phương tiện chất liệu. Vì lẽ đó mà nghiên cứu của chúng tôi cố gắng thử nghiệm đi sâu nghiên cứu bình diện ngữ nghĩa trên một loại hình ngữ liệu có tính thời sự và nhạy bén phản ánh những phạm vi nội dung của đời sống xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Đó là ngôn ngữ báo chí (hay các ngữ liệu văn bản báo chí ). Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cụ thể là trường và tiểu trường nội dung ngữ nghĩa thể hiện qua ngôn ngữ báo chí trong tập Một thập kỷ bài báo hay .
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất củacác thành viên trong một cộng đồng Không những vậy, ngôn ngữ còn làcông cụ phát triển tư duy con người, và nó có vai trò quan trọng trong việctruyền đạt truyền thống văn hoá, lịch sử cho các thế hệ tiếp sau
Lâu nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ được chú ý tiến hành trên bìnhdiện hình thức, bình diện cấu trúc hệ thống, lịch sử, phát triển…nhưng bìnhdiện nội dung (bình diện nghĩa) thì sự chú ý chưa thật tương xứng Do ởbình diện này, nó là một lĩnh vực khó, trừu tượng và nó thiếu những bộ máycông cụ như khái niệm, phạm trù có tính chính xác, khoa học để vận dụng
Hơn nữa, trước đây nghiên cứu hệ thống nghĩa hay trường từ ngữ nghĩa cũng do ảnh hưởng của ngôn ngữ học cấu trúc nên chỉ chú ýnghiên cứu đặc điểm cấu trúc của nó Trong lĩnh vực nội dung việc vận dụngnghiên cứu cấu trúc hệ thống không thể phù hợp và không thấy được tính đadạng cũng như tính chiều sâu của tư duy và giao tiếp thể hiện qua cácphương tiện chất liệu Vì lẽ đó mà nghiên cứu của chúng tôi cố gắng thửnghiệm đi sâu nghiên cứu bình diện ngữ nghĩa trên một loại hình ngữ liệu cótính thời sự và nhạy bén phản ánh những phạm vi nội dung của đời sống xãhội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đó là ngôn ngữ báo chí (hay cácngữ liệu văn bản báo chí ) Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cụthể là trường và tiểu trường nội dung ngữ nghĩa thể hiện qua ngôn ngữ báo
vựng-chí trong tập "Một thập kỷ bài báo hay ".
1.2 Cuốn "Một thập kỷ bài báo hay" do nhà báo Trường Giang chủ
biên được nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành Cuốn sách tập hợp 109 bài báohay của 29 nhà báo là những cây bút sắc sảo Một thập kỉ mà cuốn sách này
Trang 2thời gian này, đất nước ta có sự chuyển biến to lớn về mọi mặt đời sồng xãhội Đó chính là do tác động của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với nghịquyết đổi mới nền kinh tế xã hội của đất nước Những thay đổi của đất nước
ta trong ''một thập kỉ'' này được phản ánh đầy đủ, chân thực và sống độngqua các bài báo Các vấn đề được cuốn sách đề cập đến như những mô hìnhsản xuất kinh tế mới, gương lao động, học tập làm kinh tế, những vấn đề nảysinh, những vụ việc tiêu cực…có sức tác động lớn đến độc giả, không chỉ làcung cấp thông tin mà còn là định hướng xã hội Còn ở thời điểm này, cuốnsách là một tư liệu to lớn cho độc giả trong việc nhìn lại chặng đường mườinăm vừa qua để thấy được sự chuyển biến, thay da đổi thịt từng ngày của đấtnước trên tất cả các lĩnh vực
Cuốn sách được trình bày theo lối lựa chọn những bài báo hay, có nộidung tích cực, cách viết sinh động, hấp dẫn của các nhà báo sau đó tập hợplại theo tên của các nhà báo Hai mươi chín nhà báo với 29 phong cách viếtbài khác nhau được khắc hoạ chân dung cụ thể qua phần "đôi lời của chủbiên" trong đó có nêu tiểu sử, hoạt động nghề nghiệp, phong cách viết bài vàmột vài nhận xét góp ý về cách viết của nhà báo Trường Giang Sau phầngiới thiệu về mỗi nhà báo là các bài viết cụ thể của họ Đó là những bài viếthay đã được tuyển chọn kĩ càng
Sử dụng tập sách này làm ngữ liệu nghiên cứu không phải là chúng tôiphân tích văn bản hay diễn ngôn mà là nghiên cứu phân tích phạm vi nộidung ngữ nghĩa chất liệu ngôn ngữ thể hiện qua văn bản, cụ thể là qua
những bài báo trong tập "Một thập kỷ bài báo hay".
2 Mục đích nghiên cứu.
Công việc khảo sát nghiên cứu của chúng tôi nhằm làm rõ phạm vi đềtài và những chủ đề của phạm vi đời sống theo nghĩa rộng (nghĩa là tất cảmọi mặt của đời sống) được đề cập đến như thế nào thông qua chủ đề nộidung của văn bản Nói cách khác nhiệm vụ vủa chúng tôi là khảo sát, phân
Trang 3tích tổng hợp để biết phạm vi chủ đề, nội dung của hệ thống những bài báođược công bố trong mười năm Trên cơ sở đó chúng tôi tiếp tục đi sâu xemthử những phạm vi ngữ nghĩa (tức là phạm vi nội dung chất liệu ngôn ngữ -
từ ngữ) quan trọng được tập trung sử dụng và khai thác Như vậy, chúng ta
sẽ có một cái nhìn toàn cảnh về phạm vi chủ đề ở bình diện vĩ mô cũng nhưphạm vi nội dung quan trọng của chất liệu ngôn ngữ từ ngữ (vi mô) được
phân tích khảo sát qua những bài báo trong cuốn "Một thập kỷ bài báo hay".
3 Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp thườngdùng trong ngôn ngữ học Phương pháp được sử dụng chủ yếu là mô tả ngữ
nghĩa, xem toàn bộ tư liệu (các bài báo) được khảo sát trong "Một thập kỷ bài báo hay" Căn cứ vào đầu đề, nội dung từ ngữ thì nó đề cập đến nội dung
vấn đề gì, phạm vi nào của đời sống Với cách làm việc này chúng tôi tiến
hành mô tả toàn bộ phạm vi nội dung mà cuốn "Một thập kỷ bài báo hay" đề
cập đến Đó là cách tiếp cận vĩ mô – toàn bộ nội dung các bài báo theo chủđề
Tiếp cận theo tiêu chí vĩ mô không chỉ ở phạm vi chủ đề mà cả phạm
vi tiểu chủ đề Chẳng hạn: ở chủ đề Khoa học chia ra hai tiểu chủ đề :Vấn
đề khoa học và Nhà khoa học Đây là hai chủ đề nhỏ mà nội dung các bài báo thuộc chủ đề khoa học đề cập đến Hay chủ đề Xã hội đề cập đến các chủ đề nhỏ hơn như : Quản lý xã hội, và Đời sống xã hội Mỗi tiểu chủ đề lại
có thể phân chia chủ đề nhỏ hơn nữa tuỳ theo từng lĩnh vực cụ thể tạo thànhcác bậc chủ đề khác nhau mà bậc nhỏ nhất chính là tiêu đề các bài báo
Tiếp theo, chúng tôi phân tích vi mô nội dung Bắt đầu từ những phạm
vi nội dung của bài để xác định những phạm vi nội dung (chủ đề) nào được
đề cập Tập trung khai thác các từ ngữ chốt, quan trọng trong phạm vi bàibáo cho thấy rằng số lượng từ ngữ rất rộng, nhưng phạm vi từ khoá hữu hạn
Trang 4yếu là phân tích, miêu tả nội dung chủ đề và nội dung nghĩa của những từ
khoá trong hệ thống bài báo cuốn "Một thập kỷ bài báo hay" Nói cụ thể
hơn, để mô tả được phạm vi vĩ mô và vi mô chúng tôi sử dụng biện phápphân tích định lượng và phân tích định tính Trong trường hợp này chúng tôicũng sử dụng phân tích trường từ vựng ngữ nghĩa, trường cấu tạo từ áp dụngcho việc phân tích trường chủ đề và trường ngữ nghĩa của chất liệu ngôn ngữthể hiện qua văn bản của một bài báo
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi kết hợp với sử dụng phần mềm
vi tính Antconc để xử lý tư liệu Phần mềm này hỗ trợ cho việc tìm các từ
khoá và tần số xuất hiện của chúng trong văn bản Nó có ưu thế là tìm kiếm
từ nhanh, chính xác tuy nhiên lại yêu cầu những văn bản đã được thiết lập
Do vậy trong điều kiện của mình, chúng tôi chỉ xử lý một phần tư liệu bằngphần mềm này
4 Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khoá luận gồm 3 chươngchính :
Chương 1 : Các phạm vi chủ đề lớn thể hiện nội dung báo chí
trong cuốn "Một thập kỷ bài báo hay".
Ở chương này, trước khi mô tả các chủ đề lớn trong tập sách, chúngtôi đưa ra một số vấn đề lý thuyết liên quan khi phân tích chủ đề như: quanniệm phân tích vĩ mô, chủ đề và trường chủ đề Tiếp đó là nội dung các chủ
đề được phân chia cụ thể
Chương 2 : Các phạm vi và các trường tiểu chủ đề trong cuốn
"Một thập kỷ bài báo hay".
Tiếp theo phân tích chủ đề, chương này phân tích sâu hơn về mặt cấutạo của các chủ đề Mỗi chủ đề lớn bao gồm trong nó nhiều chủ đề nhỏ hơn,
Trang 5giới hạn lại nội dung của các bài báo Chúng tôi lại tiếp tục mô tả, phân tíchcác tiểu chủ đề để thấy những phạm vi nội dung của từng chủ đề.
Chương 3 : Các phạm vi của từ khoá quan trọng trong phân tích chủ đề và tiểu chủ đề.
Chương này chúng tôi đi sâu vào khảo sát chất liệu từ ngữ Những từngữ quan trọng được coi là từ ngữ chốt, từ chìa khoá để tìm ra chủ để, thểhiện chủ đề Chúng tôi nghiên cứu từ khoá trong khả năng kết hợp, phân bốcủa chúng trong văn cảnh để tìm ra nét nghĩa thể hiện nội dung mà các từnày đảm nhận so sánh với nghĩa của từ này trong từ điển tiếng Việt để thấy
phạm vi mà nghĩa từ khoá phản ánh trong "Một thập kỷ bài báo hay".
Bên cạnh những nội dung chính trên, phần Phụ lục chúng tôi đưa ranhững sơ đồ khái quát lại nội dung khoá luận
Trang 6Chương 1 : CÁC PHẠM VI CHỦ ĐỀ LỚN THỂ HIỆN NỘI
DUNG BÁO CHÍ TRONG CUỐN "MỘT THẬP KỶ BÀI BÁO HAY"
Trước khi trình bày các chủ đề lớn được phản ánh qua cuốn "Một thập
kỷ bài báo hay", chúng tôi xin nêu một số vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho
việc phân tích mô tả của chúng tôi
1.1 Quan niệm phân tích vĩ mô
Vĩ mô theo từ điển tiếng Việt – (Hoàng Phê chủ biên) là "đối tượng
lớn nhất, bao quát toàn hệ thống" [TĐTV; 1113] Phân tích vĩ mô nghĩa là
có cái nhìn tổng thể toàn bộ hệ thống, trường hợp này là toàn bộ các bài báo
hay trong cuốn "Một thập kỷ bài báo hay" Căn cứ vào tiêu đề các bài báo,
nội dung từ ngữ để phân loại vào các chủ đề thuộc các phạm vi của đời sống
xã hội Phân tích vĩ mô có thể coi như bước đầu tiên, cơ bản nhất để phânloại chủ đề Từ bước này mới có thể đi đến các bước phân tích tiếp theothuộc các bậc phân tích nhỏ hơn – vi mô
Có thể nhận thấy rằng khi tuyển chọn các bài báo hay đưa vào tậpsách, nhà báo Trường Giang dựa vào một căn cứ là "bài báo hay" Cũng cóthể tác giả có ý thức hoặc không ý thức đưa những bài báo thuộc các phạm
vi chủ đề khác nhau của cuộc sống Song đứng về khách quan mà xét, báochí là loại hình sáng tạo phản ánh kịp thời, tươi mới, nhạy bén nhiều vấn đềcủa thực tại nên thông qua nội dung chủ đề báo chí chúng ta có thể nhậnthức hiện thực được phản ánh Đi theo hướng nhận diện phân loại chủ đề
"Một thập kỷ các bài báo hay" chúng ta có thể nhận thấy toàn cảnh thực tiễn
đời sống được đề cập, bàn luận Những chủ đề thể hiện các phạm vi nộidung khác nhau, trước hết là tập trung ở tiêu đề bài viết, sau đó là nội dungđược đề cập Căn cứ vào tiêu chí đó, ta có thể phân định chủ đề
1.2 Trường chủ đề, phạm vi chủ đề.
Trang 7Khái niệm "trường" được trình bày trong từ điển Tiếng Việt do
Hoàng Phê chủ biên thuộc nhiều lĩnh vực Ở đây chúng tôi tiếp nhận quanđiểm "trường" là thuật ngữ mượn của ngành vật lý học, có thể hiểu đó làkhoảng không gian mà dạng vật chất hay một đại lượng nào đó có thể tồntại Ví dụ: trường điện từ,trường vận tốc
Áp dụng vào Khoa học xã hội, cụ thể là Ngôn ngữ học, dùng kháiniệm "trường" để thể hiện hệ thống từ ngữ trong không gian tồn tại của nó.Khái niệm "trường" cũng là khái niệm có tính thứ bậc - một trường có thểchia thành nhiều trường nhỏ hơn Trong một trường, các đơn vị sẽ bộc lộ rõràng các quan hệ với nhau và các giá trị của chúng
Theo các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, trường từ vựng - ngữ nghĩa là
"tập hợp từ vựng có sự đồng nhất về ngữ nghĩa xét theo một phương diệnnào đấy" [2,872]
Theo Đỗ Hữu Châu, từ vựng của mỗi ngôn ngữ là một hệ thống cócấu trúc riêng "Vì từ vựng là một hệ thống rất lớn, rất phức tạp và không
"kín" cho nên yếu tố của nó sẽ không trực tiếp là từng đơn vị từ vựng nữa
mà là từng hệ thống con, và quan hệ trong hệ thống từ vựng biểu hiện quaquan hệ giữa các hệ thống con đó Mỗi hệ thống con là một trường từ vựng"[2,34] Trường từ vựng và hệ thống nội bộ của đơn vị có quan hệ mật thiếtvới nhau: nắm được quan hệ và giá trị của đơn vị trong nội bộ hệ thống sẽđịnh được hướng xác lập trường; ngược lại, xây dựng được trường lại có thểphát hiện ra những giá trị và quan hệ trong từng đơn vị mà sự nghiên cứu côlập hoá chúng không thấy được
Đỗ Hữu Châu quan niệm "trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị
từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa" [2,35]
Trường chủ đề tức là tập hợp các bài báo có liên quan tới cùng chủ đềnào đó Phân tích chủ đề các bài báo để xem nó thuộc vào các trường chủ đề
Trang 8nào là căn cứ vào nội dung từ ngữ được sử dụng làm tiêu đề cho các bài báo.Như vậy trường chủ đề ở đây có thể sử dụng khái niệm trường từ vựng.
Phạm vi chủ đề được xác định qua việc phân chia các trường chủ đề.Phân tích nội dung bài báo và quy chuẩn chúng vào các chủ đề cụ thể chính
là chúng ta đã xác định được các chủ đề mà cuốn sách thể hiện Sử dụngquan niệm trường từ vựng - ngữ nghĩa loại suy, chúng tôi đã tiến hành đểxác định các trường chủ đề và phạm vi chủ đề mà toàn bộ các bài báo trong
cuốn "Một thập kỷ bài báo hay" phản ánh Qua các chủ đề đó, ta biết được
mười năm qua những đề tài nào, chủ đề nào của đời sống được đề cập đến
1.3 Các phạm vi chủ đề lớn trong cuốn "Một thập kỷ bài báo hay"
Trên cơ sở lý thuyết trình bày ở trên, chúng tôi áp dụng đi vào phân
tích mô tả các bài báo trong cuốn "Một thập kỷ bài báo hay" Để tìm ra các
chủ đề mà cuốn sách đề cập, chúng tôi tiến hành khảo sát đầu đề các bài báo.Căn cứ vào nội dung từ ngữ mà nó đề cập đến, chúng tôi có thể dễ dàngthống kê ra được Tuy nhiên, cũng có nhiều bài báo mà qua đầu đề khôngthể chắc chắn nắm được nội dung được đề cập bên trong, trường hợp nàychúng tôi tiến hành tìm hiểu chủ đề qua nội dung toàn văn bản của bài báo
để việc phân loại chủ đề được chính xác hơn Cũng có những đầu đề thể hiệnnội dung này nhưng nội dung chính của bài báo lại khác Có những bài báođan xen nhiều nội dung và chúng tôi lựa chọn nội dung tiêu biểu nhất để sắpxếp, phân loại
Trong những chủ đề được mô tả sau đây, có chủ đề gồm nhiều bài báocùng thể hiện, có chủ đề chỉ gồm vài bài báo Số lượng các bài báo trongmỗi chủ đề là do tầm quan trọng của vấn đề trong "một thập kỷ" (từ 1987đến 1996) mà các nhà báo lựa chọn các khía cạnh khác nhau của vấn đề đểthể hiện Những vấn đề nào có tác động, ảnh hưởng nhiều đến đời sống xãhội giai đoạn đó đương nhiên được các nhà báo đề cập nhiều hơn Tuy vậy,
do đặc thù của thời kì này nên cũng có những chủ đề mới viết về những
Trang 9người lính sau chiến tranh, những hậu quả mà chiến tranh để lại chẳng hạn,cũng được chúng tôi đưa vào một chủ đề riêng.
Bằng cách làm việc như vậy, chúng tôi đã khảo sát toàn bộ các bài
báo trong cuốn "Một thập kỷ bài báo hay" và thống kê ra được 9 chủ đề mà
109 bài báo của 29 nhà báo được tuyển chọn trong cuốn sách Cụ thể cácchủ đề đó là:
1.3.1 Chủ đề Chính trị - ngoại giao
Chủ đề này gồm có 10 bài của 4 nhà báo: Quang Lợi, Trần ThiênNhiên, Hữu Thọ, Lê Bá Thuyên Nội dung những bài báo thuộc chủ đề này
là đề cập đến vấn đề chính trị, xu hướng chính trị ở Việt Nam, trong khu vực
và trên thế giới Bên cạnh đó có hai bài viết về quan hệ quốc tế (cụ thể làquan hệ Việt - Mỹ) chúng tôi cũng đưa vào trong chủ đề này
Nhận diện chủ đề Chính trị - ngoại giao, đầu tiên là chúng tôi phân
tích tiêu đề các bài báo Sau đó là đi vào nội dung của bài báo để tìm ra chủ
đề chung tập hợp các bài báo này Những từ ngữ nhận diện chủ đề có: thế giới tần số xuất hiện 121 lần, khu vực hoá 9 lần, khu vực 48 lần, trật tự thế giới 23 lần, chiến tranh 59 lần, toàn cầu 63 lần, toàn cầu hoá 46 lần, chính trị 13 lần… trên tổng số 2010 từ, tổng số lần xuất hiện là 16314 lần Những
từ ngữ này có đóng góp quan trọng trong việc thể hiện chủ đề, chúng liên hệtrực tiếp với chủ đề Tần số xuất hiện các từ này nhiều chứng tỏ yêu cầu vềnội dung bắt buộc sự có mặt của các từ ngữ cùng thể hiện nội dung chủ đề,chứ không thể dùng từ ngữ khác cho chủ đề này Cụ thể các bài báo thuộcchủ đề này là:
- Vùng Vịnh – thanh gươm chiến tranh đã rút khỏi vỏ - Quang Lợi
- Thế giới thống nhất hay phân rã – Quang Lợi
- Nội lực Việt Nam – Quang Lợi.
Trang 10- Bom nguyên tử và quyền con người - Trần Thiên Nhiên
- Bản lĩnh Việt Nam - Hữu Thọ.
Chủ đề Đổi mới gồm có 3 bài Thực ra nội dung đổi mới có mặt trong
hầu hết tất cả các bài báo giai đoạn này Bởi vì chính sách đổi mới mọi mặtđời sống (đặc biệt là đời sống kinh tế) của Đảng và Nhà nước ta bắt đầu từnăm 1986 Những bài báo trong tập sách đều được viết từ sau năm này dovậy chúng phản ánh những chuyển biến của đất nước sau khi thực hiệnchính sách Đổi mới Tuy nhiên, trong quá trình phân tích chủ đề, có những
vấn đề cũng đề cập đến nội dung Đổi mới nhưng lại thuộc về lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, xã hội chẳng hạn thì chúng tôi lại sắp xếp vào chủ đề thuộc các
lĩnh vực đó Chủ đề Đổi mới ở đây chỉ gồm có ba bài nhưng là những bài
trực tiếp nhất đề cập đến vấn đề Đổi mới Nhận diện chủ đề này có các từ
ngữ: Đổi mới xuất hiện 45 lần, Đại hội lần thứ sáu 7 lần, khoán 21 lần, chính sách 8 lần, cơ chế 5 lần, sản xuất 49 lần Những từ này có liên quan đến chủ đề là vì chúng cùng thể hiện tập trung nội dung Đổi mới như: Đổi mới đánh dấu mốc được thông qua tại Đại hội lần thứ sáu của Đảng, nội dung của công cuộc đổi mới là thay đổi cơ chế, chính sách thực hiện nền kinh tế thị trường, đặc biệt cơ chế khoán là điểm nổi bật nhất của chính sách.
Nội dung cụ thể chúng tôi sẽ phân tích ở chương sau Các bài viết về chủ đềnày:
Trang 11- Đổi mới – 8 năm thử thách - Trần Bạch Đằng
- Chuyện cái xe con trâu và ruộng giống hợp tác - Hữu Thọ
- Nghị quyết 10 không chỉ có "khoán 10" - Hữu Thọ
1.3.3 Chủ đề Xã hội
Chủ đề xã hội có số lượng bài báo nhiều nhất (33 bài báo) Những bàibáo này phản ánh những góc độ khác nhau của đời sống xã hội như công tácquản lý xã hội, những vấn đề xã hội còn tồn tại chưa được xử lý, cuộc sốngcon người… Chính vì lượng bài viết nhiều, phản ánh mọi khía cạnh của đờisống xã hội nên từ ngữ không tập trung thể hiện chủ đề lớn, mà chúng tôinhận diện chủ đề dựa vào nội dung vấn đề xã hội được đề cập Phân chia chủ
đề Xã hội dựa vào những từ ngữ như các chủ đề trên, chúng tôi thực hiện ở bước phân tích tiểu chủ đề Vì với nội dung xã hội quá rộng, không thể nào
bao quát hết phạm vi từ ngữ, như thế nó sẽ bị phân tán, dàn trải qua các bài.Xác định từ ngữ thuộc nhóm tiểu chủ đề, chủ đề phản ánh sẽ tập trung các từngữ hơn, và như vậy hiệu quả phân tích mô tả mới được ghi nhận Các bàibáo thuộc chủ đề này:
- Đâu lại đóng đấy – Lý Sinh Sự.
- Khó làm sao – Lý Sinh Sự
- Ra thế đấy – Lý Sinh Sự
- Sự thật không phải hình Elip - Nguyễn Chính
Nghĩ đến những cán bộ quản lý kinh tế trên bước đường đổi mới
Trang 12- Cuộc họp trao đổi về vấn đề trung tá thương binh Nguyễn Phúc
-Trần Thu Hằng
- Đa-giê-năng - Nguyễn Chính
- Cồn Đeo và "Vụ Cồn Đeo" - Hữu Thọ
- Chờ đến sang năm – Lý Sinh Sự
- Đừng suy diễn quá – Lý Sinh Sự
- Nỗi thèm khát nóng bỏng - Trần Bạch Đằng
- Tặng Đảng cái bằng khen - Trần Thiên Nhiên
- Những số phận nhỏ trên một công trình lớn – Bích Hà
- Những mảnh đời có thật – Phương Minh.
- Có một Pari không hoa lệ - Phương Minh
- Tôi đi "bán" tôi - Huỳnh Dũng Nhân
- Đời quét rác - Mạnh Việt
- Chị Dậu cuối thế kỉ - Mạnh Việt
- Chân lý và thử thách - Trường Giang.
- Đạo làm người - Nguyễn Khắc Viện
- Tôi đã đến với chủ nghĩa xã hội như thế nào - Nguyễn Khắc Viện
- Chuyện trẻ con, chuyện người lớn - Nguyễn Khắc Viện
- Chút suy tư nghề báo "nghề vua"- Thế Văn.
- Người đàn bà quỳ - Lê Văn Ba
- Phiếm luận về tham nhũng và chống tham nhũng - Trần Bạch
Đằng
- Còn hơn cả sự im lặng đáng sợ -Trần Mai Hạnh
Trang 13- Một ông quan về hưu – Lê Văn Ba
- Đêm ấy ở phủ Thủ tướng – Xuân Ba
- Ngày đồng chí Nguyễn Văn Linh đi xa Nhớ 2 kỷ niệm với
N.V.L-Xuân Ba
1.3.4 Chủ đề Kinh tế
Những bài báo thuộc chủ đề này mang nội dung phản ánh những khíacạnh của lĩnh vực kinh tế như làm kinh tế có hiệu quả, mô hình kinh tế mới,
cơ chế quản lý kinh tế Chủ đề kinh tế có 31.857 từ (gồm cả tần số xuất
hiện) Từ ngữ thể hiện chủ đề có: thị trường tần số lặp lại 94 lần, hàng 104 lần, hàng hoá 21 lần, tiêu thụ 31 lần, sản xuất 34 lần, kinh doanh 23 lần, xuất khẩu 18 lần, kinh tế 27 lần, mua 45 lần, bán 68 lần… Những từ ngữ
này tập trung thể hiện nội dung kinh tế Nói về lĩnh vực kinh tế chắc chắnkhông thể thiếu các từ ngữ này, trong đó những từ ngữ có tần số lớn ở trên lànhững từ ngữ chính thể hiện nội dung chủ đề Chủ đề kinh tế có 12 bài:
- Sự kiện Hàng Đào - Trần Thiên Nhiên
- Chuyện mới ở Kim Bôi - Trần Thiên Nhiên
- Cây trái chưa thấy trong vườn thượng uyển- Thế Văn
- "Vua lốp" - Trần Huy Quang
- Lời khai của bị can - Trần Huy Quang
- Thông điệp bất ổn từ một phương án - Nguyễn Uyển
- Cơn "địa chấn" từ vòng quay của máy - Thế Văn
- Người tử tù năm trước- Lê Văn Ba
- Tỷ phú nuôi cá biển - Huỳnh Dũng Nhân
- Bỉm Sơn sau mùa đông - Trần Huy Quang
Trang 14- Trường Sa ta đó giữa lòng biển đông - Hồng Vinh
1.3.5 Chủ đề Văn hoá
Chủ đề này có 22 bài, số lượng bài nhiều thứ hai trong số các chủ đề(sau chủ đề xã hội) Những bài báo trong chủ đề này phản ánh góc độ vănhoá của đời sống xã hội như những giá trị tinh thần, văn hoá lối sống, ý thứccộng đồng, cách nhìn nhận về nghệ thuật Hầu hết các bài trong chủ đề này
là những bài bình luận, phản ánh, nêu cảm nhận của người viết qua nhữngđiều mắt thấy tai nghe, những sự kiện văn hoá, nghệ thuật…Nội dung vănhoá cũng không thể hiện tập trung qua từ ngữ, do vậy chúng tôi căn cứ vào
từ ngữ trực tiếp nhìn nhận về chủ đề này xuất hiện cả ở tiêu đề các bài báolẫn trong nội dung như: tên địa danh, tên tác phẩm nghệ thuật, nhân vậttrong tác phẩm nghệ thuật, những vấn đề thuộc về nếp sống văn hoá, tínngưỡng Tập hợp những đặc điểm này, chúng tôi nhận diện được chủ đề vănhoá gồm các bài:
- Việt Nam học những góc độ tiếp cận - Trần Bạch Đằng
- Vùng đất cảm hoá những con người - Hồng Vinh
- Một chuyến "hành phương Nam" - Huỳnh Dũng Nhân
- Nước ta có một Côn Đảo- Hoàng Minh Tường
- Thư ngỏ gửi ông G.Bush- tổng thống Hoa Kỳ- Mạnh Việt
- Vợ chồng trí thức – Lê Văn Nghĩa
- Không nói chuyện vịt – Lý Sinh Sự
- Miền trung những điều để nhớ - Phương Minh
- Đi lễ Bà Chúa Kho – Lê Văn Nghĩa
- Ngôi sao thị trường – Lê Văn Nghĩa
- Bất công cho Hồ Nguyệt Cô – Lưu Trọng Văn
Trang 15- Nàng Mầu của tôi –Lưu Trọng Văn
- Hậu kỳ truyện kiều - Nguyễn Khắc Viện
- Nhà tâm lý học Nguyễn Du - Nguyễn Khắc Viện
- Thôi đã khuyết đi một cư sĩ Tây Hồ - Xuân Ba
- Đỗ Phượng Như, nữ nghệ sĩ Violông xuất chúng – Hàm Châu
- Văn Cao, một tâm hồn, một tài năng, một nỗi ưu tư – Hàm Châu
- Nhà văn Đoàn giỏi bị chửi – Hoàng Minh Tường
- Người ấy lên chốn thiên thai rồi! – Lưu Trọng Văn
- Đập đi đập lại rồi im lúc nào – Lưu Trọng Văn
- Xin dành lại cho những người còn sống – Lưu Trọng Văn
- Dư âm…của Tý – Lưu Trọng Văn
1.3.6 Chủ đề Giáo dục
Mười bài viết trong chủ đề này đề cập đến tình hình giáo dục của đấtnước trong mười năm qua Những vấn đề nào của giáo dục còn cần đượcquan tâm giải quyết, những vấn đề nào mới nảy sinh, những tấm gươngtrong giáo dục đều được phản ánh kịp thời, cụ thể Ngay tiêu đề các bài báochúng ta cũng nhận diện được chủ đề này Qua các từ ngữ "Bộ giáo dục vàđào tạo, đào tạo, làng giáo, tự học" xuất hiện ở tiêu đề, những bài viết khôngnhận diện được chủ đề qua tiêu đề bài báo chúng tôi tiến hành phân tích, tìm
hiểu nội dung trong văn bản Khảo sát cụ thể trong mười bài có: đại học lặp lại 83 lần, giáo dục 69 lần, học sinh 59 lần, giáo viên 57 lần, cô giáo 47 lần, trung học 31 lần, đào tạo 24 lần, thầy giáo 24 lần, nhà trường 20 lần, thầy
cô giáo 16 lần, sinh viên 12 lần Các bài trong chủ đề Giáo dục:
- Một việc cần làm ngay của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp - Cẩm Bình
Trang 16- Nghịch lý đào tạo - Cẩm Bình
- Làng giáo có gì vui – Hoàng Minh Tường
- Cũng tùm lum lắm – Lý Sinh Sự
- Nơi để sống hết mình - Nguyễn Uyển
- Đại thụ xanh - Thế Văn
- Vấn đề tự học và sự bùng nổ tài năng - Trường Giang
- Nhịp đời trên sóc Bom Bo – Dương Kiều Linh
- Người Hà Nội ở Lâm Đồng – Dương Kiều Linh
- Phú Quốc- chuyến bay biển – Dương Kiều Linh
1.3.7 Chủ đề Khoa học
Chủ đề Khoa học gồm 8 bài Các bài báo thuộc chủ đề Khoa học có
nội dung đề cập là các vấn đề khoa học, công nghệ, những vấn đề nghiêncứu khoa học cũng như những hiện tượng nảy sinh trong công tác làm khoa
học Theo thống kê của chúng tôi trong 8 bài báo viết về chủ đề này: từ khoa học có tần số 123 lần xuất hiện, nghiên cứu 87 lần, giáo sư 83 lần, tiến sĩ (phó tiến sĩ) 43 lần, đề tài 27 lần, toán học 25 lần, chất xám 22 lần, triết học
17 lần, công nghệ 13 lần, hiện tượng 11 lần, hội thảo 5 lần Tập hợp những
từ ngữ này thể hiện chủ đề Khoa học một cách rõ ràng Cụ thể các bài đó là:
- Đấu thầu khoa học hay khoa học đấu thầu - Cẩm Bình
- Kỳ thú, trăm năm mới có - Cẩm Bình
- Chất xám chảy về đâu – Bích Hà
- Đủ tỉnh táo – Lý Sinh Sự
- Sự lựa chọn của lương tâm và trí tuệ - Hàm Châu
- Nhà toán học Hoàng Tuỵ và trường phái Hà Nội – Hàm Châu
Trang 17- Xót sa suy nghĩ về một tài năng triết học lỗi lạc - Trường Giang 1.3.8 Chủ đề Môi trường
Chủ đề Môi trường có 2 bài Môi trường mà chúng tôi nói đến trong
chủ đề này là thực thể môi trường sống tự nhiên của con người, không phải
môi trường xã hội Môi trường xã hội được tập hợp trong mảng chủ đề Xã hội Môi trường trong chủ đề này có hai bài viết, trong đó một bài nói về ý
thức gìn giữ môi trường chưa tốt và bài còn lại là khuyến khích trồng câyxanh bảo vệ môi trường Nội dung chủ đề này được chúng tôi mô tả bằngviệc phân tích văn bản hai bài báo Mỗi bài thể hiện một khía cạnh khácnhau nên chúng không có các từ ngữ chung thể hiện chủ đề như các chủ đềtrên nhưng chúng có quan hệ với nhau ở chỗ cả hai cùng thể hiện ý thức giữgìn môi trường ở những khía cạnh khác nhau
- Người mình…– Lý Sinh Sự
- Lạc trung xanh - Nguyễn Uyển
1.3.9 Chủ đề Tàn dư sau chiến tranh
Chiến tranh đã đi qua hơn một thập kỷ so với thập kỷ mà cuốn sách đềcập đến Không còn bom nổ, không còn tiếng súng đạn nhưng những gì màchiến tranh để lại thật xót xa Đó là những người lính trở về từ cõi chếtnhưng thân thể bị huỷ hoại, những em bé bị nhiễm chất độc hoá học, nhữngngười lính có hoàn cảnh khó khăn, đời sống vất vả Chúng tôi tập hợp cácbài báo có nội dung phản ánh những hậu quả của chiến tranh trong một chủ
đề - Tàn dư sau chiến tranh Chính những bài báo này cho độc giả, nhất là
những người sống trong hoà bình thấy được sức tàn phá ghê gớm của chiếntranh không chỉ khi bom rơi, đạn nổ mà còn dai dẳng cả ở thời bình
Thể hiện chủ đề này, tập hợp từ ngữ được sử dụng gồm có: thương binh xuất hiện 28 lần, chiến tranh 14 lần, hy sinh 12 lần, vết thương 11 lần,
Trang 18chất độc 15 lần, anh hùng 8 lần, thương tật 5 lần, chất độc màu da cam 5 lần, tử tù 104 lần Chủ đề này gồm 9 bài:
- Người chèo đò anh hùng và ngôi mộ giả trong nghĩa trang – Xuân
Ba
- Người không cô đơn – Minh Chuyên
- Vào chùa gặp lại – Minh Chuyên
- Những người tử tù – Thái Duy
- Anh em tử tù nay ở đâu – Thái Duy
- Chuẩn bị đón các tử tù – Thái Duy
- Gặp những người tử tù – Thái Duy
- Nước mắt làng – Minh Chuyên
- Chiến tranh không có khuôn mặt trẻ em – Bích Hà
Các chủ đề được chúng tôi thống kê và sắp xếp không phải ngẫunhiên mà chúng tôi trình bày theo tầm quan trọng, tác động của từng vấn đềđối với thời kỳ mười năm này, không căn cứ vào số lượng bài báo viết trongmỗi chủ đề Mỗi chủ đề lại được phân chia nhỏ thành những nhóm tiểu chủ
đề dựa vào phạm vi thể hiện của mỗi bài báo trong từng chủ đề
1.4 Tiểu kết
Như vậy là bằng cách tiếp cận vĩ mô, chúng tôi đã nhận diện nội dung
và quy loại cho tất cả các bài báo trong tuyển tập theo định hướng lựa chọn
Cơ sở để chúng tôi phân chia chủ đề cụ thể nói trên là ở từ ngữ thể hiện đầu
đề mỗi bài báo, tiếp đến là những từ ngữ chủ chốt trong từng bài cụ thể Những từ ngữ xuất hiện với tần xuất khá nhiều, được tập hợp trong cùng một chủ đề là cơ sở để liên kết các nghĩa từ cùng phản ánh chủ đề Mỗi chủ
đề được thể hiện bởi một hệ thống từ vựng khác nhau mang nét nghĩa đặc trưng của chủ đề Đây chính là trường chủ đề mà chúng tôi muốn đề cập
Trang 19đến Để khái quát lại chương một, chúng tôi đưa ra bảng tóm tắt nội dungcác chủ đề sau:
Bảng: Các chủ đề trong cuốn "một thập kỷ bài báo hay"
10
2 Đổi mới Phản ánh tình hình đổi mới, chính sách và
việc thực hiện chính sách đổi mới
3
3 Xã hội Phản ánh những khía cạnh của đời sống xã
hội, từ công tác quản lý cho tới đời sốngngười dân
33
4 Kinh tế Đề cập các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế: cơ
chế, tiềm lực kinh tế, những mô hình kinh tế
có hiệu quả
12
5 Văn hoá Phản ánh góc độ văn hoá trong đời sống 22
6 Giáo dục Những bài viết về tình hình trường lớp, giáo
viên, việc thực hiện quy chế giáo dục
Với sơ đồ kết quả này, chúng ta sẽ có cái nhìn đại quan toàn cảnh nội
dung chủ đề được đề cập, phản ánh trong tập "Một thập kỷ bài báo hay".
Trang 20Đồng thời với tính chất báo chí và sự tuyển chọn, cũng cho thấy hiện thựcnóng hổi của cuộc sống được nói đến Ngôn ngữ trong tuyển tập (qua từvựng - ngữ nghĩa) đã thông báo cho ta hiện thực toàn cảnh này Hiện thựccuộc sống được phản ánh cụ thể như thế nào, qua những từ ngữ nào chúngtôi sẽ xem xét ở chương sau.
Chương 2: CÁC PHẠM VI VÀ CÁC TRƯỜNG TIỂU CHỦ ĐỀ
TRONG CUỐN "MỘT THẬP KỶ BÀI BÁO HAY"
Trang 212.1 Trường tiểu chủ đề
Phân chia chủ đề mới chỉ dừng ở bước phân tích bao quát nhất, chưa
đi đến các cấp độ ở tầng sâu cấu trúc bên trong Do vậy chúng tôi tiếp tục đisâu nghiên cứu vào từng cấp bậc nhỏ hơn trong mỗi chủ đề Chúng tôi tạm
gọi là phân tích tiểu chủ đề Nếu chủ đề là nội dung lớn, bao quát nhất thì
tiểu chủ đề là những nội dung nhỏ, những nhánh nhỏ trực thuộc nội dung
lớn Như vậy, trong chương này chúng tôi bắt đầu phân tích cấu trúc vi mô của mỗi chủ đề, tức là đi sâu hơn vào cấu tạo chất liệu từ vựng để phân tích
sâu hơn một bước: cùng thuộc chủ đề ấy, nhưng các bài báo phản ánh nhữnglĩnh vực, khía cạnh nào của nội dung chủ đề Những bài báo cùng chungkhía cạnh tiếp cận vấn đề được xếp chung vào một nhóm tiểu chủ đề
Trường tiểu chủ đề là khoảng giới hạn vấn đề trong một chủ đề Cáctiểu chủ đề có mối quan hệ với nhau ở nội dung thể hiện cùng một chủ đề,chỉ khác nhau ở những khía cạnh, góc độ tiếp cận vấn đề trong mỗi chủ đề
Thao tác phân chia các trường tiểu chủ đề của chúng tôi cũng như
cách thức phân tích chủ đề Đó là thông qua từ ngữ, văn cảnh thể hiện nộidung bài báo chúng tôi tiến hành phân loại từ chủ đề lớn thành các chủ đềnhỏ , hạn định lại nội dung của các chủ đề lớn thành các chủ đề nhỏ Nhưvậy, nội dung các bài báo được khai thác sâu hơn, cụ thể hơn so với phântích chủ đề Đây chính là điểm chính của phân tích cấu trúc vi mô các bài
báo trong tập sách "Một thập kỷ bài báo hay".
Cơ cấu tiểu chủ đề phụ thuộc vào nội dung vấn đề được đề cập đếnnhiều hay ít (biểu hiện cụ thể bằng số lượng bài báo trong phạm vi chủ đề)
và khía cạnh tiếp cận chủ đề, phạm vi thể hiện chủ đề Có chủ đề có thể chia
ra nhiều tiểu chủ đề, nhiều cấp bậc nhỏ bên trong tiểu chủ đề nhưng cũng cónhững chủ đề sự phân chia tiểu chủ đề lại rất đơn giản Chẳng hạn: chủ đề
Trang 22Đổi mới có thể phân chia thành hai tiểu chủ đề: Nhận định và Thực hiện chính sách đổi mới chỉ có một bậc phân chia Nhưng chủ đề Ngoại giao lại
có hai bậc Ở bậc một là tiểu chủ đề Tình hình chính trị và Đối ngoại Phân tích tiểu chủ đề ở bậc hai: Tình hình chính trị chia ra hai nhánh chủ đề Thế giới và Trong nước.
Để thuận tiện cho việc phân tích, chúng tôi tạm quy ước: đơn vị phân
chia ở bậc một gọi là tiểu chủ đề, ở bậc hai là nhánh chủ đề, bậc ba là nhóm chủ đề Mỗi bậc là một bước đi sâu hơn vào phạm vi nội dung cụ thể của
từng chủ đề Tức là theo quy trình: chủ đề -> tiểu chủ đề (bậc 1) -> nhánhchủ đề (bậc 2) -> nhóm chủ đề (bậc 3) -> các bài báo cụ thể (bậc 4) Quakhảo sát, phân tích, chúng tôi thấy hầu hết các chủ đề phân chia chủ yếu là 4
bậc, cá biệt có chủ đề Xã hội phân chia tới 5 bậc do chủ đề này có số lượng
bài phản ánh phong phú nhiều góc độ của đời sống xã hội Mỗi tiểu chủ đềchúng tôi thống kê và phân tích sẽ có mô hình hoá các tiểu chủ đề để tổngkết lại mỗi tiểu chủ đề và để thuận tiện hơn trong việc theo dõi các tiểu chủ
đề (phần này xin xem Phụ lục) Sau đây là nội dung cụ thể:
2.2 Các trường tiểu chủ đề trong cuốn "Một thập kỷ bài báo hay"
2.2.1 Các tiểu chủ đề Chính trị- ngoại giao
Chủ đề Chính trị - ngoại giao gồm 10 bài đề cập đến các vấn đề thời
sự, chính trị, ngoại giao ở Việt Nam, trong khu vực và trên thế giới Tiếnhành phân tích tiểu chủ đề, chúng tôi căn cứ vào phạm vi thể hiện chủ đềthông qua từ ngữ, văn cảnh cụ thể Trong phạm vi chủ đề này, căn cứ vàonội dung thể hiện cách nhận định tình hình chính trị hay nói về quan hệ quốc
tế giữa các nước, chúng tôi phân chia 10 bài báo thành hai tiểu chủ đề: Tình hình chính trị và Đối ngoại.
Trang 23Trong tiểu chủ đề "Tình hình chính trị", căn cứ vào từ ngữ ở tiêu đề,
cũng như ở phần văn bản các bài báo, chúng tôi nhận định, những bài báonói nhiều đến tình hình chính sự trong khu vực và trên thế giới thường thấy
những từ như: "thế giới" xuất hiện 121 lần, "toàn cầu" 63 lần, "khu vực" 48 lần, "chính trị" 13 lần, tập trung ở một số bài báo Vùng Vịnh – thanh gươm chiến tranh đã rút khỏi vỏ; Thế giới thống nhất hay phân rã; Bom nguyên tử
và quyền con người; Tầm nhìn thập kỷ; Thế giới trong cơn lốc toàn cầu hoá
và khu vực hoá; Trật tự thế giới mới hình thành và phát triển theo hướng nào Một số bài báo nói đến tình hình, xu thế chính trị ở Việt Nam trong đó danh từ "Việt Nam" được nhắc đến 89 lần, nhiều nhất là ở hai bài Nội lực Việt nam và Bản lĩnh Việt Nam Căn cứ vào đó chúng tôi phân chia tiểu chủ
đề "Tình hình chính trị" thành hai nhánh: Thế giới (gồm những bài báo viết
về tình hình, xu thế chính trị trên thế giới) và Trong nước (hai bài Nội lực Việt Nam và Bản lĩnh Việt Nam nói về tình hình Việt Nam).
Căn cứ vào từ ngữ để phân chia là chưa đủ tin cậy, vì vậy chúng tôitrích dẫn ngữ cảnh để làm cơ sở, cũng như cung cấp thêm thông tin xác thực
"…cuộc đấu tranh mạnh mẽ, kiên trì của nhân dân thế giới vì hòa bình, chống chạy đua vũ trang…"
"…Mỹ đối thoại, thực hiện giải trừ quân bị, thế giới đi vào một thời
kỳ hòa hoãn mới."
"…đưa đến những thay đổi sâu sắc trong cục diện thế giới Từ đối đầu chuyển sang đấu tranh và hợp tác…"
"Tuy nhiên, xu thế hòa bình và hợp tác trên thế giới tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho các quốc gia…"
"Theo các nhà quan sát, xu thế hòa hoãn trên thế giới có thể kéo dài tới sau năm 2000"
Trang 24Tiểu chủ đề Đối ngoại gồm có hai bài nói về quan hệ quốc tế, cụ thể
là quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ trong thời điểm này (1987-1996): Điều bổ ích cho tương lai; Cuộc tái ngộ lịch sử sau hơn nửa thế kỷ Từ ngữ nhận diện tiểu chủ đề này là hợp tác xuất hiện 27 lần, quan hệ 20 lần, Việt-Mỹ xuất hiện 11 lần, bình thường hoá 4 lần
"Ông cho rằng quan hệ Việt – Mỹ đã có bước khởi đầu tốt đẹp".
"…rất vui khi được nghe lại câu chuyện về hợp tác Việt - Mỹ hơn nửa thế kỷ trước đây"
"…thành công nhất của tình hữu nghị và sự hợp tác Việt – Mỹ"
"Ngày 4-2-1994, tuyên bố công nhận ngoại giao và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam"
"Hoan nghênh quyết định bình thường hóa của tổng thống Clintơn,"
"Phát-biểu ngày 11-7, lại nói: "Tôi tin rằng việc bình thường hóa và tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa người Mỹ"
"…tích cực trong việc xây dựng mối quan hệ Việt – Mỹ chống kẻ thù chung."
"Ông cho rằng quan hệ Việt – Mỹ đã có bước khởi đầu tốt đẹp."
"Thời kỳ Hè – Thu 1945, về một giai đoạn hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ mà cho tới nay…"
2.2.2 Các tiểu chủ đề Đổi mới
Chủ đề Đổi mới, chúng tôi phân định thành hai tiểu chủ đề Căn cứ
vào nội dung, từ ngữ thể hiện, câu văn có nội dung là quan điểm, cách nhìnnhận, suy nghĩ về "Đổi mới" hay việc thực hiện "chính sách Đổi mới",
chúng tôi phân chia thành hai tiểu chủ đề: Nhận định (Đổi mới – tám năm thử thách - Trần Bạch Đằng) và Thực hiện chính sách Đổi mới (Chuyện cái
Trang 25xe, con trâu và ruộng giống hợp tác - Hữu Thọ; Nghị quyết 10 không chỉ có
"khoán 10" - Hữu Thọ).
Tiểu chủ đề Nhận định về "Đổi mới" thường có các kết hợp từ dạng
định nghĩa, khái niệm, quan niệm về "Đổi mới":
"Đổi mới là mở cửa, hoà nhập quốc tế" [278]; "Đổi mới là một trận tuyến đồng bộ" [280]; "Đổi mới là tăng cường sức sản xuất, biến Việt Nam
từ nghèo thành giàu, từ nông nghiệp lạc hậu thành công nghiệp và hiện đại"…[279].
Hay phân tích nhận định vấn đề:
"Không đồng hoá mở cửa với thả cửa, hoà nhập với sáp nhập" [278];
"Đổi mới cần nhiều động lực, các thành phần kinh tế khác nhau thuộc động lực của Đổi mới"; …[279]
Tiểu chủ đề Thực hiện chính sách Đổi mới được xác định qua phân tích các từ: Nghị quyết 10 xuất hiện 27 lần, nghị quyết 11 lần, khoán 10 21 lần, khoán 22 lần, hợp tác xã 55 lần, xã viên 25 lần, đầu tư 28 lần, quốc doanh 19 lần, tập thể 17 lần, chính sách 8 lần Trong những văn cảnh:
Cơ chế khoán trong Nghị quyết 10 có ba điểm khác với khoán theo Chỉ thị 100" [709]; "Hợp đồng vận tải hàng hoá kinh doanh của cả hợp tác
xã nông nghiệp lẫn hợp tác xã mua bán Hợp tác xã hết kế hoạch thì xã viên được hợp đồng làm riêng" [689]; " nhiều cơ sở quốc doanh đã khoán vườn công, đàn gia súc đến gia đình công nhân"…[709].
Những từ ngữ được lặp lại nhiều lần trong nhiều văn cảnh để thể hiệnnội dung việc thực hiện chính sách đổi mới theo nghị quyết của Đảng cóchiều hướng tốt, thể hiện rõ nhất là trong nông nghiệp, sự chuyển đổi dầndần cơ chế làm ăn tập thể sang cá thể hộ gia đình xã viên cho thấy phươnghướng đổi mới là hoàn toàn đúng đắn
Trang 26Chủ đề Xã hội có lượng bài viết nhiều nhất (33 bài) phản ánh đầy đủ
mọi mặt của đời sống xã hội do đó các tiểu chủ đề cũng đa dạng và phức tạp
hơn Chúng tôi phân tích chủ đề này thành hai tiểu chủ đề: Quản lý xã hội và Đời sống xã hội.
2.2.3.1 Tiểu chủ đề Quản lý xã hội
Tiểu chủ đề này gồm 19 bài Chúng tôi lại tiếp tục phân chia những bài
báo này thành hai nhánh chủ đề là Pháp luật và Công tác quản lý.
• Nhánh chủ đề Pháp luật gồm có 5 bài, phản ánh sự quản lý xã
hội bằng luật pháp của Nhà nước Tuy nhiên sự quản lý này chưa hiệu quả vìcòn nhiều sai phạm pháp luật vẫn tồn tại mà hậu quả là việc xử án oan saikhông đúng người đúng tội, kết tội nhầm, hoặc lảng tránh việc định tội của
cơ quan hữu quan (Khó làm sao, Ra thế đấy – Lý Sinh Sự, Sự thật không phải hình elíp - Nguyễn Chính, Nghĩ đến những cán bộ quản lý kinh tế trên bước đường đổi mới- Trần Mai Hạnh) hay việc tuân thủ quy định, pháp luật của người dân chưa tốt (Đâu lại đóng đấy – Lý Sinh Sự) Các từ ngữ thể hiện nội dung này trong các bài có: vi phạm xuất hiện 24 lần, thanh tra 10 lần, trái pháp luật 7 lần, sai phạm 4 lần Những từ ngữ này chỉ khi đặt vào
văn cảnh cụ thể ta mới thấy hết được ý nghĩa hiện thực của nó:
"Không ai nghĩ là anh không có sai phạm"; "khi kiểm tra các văn bản pháp quy đã phát hiện hơn 1.700 văn bản có vi phạm"; "thật khó mà kiếm ra cho được một cán bộ quản lý mà không có sai phạm khuyết điểm" [413];
"Đoàn Thanh tra ở Xí nghiệp liên hợp rượu bia I đã phạm sai lầm nghiêm trọng về quan điểm thực hiện chức năng và làm trái pháp luật"; "có vi phạm thì phải xử lý"…[418].
• Nhánh chủ đề Công tác quản lý gồm 14 bài được phân loại thành
3 nhóm chủ đề: Cơ chế quản lý, Lãnh đạo và Chống tiêu cực Nhìn rộng ra
nội dung chủ đề Xã hội thì trong cơ chế quản lý đã bao hàm cả nội dung
Trang 27chống tiêu cực, nhưng ở đây chúng tôi tách những bài phản ánh các sự việctiêu cực thành một nhóm riêng nhằm nhấn mạnh nội dung này hơn Vì côngtác chống tiêu cực luôn luôn được coi trọng trong mọi thời điểm, mọi chế
độ
+ Nhóm Cơ chế quản lý tập hợp 5 bài viết có nội dung phản ánh công tác phân bổ, sử dụng cán bộ chưa hợp lý (Đa-giê-năng - Nguyễn Chính),
thực hiện công tác trong dân còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng tranh
chấp, kiện cáo, bất bình…(Cồn Đeo và "Vụ Cồn Đeo" - Hữu Thọ), quản lý
kiểu chạy đua theo thành tích mà báo cáo "láo", báo cáo sai, cuộc sống
người dân không được ổn định do cơ chế quản lý yếu kém ( Chờ đến sang năm; Vẫn còn sướng; Đừng suy diễn quá! – Lý Sinh Sự).
Từ ngữ, văn cảnh thể hiện các nội dung trên có: cán bộ xuất hiện 24 lần, công tác 12 lần, quản lý 9 lần, phân công 3 lần.
"Trong công tác cán bộ, có một điều rất lạ"; "đồng chí A sau khi phụ trách ngành lâm nghiệp được đưa về làm công tác văn phòng, sau đó điều động đi làm công tác cải tạo nông nghiệp, rồi lại được kéo về giữ chức theo dõi thi đua"[178]; "làm công tác tổ chức phải là những người có trình độ cao… cần thay những cán bộ tổ chức lâu nay thiếu những hiểu biết cần thiết về công tác này" [181]; " sự non nớt trong khi định ra các chủ trương
cụ thể của cán bộ quản lý"; "vụ việc có dính tới tư lợi, quan hệ tới năng lực quản lý yếu kém"; "Đúng cả về chủ trương và hình thức theo tư duy quản
lý kinh tế mới"…[703].
+ Nhóm Lãnh đạo có 5 bài được chia nhỏ thành hai tiểu nhóm: Quan
hệ lãnh đạo với nhân dân (Nỗi thèm khát nóng bỏng - Trần Bạch Đằng, Tặng Đảng cái bằng khen – Trần Thiên nhiên) và Gương lãnh đạo Nếu như
phần trên là một loạt các bài viết về những hiện tượng, thực trạng có tínhchất tiêu cực thì ở tiểu nhóm chủ đề này lại khác Đây là những loạt bài tích
Trang 28của những người được dân lựa chọn, bình bầu Hai bài báo thuộc tiểu nhómnày nói lên mối quan hệ gắn bó, thân tình giữa những người lãnh đạo vớinhân dân, không kiểu cách, không hình thức, không phân biệt người quyềnchức với dân thường mà giống như quan hệ gắn bó trong gia đình Người
lãnh đạo là con, là em của nhân dân, là "công bộc" của nhân dân ("Má gọi bằng thằng và cười ấm áp; Anh bồi hồi như mọi tầm cao" những bà má miền Nam gọi các đồng chí lãnh đạo một cách thân thiết trìu mến: "thằng Ba Duẩn, thằng Ba Khiêm (Ung Văn Khiêm), thằng Tám Hà (Hà Huy Giáp), thằng Hai Hùng (Phạm Hùng) [293]", quan hệ tốt đẹp gần gũi giữa Đảng và nhân dân "Không phải chỉ nhân dân biết ơn Đảng, mà Đảng cũng phải biết
ơn nhân dân, vì không có nhân dân thì không có Đảng, không có nhân dân thực hiện thì chính sách của Đảng có hay bằng mấy cũng coi như rồi" [602];
"Tư Ngán ở Đồng Tháp, đề nghị quốc hội thay mặt nhân dân tặng Đảng một cái bằng khen." [603]
Tiểu nhóm Gương lãnh đạo (có ba bài: Một ông quan về hưu – Lê Văn Ba; Đêm ấy ở Phủ Thủ tướng – Xuân Ba; Ngày đồng chí Nguyễn Văn Linh đi xa, nhớ hai kỷ niệm với N.V.L – Xuân Ba) viết về những cán bộ lãnh
đạo tài giỏi, sáng suốt mà giản dị, luôn gần gũi với nhân dân, vì lợi ích củanhân dân: bác Nguyễn Tuấn – nguyên phó bí thư thành uỷ, chủ tịch Uỷ bannhân dân thành phố Nam Định, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Tổng Bí
thư Nguyễn Văn Linh ("Phó Thủ tướng cười: "Thôi, ở nhà khó mà nói thoải mái Với lại tối nay hình như có phim "Xứng danh anh hùng" Thế này nhé, tối mai đi Tớ chờ các cậu ở chỗ làm việc trên Phủ Thủ tướng" [53]; "Tổng
Bí thư vừa hút thuốc vừa chuyện trò thoải mái với anh em đồng nghiệp"…
[65]
+ Nhóm chủ đề Chống tiêu cực là những bài báo có sức tác động lớn,
phanh phui những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lợi dụng chức quyền…Những bài báo này đóng góp lớn vào việc chống những thói cửa quyền, đè
Trang 29nén người dân, làm lợi bất chính cho mình và góp phần xây dựng xã hội tốt
đẹp hơn, văn minh hơn Nhóm chủ đề này gồm các bài: Người đàn bà quỳ
-Lê Văn Ba; "Phiếm luận về tham nhũng và chống tham nhũng – Trần Bạch Đằng; Còn hơn cả sự im lặng đáng sợ - Trần Mai Hạnh; Những cuộc cờ tàn
- Trần Mai Hạnh Từ ngữ nói đến nội dung chống tiêu cực được chúng tôi
xác định: đơn, lá đơn xuất hiện 43 lần, tham nhũng 34 lần, tố cáo 29 lần, khiếu nại 27 lần, kỷ luật 25 lần, kiện 21 lần, tiêu cực 19 lần, pháp luật 18 lần, dư luận 9 lần Những từ này khi đặt chung trong một hệ thống có sự gắn
kết nhau về mặt nội dung Đó chính là sự liên kết ý nghĩa để cùng thể hiệnchủ đề mà trong hệ thống từ ngữ nào chúng tôi nêu lên ở các chủ đề cũng cóđặc điểm này Văn cảnh thể hiện tiểu chủ đề này có chứa những từ ngữ: :
"Đưa một vụ tiêu cực lên mặt báo cũng như đánh một ván cờ" [420]; "chưa thống kê được kể từ khi cuộc đấu tranh chống tiêu cực trên báo chí mở màn , đã có bao nhiêu nhà báo bị kiện hoặc bị doạ kiện ra toà" [423]; "cái tiêu cực đâu phải chỉ bám ngoài cơ thể xã hội" [428]; "tham nhũng đẩy vận nước vào chốn hiểm nghèo"; "xử lý tham nhũng phải nhất quán" [290]; "đơn này được đồng thời gửi tới yêu cầu các cơ quan thẩm quyền ở Trung ương can thiệp"…
2.2.3.2 Tiểu chủ đề Đời sống xã hội
Tiểu chủ đề Đời sống xã hội gồm 14 bài, viết về việc thực hiện chính
sách xã hội đối với anh thương binh Nguyễn Phúc còn chưa đúng (ba bàiviết của nhà báo Trần Thu Hằng), về số phận cùng cực, éo le của những
người lao động nghèo khổ (Những số phận nhỏ trên một công trình lớn – Bích Hà; Có một Pari không hoa lệ - Phương Minh; Những mảnh đời có thật – Phương Minh; Tôi đi "bán" tôi - Huỳnh Dũng Nhân; Đời quét rác- Mạnh Việt; Chị Dậu cuối thế kỷ - Mạnh Việt), và những bài viết luận bàn, nêu lên những suy nghĩ về đời sống xã hội ("Chân lý và thử thách" - Trường Giang, "Đạo làm người", "Tôi đã đến với Chủ nghĩa xã hội như thế nào",
Trang 30"Chuyện trẻ con, chuyện người lớn" - Nguyễn Khắc Viện, "chút suy tư nghề báo "nghề vua" - Thế Văn Theo nội dung này, chúng tôi chia tiểu chủ đề Đời sống xã hội thành ba nhánh: Công tác xã hội, Số phận con người và Luận bàn về xã hội
Trong tiểu chủ đề này, chúng tôi phân tích từ ngữ ở tiêu đề thấy:
nhánh chủ đề Công tác xã hội là tập hợp ba bài báo của nhà báo Trần Thu
Hằng về người trung tá thương binh có tên là Nguyễn Phúc bị đối xử khôngcông bằng, không đúng với quy chế tổ chức cán bộ Anh được cán bộ nhàtrường giao quyết định nghỉ hưu khi đang 47 tuổi, trên giường bệnh Chínhquyết định này đã khiến cuộc sống của anh và của gia đình anh bị ảnh hưởngnghiêm trọng Chị Phan Thị Liên, vợ anh Phúc, công tác cùng trường và
cùng bị buộc nghỉ việc như anh "Có phải anh Phúc bị trù dập? Anh Phúc là thương binh hay bệnh binh, và có đáng được hưởng mức thương binh ¼ không?" [446]; "Như vậy là trung tá thương binh Nguyễn Phúc, sau gần ba năm trời không được hưởng chế độ thương binh nặng và hưu trí, nay đã có nhiều khả năng được giải quyết đúng đắn" [453]
Nhánh chủ đề Số phận con người nói đến những người lao động vất
vả cực nhọc mà cuộc sống vẫn không được cải thiện, để từ đó vừa tìm kiếm
sự cảm thông chia sẻ của cộng đồng vừa ngầm đề đạt kiến nghị làm thế nào
để cuộc sống con người đỡ khổ hạnh, đói nghèo, để vững vàng hơn trên conđường Đổi mới Những bài viết này, ngay trên tiêu đề bài báo đã thể hiện sự
cơ cực: Những số phận nhỏ trên một công trình lớn: nhà báo Bích Hà đã đưa
ra một sự so sánh đối lập giữa những người công nhân nghèo với công trìnhThuỷ điện có tầm quốc gia mà họ góp sức làm nên - Thác Bà
Hay Những mảnh đời có thật, Có một Pari không hoa lệ của Phương Minh Đã gọi là mảnh đời thì cũng đủ để thấy nó nó nhỏ nhoi yếu ớt, bài báo nói về cảnh ngộ của những người nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV- AIDS "Pari vẫn là thành phố hoa lệ vào bậc nhất thế giới, nếu không có cái lần gặp gỡ
Trang 31tình cờ người đàn ông ấy…" [524], Cuộc gặp gỡ đã cho nhà báo biết thêm về thành phố hoa lệ ấy vẫn còn những số phận lang thang, hành khất, vất vả kiếm sống… "Pari là thiên đường, nhưng Pari cũng sẽ là địa ngục nếu anh không tìm được chỗ đứng, một nghề nghiệp, một nơi kiếm sống giữa thành phố hoa lệ này" [528]
Tôi đi "bán" tôi, Đời quét rác, Chị Dậu cuối thế kỷ những tiêu đề
bài báo ẩn chứa sự bần hàn cơ cực khi là của những người cửu vạn đi làmthuê, khi là số phận của ba thế hệ đi quét rác, khi thì cuộc sống cùng cực khókhăn đúng như "chị Dậu" của chị Huệ… Mỗi bài viết là mỗi cảnh đời, sốphận không giống nhau nhưng cuộc sống đều khó khăn, vất vả như nhau
"Anh phải suốt ngày và cả đêm nữa đứng trên đồi Montmartre, đón gió lạnh thấu xương của xứ Bắc Âu để góp nhặt từng đồng qua mỗi bức tranh" [527]; "khi chúng bạn cùng tuổi ăn diện, vui chơi nhảy múa, thì H đã phải thay mẹ, thay ông bà cầm chổi lê bước trên những con phố mà xưa kia ông
bà và mẹ đã qua lại hàng vạn lần, để quét tiếp rác bụi của cuộc đời" [917].
Chúng tôi đã nhóm lại thành tập hợp những bài báo viết về chủ đề số phậncủa người lao động
Nhánh chủ đề Luận bàn về xã hội là cảm nhận suy nghĩ của mỗi nhà
báo về từng khía cạnh của cuộc sống Họ suy ngẫm, chiêm nghiệm và viết ra
về chân lý (Chân lý và thử thách- Trường Giang), về đạo đức (Đạo làm người - Nguyễn Khắc Viện), về chủ nghĩa xã hội (Tôi đã đến với chủ nghĩa
xã hội như thế nào - Nguyễn Khắc Viện), về nghề báo (Chút suy tư nghề báo "nghề vua" - Thế Văn), về chuyện trẻ con nhưng lại có ý nghĩa cho cả người lớn để người lớn nhìn vào đó soi lại mình ("Chuyện trẻ con, chuyện người lớn" - Nguyễn Khắc Viện) Những nội dung này đã nhóm tập hợp các bài báo lại thành nhánh chủ đề mà chúng tôi gọi là Luận bàn về xã hội
2.2.4 Các tiểu chủ đề Kinh tế
Trang 32Chủ đề Kinh tế gồm 12 bài, chúng tôi phân tích thành 3 tiểu chủ đề
Cơ chế tổ chức, quản lý kinh tế; Gương làm kinh tế giỏi và Tiềm lực kinh tế.
2.2.4.1 Tiểu chủ đề Cơ chế tổ chức, quản lý kinh tế
Chia thành 2 nhánh:
• Nhánh Hàng hoá gồm 3 bài: Sự kiện Hàng Đào, Chuyện mới ở Kim Bôi - đều của tác giả Trần Thiên Nhiên, Cây trái chưa thấy trong vườn thượng uyển - Thế Văn Những bài báo này đề cập chủ yếu đến vấn đề sản
xuất, làm ra sản phẩm và việc tiêu thụ hàng hoá Từ ngữ được sử dụng nhiều
trong những loạt bài này có: "Hai năm qua, dưới tác động của cơ chế mới hàng tiêu dùng của ta nhiều hơn và tốt hơn trông thấy" [596];"sự xâm nhập
ồ ạt không sao kiểm soát được của hàng ngoại vào thị trường trong nước" [597]; "hàng trăm tỷ đồng hàng hoá nằm chết cứng trong kho không tiêu thụ được" [595]; "cứ có sản phẩm hàng hoá là tiêu thụ được mà tiêu thụ được là
có tiền, có gạo" [618].
• Nhánh chủ đề Cơ chế quản lý đề cập tới vấn đề quản lý kinh tế
chưa hợp lý, còn nhiều chính sách kinh tế chưa thoả đáng, kìm hãm sự phát
triển của các cơ sở tư nhân Nhóm này gồm 4 bài viết: "Vua lốp", "Lời khai của bị can" – Trần Huy Quang, "Thông điệp bất ổn từ một phương án" - Nguyễn Uyển, "Cơn "địa chấn" từ vòng quay của máy" - Thế Văn Cụ thể
nội dung này trong văn bản:
Người chủ sở hữu sáng chế sản phẩm muốn đăng ký cho sản phẩm
của mình nhưng cơ quan quản lý lại làm khó: "tôi muốn được phép sản xuất bút nghiêm chỉnh" [646], "nói trước để ông khỏi phải chờ: Chưa có lệnh cấp đăng ký kinh doanh cho cá thể" [646]
Hay việc quản lý của các cơ sở kinh tế còn nhiều yếu kém "quyền lực tập trung về tổng công ty, nhưng giải quyết chậm, hiệu quả thấp, thiếu kiểm tra, kiểm soát cấp dưới… đầu mối quản lý quá tải theo cấp số cộng thì trì
Trang 33trệ nhũng nhiễu phát triển theo cấp số nhân" [817]; không hiệu quả: "ngành điện thường xuyên thay đổi mô hình quản lý một cách chủ quan, nóng vội, không đánh giá hết tác dụng của nó và các giải pháp thực thi dẫn đến lãng phí vật tư tiền vốn" [816]
2.2.4.2 Tiểu chủ đề Gương làm kinh tế giỏi
Tiểu chủ đề này gồm 3 bài, nội dung tiểu chủ đề này là nói đến nhữngdoanh nghiệp, lãnh đạo các cơ sở làm kinh tế giỏi mang lại lợi nhuận chodoanh nghiệp, giải quyết việc làm cho công nhân và đóng góp cho xã hội
Đó là anh Lê Dũng (bài "Tỷ phú nuôi cá biển" - Huỳnh Dũng Nhân, anh Văn Choạch – Giám đốc nhà máy Xi măng Bỉm Sơn (bài "Bỉm Sơn sau mùa đông" - Trần Huy Quang), anh Tám Em (Võ Văn Em) – Phó Tổng giám đốc công ty Vissan (bài "Người tử tù năm trước" – Lê Văn Ba).
Những đóng góp của các chủ doanh nghiệp này: "Tôi có 40 nhân công các công đoạn bắt, vận chuyển, nuôi cá, bán cá, thuyết minh, phục vụ… trong đó có 6 thợ lặn Tôi có ba cơ sở như anh đã biết" [575]; "bước đầu tiên, cải thiện đời sống công nhân Bước thứ hai, Choạch ra bộ tư lệnh đặc công nhờ giúp đỡ" [660]; "anh Choạch đã liều một chuyến sang Lào tìm thị trường" [662]; "đây là một công ty có 500 tỷ đồng tiền vốn với 2.700 công nhân, có 3 xí nghiệp, 12 cửa hàng lớn Riêng tiền thuế, 6 tháng đầu năm
1991, Vissan đã nộp cho Nhà nước 8 tỷ đồng" [32].
2.2.4.3 Tiểu chủ đề Tiềm lực kinh tế
Tiểu chủ đề này nói về những cơ sở, những vùng đất có tiềm năngkinh tế đang được khai thác như công ty than Cẩm Phả, Trường Sa
Năng lực kinh tế của công ty than Cẩm Phả thể hiện ở: "qua một năm
Trang 34đó thu từ xuất khẩu hơn 208 tỷ đồng và tiêu thụ nội địa đạt 74 tỷ đồng… năm nay xuất khẩu 552 nghìn tấn than so với năm trước tăng 50 % việc tiêu thụ than nội địa đạt hơn 1 triệu tấn/năm" [951]; "… nâng mức lương bình quân của mỗi lao động chính lên 255 nghìn đồng/tháng và lương của mỗi người ở diện lao động dư dôi là 180 nghìn đồng/tháng" [953].
Tiềm năng kinh tế biển ở Trường Sa: "tiềm năng giàu có của biển cả đang được khai thác có hiệu quả: năm 1992, đạt 5,5 triệu tấn Chúng ta đang nghiên cứu sử dụng nửa tỷ mét khối khí đồng hành mà vừa qua đã phải đốt phí Nhưng biển của ta còn 1.700 loài cá, 340 loài động vật thân mềm có nguồn khoáng sản và năng lượng lớn, còn là nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn khách bốn phương…" [963].
2.2.5 Các tiểu chủ đề Văn hoá
Những lĩnh vực của đời sống văn hoá trong chủ đề này, chúng tôi
phân tích ở hai góc độ cũng là hai chủ đề nhỏ: Văn hoá đời sống và Nghệ thuật.
2.2.5.1 Tiểu chủ đề Văn hoá đời sống
Tiểu chủ đề Văn hoá đời sống gồm 9 bài báo phản ánh các góc độ của
văn hoá trong đời sống hàng ngày Trong đó có những nét văn hoá tốt đẹpcần gìn giữ, phát huy, và cũng có những lối sống, lối ứng xử chưa "đẹp" cầnphê phán để cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn Không có những từ ngữ cụ thể
để thể hiện nội dung tiểu chủ đề nhưng bản thân mỗi bài báo đã có giá trị
phản ánh văn hoá ở cách nhìn nhận vấn đề Tiểu chủ đề Văn hoá đời sống,
chúng tôi phân thành hai nhánh chủ đề thể hiện hai khía cạnh của đời sống
văn hoá là: Nét đẹp văn hoá và Tồn tại Cụ thể:
• Nhánh Nét đẹp văn hoá là những bài có nội dung phản ánh
những giá trị văn hoá tốt đẹp trong đời sống hay truyền thống lịch sử, văn
hoá ở những vùng miền đất nước: Việt Nam học những góc độ tiếp cận
Trang 35-Trần Bạch Đằng, Miền Trung những điều để nhớ - Phương Minh, Một chuyến hành phương Nam - Huỳnh Dũng Nhân, Nước ta có một Côn Đảo – Hoàng Minh Tường, Thư ngỏ gửi ông G Bush - tổng thống Hoa Kỳ - Mạnh Việt, Vùng đất cảm hoá những con người - Hồng Vinh Việt Nam trong quan điểm nghiên cứu văn hoá và lịch sử: "nghiên cứu Việt Nam là nghiên cứu nền văn hoá của dân tộc Việt Nam trong quá trình phát triển lịch sử Bởi vì không có một sức mạnh vật chất nào mà không bắt nguồn từ một nền văn hoá nhất định" [300]; "những nét đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam được hình thành từ quá trình đấu tranh rất khắc nghiệt suốt mấy nghìn năm lịch sử để sinh tồn và phát triển" [301] Văn hoá Việt Nam thể hiện ở truyền thống đấu tranh, ở những mảnh đất ghi dấu lịch sử: "Mỗi trại giam, một góc
xà lim lại gợi nhớ biết bao tên tuổi, từ các chí sĩ tiền bối thuở phong trào Cần Vương văn thân chống Pháp cho đến các thế hệ chiến sĩ cách mạng những năm 30-45 và những năm chống Mỹ sau này" [782]; "những con người trên mảnh đất miền Trung, những mảnh đất thấm đẫm máu và nước mắt của biết bao người để góp phần cho có được cuộc sống thanh bình hôm nay" [521].
• Nhánh Tồn tại trong tiểu chủ đề Văn hoá đời sống phản ánh
những mặt còn hạn chế về thái độ sống, thái độ ứng xử với cuộc sống, với
những nét văn hoá của con người: Đi lễ Bà Chúa Kho, Vợ chồng trí thức –
Lê Văn Nghĩa, Không nói chuyện vịt – Lý Sinh Sự Văn cảnh cụ thể nói đến
những mặt còn tồn tại như việc cúng lễ quá coi trọng hình thức của một số
người: "Đứng nơi thiêng liêng đầy hương khói này, bạn có thể nghe được quá nhiều lời khấn vay mượn hết sức là trần tục trong cuộc sống và nội bộ các cơ quan" [554]; "Có một ông tướng như trùm buôn lậu, khấn xin bà cho vay 500 ngàn đô để xây một khách sạn tư nhân" [555].
2.2.5.2 Tiểu chủ đề Nghệ thuật
Trang 36Tiểu chủ đề Nghệ thuật là những bài báo có nội dung phản ánh những
khía cạnh của lĩnh vực nghệ thuật như các nhân vật nghệ thuật, các tác gianghệ thuật hay quan điểm, cách nhìn nhận về tác phẩm nghệ thuật, hoặc lànhững đoạn tiếp theo của tác phẩm nghệ thuật được các nhà báo thêm vào.Dựa vào nội dung cụ thể, chúng tôi xác định các bài báo trong tiểu chủ đề
này thành hai nhánh chủ đề: Góc nhìn nghệ thuật và Tác gia nghệ thuật.
• Nhánh chủ đề Góc nhìn nghệ thuật là các bài báo nêu lên ý kiến
cảm nhận, lời bình giá của nhà báo về tác phẩm nghệ thuật, về hình tượng
nhân vật trong các tác phẩm văn học, sân khấu ( Các bài: "Bất công cho Hồ Nguyệt Cô", "Nàng Mầu của tôi" – Lưu Trọng Văn, "Hậu kỳ truyện Kiều",
"Nhà tâm lý học Nguyễn Du" - Nguyễn Khắc Viện), hay châm biếm một cách hài hước mà sâu cay về phim ảnh thời buổi cơ chế thị trường ("Ngôi sao thị trường"), trong các văn cảnh sau đây thể hiện rất rõ những nội dung
này
Bênh vực cho nhân vật nghệ thuật: "nhưng không hiểu sao tôi thấy Mầu họ diễn không giống Mầu tôi nghĩ, không giống Mầu của thời Hồ Xuân hương" [804], "Chứ Mầu giả lẳng lơ, giả đành hanh mà đằng sau đó là khát vọng ái tình, giành quyền có ái tình của người đàn bà Việt Nam trong xã hội xưa" [856]; châm biếm lối làm phim theo kiểu thị trường "bộ phim này có hay hay không thì chưa rõ, chứ bà Mỗ có công vô cùng lớn trong việc mở đầu phong trào người người làm phim, nhà nhà làm phim Sau bà Mỗ là phim của bà Nệm mút, của bà Dầu gội đầu, của bà Trang trí nội thất Nghe đâu các nhà đạo diễn được đào tạo chính quy trong và ngoài nước tất thảy
đã giải nghệ đi bán nước rau má nhường đất cho các bà xì dầu, nước mắm, mỹ phẩm tung hoành trên màn bạc thời thị trường mở cửa".
• Nhánh chủ đề Tác gia nghệ thuật
Nhánh chủ đề này có 8 bài, nói đến cuộc đời, sự nghiệp của những tàinăng trong sáng tạo nghệ thuật như nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ…mà
Trang 37ngay ở tiêu đề các bài báo cũng đề cập đến trực tiếp Đó là nghệ sĩ Đỗ
Phượng Như (bài "Đỗ Phượng Như, nữ nghệ sĩ violông xuất chúng – Hàm Châu), nhạc sĩ Văn Cao (bài "Văn Cao, một tâm hồn, một tài năng, một nỗi
ưu tư" - Trường Giang), nhà văn Đoàn Giỏi (bài "nhà văn Đoàn Giỏi bị chửi" - Hoàng Minh Tường), nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý ( bài "Dư âm… của
Tý – Lưu Trọng Văn) Những bài không trực tiếp nói đến các tác gia Nghệ thuật ở tiêu đề mà chỉ trong nội dung văn bản mới đề cập, có 4 bài: "Thôi đã khuyết đi một cư sĩ Tây Hồ" – Xuân Ba, nói đến nhà văn Phùng Quán,
"Người ấy lên chốn thiên thai rồi" – Lưu Trọng Văn, nói về nhạc sĩ Văn Cao, "Đập đi đập lại rồi im lúc nào" – Lưu Trọng Văn, là câu chuyện tưởng tượng nhà báo nói chuyện với hoạ sĩ Bùi Xuân Phái, "Xin dành lại cho những người còn sống" – Lưu trọng Văn, nói về nhà phê bình Hoài Thanh
Hoàng Minh Tường Qua tiêu đề các bài báo này, các từ ngữ được sử dụng
cũng có phần hàm chứa nét nghĩa "tiêu cực" Cụ thể là các từ "cần làm
Trang 38ngay" thể hiện sự việc "có vấn đề" thì mới phải cần làm ngay, phải giải
quyết ngay Cụm từ này thực ra tác giả Cẩm Bình "mượn" của Tổng Bí thưNguyễn Văn Linh khi ông đề ra "những việc cần làm ngay" nhằm giải quyếtnhững vấn đề tồn đọng một cách dứt khoát, ổn định đời sống nhân dân Hay
từ "nghịch lý" thể hiện điểm mấu chốt của vấn đề là có sự mâu thuẫn, sự
mâu thuẫn này có vẻ đi ngược lại chiều hướng phát triển chung của sự
nghiệp đào tạo Hay như trong phạm vi nội dung giáo dục từ "tùm lum" thể
hiện sự bê bối, rắc rối, không có quy củ trật tự, như vậy cũng là nét nghĩa
tiêu cực rồi Ở tên bài "Làng giáo có gì vui" lại cho người đọc có thể suy
luận theo hai cách hoặc đó là chuyện vui hoặc đó là chuyện không vui Đếnđây thì phải dựa vào văn cảnh cụ thể mới có thể hiểu chính xác được
"Các cơ sở giáo dục liên tiếp nhận được đơn xin thôi việc của 2105 thầy cô giáo Riêng thành phố Hồ Chí Minh, con số xin thôi việc đã lên tới
1500 người" [756]; "mấy chục năm qua, đội ngũ nhà giáo đã mất đi hàng vạn người – trong đó có không ít những nhà giáo giỏi" [758]; "Trong thực tiễn những năm qua, chương trình học ở cả hai bậc phổ thông và đại học đang có biểu hiện chồng chéo lên nhau" [89].
2.2.6.2 Tiểu chủ đề Tích cực
Tiểu chủ đề này gồm 6 bài: Vấn đề tự học và sự bùng nổ tài năng Trường Giang; Nhịp đời trên sóc Bom bo; Người Hà Nội ở Lâm Đồng; Phú Quốc, chuyến bay biển – Dương Kiều Linh; Nơi để sống hết mình - Nguyễn Uyển, Đại thụ xanh - Thế Văn Xét nội dung cụ thể của các bài này, chúng tôi lại tiếp tục phân chia tiểu chủ đề này thành hai nhánh: Trường lớp và Công tác giáo dục.
-• Nhánh chủ đề Trường lớp gồm có hai bài: Nơi để sống hết mình
- Nguyễn Uyển và Đại thụ xanh - Thế Văn Hai bài này viết về hai ngôi
trường Đại học Y Hà Nội và Trường trung học phổ thông Trần Phú (xưa làtrường Nguyễn Thái Học), là những điểm trường giàu truyền thống, có lịch
Trang 39sử vẻ vang, đại diện cho những môi trường giáo dục tốt Trong đó thành tíchcủa cả thầy và trò đều rất đáng kể Bên cạnh đó, hai bài báo thể hiện mốithân tình, gắn bó của cả thầy và trò với mái trường này.
Viết về trường Trần Phú có những dòng cảm xúc:"Lòng ước muốn trào lên: giá như ngày xưa ấy tôi được học nơi này, giá như tôi được lên bục giảng nơi này…" [807]; "Tôi ở trường vào những năm chống Mỹ khắc khổ, lãng mạn Hồi đó thầy và trò đều sống hết mình và rất quý nhau Tôi dạy ở đấy Học rất nhiều ở đấy và để lại đấy những tự hào và biết ơn" [807] Về trường Đại học Y Hà Nội "Trường thuốc này không cổ kính và phẳng lặng như một bảo tàng mà sống, mà động, mà ba đào, mà phát triển như một hiện tượng văn hoá nổi bật của nước ta ở thế kỷ 20"[823].
• Nhánh Công tác giáo dục chúng tôi lại phân chia thành hai nhóm chủ đề Tình hình giáo dục và Nhà giáo Nhóm Tình hình giáo dục nói
về hoạt động giáo dục ở khu kinh tế mới Lâm Hà (Lâm Đồng) và một vài
suy nghĩ, nhìn nhận về vấn đề tự học Nhóm này gồm có các bài Vấn đề tự học và sự bùng nổ tài năng - Trường Giang, Người Hà Nội ở Lâm Đồng – Dương Kiều Linh Nhóm Nhà giáo gồm hai bài Nhịp đời trên sóc Bom Bo
và Phú Quốc chuyến bay biển cùng tác giả Dương Kiều Linh Hai bài viết
này nói đến những khó khăn của người giáo viên ở nơi miền núi, hải đảo xaxôi Đồng thời ca ngợi những người giáo viên tận tâm, dũng cảm và yêunghề vượt qua những khó khăn đó để đến với các học trò nhỏ của mình
"Giờ đây tôi mới thấy hai dãy phố huyện lèo tèo mấy sạp hàng tạp hoá, một bến xe khách đầy bụi bặm của Bù Đăng quả là thủ đô của các cô giáo Xót
xa đến tận đáy lòng khi nghĩ đến những nhu cầu giản đơn và thiết yếu khác, các cô sẽ sống ra sao?" [464].
2.2.7 Các tiểu chủ đề Khoa học
Chủ đề Khoa học gồm có 8 bài, chúng tôi phân tích nội dung và xác
Trang 402.2.7.2 Tiểu chủ đề Nhà khoa học
Tiểu chủ đề này gồm những bài viết về cuộc đời, sự nghiệp nghiêncứu khoa học hay những cảm nhận, suy nghĩ về các nhà khoa học nước tatrong thời kỳ này: Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư hoàng Tuỵ, Giáo sư TrầnĐức Thảo, Phó Giáo sư Đào Quang Triệu Những từ ngữ thể hiện tiểu chủ
đề này như: giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ, nhà khoa học, nhà nghiên cứu…
Các nhà khoa học với sự nghiệp nghiên cứu vinh quang của mình:
"Giáo sư Di đã gắn bó với nghề 65 năm Giáo sư còn là chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam trong nhiều thập kỷ" [95]; "nhiều trường đại học lớn ở Mỹ, Pháp, Anh, Canada, Nhật bản , Thuỵ Điển , Đan Mạch, Thái Lan… mời Giáo sư Hoàng Tuỵ giảng bài, giúp đào tạo tiến sĩ chuyên ngành quy hoạch toán học Một số học trò của ông ở nước ngoài đã bảo vệ thành công luận
án tiến sĩ (PhD)" [129].
Song hành cùng những vinh quang là sự nỗ lực, vất vả của các nhàkhoa học cùng những mưu đồ ghen ghét đố kị của những người trong ngànhvới tư tưởng cũ còn nặng nề khiến cho công việc nghiên cứu khoa học