Những phương pháp thực tiễn bao gồm bối cảnh của nghiên cứu, thu thập dữ kiện, hệ thống hóa dữ kiện, cộng tác cùng đồng nghiệp, thí nghiệm, tìm tòi và khám phá, phân tích thống kê, viết
Trang 1PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 2KHOA HỌC VÀ CUỘC SỐNG
Trang 4Mục tiêu – yêu cầu
1 Nắm bắt các kiến thức cơ bản về phương pháp nghiên cứu khoa học ngay ca từ
những năm đầu học đại học va tiep tuc học tập ở bậc sau đại học đạt hiệu quả hơn
2.Cách chọn lựa đề tài nghiên cứu, giới hạn vấn đề - phạm vi nghiên cứu, lập đề cương chi tiết, lên kế hoạch trước khi bắt tay vào triển khai nghiên cứu
3 Phương pháp thu thập và xử lý các tài liệu tham khảo/ thông tin thứ cấp; cũng như các
kỹ thuật thiết kế nghiên cứu để thu thập thông tin sơ cấp.
4.Cách thức viết, trình bày bản báo cáo kết quả nghiên cứu – Đặc biệt là tập trung vào việc giúp hoc viên luyện tập để có thể thực hiện được các tiểu luận, đề án, luận văn tốt
nghiệp ,luan van thac sy , luan an tien sy ….
5 Rèn luyện các kỹ năng trong nghiên cứu khoa học:
Kĩ năng hiểu biết lịch sử chuyên ngành
Kĩ năng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
Kĩ năng tìm kiếm thông tin khoa học kĩ thuật
Các công cụ tìm kiếm thông tin tham khảo được sử dụng nhiều nhất là các bộ máy tìm kiếm trên mạng như
Google (71,4 %), Yahoo (9,5 %).
Kĩ năng nghiên cứu và tổng hợp tài liệu
Kĩ năng ngoại ngữ
Trang 8NỘI DUNG MÔN HỌC
CHƯƠNG 3 CÁC PP NCKH
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC VÀ NCKH
Trang 10Khái niệm về khoa học
Khoa học là tập hợp : Những phương pháp trí tuệ và Những phương pháp Tthực tiễn
Æ dùng để diễn tả và giải thích những hiện tượng quan sát được
hay suy đoán được, trong quá khứ hay hiện tại,
Æ nhằm xây dựng hệ thống tri thức có thể bác bỏ hay xác nhận được.
• Khoa học là một phương pháp suy nghĩ và hành động
Æ nhằm vào mục đích hiểu và cảm nhận được thế giới chung quanh một cách trực tiếp hay gián tiếp, quá khứ hay hiện tại
Những phương pháp trí tuệ : linh cảm, ước đoán, tư tưởng, giả thuyết, lí thuyết, và mô
hình
Những phương pháp thực tiễn bao gồm bối cảnh của nghiên cứu, thu thập dữ kiện, hệ
thống hóa dữ kiện, cộng tác cùng đồng nghiệp, thí nghiệm, tìm tòi và khám phá, phân tích thống kê, viết báo cáo khoa học, trình bày trong các hội nghị khoa học, và công bố kết quả nghiên cứu
• Khoa học dựa vào sự thật (facts).
Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách
Trang 11KHÁI NIỆM VỀ KHOA HỌC
TƯỢNGVÀ KHÁI QUÁT VỀ :
• NHỮNG THUỘC TÍNH KẾT CẤU, CÁC MỐI LIÊN HỆ BẢN CHẤT, NHỮNG QUY LUẬT CỦA TỰ NHIÊN, XÃ HỘI, CON NGƯỜI;
• NHỮNG BIÊN PHÁP TÁC ĐỘNG TỚI THẾ GIỚI, ĐẾN SỰ NHẬN THỨC, CẢI BIẾN HIỆN THỰC, PHỤC VỤ CHO CON NGƯỜI
Trang 12KHÁI NIỆM VỀ
KHOA HỌC
NGUỒN GỐC
Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và
không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội
NỘI DUNG Khoa học (KH) là hệ thống những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về những qui luật phát triển khách quan của
tự nhiên, xã hội và tư duy,
VAI TRÒ, TÁC DỤNG
- KH là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội Nắm được các qui luật vận động tn,xh.td
- Có ý thức trong nhận thức KH Chống lại những
quan điểm sai trái (mê tín dị đoan,…)
- Khoa học làm giảm nhẹ lao động Cải thiện chất lượng cuộc sống
HiNH THƯC THỂ HIỆN
LÔ GÍC – TRỪU TƯỢNG
Trang 131 KHOA HỌC LÀ HỆ THỐNG TRI THỨC VỀ
NHỮNG THUỘC TÍNH KẾT CẤU, CÁC MỐI LIÊN HỆ BẢN CHẤT, NHỮNG QUY LUẬT CỦA TỰ NHIÊN,
XÃ HỘI, CON NGƯỜI;
NHỮNG BIÊN PHÁP TÁC ĐỘNG TỚI THẾ GIỚI, ĐẾN SỰ NHẬN THỨC, CẢI BIẾN HIỆN THỰC, PHỤC
VỤ CHO CON NGƯỜI
2 KHOA HỌC LÀ MỘT QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
3 KHOA HỌC LÀ MỘT QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC :
TỒN TẠI ĐỘC LẬP, VÀ QUAN HỆ MẬT THIẾT VỚI CÁC HTYT XH KHÁC; PHẢN ÁNH VÀ CÓ CHỨC
NĂNG XÃ HỘI
4 KHOA HỌC LÀ MỘT HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP CÓ TÍNH XÃ HỘI ĐẶC THÙ
CẦN CÓ CÁC ĐK, PHƯƠNG TIỆN VẬT CHẤT, LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG NHẤT ĐỊNH; CÓ QUY TRÌNH
HOẠT ĐỘNG CHẶT CHẼ; TẠO RA CÁC HIỆU QUẢ XÃ HỘI.
ĐẶC ĐIỂM CỦA KHOA HỌC
Trang 14Vai trò của khoa học ?
1 Từ lâu, con người đã biết vận dụng các phát minh khoa học vào cuộc sống của
con người lâu dài Điều đó diễn ra từ nền văn minh Lưỡng hà, tức khoảng 4500 : người Sumerian sáng tạo ra chữ viết, toán học, lịch, và thiên văn học phục vụ cho nông nghiệp, chính trị, và tôn giáo và triển mạnh kể từ thế kỷ 14 Tạo nên thời kỳ cách mạng khoa học :
2 Tư tưởng khoa học đã giải phóng con người khỏi những tăm tối (Dark Age), ở thời
kỳ mà các ý thức hệ tôn giáo mộng mị thống trị niềm tin của con người qua
hàng ngàn năm.
3 Khoa học xây dựng nên thế giới hiện đại với xe ô-tô, xe tăng, máy bay, điện lực,
điện thoại, máy điện toán (computers), liên mạng (internet), v.v
Khoa học giúp cho con người du hành vào mặt trăng.
4 Khoa học góp phần làm tăng tuổi thọ của con người và con người sống lâu gấp hai
lần so với 150 năm trước đây.
5 Sự đóng góp của khoa học vào xã hội cực kỳ to lớn, và nó là một bộ phận không
thiếu được trong xã hội hiện đại
6 Ngày nay khoa học đã trở thành llsx trực tiếp
Tạo ra ngành nghề mới ,chất liệu mới Thời gian từ phát minh đến ưng dụng ngày càng giảm Thay thế tri thức kinh nghiệm bằng tri thức khoa học Thay dổi tỉ trọng của đội ngũ lao động
Trang 15NGUỴ KHOA HỌC
• Sự phát triển của khoa học thường phải đi đôi với một phong trào khoa học giả tạo, hay ngụy khoa học với những tư tưởng , quan điểm là những lí lẽ mà bề ngoài xem ra có vẻ đúng, hợp lí, nhưng sự thật là sai, rút ra những kết luận xuyên tạc sự thật.
• Đánh giá về ngụy khoa học :
+ Với giới chuyên môn và khoa bảng, họ không quan tâm đến NKH vì họ cho đó là những trò chơi giải trí, và họ xem những người làm việc theo NKH là những diễn viên múa rối lố bịch
có chức năng chính là đóng hài kịch cho xã hội mua vui,đó là một thái độ thụ động, và hậu quả
có thể rất xấu
+ NKH gây tác hại tới xã hội:
Trong quá khứ, NKH đã từng xâm nhập vào chính trị và gây ra nhiều cuộc tàn sát đẩm máu ( thời Hitler và thuyết siêu chủng tộc).
NKH còn có thể xâm nhập vào học đường và có thể làm băng hoại học sinh, sinh viên NKH, vì tính đơn giản của nó, còn làm cho chúng ta trở nên nô lệ với những cái tầm
thường.
Trang 16ĐẶC ĐIỂM NGUỴ KHOA HỌC
1 Giới ngụy khoa học thường có khuynh hướng xem nhẹ sự thật và cơ sở lập luận.
Những nhà viết tiểu thuyết hay sáng chế ra những "sự thật ma" ( Norman Mailer gọi là
"factoid" (tức giống-sự-thật) ), không cần tìm hiểu thực tế Cách làm việc đó lại được giới làm ngụy khoa học trân trọng
Nhà ngụy khoa học chẳng cần tốn công đi vào thực tế để thu thập dữ kiện (data) thật mà chỉ đưa ra những dữ kiện ma, và từ đó đúc kết thành kết luận.
Đưa ra kết luận, không cần phải duyệt lại kết luận đó đúng hay sai
Sách của giới ngụy khoa học thì chẳng bao giờ thay đổi, cứ hết tháng này sang năm nọ, những dữ kiện ma, và kết luận cứng như đá
2 , Phương pháp làm việc: mang tính rời rạc, chấp nối
Cắt xén một mớ bản tin trong các tờ báo dành cho công chúng,
Thu thập những tin đồn,
Đọc những tài liệu ngụy khoa học, hay trích dẫn từ kinh thánh hay những chuyện thần thoại.
Không kiểm tra nguồn gốc và tính chính xác của tài liệu sử dùng
Không làm những cuộc điều tra khoa học có hệ thống và độc lập, Kết luận trước khi thu thập dữ kiện
3 Giới ngụy khoa học đi liền giả thuyết cảm tính: giả thuyết có thể làm hấp dẫn và kích động công chúng
Tìm bất cứ dữ kiện,tin tức nào – làm nền tảng cho niềm tin đó
Bỏ qua những bằng chứng nào mâu thuẫn với niềm tin của họ.
Nói rõ hơn, giới ngụy khoa học cố gắng hợp lí hóa những niềm tin, thiếu kiên nhẫn, sẵn sàng đi tới kết luận đã có sẵn, và sẵn sàng nghiền nát những trục ý thức hệ khác mình
Trang 17• 4 Ngụy khoa học hoàn toàn không quan tâm đến những tiêu chuẩn về
• 5 Ngụy khoa học dựa vào những giá trị chủ quan.
Trong mỗi giai đoạn có một số phương pháp thu thập kiến thức tương ứng Trước khi khoa học ra đời ; người ta thường hay dựa vào ý kiến của những người có thẩm quyền, như Jesus chẳng hạn, để giải thích sự kiện.
Ngày nay, phương pháp thông dụng nhất, ít ra là trong thế giới văn minh, là phương pháp khoa học: có thể phán xét dựa vào dữ kiện được thu thập một cách khách quan.
• 6 Ngụy khoa học đơn giản hóa vấn đề quá mức.
Đối với họ, những lí thuyết không có giá trị vì lí thuyết thường phức tạp và trừu tượng
mà họ có khi không cách gì hiểu được
Đơn giản hóa vấn đề thành những trắng/đen, có/không, đúng/sai, bạn/thù, và từ đó khái quát hóa cho xã hội
Đựa ra những thông tin không đầy đủ về thiên nhiên, hơn là dựa vào những gì mà người ta biết được hiện tại
ĐẶC ĐIỂM NGUỴ KHOA HỌC
Trang 18• 7 Ngụy khoa học không đưa ra những nhận định dựa vào thử nghiệm.
John Stuart Mill từng nói "Nếu có một khoa học mà tôi có thể đề xướng, tôi nghĩ đó là khoa học của khoa học, tức là khoa học nghiên cứu, hay phương pháp“
Phương pháp khoa học là phương pháp nghiên cứu, thử nghiệm, và suy luận Trong khoa học chân chính, mọi lí thuyết, giả thiết, ý kiến đều phải được thử nghiệm
Ngụy khoa học không làm những thí nghiệm, điều tra cẩn thận, có phương pháp
8 Ngụy khoa học không cần phân tích thống kê
• Những sự kiện xảy ra hàng ngày luôn thay đổi
Do đó khi thu thập dữ kiện, người làm khoa học chân chính phải cân nhắc kỹ càng những khía cạnh như: số lượng dữ kiện, thời gian theo dõi, và những yếu tố liên quan.
Sau đó, dùng các phương pháp thống kê để phân tích xác định xem bao nhiêu mức độ biến chuyển của những dữ kiện đó là do các yếu tố ngẫu nhiên gây nên, và bao nhiêu là do các yếu tố không ngẫu nhiên tạo thành; từ đó, nhà nghiên cứu mới dám đưa ra một nhận xét hay một kết luận mà các yếu tố ngẫu nhiên đã được loại bỏ
Ngụy khoa học, chỉ một bằng chứng là đủ, không cần phải thu thập thêm bằng chứng; hay
có thu thập thêm, nhưng không phân tích dữ kiện bằng các phương pháp toán học và thống kê học, vì những phương pháp này quá … phức tạp.
Thực ra, họ cũng chẳng biết đến những nguyên tắc để thẩm định dữ kiện, nên nếu vớ
được một mẫu tin nào là dùng ngay mà không cần xem xét nó đúng hay sai
ĐẶC ĐIỂM NGUỴ KHOA HỌC
Trang 19• 9 Ngụy khoa học dựa vào ý kiến người có thẩm quyền ("appeal to authority").
Trong khoa học, trích dẫn ý kiến người khác hay tham khảo tài liệu nghiên cứu của những người đi trước là nhằm tạo thêm nền tảng cho lập luận, để so sánh và cân nhắc, và ghi nhận đóng góp của họ
Nhưng ngụy khoa học, việc trích dẫn được lạm dụng như là một sự đe dọa, một loại lạm dụng quyền lực Một người học về kỹ thuật cũng có thể chấp nhận là một chuyên gia trong y học, nghiên cứu khoa học Nếu bí không có bằng chứng, ngụy khoa học giải thích bằng những âm mưu huyền bí
Tại sao Giáo sư A không bàn về đề tài X nhỉ? À, theo giới ngụy khoa học, vì ông
ta đồng loã với chính quyền để dấu nhẹm vấn đề, không cần biết Giáo sư A không phải là chuyên viên về đề tài X Một cách suy bụng ta ra bụng người!
• 10 Ngụy khoa học có xu hướng giải thích theo kiểu "tùy cơ ứng biến.“
Ngụy khoa học không bao giờ phát triển được một lí thuyết có nền tảng dựa vào
sự thật, tiêu chuẩn, nên luôn diễn dịch sự kiện tùy theo từng hoàn cảnh và thậm chí theo từng nền văn hóa
Một câu nói trong Kinh Thánh có thể được diễn dịch tùy theo người muốn hiểu
nó, và áp dụng tùy theo trường hợp Một con số 9/11 ở Mỹ có thể diễn dịch thành 11/9 ở Âu châu hay Úc châu để cho ra những suy luận càn rỡ, huyền bí về khủng
bố Ngoài ra, ngụy khoa học chỉ cho chúng ta một câu chuyện, và chỉ là một câu
chuyện; họ không mô tả những tiến trình khả dĩ cho câu chuyện
Ví dụ như nhà ngụy khoa học Velikovski tuyên bố rằng một hành tinh khác đang tiến gần đến trái đất và sẽ làm cho trái đất đảo ngược, nhưng ông ta không giải thích tại sao
ĐẶC ĐIỂM NGUỴ KHOA HỌC
Trang 20Giới ngụy khoa học sống nhờ vào việc buôn bán những sản phẩm đáng ngờ (sách, báo, dầu ăn, v.v.) hay xuất hiện trên đài phát thanh, đài phát hình để tìm đến danh vọng và ủng hộ chính trị
Không nhắm vào danh vọng và thị trường kinh tế hay chính trị
Không tiến bộ, lí thuyết và kết luận không bao giờ được thay đổi
Ý tưởng cũ không bao giờ được bỏ bất kể bằng chứng mới ra sao
Theo thời gian, các nhà khoa học tìm tòi và học hỏi thêm và
duyệt lại những kết luận hay lí thuyết cũ Một khi bằng chứng
mới mâu thuẫn với bằng chứng cũ, bằng chứng cũ sẽ bị thay
Thuyết phục bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa vào logic hay
lập luận của toán học, bằng cách dựa vào dữ kiện, không đi ra
ngoài dữ kiện
Đối với giới làm ngụy khoa học, những thất bại thường được bỏ qua, dấu đi, hay chối bỏ
Đối với các nhà khoa học, tất cả những thất bại đều được khai
thác, xem xét kỹ lưỡng để học hỏi từ đó Những lí thuyết sai lầm
có thể cho ra những kết quả đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy nhiên,
không một lí thuyết đúng nào có thể cho ra những kết quả sai
lầm
Kết quả không có khả năng lặp lại hay kiểm tra Mọi "nghiên cứu," nếu có, thường được mô tả một cách mù mờ, ỡm ờ, để cố tình không cho người khác biết rõ là họ đã làm gì và làm bằng cách nào
Mọi kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận Nói
một cách khác, giả sử có một nghiên cứu đã được công bố bởi
một nhà khoa học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại
nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với điều kiện đã
được mô tả, phải đạt được những kết quả tương tự
Tài liệu của ngụy khoa học chủ yếu nhắm vào công chúng Vì nhắm vào công chúng nên giới ngụy khoa học thường đăng bài
ở những tạp chí dành cho người không chuyên môn, và do đó, bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay tính chính xác
Tất cả những phát hiện, khám phá của khoa học được lưu
truyền chủ yếu trong các tập san chuyên khoa, những tập san
này được giới chuyên môn quản lí và điều hành Các báo cáo
được chấp nhận công bố trong các tập san này đều được qua ít
nhất là ba đồng nghiệp kiểm tra về sự chính xác và phương
pháp, bằng những tiêu chuẩn khoa học, do đó phẩm chất của
chúng khá cao và đáng tin cậy
Ngụy khoa học Khoa học
Trang 21Giới ngụy khoa học sống nhờ vào việc buôn bán những sản phẩm đáng ngờ (sách, báo, dầu ăn, v.v.) hay xuất hiện trên đài phát thanh, đài phát hình để tìm đến danh vọng và ủng hộ chính trị
Không nhắm vào danh vọng và thị trường kinh tế hay chính trị
Không tiến bộ, lí thuyết và kết luận không bao giờ được thay đổi
Ý tưởng cũ không bao giờ được bỏ bất kể bằng chứng mới ra sao
Theo thời gian, các nhà khoa học tìm tòi và học hỏi thêm và
duyệt lại những kết luận hay lí thuyết cũ Một khi bằng chứng
mới mâu thuẫn với bằng chứng cũ, bằng chứng cũ sẽ bị thay
Thuyết phục bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa vào logic hay
lập luận của toán học, bằng cách dựa vào dữ kiện, không đi ra
ngoài dữ kiện
Đối với giới làm ngụy khoa học, những thất bại thường được bỏ qua, dấu đi, hay chối bỏ
Đối với các nhà khoa học, tất cả những thất bại đều được khai
thác, xem xét kỹ lưỡng để học hỏi từ đó Những lí thuyết sai lầm
có thể cho ra những kết quả đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy nhiên,
không một lí thuyết đúng nào có thể cho ra những kết quả sai
lầm
Kết quả không có khả năng lặp lại hay kiểm tra Mọi "nghiên cứu," nếu có, thường được mô tả một cách mù mờ, ỡm ờ, để cố tình không cho người khác biết rõ là họ đã làm gì và làm bằng cách nào
Mọi kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận Nói
một cách khác, giả sử có một nghiên cứu đã được công bố bởi
một nhà khoa học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp lại
nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với điều kiện đã
được mô tả, phải đạt được những kết quả tương tự
Tài liệu của ngụy khoa học chủ yếu nhắm vào công chúng Vì nhắm vào công chúng nên giới ngụy khoa học thường đăng bài
ở những tạp chí dành cho người không chuyên môn, và do đó, bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay tính chính xác
Tất cả những phát hiện, khám phá của khoa học được lưu
truyền chủ yếu trong các tập san chuyên khoa, những tập san
này được giới chuyên môn quản lí và điều hành Các báo cáo
được chấp nhận công bố trong các tập san này đều được qua ít
nhất là ba đồng nghiệp kiểm tra về sự chính xác và phương
pháp, bằng những tiêu chuẩn khoa học, do đó phẩm chất của
chúng khá cao và đáng tin cậy
Trang 22Ý nghĩa thực tế của danh hiệu khoa học,nhà khoa học, nckh
Đó không phải là những phù hiệu ,những tên gọi tự phong Mà là những việc làm thực tiễn, những ý nghĩ hay sáng kiến mới.
Muốn có những sáng kiến mới và làm nghiên cứu thực tế, nhà khoa học phải làm việc một cách gian khổ, lâu dài, không vụ lợi ; không đồng nghĩa với những loại lao động trên máy computer
và internet
Khoa học là đỉnh cao của sự chính trực, công bằng, và hợp lí ( Nhưng trơn và dễ bị trượt ) Người ta cần phải có một sự cố gắng tột bực mới đến gần hay đứng trên đó được, và càng
phải cố gắng hơn để ở được cái vị trí ấy
Khi nhà khoa học buông lỏng , uể oải dễ dàng trượt sang ngụy khoa học
Khẳng định sự khác biệt giữa khoa học và ngụy khoa học,làm căn cứ nhận định cho các bài viết được công bố và xây dựng thái độ nckh nghiêm túc có hiệu quả
Đồng thời tránh rơi vào ngụy khoa học.
Trang 24Hệ thống bằng cấp bậc sau đại học
Rất phức tạp và có sự khác nhau giữa các quốc gia, không những về
tên gọi, danh xưng, mà còn ở tiêu chuẩn và phương cách đào tạo:
Graduate Diploma
Master
Doctorate
V.V…
Graduate Diploma: Đây là một loại văn bằng chỉ phổ biến ở Anh
và một số nước còn chịu ảnh hưởng hệ thống giáo dục của Anh Như tên gọi của văn bằng ám chỉ (Diploma có gốc Hy Lạp,
"Diplous" có nghĩa là "gấp đôi"), Graduate Diploma(7) là một văn bằng học thêm Thực vậy, Graduate Diploma thường dành cho (i) những người muốn theo học các môn học mà không cùng môn học
ở bậc cử nhân mà họ đã có (chẳng hạn như sinh viên đã có bằng cử nhân về toán, nhưng muốn theo học hậu đại học nghành quản lý);
và (ii) những người không đủ khả năng hay điều kiện học bậc
Master Thời gian học Graduate Diploma thường từ 1 tới 2 năm Sinh viên không cần làm luận án tốt nghiệp
Trang 25• Master: Chữ "Master" có gốc từ tiếng Anh cổ, "maegester"; và chữnày tự nó được vay mượn từ tiếng Pháp cổ, "maistre" có nghĩa là
"thầy" Cũng như ở bậc cử nhân, hai văn bằng Master of Science (M.Sc hay M.S.) và Master of Arts (M.A.) là hai văn bằng thông dụng nhất ở
bậc hậu đại học Tuy nhiên cũng có những văn bằng chuyên môn chocác ngành chuyên môn khác như kinh tế (Master of Economics), luật
(Master of Law), kỹ thuật (Master of Engineering), v v Riêng tại Mỹ, cókhoảng 500 văn bằng Master khác nhau! Theo thống kê ở Mỹ, vào đầuthế kỷ 20, các trường đại học Mỹ đã cấp 1015 văn bằng master; cho
đến năm 1960, con số này tăng lên khoảng 141 ngàn, và đến năm
1998, khoảng 420 ngàn
• Chương trình học Master, cũng giống như chương trình Graduate Diploma, là nhằm vào mục tiêu đào tạo những chuyên viên kỹ thuật chocác cơ quan chính phủ và công ty Sau khi tốt nghiệp, những người nàyphải có một khả năng chuyên môn vừa sâu, vừa vững vàng, có thể đápứng cho nhu cầu thực tế của một cơ quan hay công ty Chương trình
Master thường dành cho những sinh viên đã có bằng cử nhân cùng
nghành
Trang 26• Doctorate: đào tạo những khoa học gia chuyên nghiệp (professional
scientists), những chuyên viên nghiên cứu cấp cao cho các công ty kỹ nghệ
và các cơ quan nghiên cứu thuộc chính phủ Những người này đóng vai tròthen chốt cho nền khoa học của một nước và là nguồn cung cấp nhân lựcgiảng dạy cho các trường đại học Thời gian học từ 3 tới 6 năm Trong thờigian nghiên cứu, NCS phải công bố ít nhất là 3 bài báo khoa học trên cáctạp chí có "peer-review" (tức được duyệt bởi các nhà khoa học làm cùngngành) Luận án thường được hai khoa học gia có uy tín trong nước và mộthoặc hai khoa học gia uy tín ngoài nước duyệt xét và phê chuẩn
• Thời gian duyệt xét luận án từ 6 tháng tới 1 năm
Các nước Tây phương : Mỹ, Canada, Úc, và Anh, văn bằng tiến sĩ làvăn bằng cao nhất trong hệ thống giáo dục hậu đại học Tuy nhiên, có vàikhác biệt về tên gọi các văn bằng doctorate này giữa các nước
• Ở Anh và Úc, có ba dạng tiến sĩ riêng biệt:
• Ph.D (Doctor of Philosophy) cho tất cả các nghành (kể cả y khoa),
• M.D (Doctor of Medicine) riêng cho y khoa,
• D.Sc (Doctor of Science) cho tất cả các nghành khoa học
• Học vị D.Sc., trên lý thuyết, được xem cao hơn cả vì một trong những điềukiện được theo học D.Sc là thí sinh phải có học vị Ph.D hay M.D ít nhất là
10 năm và đã có đóng góp lớn trong NCKH trên trường quốc tế
Hệ thống bằng cấp bậc sau đại học
Trang 27Tiến sĩ và Bác sĩ: Tiếng Việt phân biệt Tiến sĩ và Bác sĩ; còn tiếng Anh đều gọi là
"Doctor" Có sự khác biệt giữa văn bằng M.D của Úc/Anh Quốc và M.D của Mỹ
Không giống như ở Mỹ, nơi mà y khoa được dạy như một chương trình hậu đại học
("Graduate study", tức sau khi sinh viên đã xong chương trình Cử nhân); ở Úc và Anh, các sinh viên học y khoa được tuyển thẳng từ các trường trung học, và do đó, chươngtrình y khoa được xem là bậc đại học ("Undergraduate"), mặc dù thời gian huấn luyệntương đương
Sinh viên y khoa Mỹ ra trường với văn bằng M.D (Doctor of Medicine, Tiến sĩ Y
khoa), các đồng nghiệp của họ ở Úc ra trường với hai bằng cử nhân M.B và B.S
(Bachelor of Medicine và Bachelor of Surgery, Cử nhân Y khoa và Cử nhân Giải phẫu)
Dù văn bằng là cử nhân, nhưng danh xưng của họ là "Bác sĩ" (Doctor)
Ở Úc, các bác sĩ đã có văn bằng M.B B.S có thể ghi danh theo học tiếp chươngtrình Ph.D hay M.D
Chương trình Ph D đào tạo các bác sĩ thành những nhà khoa học chuyên nghiệp, có
khả năng nghiên cứu độc lập
Chương trình M.D đào tạo các bác sĩ thành những chuyên gia lâm sàng (clinical
science) hơn là khoa học cơ bản (basic science)
Thông thường, sinh viên phải làm một hay hai cuộc nghiên cứu lâm sàng (clinical
studies) và viết luận án dựa trên các nghiên cứu này
Chương trình học M.D thông thường là 2 cho tới 3 năm (ngắn hạn hơn Ph D.) Do đó, văn bằng M D của Úc và Anh không có cùng nghĩa với văn bằng M.D của Mỹ
Trang 28Học vị là những văn bằng được cấp bởi các cơ sở giáo dục cho học sinh sau khi đã hoàn tất một chương trình học.
Học hàm là những chức vụ khoa bảng hoặc do chính phủ hoặc do các
trường đại học đề bạt hay trao tặng cho những người giảng dạy hay nghiên cứu khoa học: Professor, Lecturer, và Fellow
Ngày nay, hầu hết những người làm công tác giảng dạy đại học đều phải có học vị tối thiểu là Master, nhưng thường là Doctorate hay tương đương.
Trong các trường đại học Tây phương, người ta phân biệt ba cấp nhân viên giảng dạy , tạm gọi [theo chức năng và trình độ] là: tập sự, trung cấp, và cao cấp
- Tập sự gồm các chức vụ như Teaching Assistant, Tutor Proctor, v.v , có trách nhiệm làm phụ giảng, chấm bài thi, giám thị trong phòng thí nghiệm, v.v
- Trung cấp gồm những nhân viên khoa bảng mang học hàm như Lecturer (ở Anh
và Úc), Maitre Assistant (Pháp) và Assistant Professor (Mỹ), có nhiệm vụ trực tiếp giảng dạy sinh viên và làm nghiên cứu hoặc độc lập, hoặc dưới sự chỉ đạo của các giáo sư thâm niên.
Hệ thống học hàm
Trang 29Trên trung cấp một bậc là những nhân viên khoa bảng mang học hàm Reader (ở Anh và Úc), Maitre de Conférence (Pháp) và Associate Professor (Úc
và Mỹ) đang ở trong thời kỳ "quá độ" tới một chức vụ khoa bảng cao nhất
trong hệ thống học hàm đại học Họ cũng là những nhà nghiên cứu độc lập và
có ít nhiều uy tín trong chuyên môn.
- Cao cấp, hàm Professor (Mỹ, Anh, Úc), Professeur (Pháp) ,Senior Fellow (Anh , Úc), có kinh nghiệm lâu năm , có uy tín trên trường KH quốc tế.
Tiêu chuẩn : nghiên cứu, giảng dạy, và phục vụ cộng đồng
Nghiên cứu, mức độ cống hiến cho kiến thức nhân loại được "đo lường" bằng số lượng và chất lượng các bằng sáng chế (patents) hay các bài báo
khoa học (papers) được công bố trong các tạp chí khoa học chuyên môn Tùy theo trường đại học, một Assistant Professor phải có ít nhất là 5 bài báo khoa học; một Associate Professor thường phải có tối thiểu là 30 bài báo khoa học;
và một Professor phải có tối thiểu là 50 (thường là 100) bài báo khoa học.
Hệ thống học hàm
Trang 30Học hàm "kết hợp"
Ngoài các học hàm được phong hay đề bạt một cách nghiêm túcdựa trên thành tích hoạt động khoa học và giảng dạy, trong một số
ngành như y khoa, kinh tế, và kỹ thuật, một số học hàm được trao
tặng dựa vào sự quan hệ của người được trao và trường đại học Trong các bệnh viện, một số bác sĩ chuyên khoa cao cấp, tuy khônglàm nghiên cứu khoa học và chẳng có công bố công trình khoa họcnào đáng kể, có thể được bổ nhiệm chức vụ Lecturer, Assistant
Professor, Associate Professor hay thậm chí Professor trong các
trường Y
Tương tự, một số chuyên viên nghiên cứu khoa học trong các công
ty thương mại, tuy không giảng dạy, nhưng cũng được trao tặng cácchức vụ khoa bảng trên
Trang 31Những "nhà khoa bảng" này không được trường đại học trả lương, và
không phải là nhân viên chính thức của trường Nhưng khi họ công bố các bài báo khoa học thì trường có quyền kể những bài báo đó như tài sản tri thức của nhà trường! Tuy nhiên, bù lại, họ được phép dùng những danh xưng khoa bảng của trường trong các văn bản liên quan đến hoạt động khoa học
Những học hàm này thường có chữ "Conjoint" hay "Adjunct" phía trước
danh xưng "Professor" hay "Associate Professor" để phân biệt với những học hàm "thật" Việc dùng những danh xưng này, trên lý thuyết, thường được các trường đại học kiểm tra rất gắt gao; nhưng trong thực tế, một số người được trao những học hàm này thường lờ và bỏ đi những chữ "Conjoint" hay
"Adjunct" để được người ngoài hiểu như những nhà khoa bảng thật!
Học hàm "kết hợp"
Trang 34PHAN LOAI KHOA HỌC
1 CO NHIEU CACH
+ THEO LINH VUC + THEO TINH CHAT +THEO CHIEU HUONG SU
DUNG +…
2 ĐAM BẢO CÁC NGUYÊN TẮC
1 KHÁCH QUAN
2 PHỐI THUỘC
Trang 35PHAN LOAI KHOA HỌC THEO LĨNH VỰC
Trang 37• Những "nhà khoa bảng" này không được trường đại học trả lương, và không phải là nhân viên chính thức của trường Nhưng khi họ công bố các bài báo khoa học thì trường có quyền kể những bài báo đó như tài sản tri thức của nhà trường! Tuy nhiên, bù lại, họ được phép dùng những danh xưng khoa bảng của trường trong các văn bản liên quan đến hoạt động khoa học Những học hàm này thường có chữ "Conjoint" hay "Adjunct" phía trước danh xưng "Professor" hay "Associate Professor" để phân biệt với những học hàm "thật" Việc dùng những danh xưng này, trên lý thuyết, thường được các trường đại học kiểm tra rất gắt gao; nhưng trong thực tế, một số người được trao những học hàm này thường lờ và bỏ đi những chữ "Conjoint" hay "Adjunct" để được người ngoài hiểu như
những nhà khoa bảng thật!
Trang 39Vận động hoá học
Vận động của các nguyên tử,các quá trình hoá
hợp và phân giải các chất
Trang 40SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
1 Nhu cầu của con người (ghi chép, truyền đạt, lao động).
2 Nhu cầu của chính khoa học
3 Phát hiện sự kiện (do nghiên cứu, do giao lưu, viễn chinh)
4 Sự xuất hiện của ngôn ngữ
NGUYÊN NHÂN