Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu khoa học nói chung và làm niên luận, khóa luận, luận văn, luận án nói riêng thuộc chuyên ngành lịch sử, chúng tôi tiến hành biên soạn t
Trang 1MỤC LỤC Trang
Mục lục 1
Mở đầu 4
1 Lí do và mục đích biên soạn tài liệu 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến tài liệu tham khảo 5
3 Phương pháp nghiên cứu, biên soạn 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 6
1.1 Khoa học 6
1.1.1 Định nghĩa khoa học 6
1.1.2 Đối tượng, nội dung và nhiệm vụ của khoa học 7
1.1.3 Phân loại khoa học 7
1.2 Nghiên cứu khoa học 10
1.2.1 Định nghĩa nghiên cứu khoa học 10
1.2.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học 11
1.2.3 Các loại hình nghiên cứu khoa học 12
1.2.3.1 Phân loại theo chức năng nghiên cứu 12
1.2.3.2 Phân loại theo các giai đoạn nghiên cứu 13
1.2.4 Các hình thức của sản phẩm nghiên cứu khoa học 14
1.2.4.1 Đề tài nghiên cứu khoa học 14
1.2.4.2 Tiểu luận, khóa luận, luận văn, luận án 15
1.2.4.3 Sách giáo khoa 16
1.2.4.4 Bài báo khoa học 16
1.3 Khái quát về phương pháp nghiên cứu khoa học 17
1.3.1 Khái niệm 17
1.3.2 Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học 18
1.3.3 Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học 18
1.4 Vấn đề đạo văn và trích dẫn trong nghiên cứu khoa học 20
1.4.1 Vấn đề đạo văn trong nghiên cứu khoa học 20
1.4.2 Trích dẫn khoa học 22
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CƠ BẢN TRONG KHOA HỌC LỊCH SỬ 24
Trang 22.1 Một số vấn đề về phương pháp luận sử học 24
2.1.1 Lịch sử và nghiên cứu khoa học lịch sử 24
2.1.1.1 Lịch sử 24
2.1.2 Nghiên cứu khoa học lịch sử 24
2.1.2 Vấn đề tính khoa học và tính đảng trong nghiên cứu lịch sử 25
2.1.2.1 Tính khoa học 25
2.1.2.2 Tính đảng trong nghiên cứu khoa học 26
2.1.2.3 Mối quan hệ giữa tính khoa học và tính đảng 27
2.2 Những phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học lịch sử 27
2.2.1 Phương pháp phân tích - phê bình sử liệu 27
2.2.1.1 Phê bình hình thức 28
2.2.1.2 Phê bình nội dung 34
2.2.2 Phương pháp lịch sử và phương pháp logic 35
2.2.2.1 Phương pháp lịch sử 35
2.2.2.2 Phương pháp logic 36
2.2.2.3 Mối quan hệ giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic 38 2.2.3 Phương pháp so sánh lịch sử 39
2.2.3.1 Phương pháp so sánh đồng đại 39
2.2.3.2 Phương pháp so sánh lịch đại 40
2.2.4 Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu lịch sử 41
2.2.4.1 Khái niệm về phương pháp liên ngành 41
2.2.4.2 Vận dụng phương pháp phỏng vấn trong nghiên cứu lịch sử 43 2.2.4.3 Vận dụng nghiên cứu định lượng trong nghiên cứu lịch sử 45
CHƯƠNG 3: CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU VÀ TRÌNH BÀY CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LỊCH SỬ 47
3.1 Các bước cơ bản trong quá trình nghiên cứu khoa học 47
3.1.1 Chọn và đặt tên đề tài 47
3.1.1.1 Khái niệm đề tài nghiên cứu 47
3.1.1.2 Chọn đề tài 48
3.1.1.3 Đặt tên đề tài 50
3.1.3 Lập thư mục, thu thập và xử lí tư liệu 50
3.1.3.1 Lập thư mục 50
Trang 33.1.3.2 Thu thập tư liệu 52
3.1.3.3 Đọc và viết phiếu tư liệu 53
3.1.3.4 Xử lí và sắp xếp tư liệu 53
3.1.2 Viết đề cương nghiên cứu 54
3.1.3 Tiến hành nghiên cứu đề tài 54
3.2 Cách thức trình bày kết quả nghiên cứu đề tài khoa học lịch sử 55 3.2.1 Những quy định chung về cấu trúc của công trình khoa học… 55 3.2.1.1 Cấu trúc của tiểu luận, khóa luận, luận văn và luận án 55
3.2.1.2 Cấu trúc của một đề tài khoa học 56
3.2.1.3 Cấu trúc nội dung của bài báo khoa học 57
3.2.2 Cách viết báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học 57
3.2.2.1 Trình bày trang bìa và phụ bìa 57
3.2.2.2 Viết lời cam đoan 58
3.2.2.3 Trình bày mục lục,danh mục các bảng biểu và các từ viết tắt 59 3.2.2.4 Viết phần mở đầu 59
3.2.2.5 Viết nội dung chính của công trình khoa học lịch sử 63
3.2.2.6 Viết kết luận 66
3.2.2.7 Trình bày tài liệu tham khảo 67
3.2.2.8 Phụ lục 67
3.2.3 Viết và trình bày tóm tắt luận án tiến sĩ 67
3.3 Những quy định về hình thức của công trình khoa học 69
3.2.1 Hình thức trình bày và văn phong khoa học 69
3.2.2 Cách viết trích dẫn trong công trình khoa học 70
3.2.2.1 Quy định viết trích dẫn đối với khóa luận, luận văn, luận án 70 3.2.2.2 Các hình thức viết trích dẫn khác 71
3.2.3 Quy định về cách viết và sắp xếp tài liệu tham khảo 71
3.2.3.1 Viết tài liệu tham khảo 71
3.2.3.2 Sắp xếp tài liệu tham khảo 74
Tài liệu tham khảo 76
Phụ lục 80
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do và mục đích biên soạn tài liệu
Nghiên cứu khoa học là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo chuyên ngành Lịch sử ở bậc đại học và sau đại học Đối với chương trình đào tạo đại học, sinh viên bắt đầu tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học thông qua việc làm tiểu luận môn học, niên luận và đến năm thứ tư, những sinh viên khá, giỏi
sẽ được thực hiện khóa luận tốt nghiệp (với khối lượng công việc tương đương từ 6 đến 8 tín chỉ) để bảo vệ trước Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp Đối với bậc sau đại học, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học lại càng được đặc biệt chú trọng hơn Bên cạnh việc làm tiểu luận môn học, sau khi học xong các môn học của chương trình đào tạo, học viên cao học phải thực hiện một luận văn thạc sĩ (với khối lượng công việc tương đương 12 tín chỉ) và bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ để được công nhận học vị Thạc sĩ
Đây là một công việc còn khá mới mẻ, cho nên trong quá trình thực hiện, các sinh viên và học viên cao học thường tỏ ra lúng túng, chưa nắm rõ quy trình thực hiện, cấu trúc cơ bản, hình thức trình bày một công trình khoa học, chưa thành thạo trong quá trình viết các nội dung của phần mở đầu, kết luận, tóm tắt, nên phải viết
đi, viết lại nhiều lần Đồng thời trong quá trình hướng dẫn, giảng viên cũng mất nhiều thời gian và công sức để chỉnh sửa những lỗi hình thức, bố cục và nội dung,… do sinh viên và học viên chưa nắm vững những quy định chung về hình thức cũng như vận dụng các phương pháp nghiên cứu trong khoa học lịch sử
Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu khoa học nói chung và làm niên luận, khóa luận, luận văn, luận án nói riêng thuộc chuyên ngành lịch sử, chúng
tôi tiến hành biên soạn tài liệu Phương pháp nghiên cứu trong khoa học lịch sử
nhằm trang bị cho sinh viên, học viên chuyên ngành lịch sử những kiến thức, quy định và kĩ năng nghiên cứu khoa học cơ bản để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử, phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử tại Trường Đại học Sài Gòn
Trang 52 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến tài liệu tham khảo
Hiện nay, nhiều công trình về “phương pháp nghiên cứu khoa học” đã được
xuất bản, tiêu biểu như Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm
(Nxb Khoa học & Kĩ thuật, 2007), của Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Đăng Bình (Đại
học Thái Nguyên, 2004); Lôgic học và phương pháp nghiên cứu khoa học của Lê
Tử Thành (Nxb Trẻ, 1991); Đi vào nghiên cứu khoa học của GS Nguyễn Văn Tuấn
(Nxb Tổng hợp Tp HCM, 2012) Các công trình này đã đi sâu nghiên cứu về những vấn đề chung của nghiên cứu khoa học như: các khái niệm, cách thức tiến hành nghiên cứu, giới thiệu các phương pháp khác nhau trong nghiên cứu khoa học Đối với vấn đề “Phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử”, hiện nay cũng đã
có một số công trình liên quan được xuất bản như: Phương pháp luận sử học của
GS Phan Ngọc Liên (Nxb ĐHSPHN, 2003); Phương pháp sử học của Nguyễn Phương (Nxb Sao Mai, Sài Gòn, 1974); Phương pháp lịch sử và phương pháp logic của Văn Tạo (Viện Sử học, 1995), Tuy nhiên, các công trình trên chỉ mới đề cập
đến từng phương pháp cụ thể, chưa bao quát hết những vấn đề liên quan đến quá trình nghiên cứu khoa học lịch sử, nên chưa thích hợp với những người mới bước đầu nghiên cứu, nhất là đối với sinh viên
Việc nghiên cứu và biên soạn về “Phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử” một cách đầy đủ nhằm trang bị cho sinh viên chuyên ngành lịch sử những kiến
thức, kĩ năng và quy định trong nghiên cứu khoa học lịch sử để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp là rất cần thiết
3 Phương pháp nghiên cứu, biên soạn
Tài liệu được nghiên cứu dựa trên cơ sở lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh – đối chiếu và phương pháp chuyên gia
Trang 6Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, khoa học là:
Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết Nhiệm vụ của khoa học là phát hiện ra bản chất, tính quy luật của các hiện tượng, sự vật, quá trình, từ đó mà dự báo
về sự vận động, phát triển của chúng, định hướng cho hoạt động của con người Khoa học giúp cho con người ngày càng có khả năng chinh phục
tự nhiên và xã hội Khoa học vừa là một hình thái ý thức xã hội vừa là một dạng hoạt động, một công cụ nhận thức2
Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô định nghĩa: “khoa học là hệ thông tri thức về
tự nhiên, về xã hội và tư duy, về những qui luật phát triển khách quan của tự nhiên,
xã hội và tư duy, hệ thống tri thức lấy được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội”3
Như vậy, khoa học có thể hiểu một cách ngắn gọn là hệ thống tri thức về các
sự vật, hiện tượng và những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy được khám phá, tích lũy trong quá trình tồn tại và phát triển của loài người.
Trang 71.1.2 Đối tượng, nội dung và nhiệm vụ của khoa học
Từ các khái niệm khoa học nêu trên, chúng ta có thể xác định đối tượng, nội dung và nhiệm vụ của khoa học như sau:
Thứ nhất, đối tượng của khoa học là thế giới khách quan (tự nhiên và xã hội)
và phương pháp nhận thức thế giới khách quan
Thứ hai, nội dung của khoa học bao gồm: những tri thức, hiểu biết về thế giới
tự nhiên và xã hội; những nguyên lý, quy luật được khái quát hóa và kiểm nghiệm trong thực tiễn; những phương pháp nhận thức và những quy trình vận dụng lý thuyết khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội
Thứ ba, nhiệm vụ của khoa học là phát hiện ra bản chất, tính quy luật của các
sự vật, hiện tượng, từ đó dự báo về sự vận động, phát triển của chúng, định hướng cho hoạt động của con người và ứng dụng những thành qủa sáng tạo khoa học để cải tạo thực tiễn
1.1.3 Phân loại khoa học
Hiện nay, các nhà khoa học có nhiều cách phân loại khoa học khác nhau Cách phân loại được sử dụng khá phổ biến là chia các lĩnh vực khoa học thành ba nhóm
cơ bản như sau:
Thứ nhất là lĩnh vực Khoa học xã hội và Nhân văn: nghiên cứu về các quy
luật, sự vận động và phát triển của xã hội và tư duy như triết học, chính trị học, kinh
tế học, văn học, tâm lý học, giáo dục học, sử học,…
Thứ hai là Khoa học tự nhiên: nghiên cứu các quy luật về sự vận động và
phát triển của thế giới vật chất như toán học, vật lý học, hoá học, động vật học, thực vật học, sinh lý học
Thứ ba là Khoa học kĩ thuật và Công nghệ: nghiên cứu về sự ứng dụng các
thành tựu của khoa học tự nhiên vào trong lĩnh vực kĩ thuật công nghệ nhằm tìm ra các máy móc thiết bị mới, các quy trình công nghệ mới
Trang 8Một cách phân loại khác do các chuyên gia của UNESCO đề xuất gồm có 5 lĩnh vực như sau4: Khoa học tự nhiên và khoa học chính xác; Khoa học kỹ thuật; Khoa học nông nghiệp; Khoa học về sức khoẻ; Khoa học xã hội và nhân văn
Ngoài ra, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng đã ban hành Bảng phân loại lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ5, phân các ngành khoa học thành 6 lĩnh vực như sau: Khoa học tự nhiên; Khoa học kĩ thuật và công nghệ; Khoa học y -
dược; Khoa học nông nghiệp; Khoa học xã hội; Khoa học nhân văn Trong các lĩnh
vực này cũng được chia nhỏ thành các chuyên ngành như sau:
PHÂN LOẠI LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
(Theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN, ngày 4/9/2008 của Bộ trưởng Bộ KH & CN)
Công nghệ sinh học môi trường
Công nghệ sinh học công nghiệp
Trang 9Khoa học kỹ thuật và công nghệ khác
Địa lý kinh tế và xã hội
Thông tin đại chúng và truyền thông Khoa học xã hội khác
Trang 10Tuy nhiên, những cách phân loại trên cũng chỉ có tính tương đối, bởi vì các ngành khoa học không đứng độc lập, riêng lẻ mà luôn có mối quan hệ với nhau và trong thực tế, có những ngành khoa học khó có thể phân định một cách rõ ràng giữa lĩnh vực này với lĩnh vực khác
1.2 Nghiên cứu khoa học
1.2.1 Định nghĩa nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu: xét về mặt từ nguyên, nghiên có nghĩa là nghiền, nghiền ngẫm,
cứu có nghĩa là tra xét, xem xét Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa, nghiên cứu là:
“xem xét, tìm hiểu kĩ lưỡng để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề hay để rút ra những hiểu biết mới”6
Nghiên cứu khoa học: trong cuốn Logic học và phương pháp luận nghiên cứu
khoa học, Lê Tử Thành định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là tìm kiếm, xem xét, điều tra (có khi cần cả đến những thí nghiệm) để từ những dữ kiện đã có (kiến thức, tài liệu, phát minh,…) đạt đến một kết quả mới cao hơn, giá trị hơn”7
Nghiên cứu khoa học theo Vũ Cao Đàm (2007) là: “sự tìm kiếm những điều
mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để làm biến đối sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người”8
Theo Nguyễn Văn Hộ (2004), “Nghiên cứu khoa học là sự tìm hiểu khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng, phát hiện được quy luật vận động của chúng, đồng thời vận dụng những quy luật ấy để sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới khách quan”9 Hay trong một công trình mới xuất bản gần đây, Nguyễn Văn Tuấn có đưa ra định nghĩa về nghiên cứu khoa học như sau: “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động của con người nhằm mở rộng tri thức qua các phương pháp khoa học”10
6 Hoàng Phê (Chủ biên)(1994), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học – NXBGD, Hà Nội, tr 658
7
Lê Tử Thành (1991), Lôgic học và phương pháp nghiên cứu khoa học, Nxb Trẻ, Tp HCM, tr 14
8 Vũ Cao Đàm (2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb KHKT, Hà Nội, tr 17
9 Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Đăng Bình (2004), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (Tài liệu dùng cho các lớp cao học thạc sĩ), Đại học Thái Nguyên, tr 28
10
Nguyễn Văn Tuấn (2011), Đi vào nghiên cứu khoa học, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Trang 11Qua các khái niệm trên cho thấy, nghiên cứu khoa học là quá trình xem xét, tìm tòi và kiểm chứng thông qua các phương pháp khoa học để phát hiện ra bản chất của các sự vật, hiện tượng, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy và sáng tạo ra các phương pháp, giải pháp mới nhằm ứng dụng vào thực tiễn
1.2.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học
Bản chất nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của con người nhằm nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên và xã hội Nhiều công trình về phương pháp luận nghiên cứu khoa học đã có những phân tích tương đối thống nhất về đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học Theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Đăng Bình (2004), nghiên cứu khoa học có các đặc điểm cơ bản như sau:
Tính mới, sáng tạo: nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá bản chất, quy
luật của thế giới tự nhiên và xã hội mà con người chưa biết, hướng tới những phát hiện mới hoặc những sáng tạo Đây là đặc điểm quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học
Tính thông tin: là những thông tin về qui luật vận động và phát triển của sự
vật hoặc hiện tượng, thông tin về qui trình công nghệ và các tham số đi kèm quy trình đó
Tính khách quan: đây là tiêu chuẩn quan trọng đối với hoạt động nghiên cứu
khoa học và nhà nghiên cứu Bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng luôn tồn tại khách quan, do đó nhà nghiên cứu cần phải tự kiểm chứng những kết luận của mình
để đảm bảo tính chính xác của kết quả nghiên cứu
Tính tin cậy: một sản phẩm khoa học phải có độ tin cậy, được kiểm chứng
nhiều lần trong những điều kiện khác nhau chứ không thể là một phát hiện mang tính ngẫu nhiên Do đó, khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, những nhân tố và phương tiện thực hiện (nếu có)
Tính rủi ro: trong nghiên cứu khoa học, một nghiên cứu có thể đi đến thành
công, nhưng cũng có thể bị thất bại Đây là điều không mong muốn trong nghiên cứu khoa học, nhưng nó cũng được xem như một kết quả, giúp những người đi sau không phạm sai lầm tương tự, tránh lãng phí các nguồn lực nghiên cứu
Trang 12Tính kế thừa: trong nghiên cứu khoa học, không có một nghiên cứu nào bắt
đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức, mà thường kế thừa các kết quả nghiên cứu của các lĩnh vực khoa học khác nhau và của các nhà nghiên cứu đi trước Hay nói cách khác, người nghiên cứu phải biết đứng trên vai của những người không lồ
Tính cá nhân: các công trình nghiên cứu khoa học luôn mang dấu ấn cá nhân
của người nghiên cứu Vai trò của cá nhân trong sáng tạo khoa học luôn mang tính quyết định, thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến của cá nhân
Tính phi kinh tế: lao động khoa học khó có thể định lượng một cách rõ ràng,
thiết bị chuyên dụng dùng trong nghiên cứu khoa học cũng không thể khấu hao như những thiết bị sản xuất thông thường và hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học
cũng không thể xác định bởi tính ảnh hưởng lâu dài và đa dạng của nó
1.2.3 Các loại hình nghiên cứu khoa học
1.2.3.1 Phân loại theo chức năng nghiên cứu
Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học theo chức năng nghiên cứu là cách phân loại căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của hoạt động nghiên cứu Cách phân loại này được đề cập đến trong các công trình về phương pháp luận nghiên cứu khoa học Theo Vũ Cao Đàm (2007), căn cứ theo chức năng nghiên cứu, có thể chia thành các loại hình như sau:
Nghiên cứu mô tả: là loại hình nghiên cứu nhằm đưa ra hệ thống tri thức để
nhận dạng sự vật hiện tượng, giúp phân biệt bản chất của sự vật, hiện tượng này với
sự vật, hiện tượng khác Nội dung mô tả bao gồm mô tả hình thái, mô tả động thái,
mô tả định tính (tức là các đặc trưng về chất của sự vật) và mô tả định lượng (nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật)
Nghiên cứu giải thích: là những nghiên cứu nhằm giải thích nguyên nhân dẫn
đến sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật, hiện tượng Nội dung của nghiên cứu giải thích bao gồm: giải thích nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối quá trình vận động và phát triển
của sự vật, hiện tượng
Trang 13Nghiên cứu giải pháp là loại hình nghiên cứu nhằm sáng tạo các giải pháp,
các sự vật mới chưa từng tồn tại Khoa học không bao giờ dừng lại ở mô tả và giải thích, mà luôn hướng vào sự sáng tạo các giải pháp nhằm cải tạo và làm biến đổi thế
giới tự nhiên và xã hội
Nghiên cứu dự báo là loại hình nghiên cứu nhằm phát hiện ra những triển
vọng, những khả năng và xu hướng phát triển mới của sự vật hiện tượng phục vụ
cho sự phát triển của khoa học và thực tiễn cuộc sống
1.2.3.2 Phân loại theo các giai đoạn nghiên cứu
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, nhà khoa học sẽ đi từ việc khám phá ra những tri thức, quy luật cơ bản có tính nền tảng đến vận dụng những tri thức, quy luật đó vào thực tiễn để cải tạo hiện thực, phục vụ cho cuộc sống của con người Căn cứ vào mục tiêu và sản phẩm của từng giai đoạn nghiên cứu, các nhà khoa học
đã phân nghiên cứu khoa học thành các loại hình như sau:
Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu hướng đến việc “tìm tòi, sáng tạo
ra những tri thức mới, những giá trị mới cho nhân loại Nghiên cứu cơ bản đi sâu khám phá bản chất và quy luật vận động và phát triển của thế giới ở cả hai phía vi
mô và vĩ mô Tri thức sáng tạo từ nghiên cứu cơ bản là tri thức nền tảng cho mọi
quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo”11
Kết quả của nghiên cứu cơ bản là những phân tích lý luận, những quy luật, định luật, định lý làm cơ sở lý thuyết mang tính chất nền tảng cho nhiều ngành khoa học ứng dụng khác
Nghiên cứu ứng dụng là loại hình nghiên cứu nhằm “tìm cách vận dụng
những tri thức cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới, những nguyên lý mới trong quản lý kinh tế và xã hội” 12
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng là những giải pháp công nghệ mới, vật
liệu mới, sản phẩm mới,… Tuy được gọi là nghiên cứu ứng dụng, nhưng để đưa
11 Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Đăng Bình (2004), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (Tài liệu dùng cho các lớp cao học thạc sĩ), Đại học Thái Nguyên, tr.31-32
12 Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Đăng Bình (2004), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (Tài liệu dùng cho các lớp cao học thạc sĩ), Đại học Thái Nguyên, tr 33
Trang 14những kết quả của nghiên cứu ứng dụng đó vào thực tế sản xuất, phục vụ cuộc sống
thì phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác đó là nghiên cứu triển khai
Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu hướng đến việc “tìm khả năng
áp dụng đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế sản xuất và đời sống xã
hội, tạo ra các mô hình chế biến thông tin khoa học thành ra sản phẩm tinh thần hay
vật chất”13 Đây là quá trình vận dụng các kết quả của nghiên cứu ứng dụng để “đưa
ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kĩ thuật”14
1.2.4 Các hình thức của sản phẩm nghiên cứu khoa học
Sản phẩm khoa học là kết quả sáng tạo có tính kế thừa từ những thành tựu trước đó, nó không ngừng được bổ sung và hoàn thiện cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người Đó là hệ thống thông tin mới về thế giới và những giải pháp cải tạo thế giới hoặc cũng có thể là phương pháp mới; là những luận điểm khoa học
đã được chứng minh hoặc bác bỏ như các định lí, định luật trong khoa học tự nhiên, những phát hiện mới, những quy luật trong khoa học xã hội và nhân văn, những nguyên lí, quy trình công nghệ, phát minh, sáng chế trong lĩnh vực kĩ thuật và công nghệ, những phương pháp nghiên cứu mới,
Hình thức của sản phẩm nghiên cứu khoa học rất đa dạng và phong phú, nó gồm có các dạng sản phẩm cụ thể như sau:
1.2.4.1 Đề tài nghiên cứu khoa học
Đề tài nghiên cứu khoa học là một công trình khoa học và công nghệ được tiến hành nhằm phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân hoặc sáng tạo nguyên
lý, những giải pháp, can thiệp, sáng chế, phục vụ cho những yêu cầu phát triển của khoa học và những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn xã hội
Đề tài nghiên cứu khoa học được phân thành các loại: đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ/tỉnh (loại này gồm có hai loại: đề tài trọng điểm và đề tài thường) và đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
Trang 151.2.4.2 Tiểu luận, khóa luận, luận văn, luận án
Tiểu luận: theo từ điển Tiếng Việt, “tiểu luận là một bài viết nhỏ có tính chất
bước đầu tập nghiên cứu”15 Nghiên cứu và viết tiểu luận là một trong những công việc mà người học phải thực hiện trong quá trình học tập tại trường đại học Hiện nay, ở nhiều trường đại học, môn học “thực hành nghiên cứu khoa học”, “bài tập niên luận” được đưa vào chương trình đào tạo
Ngoài ra, trong quá trình đào tạo ở bậc đại học và sau đại học hiện nay, việc tự học và tự nghiên cứu được rất được chú trọng Viết tiểu luận môn học là một trong những hình thức tự học, tự nghiên cứu của sinh viên ngoài giờ lên lớp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, năng động sáng tạo của sinh viên
Mục đích viết tiểu luận là giúp cho sinh viên bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học, tự mình đọc các tài liệu, xử lý tài liệu, sắp xếp các ý tưởng thành một văn bản để chứng minh một vấn đề được đặt ra, qua đó góp phần mở rộng kiến thức và hình thành các kĩ năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, giúp cho sinh viên bước đầu có được một số kinh nghiệm để tiến tới thực hiện những công trình khoa học lớn hơn như đề tài nghiên cứu khoa học khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ,
Khóa luận tốt nghiệp đại học: là chuyên khảo về một vấn đề khoa học do
một người viết16 nhằm mục đích rèn luyện phương pháp và kỹ năng nghiên cứu khoa học, thể nghiệm kết quả sau một khóa đào tạo đại học, cao đẳng thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên hoặc khoa học kĩ thuật Theo quy chế đào tạo theo học chế tín chỉ của các trường đại học hiện nay, khóa luận tốt nghiệp đại học được xem như một môn học (tương đương từ 6 đến 8 tín chỉ), sau khi được Hội đồng chấm khoa luận đánh giá và cho điểm, kết quả của khóa luận sẽ được ghi vào bảng điểm để tính điểm trung bình chung học tập toàn khóa học
Luận văn thạc sĩ: là một công trình nghiên cứu khoa học của học viên cao
học, “thể hiện được các kiến thức về lý thuyết và thực hành trong lĩnh vực chuyên
15 Hoàng Phê (CB) (1994), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học – Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr.958
16 Hiện nay, một số trường đại học như Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Đồng Tháp, cho phép làm khóa luận tốt nghiệp theo nhóm từ 2 đến 3 sinh viên
Trang 16môn, phương pháp giải quyết vấn đề đã đặt ra Các kết quả của luận văn phải chứng
tỏ tác giả đã biết vận dụng phương pháp nghiên cứu và những kiến thức được trang
bị trong quá trình học tập để xử lý đề tài”17 và “Luận văn phải có giá trị khoa học, giá trị thực tiễn, giá trị văn hoá, đạo đức và phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam”18 Sau khi hoàn thành, học viên sẽ bảo vệ luận văn trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ để được công nhận học vị thạc sĩ
Luận án tiến sĩ: là một công trình nghiên cứu khoa học sáng tạo của chính
nghiên cứu sinh, có đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu hoặc giải pháp mới có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học của lĩnh vực nghiên cứu, giải quyết sáng tạo các vấn đề của ngành khoa học hay thực tiễn kinh tế - xã hội”19 Sau khi hoàn thành luận án, nghiên cứu sinh sẽ bảo vệ các luận điểm khoa học mới của mình trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ để được công nhận học vị tiến sĩ
1.2.4.3 Sách giáo khoa
Sách giáo khoa là một loại công trình khoa học được biên soạn theo chương trình được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Nội dung sách giáo khoa trình bày về những kiến thức cơ bản, hiện đại và có tính phổ thông của một ngành khoa học cụ thể, phục vụ cho việc dạy – học ở nhà trường phổ thông Ví dụ như: Sách giáo khoa Lịch sử 10, Sách giáo khoa Toán học 11,…
1.2.4.4 Bài báo khoa học
Vũ Cao Đàm (2007) định nghĩa:
Bài báo khoa học được viết để công bố trên các tạp chí chuyên môn hoặc trong hội nghị khoa học nhằm nhiều mục đích, như công bố một ý tưởng khoa học; công bố từng kết quả riêng biệt của một công trình dài hạn; công bố kết quả nghiên cứu toàn bộ công trình; đề xướng một cuộc
17
Thông tư số: 10/2011/TT-BGDĐT ngày 28/02/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
18 Thông tư 15/2014/TT-BGDĐT, ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ
19 Thông tư 05/2012/TT-BGDĐT, ngày 15/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo
trình độ tiến sĩ của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 17tranh luận trên tạp chí hoặc hội nghị khoa học; tham gia tranh luận trên các tạp chí hoặc hội nghị khoa học20
Theo Lê Tử Thành (1991):
Bài báo khoa học là một tác phẩm khoa học thu nhỏ, trình bày một
đề tài khoa học nào đó một cách có hệ thống Những ý kiến của tác giả dựa trên những bằng chứng (luận cứ) chắc chắn và được sắp xếp, kết nối với nhau (luận cứ) một cách mạch lạc và hợp lí Tất cả những yếu tố vừa
kể được trình bày một cách súc tích, hạn chế, thu hẹp về khối lượng21 Theo Nguyễn Văn Tuấn (2011), “bài báo khoa học (tiếng Anh: “Scientific paper” hay có khi viết tắt là paper) là một bài báo có nội dung khoa học được công
bố trên một tập san khoa học (scientific journal) đã qua hệ thống bình duyệt review) của tập san”22
(peer-Và bài báo khoa học có nhiều hình thức khác nhau, giá trị của chúng cũng
không giống nhau, cụ thể có các dạng như sau: thứ nhất là những bài báo mang tính cống hiến nguyên thủy (original contributions); thứ hai là những bài báo nghiên cứu ngắn; thứ ba là những báo cáo trường hợp (case reports); thứ tư là những bài điểm báo (reviews); thứ năm là bài xã luận (editorials) thứ sáu là những thư cho tòa soạn (letters to the editor); thứ bảy là những bài báo trong các kỉ yếu hội nghị23
1.3 Khái quát về phương pháp nghiên cứu khoa học
1.3.1 Khái niệm
Phương pháp là hệ thống những cách tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện
một công việc cụ thể một cách có hiệu quả với chi phí (sức lực, thời gian và tiền bạc) thấp nhất
Phương pháp nghiên cứu khoa học là hệ thống những cách thức dùng để
nhận thức thế giới khách quan, bao gồm những quan điểm tiếp cận, quy trình, các
20 Vũ Cao Đàm (2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb KHKT, Hà Nội, tr 139
21
Lê Tử Thành (1991), Lôgic học và phương pháp nghiên cứu khoa học, Nxb Trẻ, Tp HCM, tr 27-28
22 Nguyễn Văn Tuấn (2011), Đi vào nghiên cứu khoa học, Nxb Tổng hợp Tp HCM – Thời báo Kinh tế Sài
Gòn, Tp Hồ Chí Minh, tr 135
23 Xem thêm: Nguyễn Văn Tuấn (2011), Đi vào nghiên cứu khoa học, Nxb Tổng hợp Tp HCM – Thời báo
Kinh tế Sài Gòn, Tp Hồ Chí Minh, tr 135 -140
Trang 18thao tác cụ thể tác động vào đối tượng để làm bộc lộ bản chất của đối tượng Nói cách khác, phương pháp là cách thức nghiên cứu dưới góc độ lý thuyết hoặc thực nghiệm một hiện tượng hay quá trình nào đó, là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới
mục đích sáng tạo
1.3.2 Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học
Thứ nhất, phương pháp là cách làm việc của chủ thể (người nghiên cứu)
nhằm vào khách thể và đối tượng được nghiên cứu, vì vậy nó vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan Mặt chủ quan của phương pháp chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể Mặt khách quan là phương pháp phải gắn liền với đối tượng, đặc điểm của đối tượng sẽ chỉ dẫn và quyết định cách lựa chọn phương pháp làm việc của nhà nghiên cứu
Thứ hai, mục đích nghiên cứu các đề tài khoa học sẽ quyết định việc tìm tòi
và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại Nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp thì sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn và đôi khi vượt quá yêu cầu dự kiến ban đầu
Thứ ba, phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần
nghiên cứu (mục tiêu - nhiệm vụ nghiên cứu) Nội dung làm việc quy định phương pháp làm việc Vì vậy, trong mỗi đề tài phải có những phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có những phương pháp đặc trưng
Thứ tư, phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ, thiết bị
hỗ trợ Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà nhà khoa học chọn phương pháp nghiên cứu, tùy theo yêu cầu của phương pháp mà lựa chọn các phương tiện, thiết
bị hỗ trợ phù hợp cho quá trình nghiên cứu
1.3.3 Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học
Trong nghiên cứu khoa học nói chung, các nhà nghiên cứu thường phân ra làm nhiều chuyên ngành nghiên cứu khác nhau như: khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật và công nghệ Từ đây, các nhà khoa học lại chia nhỏ
ra thành những chuyên ngành nghiên cứu hẹp hơn như: xã hội học, tâm lí học, triết học, sử học, toán học…
Trang 19Tương ứng với mỗi chuyên ngành nghiên cứu trên sẽ có những phương pháp nghiên cứu đặc thù riêng dựa trên những tiêu chuẩn của phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung Với một hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học hết sức phong phú như vậy, việc phân loại cũng khó có sự thống nhất Dưới đây là hai cách phân loại phổ biến:
Thứ nhất, căn cứ vào phạm vi sử dụng, các phương pháp nghiên cứu khoa học
được chia thành hai nhóm là: phương pháp nghiên cứu chung và phương pháp nghiên cứu chuyên biệt
Phương pháp nghiên cứu chung dành cho một nhóm ngành như: phương pháp thống kê dành cho các ngành khoa học xã hội, phương pháp duy vật biện chứng dành cho các ngành khoa học xã hội và nhân văn,…
Phương pháp nghiên cứu chuyên biệt (đặc thù) dành riêng cho những chuyên ngành hoặc một lĩnh vực cụ thể nhất định Chẳng hạn như: nhóm phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử (phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp so sánh lịch sử); nhóm phương pháp nghiên cứu xã hội học (quan sát, phỏng vấn, thống kê),…
Thứ hai, căn cứ vào tính chất nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu khoa
học được chia làm hai nhóm như sau:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết (định tính): là nhóm các phương
pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có
và bằng các thao tác tư duy lôgic để rút ra kết luận khoa học cần thiết
Các phương pháp theo nhóm phân loại này gồm: Phương pháp phân tích, phê bình tài liệu, phương pháp phân loại hệ thống hoá lý thuyết, phương pháp mô hình hoá, phương pháp lịch sử, phương pháp logic, so sánh, tổng hợp,…
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (định lượng): là nhóm phương pháp
trực tiếp tác động vào đối tượng nghiên cứu để làm bộc lộ bản chất và các quy luật vận động của đối tượng ấy Nhóm phương pháp này bao gồm: phương pháp phỏng vấn, điều tra, khảo sát, phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm khoa học, thí nghiệm,…
Trang 20Những cách phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học như trên chỉ mang tính tương đối, trong thực tế nghiên cứu khoa học, việc sử dụng các phương pháp
nghiên cứu thường có tính liên ngành
1.4 Vấn đề đạo văn và trích dẫn trong nghiên cứu khoa học
1.4.1 Vấn đề đạo văn trong nghiên cứu khoa học
Đạo văn là một hình thức gian lận khoa học khá phổ biến trong nghiên cứu khoa học, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay Trong thời gian gần đây, nhiều sự kiện liên quan đến nạn đạo văn (tranh chấp bản quyền tác giả, sao chép luận văn, luận án và công trình khoa học,…) ở Việt Nam bị phát hiện và công bố trên các phương tiện truyền thông24
Theo định nghĩa của Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh thì:
Đạo văn là việc sử dụng có hoặc không có chủ ý của người viết những câu văn, đoạn văn, số liệu và ý tưởng của người khác vào công trình khoa học (luận văn, luận án,…) của mình mà không có những chỉ dẫn/thừa nhận tác giả của những nội dung đã trích
Khi người viết sử dụng, sao chép, trích dẫn những câu văn, đoạn văn, số liệu và ý tưởng của người khác mà không thông tin cho người đọc biết tác giả của những điều đã được trích dẫn đó, thì được xác định là phạm lỗi đạo văn25
Các hình thức của đạo văn gồm có:
1 Sử dụng công trình của người khác mà cam đoan rằng đó là của mình
24 Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP HCM đã ra quyết định hủy bỏ kết quả chấm luận văn và thu hồi bằng thạc sĩ số 00443/71KH2 của học viên Nguyễn Thị Minh Tâm, chuyên ngành Giảng dạy tiếng Anh, khóa 2002-2005
Vào năm 2006, học viên Nguyễn Thị Minh Tâm bảo vệ luận văn thạc sĩ, sau đó được cấp bằng thạc sĩ số 00443/71KH2 Khi tham khảo luận văn của Nguyễn Thị Minh Tâm lưu trữ tại thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, một cá nhân phát hiện luận văn này phần lớn được sao chép từ luận văn của một người đã bảo vệ thành công trước đó, liền báo cho lãnh đạo nhà trường
Trường đã lập hội đồng thẩm định và kết luận học viên Nguyễn Thị Minh Tâm đã có hành vi sao chép luận văn, vi phạm quy chế đào tạo sau đại học của Đại học Quốc gia TP HCM [Tin tức Báo Người Lao động, Thứ Ba, 23/08/2011]
25Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh (2013), Quy định hình thức xử lí đạo văn (Công văn số 3151/QyĐ-ĐHKT-VSĐH, ngày 31/10/2013 của Hiệu trưởng Trưởng Đại học Kinh tế Tp HCM), tr 1
Trang 212 Sao chép quá nhiều từ một công trình (mặc dù có chỉ ra nguồn trích) để hình thành một phần lớn công trình của mình
3 Không dẫn nguồn đã trích khi thay đổi từ ngữ, di chuyển từ, cụm
từ, ý tưởng của tác giả khác, gắn các cụm từ của các nguồn khác nhau và chỉnh sửa lại trong bài viết, thay đổi từ ngữ hoặc cụm từ, nhưng giữ nguyên cấu trúc của đoạn văn hoặc bài văn
4 Cung cấp không chính xác về tác giả, nguồn của thông tin được trích dẫn (thông tin là của tác giả A, nhưng người viết ghi nguồn trích là của tác B; nguồn thông tin là từ bài viết chưa được xuất bản, nhưng được ghi dưới dạng bài báo, sách được xuất bản)26
Tại Trường Đại học Hoa Sen, những hành vi bị xem là đạo văn gồm:
Sao chép nguyên văn 02 (hai) câu liên tiếp mà không dẫn nguồn đúng quy định;
Sao chép nguyên văn 03 (ba) câu không liên tiếp mà không dẫn nguồn đúng quy định;
Diễn đạt lại (rephrase) hoặc dịch (translate) toàn bộ một ý nào đó của người khác mà không dẫn nguồn đúng quy định;
Sử dụng hơn 30% nội dung của một báo cáo cuối kỳ do chính mình viết để nộp cho 2 lớp khác nhau (cùng học kỳ hoặc khác học kỳ) mà không có sự đồng ý của giảng viên;
Sao chép một phần hoặc toàn bộ bài làm của người khác27 Ngoài ra, theo GS Nguyễn Văn Tuấn, một hình thức nữa cũng được xem là đạo văn, đó là “lấy ý tưởng của người khác nhưng viết lại câu văn mà không ghi nguồn; mua luận văn/luận án từ chợ luận văn/luận án trên Internet”28
28
Báo Sinh viên Việt Nam, ngày 15/06/2012]
Trang 22Trong nghiên cứu khoa học, lỗi đạo văn được xem lỗi vi phạm về đạo đức của nhà khoa học, đồng thời hành vi này còn vi phạm luật về sở hữu trí tuệ Do đó, khi công trình khoa học bị phát hiện đạo văn (dù cố tình hay vô ý), các cơ quan quản lí, các cơ sở đào tạo sẽ có những biện pháp xử lí thích đáng29
và đặc biệt nghiêm trọng hơn là bị cộng đồng khoa học lên án, tẩy chay Cụ thể, trong quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và một số cơ sở đào tạo đại học ở Việt Nam như Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh và Trường Đại học Hoa Sen đã ban hành quy định về trích dẫn và xử lí các hành vi đạo văn đã có những quy định và chế tài xử lí hành vi đạo văn của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh:
1.4.2 Trích dẫn khoa học
Việc sưu tầm tài liệu và sử dụng chúng trong quá trình biên khảo, nghiên cứu một đề tài khoa học là công việc rất bình thường của nhà khoa học Tuy nhiên, để tránh rơi vào lỗi đạo văn, khi sử dụng kết quả nghiên cứu, những ý tưởng, luận điểm hoặc quan điểm khoa học,… từ các công trình khoa học của tác giả khác hoặc của chính bản thân mình đã được công bố trước đó để làm luận cứ cho việc chứng minh một luận điểm mới hoặc để phân tích những điểm yếu, thậm chí bác bỏ khi phát hiện những sai lầm của các công trình nghiên cứu trước đó, người nghiên cứu phải
có trách nhiệm ghi xuất xứ của tài liệu đã trích dẫn một cách rõ ràng30 Không trích dẫn những kiến thức phổ biến, mọi người đều biết
Trường Đại học Hoa Sen quy định: nếu bị phát hiện đạo văn, bất kể mức độ vi phạm, sinh viên phải nhận điểm 0 và bị kỉ luật
30
Về cách trích dẫn, xem ở mục 3.2.2 Cách viết trích dẫn trong công trình khoa học
Trang 23Khi đề cập đến một phát biểu, hay tóm lược ý kiến của một người khác làm nền tảng cho công trình của mình Thông thường những phát biểu mang tính ngoại lệ, có thể gây ngạc nhiên
Những phát biểu có kèm theo con số, đề cập đến dữ liệu hay phát hiện của người khác31
Quy chế đào tạo tiến sĩ và Quy chế đào tạo thạc sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng quy định rõ về việc trích dẫn trong luận văn, luận án: Dưới đây là quy định được ghi trong quy chế đào tạo tiến sĩ:
Luận án tiến sĩ phải đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ
Việc sử dụng hoặc trích dẫn kết quả nghiên cứu của người khác, của đồng tác giả phải được dẫn nguồn đầy đủ và rõ ràng Nếu sử dụng tài liệu của người khác (trích dẫn bảng, biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) mà không chú dẫn tác giả và nguồn tài liệu thì luận án không được duyệt để bảo vệ32
Nhiều người không ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc trích dẫn trong nghiên cứu khoa học, nên đã cẩu thả hoặc vô ý bỏ qua việc trích dẫn, nhưng cũng có người biết rõ và cố tình vi phạm vì lợi ích của mình Tuy nhiên, người nghiên cứu dù vô tình hay cố ý dẫn đến việc không trích dẫn nghiêm túc đều
bị coi là đạo văn
Việc ghi rõ trích dẫn khoa học thể hiện tính chuẩn xác, khoa học của công trình nghiên cứu, sự tôn trọng những chuẩn mực đạo đức trong nghiên cứu khoa học của người nghiên cứu và đồng thời còn thể hiện ý thức tôn trọng pháp luật về quyền tác giả và buộc người đã nêu ra những luận điểm khoa học được trích dẫn phải chịu trách nhiệm về nội dung trong các công bố khoa học của mình
Trang 24Lịch sử chính là quá trình hiện thực khách quan của xã hội loài người trước đây hoặc lịch sử của những sự kiện, hiện tượng, nhân vật đã từng tồn tại trong quá khứ, tức là lịch sử của một hiện thực khách quan, trở thành đối tượng nhận thức của những người nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử34
Như vậy, lịch sử là tất cả những gì đã diễn ra trong quá khứ35, đó là thực tế khách quan tồn tại độc lập với ý thức của con người và là đối tượng nghiên cứu của khoa học lịch sử
2.1.1.2 Nghiên cứu khoa học lịch sử
Nhận thức lịch sử chính là sự phản ánh hiện thực lịch sử trong ý thức của con người Đặc điểm của lịch sử là chỉ xảy ra 1 lần, không lặp lại, nhà sử học không thể tiến hành thực nghiệm, thí nghiệm để làm cho các sự kiện lịch sử tái diễn như đã từng diễn ra trong quá khứ để nghiên cứu Tuy nhiên, khi một sự kiện
33
Hoàng Phê (CB) (1994), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học – Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr 546
34 Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2011), Phương pháp luận sử học, Nxb ĐHSP, Hà Nội, tr 34
35 Về thời gian, lịch sử xã hội bao gồm khoảng thời gian từ khi con người xuất hiện cho đến ngày nay Trong khoảng thời gian đó, có những sự kiện, hiện tượng đã qua (nghĩa là đã xảy ra và đã kết thúc), cũng có những
sự kiện đã nảy sinh từ quá khứ, tiếp tục diễn ra ở hiện tại và tương lai
Trang 25lịch sử xảy ra, nó sẽ để lại những dấu vết trong các nguồn sử liệu36 khác nhau Những sử liệu này chính là bằng chứng của quá khứ, chúng chứa đựng trong đó những thông tin khác nhau về lịch sử, giúp chúng ta có thể nhận thức về hiện thực lịch sử được phản ánh trong đó
Nghiên cứu khoa học lịch sử thực chất là quá trình nhận thức hiện thực lịch sử khách quan Một sự kiện lịch sử thường được phản ảnh trong nhiều nguồn sử liệu khác nhau, do đó trong quá trình nghiên cứu lịch sử, tuy không tiếp cận trực tiếp đối tượng nghiên cứu, nhưng nhà sử học vẫn có thể tiếp cận gián tiếp bằng cách tái tạo lại quá khứ thông qua các nguồn sử liệu, qua đó tìm hiểu bản chất và quy luật của lịch sử Có thể hình dung quá trình nhận thức lịch sử trong nghiên cứu lịch sử theo
sơ đồ sau đây:
Khoảng cách giữa nhận thức lịch sử và hiện thực lịch sử hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn sử liệu có được và năng lực chủ quan của nhà sử học Nếu nguồn sử liệu tìm được đầy đủ, chính xác và khách quan, nhà sử học có năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu tốt thì kết quả nghiên cứu sẽ sát thực với hiện thực lịch sử37 Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu, cho dù nghiêm túc đến đâu, cũng chỉ là nhận thức lịch sử chứ không phải là lịch sử
Lịch sử được phản ánh trong sử liệu Thông qua sử liệu, nhà sử học có thể biết được về lịch sử Tuy nhiên, để có được nguồn sử liệu chính xác, khách quan và đủ
để phục hồi quá khứ, nhà sử học phải tuân thủ nghiêm túc những nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học lịch sử
2.1.2 Vấn đề tính khoa học và tính đảng trong nghiên cứu lịch sử
2.1.2.1 Tính khoa học
36 Sử liệu là những sự vật chứa đựng một sự kiện hay một thông tin về một sự kiện lịch sử nào đó
37 Nếu năng lực của nhà nghiên cứu hạn chế thì nguồn sử liệu dù có đáng tin cậy, phong phú đến đâu cũng không thể mang lại kết quả tốt Ngược lại, nhà nghiên cứu có năng lực tốt nhưng nguồn sử liệu hạn chế thì cũng đành “bó tay”
Trang 26Trong nghiên cứu, tính khoa học là tính khách quan, thể hiện ở chỗ là quá trình nghiên cứu phải hướng đến việc “phản ánh chính xác những quy luật của thế giới khách quan, đề (tìm - TG) ra chân lí khách quan”38 Tính khoa học trong nghiên cứu lịch sử thể hiện ở chỗ là nhà sử học coi trọng và đề cao chân lí lịch sử, đảm bảo phản ánh (nhận thức) đúng hiện thực khách quan, dựa trên cơ sở đó để rút
ra bản chất, quy luật vận động phát triển và bài học lịch sử
2.1.2.2 Tính đảng trong nghiên cứu khoa học
Theo Từ điển chính trị vắn tắt, tính đảng là “tính khuynh hướng tư tưởng của thế giới quan, của các khoa học xã hội, văn học, nghệ thuật, thể hiện lợi ích, của những giai cấp, những nhóm xã hội nhất định, được biểu hiện trong xu hướng xã hội của hoạt động sáng tạo khoa học và nghệ thuật”39
Trong nghiên cứu khoa học, tính đảng hiểu theo nghĩa chung nhất đó chính là tính trường phái trong học thuật, hay nói cách khác đó chính là thái độ, lập trường, quan điểm và lợi ích được người nghiên cứu lựa chọn và sử dụng trong quá trình nghiên cứu Do vậy, trong thực tế có tình trạng cùng một vấn đề lịch sử, với các sử gia thuộc các giai cấp, các nhóm lợi ích khác nhau hoặc thuộc các thời đại lịch sử khác nhau thì có thể sẽ cho kết quả nghiên cứu có sự khác biệt nhất định
Trong xã hội có giai cấp, việc xác định lập trường, quan điểm trong nghiên
cứu khoa học lịch sử là một tất yếu khách quan, hay như Phan Ngọc Liên thì: “khoa
học không thể không chịu ảnh hưởng sâu sắc của giai cấp đang nắm quyền thống trị Bất cứ nội dung khoa học nào, nhất là khoa học xã hội và nhân văn cũng đều chịu ảnh hưởng về thế giới quan, quan điểm và lợi ích của giai cấp mà nó phụ thuộc”40 Như vậy, trong quá trình nghiên cứu, nhà sử học luôn đứng trên lập trường, quan điểm của một giai cấp, một nhóm xã hội hoặc một trường phái học thuật nhất định
Đối với sử học Mác-xít, tính đảng chính là “tính đảng cộng sản” Nghĩa là các nhà sử học vô sản đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, tuân thủ và vận dụng
38 Phan Ngọc Liên (CB) (2011), Phương pháp luận sử học, Nxb ĐHSP, Hà Nội, tr 97
39 Từ điển chính trị vắn tắt (1988), Nxb Tiến Bộ, Mát-xcơ-va – Nxb Sự Thật, Hà Nội, tr 373
40
Phan Ngọc Liên (CB) (2011), Phương pháp luận sử học, Nxb ĐHSP, Hà Nội, tr 97
Trang 27sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức và nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam để vận dụng vào nghiên cứu lịch sử
2.1.2.3 Mối quan hệ giữa tính khoa học và tính đảng
Tính đảng và tính khoa học có mối quan hệ thống nhất và biện chứng với nhau Nếu như tính khoa học hướng đến mục tiêu là tìm ra chân lý khách quan, thì tính đảng giữ vai trò định hướng tư tưởng chính trị, cung cấp phương pháp luận đúng đắn, khoa học cho quá trình nghiên cứu để đạt được chân lý và đến lượt nó, chân lí khách quan sẽ trở lại phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc và của giai cấp vô sản
Đối với sử học Mác-xít, việc vận dụng nguyên tắc tính đảng trong nghiên cứu
là để định hướng cho quá trình khám phá chân lí lịch diễn ra một cách có hiệu quả
và đúng đắn, chứ không phải là áp đặt, đóng khung chân lí, biến tính đảng thành công cụ siết chặt mọi sáng tạo khoa học, làm cho kết quả nghiên cứu lịch sử trở thành những công trình minh họa cho những kết luận và định kiến có sẵn
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin là
cơ sở phương pháp luận và thế giới quan khoa học giúp nhà sử học phản ánh đúng chân lý khách quan Lập trường của giai cấp vô sản xuất phát từ nguyện vọng xóa
bỏ chế độ áp bức, bóc lột là hoàn toàn phù hợp với xu thế khách quan của sự tiến bộ
xã hội và là tất yếu lịch sử Do đó, nếu đứng trên lập trường chân chính của giai cấp
vô sản, vận dụng sáng tạo phương pháp luận và thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình nghiên cứu, nhà sử học sẽ có phương pháp, thái độ
và mục đích nghiên cứu đúng đắn, tích cực, vì sự tiến bộ của xã hội Điều đó cũng
có nghĩa là tính đảng và tính khoa học thống nhất nhau
2.2 Những phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học lịch sử
2.2.1 Phương pháp phân tích - phê bình sử liệu
Trong nghiên cứu lịch sử, nguồn sử liệu là chứng cứ quan trọng nhất để xác
định sự tồn tại của lịch sử Nguồn sử liệu gồm có hai loại: Thứ nhất là sử liệu trực tiếp, là những sử liệu được sinh ra trực tiếp trong quá trình sự kiện lịch sử diễn ra
Trang 28(còn được gọi là di tích lịch sử), ví dụ như: giấy khai sinh, trống đồng Ngọc Lũ, châu bản Triều Nguyễn, các thông báo, quyết định của chính quyền, hiệp ước, hiệp
định Thứ hai là sử liệu gián tiếp, là những sử liệu phản ánh lại sự kiện lịch sử
thông qua một người khác - tác giả của sử liệu, ví dụ như: hồi ký, sử kí, các bộ chính sử của các cơ quan chép sử: Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Nam thực lục41,…
Để có thể phục dựng và nhận thức đúng về hiện thực lịch sử khách quan, ngoài việc tìm kiếm đầy đủ nguồn sử liệu ra, nhà sử học cần phải xác định độ tin cậy, tính chân thực của nguồn sử liệu, nghĩa là phải tiến hành phân tích, phê bình sử liệu42, cho dù nguồn sử liệu tìm được đáng tin cậy đến mấy, nhà sử học cũng “cần
phải phê bình, phân tích và xử lý theo những phương pháp khoa học nghiêm ngặt và luôn phải được phối kiểm bằng nhiều nguồn khác nhau”43 Nếu nguồn sử liệu thiếu
hoặc không được phê bình nghiên túc thì nhà sử học sẽ đứng trước nguy cơ xa rời
sự thật lịch sử
Phân tích – phê bình sử liệu là nhằm làm sáng tỏ tính xác thực, về lai lịch, thời đại, tác giả của sử liệu, xem xét sử liệu đó có còn nguyên vẹn hay đã bị sửa đổi, nội dung của nó có chính xác, khách quan hay không Quá trình đó gồm có hai bước: phê bình hình thức (phê bình bên ngoài) và phê bình nội dung (phê bình bên trong)44
2.2.1.1 Phê bình hình thức
Phê bình hình thức là nhằm xác định tính xác thực của sử liệu Khi tiếp xúc
với một sử liệu, việc đầu tiên của nhà sử học là phải xác định xem sử liệu đó là thật hay giả mạo Để biết được tính xác thực của sử liệu, nhà sử học cần phải làm rõ những dữ liệu bên ngoài của sử liệu như: xuất xứ, tác giả, thời gian, địa điểm và
41 Ngoài cách phân loại này ra còn có nhiều cách phân loại khác: Phân sử liệu thành hai loại (Di tích và Sử liệu truyền thống); Phân loại sử liệu theo hình thức (Sử liệu chữ viết, sử liệu vật chất); Phân loại theo lĩnh vực (Hiện vật; Phim, ảnh, ghi âm; Sử liệu dân tộc học, Sử liệu ngôn ngữ; Sử liệu truyền miệng),…
44 Phê bình hình thức còn được gọi là phê bình bên ngoài, phê bình uyên bác hoặc phê bình phân tích Phê
bình nội dung còn được gọi là phê bình bên trong, phê bình cấp cao hoặc là phê bình tổng hợp
Trang 29mục đích hình thành sử liệu, sử liệu là bản gốc hay bản sao Cho dù văn bản có ghi tác giả, địa điểm và thời gian hình thành hay không thì việc xác minh vẫn là một bước không thể bỏ qua của nhà sử học
Thứ nhất, xác định xuất xứ của sử liệu: sử liệu có nguồn gốc từ đâu, được
phát hiện trong hoàn cảnh nào, có đáng tin cậy hay không là vấn đề đầu tiên mà nhà
sử học cần phải xác minh khi tìm được sử liệu
Ví dụ: về việc xác minh xuất xứ của cuốn Nhật kí trong tù: ngày 27/8/1942,
trên đường đi từ Ba Mông (huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây) đến Bình Mã (huyện Điền Đông, tỉnh Quảng Tây), Hồ Chí Minh bị chính quyền Quốc dân đảng bắt tại Túc Vinh (huyện Thiên Bảo, tỉnh Quảng Tây) và bị giải lên huyện Tĩnh Tây Ngày 29/8/1942, Hồ Chí Minh bị giam trong nhà giam C.H.S thuộc huyện Tĩnh Tây hơn hai tuần và đây cũng chính là thời điểm Hồ Chí Minh bắt đầu viết Nhật kí trong tù, quá trình viết nhật kí này kéo dài đến lúc Bác được trả tự do (10/9/1942) Sau khi về nước, Hồ Chí Minh làm thất lạc cuốn nhật ký này
Về việc tìm lại được cuốn “Nhật kí trong tù”, ông Tạ Quang Chiến - người giúp việc lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Văn phòng Chủ tịch nước, kể lại:
Một hôm vào khoảng giữa năm 1955, ông đang ngồi nhận công văn
do các nơi gửi đến, thì thấy trong đó có một phong bì dày cộm hơn các phong bì khác, trên phong bì không đề tên người gửi, mà chỉ có dòng chữ: Gửi Văn phòng Chủ tịch phủ để trình lên Bác Hồ
Mở phong bì ra, ông thấy có một cuốn sổ nhỏ viết bằng chữ Hán rất sạch sẽ, không có chỗ nào gạch xóa, ông đem trình lên Bác Hồ Nhận cuốn sổ tay, xem qua một lượt, niềm vui hiện rõ trên nét mặt, Người nắm chặt tay ông Tạ Quang Chiến và nói: “Bác cảm ơn chú!” và dặn phải có thư cảm ơn và tặng thưởng cho người có công giữ gìn và chuyển lại cuốn
sổ này45
45 Hồng Khanh (2003), “Niềm vui của Bác Hồ khi nhận lại bản thảo Nhật ký trong tù, viết theo lời kể của ông
Tạ Quang Chiến”, Báo Nhân dân, Số ra ngày 17/5/2003
Tuy nhiên, theo Trần Đắc Thọ thì: “chính đồng chí Hồ Viết Thắng, người đồng hương với Bác Hồ, có thời là Bộ trưởng, là Phó Chủ nhiệm ủy ban Kế hoạch Nhà nước đã phát hiện ra tập nhật ký này và chính tay
Trang 30Sau khi cuốn sổ tay chép Nhật kí trong tù được tìm thấy, Hồ Chí Minh đã cho trưng bày trong Triển lãm cải cách ruộng đất tại Hà Nội (9/1955) và sau đó, cuốn nhật kí này đã được Bác gởi vào Phòng lưu trữ của Văn phòng Trung ương Đảng, nhưng do người giữ phòng lưu trữ không biết chữ Hán và khi gửi tập nhật ký vào, cũng không ai nói về lai lịch của tác phẩm nên nó được xếp lẫn với những sách vở tài liệu chữ Hán khác
Đến đầu năm 1959, quyển Nhật kí trong tù được Phạm Văn Bình tình cờ phát hiện ra Sau đó được cấp trên giao cho Viện Văn học tổ chức dịch, xuất bản và phát hành rộng rãi lần đầu tiên vào năm 1960, và văn bản gốc cũng được đưa vào lưu trữ
ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
Như vậy, nguồn gốc xuất xứ của cuốn Nhật kí trong tù đã được xác định rõ ràng và được chính tác giả - Hồ Chí Minh xác nhận Và điều đó đã chứng tỏ rằng, đây là bản thật, có nguồn gốc rõ ràng chứ không phải bản giả mạo
Thứ hai, xác định tác giả của sử liệu: nghĩa là cần phải xác định chính xác sử
liệu do ai, cơ quan nào tạo ra Điều này rất quan trọng đối với nhà sử học, bởi vì độ tin cậy và giá trị của sử liệu phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, quan điểm, lợi ích và mục đích của tác giả tạo ra chúng
Ví dụ: Cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch xuất
bản lần đầu tiên tại Trung Quốc, sau đó là tại Paris (Pháp) và đến năm 1955 mới được dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Hà Nội và được tái bản nhiều lần Tác giả cuốn sách được ghi trên bìa sách là Trần Dân Tiên, đây cũng là tác phẩm duy nhất
đã được biết đến của tác giả này
Nội dung cuốn sách viết về Hồ Chí Minh với các chi tiết sống động khiến độc giả thích thú, trừ cái tên Trần Dân Tiên là gây nhiều tranh cãi Tác giả Trần Dân Tiên thực sự là ai?, đó là vấn đề mà các nhà sử học cần phải xác định Hiện nay, có hai nhóm ý kiến khác nhau: nhóm ý kiến thứ nhất dựa vào phong cách của Hồ Chí
đồng chí Hồ Viết Thắng đã trao nó lại cho Bác 45 Đồng chí Hồ Viết Thắng còn nhớ khi nhận được tập nhật
ký, Bác đã nói: “Mình cứ tưởng quyển này đã bị mất rồi, may lại tìm thấy” (Phát biểu của đồng chí Hồ Viết Thắng, có được ghi âm)”[Trần Đắc Thọ (2001), “Những điều ta chưa biết về Ngục trung nhật ký cũng như
về quá trình dịch thơ Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Hán Nôm, Số 1/2011]
Trang 31Minh, đó là không bao giờ tự nói về mình, cho rằng cuốn sách này không phải do
Hồ Chí Minh viết Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng Trần Dân Tiên chính là một bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh Vấn đề xác định tác giả của cuốn sách này đến nay vẫn chưa có sự thống nhất46
Một ví dụ khác: trong nhiều bộ sử cổ của Việt Nam có ghi nhận rằng Hưng
Đạo vương Trần Quốc Tuấn có viết tác phẩm “Binh thư yếu lược”47
và bộ sách này
đã thất tuyền từ lâu (Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã xác nhận điều này) Hiện nay, trong hệ thống thư mục của Việt Nam đang tồn tại một quyển Binh thư yếu lược (được coi là của Trần Quốc Tuấn) được dịch, xuất bản và nhiều nhà sử học đã trích dẫn sách này như một sử liệu gốc khi viết về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên hay về Trần Quốc Tuấn
Tuy nhiên, Ngô Đức Thọ (Viện nghiên cứu Hán Nôm) đã chứng minh được rằng, nội dung của cuốn sách chắp nối từ một số cuốn binh thư khác nhau của Trung Quốc và nó là một cuốn sách giả mạo, chẳng liên quan gì đến tác giả Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cả48
Thứ ba, xác định thời gian, địa điểm hình thành sử liệu: giá trị của sử liệu
phụ thuộc vào thời gian và địa điểm hình thành của sử liệu, nếu không biết được mối liên hệ của sử liệu với sự kiện lịch sử mà nó phản ánh thì sử liệu đó sẽ có độ tin cậy thấp, thậm chí trở nên vô giá trị Sử liệu ra đời tại địa điểm và thời gian sự kiện lịch sử diễn ra (sử liệu trực tiếp) sẽ có độ tin cậy cao, ngược lại, sử liệu ra đời càng
xa với không gian và thời gian xảy ra sự kiện lịch sử và được phản ánh lại (sử liệu gián tiếp) thì độ tin cậy càng giảm Xác định được thời gian, địa điểm hình thành của sử liệu sẽ góp phần quan trọng vào việc xác định tính thật – giả cũng như giá trị của nguồn sử liệu
46 Trong bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập), do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - in năm 2011 không có tác phẩm này
47
Xem thêm: Binh thư yếu lược (1970), Phụ: Hồ trướng khu cơ Nguyễn Ngọc Tỉnh và Đỗ Mộng Khương
dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Văn Tân giới thiệu, Nxb KHXH, Hà Nội.
48 Xem: Ngô Đức Thọ (1989), “Đi tìm nguồn gốc và năm xuất hiện của văn bản binh thư yếu lược hiện có”,
Tạp chí Hán Nôm, Số 1/1989, Nguồn: http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/8602v.htm / (truy cập: 06/9/2014)
Trang 32Thông thường, sử liệu trực tiếp có thời gian và địa điểm ra đời trùng với thời gian và địa điểm ra đời của sự kiện Đối với sử liệu gián tiếp, thời gian và địa điểm hình thành sử liệu được phân thành hai nhóm: sử liệu có ghi rõ thời gian, địa điểm hình thành và sử liệu không ghi rõ thời gian, địa điểm hình thành của sử liệu Dù sử liệu ghi hay không ghi địa điểm và thời gian hình thành, chúng ta cũng cần phải phân tích, phê bình tính xác thực của nó trước khi sử dụng
Đối với sử liệu có ghi thời gian và địa điểm hình thành của sử liệu, chúng ta chỉ cần xác định nguồn gốc và tính phù hợp của văn bản là được Tuy nhiên, đối với các sử liệu cổ, hoặc sử liệu không ghi rõ thời gian và địa điểm ra đời, chúng ta căn
cứ vào hình thức và nội dung của sử liệu để tiến hành phê bình như sau:
Dựa vào hình thức của sử liệu: căn cứ vào chất liệu, chữ viết, độ cũ - mới sử
liệu để xác định niên đại và địa điểm hình thành của nó Ví dụ như đối với một văn bia thời Trần, các chữ viết trên văn bia không thể là chữ quốc ngữ, chữ viết không còn sắc nét (do bị mưa gió bào mòn), thân bia đá cũng không thể có dấu vết của máy cưa đá thời hiện đại, hay một văn bản được ghi niên đại là thế kỉ XV, nhưng bản đồ trong đó được in màu bằng công nghệ laser thì không hợp lí
Dựa vào nội dung của sử liệu: thông thường, thông tin bên trong nội dung của
sử liệu cũng giúp chúng ta xác định được thời gian và địa điểm hình thành của sử liệu, cụ thể như: tên các địa danh hành chính, chức vụ, phương ngữ, truyền thống văn hóa,… Ví dụ: một văn bản ra đời dưới thời Nguyễn thì nội dung của nó sẽ tuân thủ nguyên tắc kị húy, quốc hiệu được sử dụng trong văn bản (nếu có) sẽ là Việt
Nam hoặc Đại Nam Hay như trường hợp của cuốn “Binh thư yếu lược” như đã nêu
ở trên, trong nội dung của nó ghi chép luôn cả những sự kiện sau khi Trần Quốc Tuấn qua đời (thời Chúa Trịnh, Tây Sơn,…), điều đó chứng tỏ rằng, quyển “Binh thư yếu lược” đó không phải ra đời dưới thời nhà Trần và chẳng liên quan gì đến tác giả Trần Quốc Tuấn
Thứ tư, xác định sử liệu là bản gốc hay bản sao chép lại, bản thật hay giả:
trong nghiên cứu sử học, sử gia tham khảo và khai thác trực tiếp được nhiều nguồn
Trang 33sử liệu gốc thì độ tin cậy của công trình sử học càng cao Chính vì vậy, việc xác định sử liệu là nguyên gốc hay bản sao có ý nghĩa rất quan trọng
Ví dụ: Sau khi tìm lại được và công bố cuốn Nhật kí trong tù, một vấn đề khác
về sử liệu học liên quan đến tác phẩm xuất hiện:
Báo Nhân dân số ra ngày 13/9/1955 có bài viết về sự kiện cuốn Nhật kí được
triển lãm của phóng viên Phan Quang: “Cuốn nhật ký khổ nhỏ, giấy bản màu vàng
Trang đầu có hình vẽ hai nắm tay rắn rỏi giơ lên phá tan xiềng xích ” (*)
và trong bài “Quyển Nhật ký trong tù của Bác Hồ” đăng trên Báo Nhân dân ra ngày 19/5/1957, Nguyễn Tâm cho biết: “Tại phòng triển lãm những tài liệu cách mạng,
có một quyển vở nhỏ bằng giấy bồi, ngoài bìa có bốn chữ Ngục trung nhật ký”49.Tuy nhiên, ông Hồ Đức Thành50 – người được Bác cho xem bản Nhật kí trong
tù lúc còn ở Trung Quốc đã khẳng định rằng, tập nhật kí mà Ông được Hồ Chí Minh cho xem lần đầu tiên “được đóng bằng những tờ giấy báo cắt ra khâu lại, chữ được viết bằng bút máy, khổ giấy to hơn quyển Nhật kí trong tù bằng giấy bản, hiện lưu trữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (và) khi chép lại, Bác Hồ có sửa”51
Như vậy, cuốn Nhật kí trong tù đang được lưu trữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện nay là bản được tác giả Hồ Chí Minh chép lại (có chỉnh sửa) từ bản gốc đầu tiên được viết trong các nhà giam của chính quyền Tưởng Giới Thạch Nếu xét
về mặt văn bản thì cuốn nhật kí này không phải là văn bản được viết lần đầu tiên, nhưng đó vẫn là một văn bản gốc vì nó được chính tay của tác giả Hồ Chí Minh chép lại và chỉnh sửa
Hay như trong cuốn “A New Storehouse of Lincoln material” được xuất
bản ở Mĩ vào năm 1928 đã công bố “những thủ bút chưa hề được xuất bản” của
Tổng thống Lincoln, bao gồm những thư từ của Lincoln hồi còn trai trẻ và những
Hợp tác xã quân đội ở Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) và được Bác Hồ cho xem tập Nhật kí trong tù.
51 Trần Đắc Thọ (2001), “Những điều ta chưa biết về Ngục trung nhật ký cũng như về quá trình dịch thơ
Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Hán Nôm, Số 1/2011
Trang 34giấy tờ dính líu đến bà con thân thuộc có bút tích của ông Tuy nhiên, sau đó, Paul Minor đã chứng minh được rằng mực dùng (màu xanh lá cây) và nét chữ trong các
sử liệu này không phải của Lincoln52, vậy là sự giả mạo tư liệu đã được phát hiện
2.2.1.2 Phê bình nội dung
Đối với các sử liệu trực tiếp, nhà sử học chỉ cần phê bình hình thức và xác định được tính xác thực hay giả mạo của sử liệu là đủ Nhưng đối với sử liệu gián tiếp thì cách làm như thế là chưa đủ Bởi vì, trong nội dung của các
sử liệu gián tiếp, tác giả của sử liệu có thể cố ý bịa đặt hay phản ánh sai lệch hiện thực lịch sử do trí nhớ, năng lực, do muốn khoe khoang, do sự chi phối của quyền lợi hoặc có thể vì “tình thế bắt buộc” Do đó, đối với loại sử liệu này, nhà sử học phải tiến hành phê bình, giám định cẩn thận các vấn đề liên quan đến nội dung của nó trước khi sử dụng
Thứ nhất, xác định động cơ phản ánh của sử liệu: trong thực tế, tác giả của
các sử liệu có thể cố ý bịa đặt hay phản ánh sai lệch về hiện thực lịch sử vì muốn khoe khoang, vì quyền lợi hay vì “tình thế bắt buộc”, do năng lực hạn chế hoặc cũng có thể do vô tình mà nhầm lẫn53 Vì vậy, nhà sử học phải phân tích xem tác giả
có thật sự trực tiếp thấy hoặc nghe không, có đủ khả năng để nghi nhận (quan sát)
sự việc xảy ra không, có thành thật và vô tư không54, có bị cấm đoán hay ép buộc phải viết theo quan điểm của ai không?
Thứ hai, so sánh, đối chiếu sử liệu: một sự kiện lịch sử xảy ra thường được
phản ánh trong nhiều nguồn sử liệu khác nhau, do đó nhà sử học cần phải so sánh, đối chiếu nội dung nguồn sử liệu đang xem xét với các nguồn sử liệu liên quan khác
để xem chúng có phù hợp với nhau không Nếu có sự phù hợp thì sử gia phải xem
54
Ví dụ: để được nổi tiếng, nhà khảo cổ học Charle Dawson đã dùng một sọ người hơi cổ đem ghép với xương hàm dưới của một con vượn (mới chết khỏang độ 100 năm, được đem mài và sơn cho có vẻ rất xưa) Thế là Charle Dawson có được một cái đầu lâu vừa giống người, vừa giống khỉ rồi chôn xuống lòng đất cổ ở Piltdown Chờ một thời gian khi chỗ đào bới được trở lại bình thường, nhà cổ học Dawson đến đó khai quật
chiếc sọ người - khỉ quý báu đó…!.[Theo Lê Tử Thành (1996), Sđd, tr.156.]
Trang 35xét thêm sự phù hợp ấy (ví dụ đều có sự sai lầm giống nhau) là do nguyên nhân nào: có sự sắp xếp trước, thông đồng giữa các nhân chứng? có sự gặp gỡ chung về quyền lợi? có một tâm trạng giống nhau?, hoặc là vì chúng cùng phản ánh đúng về hiện thực khách quan của sự kiện lịch sử
Hiện nay, nhiều công trình sử học, nhất là lịch sử địa phương hay lịch sử hiện đại, lịch sử Đảng thường sử dụng những nguồn sử liệu gián tiếp, nhất là những lời
kể về sau của những người đã chứng kiến sự kiện (hồi kí) Những lời kể như vậy cần được phân tích so sánh, đối chiếu với các sử liệu khác xem chúng có phù hợp với nhau không, nếu không, nhà sử học sẽ dễ bị dẫn đến tình trạng là cùng một sự kiện, nhưng có nhiều sử liệu mô tả khác nhau, thậm chí đối lập nhau
Thứ ba, phân tích tính logic của sử liệu: nhà sử học phải xem xét những nội
dung của sử liệu ấy có trái với các quy luật khách quan hay không, chúng có mâu thuẫn với nhau hay không, từ đó phát hiện ra những điều vô lí bên trong sử liệu Công việc này đòi hỏi nhà sử học phải có kiến thức uyên bác và thận trọng
2.2.2 Phương pháp lịch sử và phương pháp logic
2.2.2.1 Phương pháp lịch sử
Mọi sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội đều có quá trình lịch sử của
nó, tức là có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Đó là một quá trình vận động và biến đổi liên tục, hết sức cụ thể, đầy quanh co, phức tạp, bao gồm cả những cái ngẫu nhiên lẫn cái tất yếu, muôn hình, muôn vẻ, trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định
Phương pháp lịch sử là phương pháp tái hiện trung thực bức tranh quá khứ
của sự vật, hiện tượng theo đúng trình tự thời gian và không gian như nó đã từng diễn ra (quá trình ra đời, phát triển, tiêu vong)
Nhiệm vụ của phương pháp lịch sử là (nhà sử học) thông qua các nguồn sử liệu để nghiên cứu và phục dựng đầy đủ các điều kiện hình thành, quá trình ra đời, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của các sự kiện, hiện tượng lịch
sử, đồng thời đặt quá trình phát triển đó trong mối quan hệ tác động qua lại với các
Trang 36nhân tố liên quan khác trong suốt quá trình vận động của chúng, từ đó có thể dựng lại bức tranh chân thực của lịch sử như đã xảy ra
Ví dụ như khi nghiên cứu về phong trào Cần Vương, bằng phương pháp pháp lịch sử, nhà sử học sẽ tìm kiếm nguồn tư liệu một cách chính xác và đầy đủ nhất có thể để mô tả quá trình hình thành mâu thuẫn, chuẩn bị lực lượng, bùng nổ và đến lúc thất bại hoàn toàn với đầy đủ các chi tiết cụ thể và phức tạp, gồm cả những sự kiện tất nhiên lẫn ngẫu nhiên, theo đúng thứ tự thời gian như nó đã từng diễn ra
Một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp lịch sử:
Thứ nhất, tính biên niên: nhà sử học phải trình bày quá trình hình thành và
phát triển của sự kiện, hiện tượng lịch sử theo đúng trình tự của nó như đã diễn ra trong thực tế để thấy được tính liên tục trong quá trình vận động, phát triển của đối tượng cần nghiên cứu
Thứ hai, tính toàn diện: khi phục dựng quá khứ, nhà sử học phải khôi phục
đầy đủ tất cả các mặt, các yếu tố và các bước phát triển của sự kiện, hiện tượng lịch
sử, tránh tình trạng qua loa, đơn giản thậm chí cắt xén lịch sử Tuy nhiên, chúng ta cũng cần tránh tình trạng liệt kê, chất đống tư liệu, phải biết lựa chọn các tư liệu tiêu biểu, điển hình về các sự kiện, hiện tượng lịch sử cần nghiên cứu
Thứ ba, tính chi tiết: quá trình lịch sử diễn ra không phải lúc nào cũng bằng
phẳng, thuận lợi mà thường có lúc nhanh - chậm, thuận lợi – khó khăn khác nhau, thậm chí có lúc quanh co, thụt lùi bởi vì “trong sự phát triển muôn màu, muôn vẻ (của lịch sử - TG), có khi cái cũ chưa thật tàn tạ, cái mới đã nảy sinh Hoặc có khi cái mới tuy đã chiếm ưu thế, nhưng cái cũ hãy còn có điều kiện và nhu cầu tồn tại trong một chừng mực nhất định”55 Do đó, nhà sử học phải bám sát và phản ánh chi tiết quá trình vận động và phát triển của lịch sử, kể cả các bước phát triển quanh co, thụt lùi tạm thời của lịch sử để đảm bảo tính trung thực và phản ánh đúng tiến trình vận động của lịch sử
Thứ tư, tính cụ thể: các sự kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra luôn gắn liền với
những không gian, thời gian và con người cụ thể Do đó, nhà sử học cần chú ý nêu
55
Văn Tạo (1995), Phương pháp lịch sử và Phương pháp logic, Viện Sử học xuất bản, Hà Nội, tr 38
Trang 37rõ địa điểm, thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử và cả những con người cụ thể đã tham gia vào sự kiện, hiện tượng đó
Lịch sử phát sinh, phát triển và tiêu vong của sự vật, hiện tượng luôn quanh
co, phức tạp, bao gồm cả những yếu tố tất nhiên lẫn ngẫu nhiên Sự đa dạng, quanh
co phức tạp đó đã làm cho bản chất, quy luật tất yếu của sự vật, hiện tượng lịch sử
bị “che khuất” Việc loại bỏ đi những yếu tố ngẫu nhiên, không cơ bản để thấy được những cái tất yếu, cơ bản và những cái được lặp đi lặp lại,… từ đó làm bộc lộ bản chất, quy luật phát triển khách quan của sự vật, hiện tượng là mục tiêu quan trọng của công tác nghiên cứu sử học56
Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu tổng quát các sự kiện, hiện
tượng lịch sử, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, không cơ bản để làm bộc lộ bản chất, tính tất yếu và quy luật vận động và phát triển khách quan của sự kiện, hiện tượng lịch sử đang “ẩn mình” trong các yếu tố tất nhiên lẫn ngẫu nhiênphức tạp ấy57 Nhiệm vụ của phương pháp logic là: “đi sâu tìm hiểu cái bản chất, cái phổ biến, cái lặp lại của các hiện tượng (lịch sử - TG)”; … “nắm lấy cái tất yếu, cái xương sống phát triển, tức nắm lấy quy luật của nó (lịch sử - TG)”; “nắm lấy những nhân vật, sự kiện, giai đoạn điển hình và nắm qua những phạm trù, quy luật nhất định (của hiện thực lịch sử - TG)”58
, từ đó giúp nhà sử học thấy được những bài học
và xu hướng phát triển của lịch sử
56 Theo Văn Tạo: “Phương pháp logic khác phương pháp lịch sử ở chỗ nó không nhằm diễn lại toàn bộ tiến trình của lịch sử, mà là nhằm nghiên cứu các hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát nhằm nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử, nghiên cứu các hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng”[Văn Tạo (1995), Sđd, tr 41]
57 GS.TS Phan Ngọc Liên định nghĩa: “Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong
hình thức tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng trong sự vận động của cái khách quan được nhận thức này”[Phan Ngọc Liên (CB) (2011), Sđd, tr 140]
58
Văn Tạo (1995), Phương pháp lịch sử và Phương pháp logic, Viện Sử học xuất bản, Hà Nội, tr 41-42
Trang 38Một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp logic:
Thứ nhất, tránh máy móc và định kiến, áp đặt: lịch sử vận động theo quy luật
của nó, chính vì vậy, khi sử dụng phương pháp logic để phát hiện ra quy luật vận động và phát triển của lịch sử, đòi hỏi nhà sử học phải đi tìm quy luật của lịch sử từ chính quá trình vận động phát triển phức tạp của lịch sử Có như vậy, nhà sử học mới phát hiện được cả những quy luật phổ biến lẫn đặc thù (riêng), sự phong phú,
đa dạng và phát triển đi lên của lịch sử
Nhà sử học cần tránh tình trạng áp đặt những định kiến, những quy luật chung của lịch sử có sẵn để làm khuôn mẫu cho việc nhận thức, đánh giá về những đặc điểm, quy luật của các sự kiện hiện tượng lịch sử khác nhau Không được định ra sẵn cái “khung chân lí” để khuôn tất cả lịch sử vào đó, biến nghiên cứu lịch sử trở thành việc tìm lấy (thậm chí bịa đặt ra) những sự kiện lịch sử thích hợp để minh họa cho những định kiến, “chân lí” có sẵn đó
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, nhà sử học cần phải nắm chắc quy luật chung, phổ biến của lịch sử, phải đưa ra giả thuyết khoa học để làm cơ sở, định hướng cho việc xem xét, nghiên cứu về quy luật vận động và phát triển của các sự kiện, hiện tượng lịch sử
Thứ hai, không tách rời khỏi lịch sử: việc nghiên cứu để tìm ra cái phổ biến,
bản chất, quy luật… của lịch sử phải được tiến hành trên cơ sở khái quát hóa và rút
ra từ hiện thực của lịch sử, căn cứ vào lịch sử cụ thể Nghĩa là nhà sử học phải sử dụng phương pháp logic gắn liền với phương pháp lịch sử, nếu tách rời phương pháp lịch sử thì nhà sử học sẽ rơi vào tình trạng suy luận trừu tượng thiếu cơ sở, nhận xét chung chung, thậm chí kết luận sai lầm về lịch sử Đồng thời cũng tránh trường hợp chỉ dựa vào vài dữ kiện ít ỏi để khái quát hóa thành quy luật, bản chất của sự vật, hiện tượng
2.2.2.3 Mối quan hệ giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình nghiên cứu khoa học lịch sử Giải thích tính thống nhất giữa hai phương pháp, Ăng-ghen viết:
Trang 39Về bản chất, phương pháp logic không phải là cái gì khác là phương pháp lịch sử, chỉ có điều là nó thoát khỏi những hình thức lịch sử
và những ngẫu nhiên pha trộn
Lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó Và
sự vận động tiếp tục thêm nữa của nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trìu tượng và nhất quán về mặt lý luận
Nó là phản ánh đã được uốn nắn lại, nhưng uốn nắn theo những quy luật
mà bản thân quá trình lịch sử thực tế đã cung cấp, hơn nữa có thể xem xét mỗi một nhân tố ở cái điểm phát triển mà ở đó quá trình đạt tới chỗ hoàn toàn thành thục và đạt đến hình thức điển hình59
Hai phương pháp này giúp nhà sử học mô tả lịch sử, đi đến vạch ra bản chất, quy luật phát triển của lịch sử Nếu phương pháp lịch sử có nhiệm vụ khôi phục bức tranh quá khứ sinh động và phong phú của hiện thực lịch sử thì phương pháp logic
sẽ có nhiệm vụ đi tìm cái logic, cái tất yếu bên trong “bức tranh quá khứ” đó để vạch ra bản chất, quy luật vận động, phát triển khách quan của hiện thực lịch sử Trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử, nhà sử học cần phải biết kết hợp vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic để có được kết quả nghiên cứu tốt nhất, tránh được tình trạng xem xét một chiều, chủ quan, máy móc, lí luận suông, đồng thời cũng tránh được tình trạng ôm đồm, liệt kê, chất đống sử liệu không cần thiết
59
Dẫn theo: Phan Ngọc Liên (CB) (2011), Phương pháp luận sử học, Nxb ĐHSP, Hà Nội, tr 140
Trang 40hiến khác nhau của những nhân vật lịch sử khác nhau trong cùng một thời đại cũng như trong những thời đại lịch sử khác nhau
2.2.3.1 Phương pháp so sánh đồng đại
So sánh đồng đại là nghiên cứu và so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử khác nhau (có liên quan đến nhau) xảy ra trong cùng một thời điểm để làm rõ mối liên
hệ, tác động lẫn nhau giữa các nhân tố, các sự kiện, hiện tượng lịch sử cần xem xét
và thấy được tính hệ thống, tính phổ biến và đặc thù của chúng Những nghiên cứu
so sánh đồng đại còn được gọi là những nghiên cứu theo không gian vì khi đó thời gian không còn là một biến số nữa
Phương pháp này giúp nhà sử học bao quát được toàn vẹn và đầy đủ các mặt, các bộ phận cụ thể của lịch sử, so sánh được những sự kiện, hiện tượng lịch sử đã xảy ra trong cùng một thời gian nhưng thuộc các không gian khác nhau, giúp nhà nghiên cứu thấy được các mặt quan hệ mật thiết với nhau, tác động ảnh hưởng lẫn nhau giữa các lĩnh vực của lịch sử (như kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng…), nắm bắt được cái chung và cái riêng giữa các nước, các khu vực khác nhau trên thế giới, giữa các vùng khác nhau trong cùng một quốc gia tại cùng một thời điểm lịch sử (Ví
dụ như: so sánh Cách mạng tháng Tám 1945 ở ba miền Bắc – Trung - Nam, so sánh phong trào giải phóng dân tộc giữa Châu Á với Châu Phi), và so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử có tính chất khác nhau xảy ra trên cùng một lãnh thổ (thí dụ như phong trào công nhân, phong trào nông dân, phong trào trí thức ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, v.v )
2.2.3.2 Phương pháp so sánh lịch đại
So sánh lịch đại là nghiên cứu, so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử trong
quá trình vận động của nó thuộc các biên độ thời gian khác nhau khác nhau để thấy được sự vận động phát triển, dự báo khuynh hướng phát triển của của các sự kiện, hiện tượng theo thời gian, theo tiến trình phát triển của lịch sử Yêu cầu đối với so sánh lịch đại là: