1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết quả thám sát và khai quật di chỉ Bãi Làng Cù Lao Chàm( Quảng Nam) năm 1998 - 1999.PDF

23 222 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 10,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Gốm hơi thô là loại gốm được làm bằng đất sét đã qua quá trình lọc rửa để loại bót những hạt cát thô và tap chất, chỉ đọng lại những hạt cát nhỏ nhưng tỷ lệ cát trong loại gốm này khá

Trang 1

KET QUA THAM SAT VA KHAI QUAT DI CHi BAI LANG CU LAO CHAM (QUANG NAM)

NAM 1998-1999

GS.TRAN QUOC VUGNG

TS LAM MY DUNG

ThS HOANG ANH TUAN

A- VAI NET VE VI TRi DIA LÝ VÀ

QUA TRINH NGHIEN CUU

Cù Lao Chàm là một cụm gồm 7 đảo lớn nhỏ (Hòn Lao, Hòn

Mô, Hòn La, Hòn Dài, Hòn Tai, Hòn Khô và Hòn Ông), trải rộng trên diện tích không gian khoảng 15km”, tọa độ 15°15'20"

đến15°15'15" vĩ độ bắc và 180°23'10" kinh độ đông, cách bờ biển Cửa Đại 15km về phía đông và cách thị xã Hội An 19km về phía đông - đông bắc Về mặt hành chính, hiện nay Cù Lao Chàm là xã đảo Tân Hiệp thuộc thị xã Hội An, Quảng Nam Trong cụm đảo Cù

Lao Cham, Hòn Lao có diện tích lớn nhất và là đảo duy nhất có

dân cư sinh sống với gần 3.000 dân

Những kết quả nghiên cứu về địa sinh thái cho biết Cù Lao Chàm là một bộ phận hữu cơ trong đặc trưng sinh thái xứ Quảng

- Với bức xạ trên 95Kcalo/cm”/năm, phía bắc được ngăn bởi dải

Hoành Sơn, phía tây được che chắn bởi khối núi bắc Kon Tum nên

xứ Quảng nói chung và Cù Lao Chàm - Hội An nói riêng không có

Trang 2

mùa đông lạnh Mùa khô từ khoảng tháng 2 đến tháng 8 Mùa

mưa kéo dài từ tháng 9, tháng 10 đến tháng giêng năm sau trên 1

địa hình dốc và hẹp tạo nên nhiều dòng chảy xiết, đưa lượng phù

sa vốn không nhiều ra xa, tạo nên những vùng biển sâu, hải lưu

chảy nhanh hơn

- Điều kiện khí hậu đó kết hợp với sự án ngữ của cụm đảo Cù

Lao Chàm ở phía đông tạo nên những đặc tính khí tượng thủy văn biển của khu vực

+ Chế độ gió phân thành 2 mùa rõ rệt: gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau với tốc độ 15-25m/s; Gió mùa hè

theo hướng đông và đông nam với những trận bão và áp thấp nhiệt

đới nên tốc độ gió rất cao (40m/s)

+ Phụ thuộc vào chế độ gió, chế độ sóng ở vùng cửa biển Hội

An - Cù Lao Chàm cũng bao gồm 2 hệ thống : sóng mùa đông có hướng đông bắc và đông, cao từ 1,5 đến 3m (ngoài khơi) và khoảng

1,Bm (ven bờ); sóng mùa hè nhỏ, có hướng tây nam (ngoài khơi) và hướng đông, nam (ven bờ)

+ Chế độ dòng chảy cũng chuyển đổi theo 2 mùa: dòng chảy

mùa đông (tháng 9) có hướng đông bắc - tây nam; dòng chảy mùa

hè theo hướng tây nam - đông bắc Ở ngoài khơi vùng biển Quảng

Nam, tốc độ dòng chảy tầng mặt đạt giá trị khá lớn đã ảnh hưởng

không nhỏ đến địa hình vùng ven bờ và tác động trực tiếp đến sự

đi lại của thuyền buôn của các nước trong khu vực, nhất là khi kỹ

nghệ đóng tàu, thuyền chưa cao và những chuyến thương hành đa

phần dựa vào chế độ sóng gió và các dòng hải lưu

+ Những sự thay đổi mực nước theo chu kỳ và không theo chu

kỳ trong lịch sử ở khu vực xứ Quảng nói chung tuy không lớn lắm, nhưng vì địa hình bằng phẳng nên gặp lúc thuỷ triều lên, nước

vẫn vào sâu đến lục địa Sách Thuỷ kinh chú của Trung Quốc có

chép về chế độ nước ở dòng sông Thu Bồn như sau: "nước sông lớn với nước thuỷ triều chảy về phía tây", Khi thủy triểu xuống mạnh, kết hợp với tốc độ chảy của sông Thu Bồn một mặt phá huỷ

Trang 3

lưỡng ngạn, song mặt khác cũng góp phần nạo sâu lòng sông, dễ

dàng cho tàu thuyền vào cập bến (2)

Biết tận dụng những điều kiện thiên phú về sông biển, người

Chàm (có thể cả người Sa Huỳnh trước đó và người Việt sau này) lại có cái nhìn đúng đắn về biển, biết tham dự và dấn thân tích cực vào luồng thông thương quốc tế trên biển đã đưa họ vươn lên nắm được thế lực biển (Maritime power), biến khu vực cụm đảo Cù Lao Chàm và Cửa Đại, Hội An thành một mắt xích quan trọng trên

tuyến đường hàng hải quốc tế qua biển Đông

Nhận thức được vị trí quan trọng của Cù Lao Chàm trong nghiên cứu Khảo cổ học và lịch sử xứ Quảng nói riêng và miền Trung nói chung, từ năm 1999 đến năm 1997 đã có nhiều đợt khảo sát của Trung tâm Quản lý Bảo tôn di tích thị xã Hội An kết hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Khảo cổ học, các nhà nghiên cứu Nhật Bản Tháng 5/1998, đoàn nghiên cứu Cù Lao Chàm với

sự phối hợp giữa Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch sử, Đại học Quốc

gia Hà Nội và Trung tâm Quản lý Bảo tôn di tích thị xã Hội An đã tiến hành đào 3 hố thám sát với tổng diện tích 10mẺ ở thôn Bãi

Làng nhằm chuẩn bị cho những đợt nghiên cứu quy mô về sau

Tháng 5/1999, đoàn nghiên cứu Cù Lao Chàm tiếp tục khai quật,

mở rộng hố thám sát III (1998) thành hố khai quật III MR

II KẾT QUẢ THÁM SÁT VÀ KHAI QUẬT

1 Diễn biến địa tầng:

- Hố thám sát I (2 x 2m) được mở tại sân trường học, thôn Bãi Làng, cách xa biển chừng 50m và ở độ cao 1,47m so với mực nước

biến ' Địa tầng hố thám sát I bị bào mòn mạnh, lớp mặt lại bị cắt

" Độ cao các hố thám sát và khai quật được đo vào lúc 15h ngày 26-5-

1998 tại góc tây nam của các hố

7

Trang 4

pha hau hết bởi những hố rác hiện đại, tầng văn hóa có màu xám nhạt, dày trung bình 40cm, sinh thổ là cát biển có màu xám vàng

- Hố thám sát II (2 x 2m) được mỏ tại góc trường học, cách hố thám sát I chừng 15m về phía Tây, ở độ cao 1,97m so với mực nước

biển Tầng văn hoá của hố thám sát II dày chừng 60cm và cũng bị bào mòn và cắt phá tương tự như hố thám sát I

- Hố thám sát III (2 x 1m) và hố khai quật III MR (3 x 2m)

được mở sát phía chân núi cách biển khoảng 80m, cao 3,19m so với mực nước biến, sau nhà ông Huỳnh Cư Mặc dù lớp mặt cũng bị cắt phá bởi những hố rác cũ và mới, nhưng nhìn chung địa tầng ít

bị bào mòn và khá ổn định:

+ Lớp đất mặt : 00 - 20 em cát có màu xám trắng, khô

+ Tầng văn hoá : 20-150em được chia thành 2 lớp nhỏ:

se Từ 20-120cm: đất có màu xám đen, hiện vật ken dày, tập

trung nhiều nhất ở độ sâu 60-100em

e Từ 120-150cm: đất chuyển từ màu xám đen sang xám nhạt

Cát màu gỉ sắt xuất hiện thành những đám lớn Hiện vật thưa dần

+ Sinh thổ là cát biển trắng mịn, từ 150cm trở xuống

Kết hợp với trắc diện của hố khai quật, chúng tôi nhận thấy

các lớp đất có độ nghiêng ra phía biển Ở góc đông bắc, đá núi xuất

lộ dày hơn, bao gồm cả đá gốc và đá lăn xuống trong quá trình cư dân sinh sống

Trang 5

chat liéu khac nhau

+ Gốm thô là loại gốm làm bằng đất sét, pha nhiều cát hạt thô, lẫn nhiều tạp chất không được lọc, rửa

+ Gốm hơi thô là loại gốm được làm bằng đất sét đã qua quá

trình lọc rửa để loại bót những hạt cát thô và tap chất, chỉ đọng lại những hạt cát nhỏ nhưng tỷ lệ cát trong loại gốm này khá cao làm cho dé gốm có độ thô ráp tương đối lớn

+ Gốm mịn là loại gốm được làm bằng đất sét đã lọc rửa kỹ

hoặc được khai thác từ những nơi sét có chất lượng tốt Ở loại gốm

này chỉ có những hạt cát rất nhỏ và tỷ lệ cát rất thấp làm cho gốm

trơn nhẫn hoặc chỉ có độ ráp nhỏ

- Về kỹ thuật: gốm Chăm nhìn chung được sản xuất chủ yếu bằng kỹ thuật bàn xoay nên dáng hiện vật cân đối, tròn và dày

đều, kết hợp với một số kỹ thuật khác như gắn quai, nặn và gắn

vòi, miết láng Hoa văn trang trí đơn giản và đơn điệu (thừng,

chải, vòng tròn nhỏ chìm quanh cổ và vai vò, kendy ) Gốm Chăm

ở Bãi Làng mang nhiều đặc trưng của gốm Chăm cùng thời ở địa

điểm khác song loại hình và hoa văn đơn điệu hơn, chất liêu gốm thô xuất hiện song song với gốm mịn

- Về loại hình: gốm Chăm trong đợt khai quật tại địa điểm Bãi

Làng được chia thành 2 nhóm:

* Nhóm thứ nhất, nhóm gốm Chăm gia dụng bao gồm những

loại hình sau:

1.1 Nồi: Là loại đồ đựng không chân đế, dáng không ca0,

miệng nồi thường loe hoặc đứng, thân hình cầu hoặc bán cầu Nổi

nai công dụng chính là đun nấu và chứa đựng Phần lớn các

vật nồi trong các đợt thám sát và khai quật đều bị vỡ nát,

nanh miệng, mảnh thân, mảnh đáy

gốm ở Cù Lao Chàm phần lớn được làm bằng chất liệu gốm pha nhiều bã thực vật và cát Kỹ thuật chế tạo bằng bàn xoay,

a van đơn giản bao gồm văn thừng, văn khắc vạch vốn rất phổ

ién trong các loại hình nồi

Trang 6

Dua vào kiểu miệng, chúng tôi tạm chia thành hai loại hình

chính:

- Miệng nổi loe xiên với các kiểu dáng sau:

+ Kiểu miệng nổi loe xiên, vành miệng hẹp, vai thấp và hơi ngang so với mặt phẳng, thân nổi hình cầu dẹt, đáy tròn

+ Kiểu miệng nổi loe như trên, nhưng vai có nhiều gờ nổi + Nồi có miệng loe xiên, kích thước nhỏ, vai và thân nồi không

phân biệt rõ ràng

- Miệng nổi loe gần ngang với các kiểu dáng sau:

+ Kiểu miệng loe gần ngang với mặt phẳng, vành miệng nhô

mạnh ra ngoài, có gờ nhỏ bên trong, vai nồi hơi cụp vào

+ Kiểu miệng loe gần ngang, vai có gờ nổi, gãy góc so với thân + Kiểu nổi có miệng loe gần ngang, vai hẹp và thẳng, vai và thân gãy góc

Nhìn chung nồi gốm Chăm ở di chỉ Bãi Làng còn bảo lưu nhiều

yếu tố của nổi gốm trong văn hoá Sa Huỳnh: chất liệu, kiểu dáng,

hoa văn đơn giản, khá khác lạ so với loại hình nổi gốm có cùng

niên đại ở Trà Kiệu hoặc Cẩm Phô nhưng có nhiều nét tương đồng với loại hình và chất liệu ở di chỉ Đồng Nà (Hội An)

1.2 Vo vd kendy:

Xét về công dụng, vò và kendy có cùng công dụng chứa đựng

nhưng mỗi loại lại có những chức năng riêng biệt Vò để đựng nói

chung trong khi kendy chỉ thuần tuý chứa nước uống Tuy nhiên

do các hiện vật đều bị vỡ nát nên rất khó phân biệt cụ thể, vì vậy chúng tôi phải thống kê tổng hợp vò và kendy, trừ những mảnh

thân còn vòi chắc chắn thuộc loại hình kendy

Loại hình vò và kendy nhìn chung rất phổ biến trong các di chỉ Chàm cổ, trong đó phải kể đến bộ sưu tập kendy gốm Chăm ở di chỉ Trà Kiệu Trong các hố thám sát và khai quật ở Cù Lao Chàm,

số lượng mảnh thuộc loại hình đồ đựng này rất nhiều, qua xử lý

phân loại, chúng tôi rút ra một số ghi nhận sau:

- Vò kendy thường được sản xuất từ các loại chất liệu hơi thô

Trang 7

(phan lớn) hoặc mịn (ít) Kỹ thuật sản xuất chủ yếu bằng bàn xoay

(tạo bầu) kết hợp với nặn tay (tạo vòi kendy) sau đó gắn chắp và

miết láng Ở một số mảnh kendy còn cho thấy chúng được phủ một lớp áo gốm bằng sét loãng trước khi nung Độ nung trung bình nên xương gốm không được chắc

- Trang trí trên vò, kendy rất nghèo nàn và đơn điệu Phần lớn các hiện vật không được trang trí, ngoại trừ một số mảnh có những đường chỉ chìm chạy quanh thân có nguồn gốc từ kỹ thuật bàn

xoay

- Kiéu dáng chung của vò, kendy gồm các dạng sau:

+ Kiểu dáng miệng bao gồm:

e Miệng đứng, thấp, vòi gần ngang so với miệng, thân phình rộng Kiểu miệng này chủ yếu gắn với loại hình vò đựng

e Miệng có đường kính nhỏ, hơi loe xiên ra ngoài, cổ cao vừa phải hoặc thấp

+ Kiểu dáng đáy cũng gồm 2 dạng chính:

e Đáy bằng, không có vành chân đế chủ yếu ứng với loại hình

vò đựng

e Đáy có vành chân đế thấp chủ yếu thuộc loại hình kendy

1.3 Quai gốm: cong hình vành tai, tiết diện tròn đều gồm 01

tiêu bản được làm từ loại gốm hơi thô, màu đỏ nâu

1.4 Hũ cao cổ: gồm 01 tiêu bản bị vỡ chỉ còn phần miệng và it

phần vai Hũ được làm bằng chất liệu thô, xương gốm bở

1.5 Chén gốm gồm 04 tiêu bản:

+ Tiêu bản I: Chén nhỏ, đường kính trung bình 3cm, cao 2,5em, dày trung bình 0,3em được làm bằng chất liệu thô, màu xám đen, trong lòng chén còn vết cháy của một loại xỉ không xác

Trang 8

+ Tiêu bản 3: Cốc (hay ly gốm) có chân đế khá cao đã bị vỡ một

phân Miệng chén mỏng, loe (đường kính 11cm) và dày dần xuống đáy Chân đế rỗng, đường kính 3cm gãy phần dưới

+ Tiêu bản 4: Chén có miệng loe rộng, mép miệng vuốt mỏng,

đường kính miệng 10,7cm, thân chén khum, dày dần xuống đáy (1,3cm) Vành chân đế chén cao 0,9cm, dày 0,8em, đường kính

4cm Toàn thân chén cao 6em Chén được làm từ chất liệu hơi thô, xương gốm xốp màu vàng có nhiều sạn nhỏ

1.6 Bát bồng: Là loại đồ đựng gồm 2 phần: bát (hay đĩa đựng)

và chân đế

+ Tiêu bản 1: Chân đế bát bồng đã bị võ hết phần bát đựng phía trên Đế loe rộng (đường kính 8,8cm), thân đế thu nhỏ (đường

kính 45cm) Toàn bộ chân đế cao 3,6cm, dày trung bình 7mm Chân đế được làm từ chất liệu mịn, màu đỏ nhạt, độ nung cao

+ Tiêu bản 2: Phần đĩa đựng đã bị gãy mất chân đế, đường kính miệng 11em, đáy đĩa bồng thu nhỏ lại (32cm), day trung bình

0,4em Hiện vật được làm bằng chất liệu hơi thô, xương gốm đen

chắc

1.7 Lọ hoa: Gồm 1 tiêu bản đã bị vỡ cả phần miệng và đáy, thân rỗng hình ống tròn, phần trên hơi loe, đường kính từ 3,9 đến

5,6cm thân và đế được ngăn cách bởi một đáy mỏng Lọ hoa được

làm từ chất liệu hơi thô, xương gốm màu vàng nhạt

1.8 Cong: Là loại đồ đựng có dáng cao, cổ đứng và thấp, thân

cong đều, đáy bằng

Trong hố thám sát năm 1998 thu được một mảnh miệng và vai

của một chiếc cong làm bằng chất liệu gốm hơi thô, miệng đứng (cao 1,8em, day 1,3cm, đường kính 14cm), vai xuôi (đáy trung bình 0,8em) dưới mép miệng có một lỗ tròn nhỏ (0,6em)

*Nhóm thứ hai; nhóm gốm Chăm kiến trúc phát hiện chủ yếu

là các lỗi gạch nhỏ, đã bị bào mòn hầu hết và ngói

Nhìn chung, gốm Chăm ở Bãi Làng mang nhiều đặc trưng của gốm Chăm ở các điểm khác cùng thời song loại hình cũng như hoa

Trang 9

văn trang trí đơn điệu hơn, chất liệu gốm thô xuất hiện song song với gốm mịn

2 Gốm Trung Hoa

Ngoài một vài mảnh sứ Phúc Kiến, Quảng Đông, Cảnh Đức

Trấn trong lớp mặt và hố rác có niên đại khá muộn (thế kỷ XVII- XVIIID, đồ gốm sứ Trung Hoa trong các hố thám sát và khai quật

khá đồng nhất về tính chất và niên đại (thế kỷ VII-X) và đượẻ gọi

phận Kỹ thuật sản xuất chủ yếu bằng bàn xoay kết hợp với nặn tai (hoặc quai) và gắn lên vai

Vò gốm Đường được phát hiện trong các hố thám sát và khai quật ở di chỉ Bãi Làng với số lượng lớn, đa dạng về kích cỡ và loại

hình Dựa vào kiểu đáng miệng chúng tôi tạm chia thành các loại hình sau:

+ Miệng vò đứng, cổ cao và thẳng, kích thước khá lớn (như chum nhỏ) hoặc trung bình, vai xuôi, thân cao, đáy bằng

+ Miệng vò đứng, cổ thấp, mép miệng được vê tròn ra phía ngoài, kích thước khá lớn

2.2 Bát: Là loại đồ dùng rất phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày Bát thường có miệng loe, thân mỏng đều, đáy bằng hoặc có

Trang 10

trắng xám hoặc trắng sữa, độ nung khá cao nên xương gốm chắc (dạng bát sứ), hai mặt đều được tráng men trấu rạn màu vàng (phần lớn) hoặc men trắng sữa, men xanh nhạt-lơ vàng (ít)

- Về loại hình, dựa vào kiểu dáng đáy bát chúng tôi phân

thành các kiểu sau:

+ Bát có vành chân đế mỏng và thấp, trôn bát rộng và phẳng

như những bát vẫn dùng hiện nay

+ Bát có chân đế dày và thô, phía ngoài không tráng men trong lòng bát như men trấu rạn hoặc vẽ hoa (Bản vẽ 7) Bát gốm Đường

được sản xuất bằng kỹ thuật bàn xoay và phủ men hoặc vẽ hoa 6

một số tiêu bản còn thấy việc sử dụng hòn kê hình tròn, hình vuông khá phổ biến Qua nhận định bước đầu, chúng tôi cho

rằng phần lớn các mảnh bát (cũng như vò, ang ) phần lớn được

sản xuất tại các lò ở Quảng Đông, Việt Châu, Trường Sa

2.3 Đĩa gốm Đường thường có kiểu dáng như bát nhưng độ loe của miệng lớn hơn, lòng nông, đường kính miệng lớn nên dáng thấp Chất liệu và kỹ thuật sản xuất loại hiện vật này về cơ bản giống như các loại hình bát Số lượng hiện vật thuộc loại hình đồ

đựng này trong các hố thám sát và khai quật rất ít

9.4 Ấm Đường (kendy) phát hiện được 01 tiêu bản bị võ Ấm có dạng hình cầu dẹt, miệng được vê tròn (đường kính 11cm), vai

rộng, vòi ngắn Ấm được làm bằng chất liệu mịn, độ nung cao, phủ

men trấu rạn cả hai mặt, ấm có thể được sản xuất tại lò Việt Châu

2.5 Chậu gốm: Là loại hình đồ gốm gia dụng có dáng đứng

hoặc loe, đường kính miệng và đáy lớn Trong hố thám sát năm

1998 phát hiện được một chậu gốm có đường kính miệng 38cm,

thân loe, đáy chậu bị vỡ nên không xác định được chiều cao và đường kính đáy Chậu gốm được làm từ chất liệu mịn, phủ men rạn cả hai mặt, kỹ thuật dải cuộn kết hợp bàn xoay

2.6 Ang: Ang là loại đồ đựng nước bằng gốm, có hình dáng như chậu gốm nhưng thấp hơn, nông lòng, đáy bằng có gắn tai hoặc

Trang 11

không gắn tai Chất liệu gốm tương tự như các loại hình gốm

+ Về chất liệu gốm Đường phát hiện ở di chỉ Bãi Làng thường

có xương gốm mịn, màu trắng sữa hoặc xám hay xám đen, độ nung

khá cao nên xương gốm chắc Các hiện vật gốm này phần lớn đều

được phủ men trấu rạn màu vàng, ròn và rất dễ bong (vò, ấm, chậu, bát ), men trắng, men ngọc

Kỹ thuật sản xuất chủ yếu dùng bàn xoay kết hợp nặn tay (vòi

ấm, tai vò ), dải cuộn miết láng và ít được trang trí hoa văn Phần lớn hiện vật gốm sứ Trung Hoa ở Bãi Làng có xuất xứ từ các lò Việt Châu (Triết Giang), Trường Sa, Quảng Đông thuộc thời Đường (thế kỷ VII-X) Loại hình gốm Đường vốn đã phát hiện được rất nhiều ở miền Trung Việt Nam (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam ) và nhiều nơi ở Đông Nam Á: Laempho, Kakhokhao (Thái Lan) ” Việc phát hiện cá£loại hình gốm Đường phong

phú với số lượng lớn ở Cù Lao Chàm một mặt cho thấy vị thế của thương cảng, mặt khác thể hiện quá trình chuyển dịch mạnh từ

các mặt hàng xuất khẩu như lụa, vàng bạc của Trung Quốc sang các mặt hàng gốm sứ từ thế kỷ VII Đồng thời, phương thức vận chuyển hàng hoá Trung Quốc xuống Đông Nam Á ở thời điểm đó

thường sử dụng thuyền mành nên các đảo và cửa biển ở duyên hải

Trung Bộ ngày càng có vị trí quan trọng hơn Trong bối cảnh đó Cù Lao Chàm với vị thế thuận lợi của mình đã vươn lên thành thương cảng số một của vương quốc Chăm Pa

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  sau  đây: - Kết quả thám sát và khai quật di chỉ Bãi Làng Cù Lao Chàm( Quảng Nam) năm 1998 - 1999.PDF
nh sau đây: (Trang 9)
Hình  thành  tuyến  vận  tải  biển  (Seaborne)  từ  biển  Đỏ  -  vịnh  Ba  Tu- - Kết quả thám sát và khai quật di chỉ Bãi Làng Cù Lao Chàm( Quảng Nam) năm 1998 - 1999.PDF
nh thành tuyến vận tải biển (Seaborne) từ biển Đỏ - vịnh Ba Tu- (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm