Theo nghĩa rộng nhất, biểu tượng là một loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa các mặt hình thức cảm tính tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người; cái biểu
Trang 1LỜI CẢM ƠN Văn học là một môn học đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi của sinh viên Đây là một
môn học vừa lạ vừa quen, vừa gần gũi nhưng cũng xa lạ, vì còn khá nhiều điều mới
mẻ mà chúng em chưa biết Tuy nhiên, sau quá trình được Thầy hướng dẫn, chúng em
đã cảm nhận được sự thú vị của môn học
Em rất chân thành cảm ơn Thầy đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức cho chúng
em, cảm ơn Thầy vì những giờ học rất vui vẻ thoải mái và hữu ích Kính chúc Thầy và gia đình sức khỏe!
Quả thực bài tiểu luận này với lượng kiến thức khá nhiều và với khả năng, năng lực hạn chế sẽ còn rất rất rất nhiều thiếu sót Em cũng có kế thừa, cóp nhặt những thành tựu mà anh chị để lại, kính mong Thầy góp ý và thông cảm để em hoàn thành bài tiểu luận tốt hơn
Em cảm ơn Thầy!
Trang 2ca Việt Nam Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng
mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” Cái “quê mùa” của
Nguyễn Bính chính là quá trình tô điểm cho thể thơ dân tộc, cho những đằm thắm
mặn mà “chân quê”, cho những ví von, so sánh, gần gũi mà xa xăm, mới mà cũ khó
lòng mà quên trong lòng độc giả Để rồi, sau bao nhiêu lớp bụi thời gian, thơ Nguyễn Bính vẫn còn đó, trong trẻo như một bản giao âm giữa những cuồng xoay của cuộc
đời, của tạo vật, của những tiến trình đổi mới – lạ hóa… và rồi đâu đó lời bài hát Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/ Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn… vang lên, khẳng định
sức sống mãnh liệt và dấu ấn đậm nét cùng giá trị của thơ ca Nguyễn Bính trong lòng người đọc
Đến với Nguyễn Bính chính là đến với quê hương trong trẻo, đến với những bản tình ca diệu vợi, đến với những điều bình dị, gần gũi…nhưng xa lạ đến mức đọc
xong thơ ông ta mới nhận ra Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê Ừ, thì ai cũng biết nhưng nếu không đọc thơ Nguyễn Bính không phải
ai cũng nhận ra điều đó
Thơ Nguyễn Bính không chỉ có nội dung sâu sắc mà còn là một thế giới nghệ thuật đa thanh Đến với thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính ta bắt gặp không phải chỉ một biểu tượng mà là một hệ thống biểu tượng với nhiều tầng ý nghĩa khác nhau,
khiến thơ ông “chân quê” một cách không toàn vẹn! Khám phá hệ thống biểu tượng
Trang 3đó, chính là khám phá ra một thế giới khác mới lạ hơn trong thơ Nguyễn Bính và góp
phần giúp độc giả đến gần hơn với thế giới đầy màu sắc trong thơ của tác giả “Chân Quê” Biểu tượng nghệ thuật là một dạng mã hóa những cảm xúc, tư tưởng của con
người nghệ sĩ về hiện thực đời sống Biểu tượng còn bộc lộ cá tính sáng tạo, phong cách tác gia, khuynh hướng văn học và cả đặc trưng văn hóa của từng dân tộc Nghiên cứu tác giả, tác phẩm từ góc độ biểu tượng do đó đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật
Tập thơ Lỡ bước sang ngang, ra đời năm 1940 với ba mươi lăm bài thơ đã trở thành sáng tác tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính Có thể nói tập thơ đã mang đến cho người đọc nhiều cung bậc cảm xúc yêu thương, hờn ghen, xót xa, lỡ dở Đồng thời, ở đó cũng là sự kết tinh bao nét tài hoa trong nghệ thuật thơ Nguyễn Bính
Ở đó, Xuân không chỉ là mô típ thơ khá độc đáo vừa lạ vừa quen, lặp đi lặp lại tạo sức
rung động mãnh liệt, tạo hình tượng và còn là một phương tiện trữ tình, một công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Bính Nghiên cứu về biểu tượng này ta thấy,
Xuân hiện lên với bao nhiêu tầng ý nghĩa từ điểm nhấn của sự mở đầu cho vòng tuần
hoàn trời đất, đến biểu tượng cho tuổi xuân trôi qua, cho kỉ niệm hoen tàn, cho đời
người ngắn ngủi, cho niềm vui, cho nỗi buồn… Có thể nói Xuân là biểu tượng giúp
tác giả chuyên chở những trăn trở với thơ, với đời
Chính vì vậy bằng niềm yêu thích của mình người viết xin chọn đề tài “Biểu tượng Xuân trong tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính” để góp phần
giúp cho những người yêu thơ bước thêm một bước dạo chơi trong vườn thơ Nguyễn Bính
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là khái niệm về biểu tượng (đặc biệt là biểu tượng thơ ca) và biểu tượng Xuân trong thơ Nguyễn Bính
Phạm vi nghiên cứu được xác định là tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang - Nguyễn Bính
Trang 43 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài người viết xác định những mục đíchnghiên cứu như sau:
Thứ nhất: Làm rõ khái niệm về biểu tượng, biểu tượng thơ ca
Thứ hai: Khảo sát,tìm hiểu giá trị, ý nghĩa và nét độc đáo, đặc sắc của biểu tượng Xuân trong thơ Nguyễn Bính
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết có sử dụng phối hợp các phương pháp như:
- Thống kê,
- So sánh,
- Phân tích
Trang 5NỘI DUNG BIỂU TƯỢNG VÀ VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA BIỂU TƯỢNG XUÂN TRONG THƠ
NGUYỄN BÍNH
1 Khái quát về biểu tượng
1.1 Khái niệm biểu tượng
Thuật ngữ biểu tượng có nhiều cách hiểu khác nhau Theo nghĩa rộng nhất, biểu tượng là một loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa các mặt hình thức cảm tính (tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người; cái biểu trưng)
và mặt ý nghĩa (cái được biểu trưng) mang tính có lí do, tính tất yếu.Tuy vậy đối với mỗi ngành khoa học khác nhau, người ta lại có những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này
Theo từ điển Tiếng Việt (GS Hoàng Phê chủ biên): Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt [6, 26]
Theo Từ điển Tiếng Việt của Vũ Dũng- NXB KHXH - 2000, "Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai."
Theo từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi):
“Biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [8, 23]
Theo TS Nguyễn Văn Hậu: Biểu tượng là một hình thái ngôn ngữ - ký hiệu tượng trưng của văn hoá Nó được sáng tạo nhờ vào năng lực “tượng trưng hoá” của
Trang 6con người, theo phương thức dùng hình ảnh này để bày tỏ ý nghĩa kia nhằm để nhận thức và khám phá ra một giá trị trừu tượng nào đó
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về biểu tượng Một số ngành khoa học cũng hình thành những khái niệm riêng về biểu tượng như Triết học, Tâm lí học, Xã hội học… mà chúng tôi thống kê ở trên Dù đứng trên những quan điểm và lập trường khác nhau nhưng chúng ta vẫn tìm được điểm chung của biểu tượng Biểu tượng là những hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó được hình thành trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh có trước Biểu tượng không hoàn toàn là thực tế bởi vì nó là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tri giác, nhưng những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là chủ quan xuất phát
từ hoạt động tâm trí của chủ thể Biểu tượng là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng khách quan đã được tri giác Ngày nay, biểu tượng đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Phân tâm học, Ngôn ngữ học, Xã hội học, Triết học và cả Văn học…
1.1.1 Phân biệt hình ảnh và biểu tượng.
Ở trên chúng tôi đã đưa ra những khái niệm biểu tượng của các nhà nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới đồng thời cũng đưa ra cách hiểu của bản thân mình Tuy nhiên để có thể đi sâu vào đề tài này và hiểu được ý nghĩa của biểu tượng thì một điều vô cùng quan trọng đó là phân biệt được hình ảnh vả biểu tượng Chúng ta rất dễ nhầm lẫn giữa chúng bởi vì cả hai đều bắt nguồn từ hình ảnh, tuy nhiên không phải bất cứ hình ảnh nào cũng là biểu tượng Biểu tượng là một khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt
Hình ảnh và biểu tượng đều có sự tương đồng là chúng đều cho ta hình ảnh của
sự vật.Tuy nhiên giữa chúng cũng mang sự khác biệt rõ nét, nếu ta không tìm hiểu kỹ thì sự nhầm lẫn rất dễ xảy ra
Trang 7Trước hết hình ảnh có được do chúng ta tri giác trực tiếp sự vật hiện tượng hoặc cảm giác Chính vì vậy hình ảnh là cái ở hiện tại Và khi đi vào trong tác phẩm hình ảnh đó thể hiện chính cái điều mà chủ thể tri giác được cùng với đó là tâm tư, tình cảm, cảm xúc…
Biểu tượng là một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, nó được hình thành trên cơ sở của cảm giác, tri giác đã xảy ra trước đó được giữ lại trong ý thức Như vậy biểu tượng là cấp độ cao hơn của hình ảnh, nó không thể hiện trực tiếp cái
mà chủ thể tri giác được mà đã được tôi luyện trong ý thức Nó có thể những gì người
ta tri giác, tưởng tượng ở quá khứ hoặc tương lai Còn đặt trong chỉnh thể tác phẩm, biểu tượng phải là những hình ảnh được lặp đi, lặp lại nhiều lần Biểu tượng mang trong mình một sức gợi vô cùng lớn, ta không thể hiểu nó đơn giản như hình ảnh Trước hết biểu tượng phải được đặt trong chỉnh thể bài thơ sau đó liên hệ, nối ghép nó với ý nghĩa từ cổ xưa để rồi đưa ra một ý nghĩa phù hợp nhất
1.1.2 Phân biệt ẩn dụ và biểu tượng
Những hình ảnh sóng đôi trong ca dao Việt Nam được sử dụng lặp đi lặp lại là những biểu tượng quen thuộc: trầu -cau, mận - đào, thuyền - bến, trúc - mai Những biểu tượng này có thể được xem như những hình ảnh ẩn dụ trong cao dao:
Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợithuyền
Tiện đây mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thìđào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Theo tác giả, Phạm Thu Yến khi nhìn nhận biểu tượng gồm hai mặt là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan và có sự chuyển nghĩa, nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm thì biểu tượng không có gì khác ẩn dụ Có lẽ cũng vì cách hiểu đó mà một số ý kiến đã
Trang 8phủ định vấn đề nghiên cứu biểu tượng Vấn đề ranh giới giữa biểu tượng và ẩn dụ đã tạo ra sự tranh luận lớn
Cần khẳng định rằng ranh giới so sánh giữa biểu tượng và ẩn dụ là tương đối, không thể đòi hỏi có một sự phân định rõ ràng mà cần có sự kết hợp hài hòa giữa biểu tượng và ẩn dụ
1.1.3 Phân loại biểu tượng
Có nhiều cách phân loại, nhưng dựa trên cơ sở loại hình biểu tượng tượng phân loại như sau:
Biểu tượng văn hóa: Những thực thể vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành
động, ý niệm…) có khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính của nó, tồn tại trong một tập hợp, một hệ thống đặc trưng cho những nền văn hóa nhất định: nghi lễ, hành vi kiêng kị, thần linh, trang phục… Biểu tượng văn hóa có các biến thể loại hình như: tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, nghệ thuật… Biểu tượng văn hóa bao gồm cả những biến thể vật thể (trong các ngành nghệ thuật như kiến trúc, hội họa, điêu khắc…) và phi vật thể (tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, văn học)
Biểu tượng nghệ thuật - biểu tượng thơ ca: Các biến thể loại hình của biểu
tượng văn hóa trong những ngành nghệ thuật khác nhau (hội họa, âm nhạc, văn học) Biểu tượng thơ ca chính là một biến thể của biểu tượng văn hóa trong văn học
Biểu tượng ngôn từ nghệ thuật: Các biểu tượng nghệ thuật được cấu tạo lại
thông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học Trong phạm vi ngôn ngữ văn học, các biểu tượng tâm lí, biểu tượng văn hóa đều được chuyển thành “từ - biểu tượng”
1.2 Biểu tượng “Xuân” trong thơ ca
Mùa xuân, tuổi xuân gợi những hình ảnh tươi đẹp nhất của sự sống Xuân nghĩa gốc dùng để chỉ mùa đầu trong bốn mùa của một năm Trong văn chương,
từ xuân mang nhiều hàm nghĩa, như chỉ sự trẻ trung tươi đẹp Em như cô gái hãy còn xuân, hoặc được dùng để tính thời gian một năm, một tuổi Đời mới hai xuân (Tố
Trang 9Hữu), có khi dùng để chỉ tình yêu nam nữ Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng (Nguyễn Du)
Trong phong trào Thơ mới (1932-1945), các nhà thơ trẻ viết khá nhiều về thơ xuân Bởi vì xuân hợp với những thổn thức tin yêu của tâm hồn dễ rung lên những âm thanh của con tim rạo rực trước những chồi non, cánh én và nụ hoa e ấp báo hiệu xuân
sang Thế Lữ với Hồ xuân và thiếu nữ, Huy Cận với Hồn xuân, Chiều xuân, Xuân
y, Nguyễn Bính với Mùa xuân xanh, Xuân về, Hàn Mặc Tử với Mùa xuân chín, Xuân Diệu với Vội vàng, Nụ cười xuân, Xuân không mùa, Nguyên đán, Tình thứ nhất… Đó cũng chính là nguồn thi hứng không bao giờ cạn của các thi nhân từ xưa
đến nay
Thế Lữ đã có những Giây phút chạnh lòng:
Động lòng nhớ bạn xuân năm ấy
Cùng ngắm xuân về trên khóm mai.
Nhà thơ Huy Cận với Chiều xuân thì lòng vẫn reo vui tràn đầy sự sống ấm áp:
Đời măng đang dậy
Tưng bừng muôn nơi…
Mái rừng gió hẩy
Chiều xuân đầy lời.
Hàn Mặc Tử lại cảm nhận một xuân rất khác, vừa thực vừa hư:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Bên giàn thiên lý bóng xuân sang.
Riêng với Xuân Diệu - nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), Xuân
là mùa hợp nhất với thơ ông, Xuân trong thơ Xuân Diệu mang những đam mê, cuống quýt, cháy bỏng đến mãnh liệt, sợ thời gian trôi nhanh và tàn phai Xuân Diệu muốn
tận hưởng đến tột cùng của sự khao khát tình xuân: Tháng giêng ngon như một cặp
Trang 10môi gần, hoặc Tình không tuổi và xuân không ngày tháng Thậm chí những xúc cảm
dâng cao tột cùng như muốn biến thành hành động trong Vội vàng
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
…Hỡi xuân hồng,ta muốn cắn vào ngươi!
Với Nguyễn Bính - nhà thơ chân quê nhất, thì Mùa xuân là cả một mùa xanh đầy cảm hứng lãng mạn, đan xen với những nét hiện đại làm cho hồn thơ mộc mạc ấy
thắm đượm xuân sắc với Xuân về
Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm,cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.
Xuân của một số nhà thơ của phong trào Thơ mới, mang nhiều cảm xúc: sự dạt
dào, xúc cảm, nhiệt thành của tuổi trẻ… và thoáng chút ngậm ngùi, nuối tiếc một cái
gì của quá khứ đã nặng hồn dân tộc Mùa xuân, tuổi xuân, thiếu nữ, luôn có sức lay động sâu xa trong lòng người Các nhà thơ đã giao cảm cùng mùa xuân, thăng hoa
cùng Xuân để tạo nên những biểu tượng Xuân phong phú, độc đáo, tươi mới, đầy
hương sắc
Vậy Xuân là mô típ thơ khá độc đáo và có sức rung động mãnh liệt, có năng
lực tạo tượng miêu tả mà là một phương tiện trữ tình, một công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm của thi nhân
Trang 111.3 Nguyễn Bính và tập thơ “Lỡ bước sang ngang”
1.3.1 Cuộc đời
Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính Nhà thơ sinh vào cuối xuân đầu hạ năm Mậu Ngọ (1918) trong môt gia đình nhà nho nghèo tại xóm Trạm, thôn Thiện Vinh, xã Đổng Đôi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Thuở bé Nguyễn Bính không được đi học ở trường mà mà chỉ học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bình, sau được cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm nuôi dạy Nguyễn Bính là người rất có năng khiếu ông bắt đầu làm thơ từ lúc 13 tuổi, năm 1932 Nguyễn Bính rời quê ra Hà Nội và từ đây bắt đầu nổi tiếng trong sự nghiệp sáng tác văn học Ông được giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi (1940) Năm 1943, Nguyễn Bính được giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn với truyện thơ Cây đàn tỳ bà
Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ Nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và được giữ những trách nhiệm trọng yếu như phụ trách Hội văn hoá cứu quốc tỉnh Rạch Giá, phó chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh ở tỉnh Rạch Giá, sau làm ở ban văn nghệ thuộc phòng tuyên huấn quân khu tám Thời gian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn, cổ động tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng giết giặc lập công Tháng 11- 1954 Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, ông
công tác ở hội nhà văn Việt Nam Năm 1956 ông làm chủ bút tuần báo “Trăm hoa” và
đã cho đăng báo một số bài viết
Năm 1958 Nguyễn Bính về cư trú tại Nam Định, ông công tác tại ty văn hoá thông tin Nam Định Ông đã góp phần vào sự trưởng thành của phong trào sáng tác văn nghệ của quê hương và thơ ông vẫn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như của cả nước
Mùa thu năm 1965, ông theo cơ quan văn hoá Nam Định sơ tán vào huyện Lý Nhân Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 tết năm Ất Tỵ (20-1- 1966) lúc đến thăm một ngời bạn ở xã Hoà Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Định, khi ông chưa kịp
Trang 12sang tuổi 49 Ông vừa hoàn thành và cho in bài thơ Quê hương, một bài thơ có những nét báo hiệu của một giai đoạn mới trong đời thơ ông.
Trong hơn 30 năm sáng tác với nhiều thể loại khác nhau (thơ, truyện thơ, kịch thơ, kịch bản chèo, lý luận sáng tác), hoạt động văn nghệ của ông phong phú đa dạng song thành tựu xuất sắc nhất được độc giả ưa chuộng là thơ Riêng về thơ có thể nói rằng ông là cây bút sung sức nhất của phong trào Thơ Mới Chỉ trong một thời gian ngắn (1940-1945), Nguyễn Bính đã cho ra đời những tập thơ có giá trị: Tâm hồn tôi
(1940), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941),
Người con gái ở lầu hoa (1942), Mười hai bến nước (1942), Mây tần (1942), Bóng giai nhân
(Kịch thơ - 1942), Truyện tỳ bà (truyện thơ - 1944)
Sau cách mạng Nguyễn Bính lại cho ra mắt các tập thơ: Đồng Tháp Mười (1955), Trả
ta về (1955), Gửi người vợ miền Nam (1955), Trông bóng cờ bay (1957), Tiếng trống đêm xuân (1958), Tình nghĩa đôi ta (1960), Đêm sao sáng (1962).
Nhìn chung cuộc đời Nguyễn Bính tuy ngắn ngủi nhưng sự nghiệp sáng tác của ông rất phong phú và đa dạng Với lối viết giàu chất trữ tình dân gian Nguyễn Bính đã tạo được một gương mặt riêng trong nền văn học hiện đại Việt Nam Năm 2000 ông
đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
1.3.2 Tập thơ “Lỡ bước sang ngang”
Nguyễn Bính là nhà thơ có bút lực dồi dào Ông làm thơ từ rất sớm và trong cuộc đời lao động nghệ thuật miệt mài của mình, đã để lại rất nhiều tập thơ, truyện thơ, tùy bút Trong đó, có những tác phẩm khẳng định được tài năng, phong cách riêng của ông Lỡ bước sang ngang chính là một tập thơ như vậy Lỡ bước sang ngang là
tên một bài thơ dài được in trong ba kì liên tiếp của tờ “Tiểu thuyết thứ năm”, sau đó
trở thành tên một tập thơ của Nguyễn Bính được nhà xuất bản Lê Cường in năm 1940
Tập thơ gồm ba mươi lăm bài thơ viết bằng các thể thơ quen thuộc của dân tộc như lục bát, thơ bảy chữ, thơ năm chữ Trong đó, có những bài như Mưa xuân, Lỡ bước sang ngang, Cô lái đò, Cô hái mơ, Viếng hồn trinh nữ đã để lại ấn tượng sâu sắc Với tập
Trang 13thơ này, Nguyễn Bính đã cất cao tiếng nói thay cho tâm hồn những người dân quê hiền lành, mộc mạc Đọc Lỡ bước sang ngang, chúng ta còn nhận ra tình yêu quê hương đằm thắm của thi nhân đan cài sau những hình ảnh thơ về đêm chèo, hội xuân, về hình ảnh người nhà quê nghèo khổ mà nghĩa tình, những hình ảnh thiên nhiên xóm làng quen thuộc Tất cả những điều đó đã tạo dựng nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tập thơ.
Có thể thấy, Lỡ bước sang ngang đã khẳng định sự thành công trong nghệ thuật thơ ca của Nguyễn Bính Với lớp ngôn ngữ nôm na giản dị, những hình ảnh thơ đặc sắc, những biện pháp nghệ thuật quen thuộc, giọng điệu thơ gần gũi với âm điệu của
ca dao dân ca Lỡ bước sang ngang đã in sâu vào lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc Tập thơ Lỡ bước sang ngang đã trở thành minh chứng cho phong cách thơ tài hoa
mà giản dị của “thi sĩ đồng quê” - Nguyễn Bính.
2 Biểu tượng Xuân trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang”
2.1 Vị trí, vai trò của biểu tượng Xuân trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” Dựa vào tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính người viết sử dụng hai
tiêu chí cơ bản để thống kê biểu tượng Xuân trong thơ Nguyễn Bính Thứ nhất, việc xuất hiện chữ Xuân Thứ hai, việc xuất hiện các hình ảnh thuộc về Xuân như mưa bụi,
hoa xoan, các hình ảnh về Tết, chợ Tết, hoa đào, câu đối…
Dựa vào các tiêu chí người viết đã thống kê được mật độ xuất hiện của biểu
tượng Xuân trong thơ Nguyễn Bính thông qua bảng thống kê sau:
1 Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: "Thôn Ðoài hát tối nay"
…Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Ðoài cách có một thôi đê
…Chờ mãi anh sang anh chả sang
MƯA XUÂN
Trang 14Thế mà hôm nọ hát bên làng Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Ðể cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
…Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Ðặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: "Mùa xuân đã cạn ngày"
Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ chèo Ðặng đi ngang ngõ
Ðể mẹ em rằng hát tối nay?
Lòng cô gái ở bên sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã nặng thề
Nhưng rồi người khách tình quân ấy,
Đi biệt không về với bến sông
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi,
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông
Xuân này đến nữa đã ba xuân,
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi,
Cô đành lỗi ước với tình quân.
CÔ LÁI ĐÒ
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
CHÂN QUÊ
4 Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
….Từng đàn con trẻ chạy xun xoe
Mưa tạnh trời quang nắng mới hoe
5 Em nhớ mùa thu/ mùa xuân? năm ngoái đây,
Em sang thăm chị ở hai ngày.
…Em đi mất tích một mùa xuân,
Đi để chôn vùi hận ái ân.
KHĂN HỒNG
Trang 15Trời ở trên cao, lá ở cành.
Lúa ở đồng tôi và lúa ở Đồng nàng và lúa ở đồng anh.
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh, Tôi đợi người yêu đến tự tình.
XANH
7 Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều,
Mẹ tôi lo liệu đủ trăm điều.
Sân gạch tường hoa người quét lại,
Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu.
Nuôi hai con lợn tự ngày xưa,
Mẹ tôi đã tính "tết thì vừa."
Trữ gạo nếp thơm, mo gói bó, Dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ.
Nay là hăm tám tết rồi đây,
(Tháng thiếu cho nên hụt một ngày)
Sắm sửa đồ lễ về việc tết,
Mẹ tôi đi chợ buổi hôm nay.
Không như mọi bận người mua quà,
Chỉ mua pháo chuột và tranh gà,
Cho các em tôi đứa mỗi chiếc,
Dán lên khắp cột, đốt inh nhà.
Giết lợn, đồ xôi, lại giết gà,
Cỗ bàn xong cả từ hôm qua.
Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức, Lẫm nhẫm cầu kinh Đức Chúa Bà.
…Các con phải dậy cho thật sớm,
Đầu năm năm mới phải lanh trai.
Mặc quần mặc áo lên trên nhà, Thắp hương thắp nến lễ ông bà.
Chớ có cãi nhau, chớ có quấy, Đánh đổ, đánh vỡ như người ta "
Sáng ngày mồng một sớm tinh sương,
Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường.
Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi, Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương.
… Mẹ tôi uống hết một cốc rượu,
Mặt người đỏ tía vì hơi men,
Người rủ cô tôi đánh tam cúc,
Cười ầm tốt đỏ đè tốt đen.
Tôi mặc một chiếc quần mới may,
TẾT CỦA MẸ TÔI
Trang 16Áo lương, khăn lượt, chân đi giày.
Cho tôi đi lễ bên quê ngoại,
Người dặn con đừng uống rượu say.
Xong ba ngày tết mẹ tôi lại,
Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con.
Rồi một đôi khi người dậm gạo, Chuyện trò kể lại tuổi chân son.
Mừng em, em sắp lấy chồng xuân nay.
Uống đi ! Em uống cho say !
để trong mơ, sống những ngày xuân qua.
…Em đi dệt mộng cùng người,
Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh.
Áo rét ai đan mà ngóng đợi
Còn vài hôm nữa hết mùa đông!
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng Gạo nếp nơi đây sao trắng quá Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Chao ơi, Tết đến em không được
Trông thấy quê hương thật não nùng
Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Tết này, ô thế mà vui chán Nhưng một mình em uống rượu nồng Rượu cay nhớ chị hồi con gái
Thương chị từ khi chị lấy chồng
Người ấy xuân già chê gối lẻ
Nên càng nôn nả chuyện sang sông
Thiếu nữ hoài xuân mơ cát sĩ
XUÂN THA HƯƠNG
Trang 17Chịu làm sao được những đêm đông
Chị ơi, Tết đến em mua rượu
Em uống cho say đến não lòng
10 Khí trời lặng lẽ và trong trẻo
Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ Hỡi cô con gái hái mơ già
Cô chửa về ư? Đường thì xa
…Cô hái mơ ơi!
Chả giả lời nhau lấy một lời
Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng
Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi
CÔ HÁI MƠ
11 Hoa đào từng cánh rơi như tưới
Xuống mặt sân rêu những giọt buồn,
THÔI NÀNG Ở
LẠI
12 Lững thững tầu đi mất nửa rồi,
Sao không dừng lại ở ga tôi, Lấy mươi lăm phút cho tôi gửi,
Chút ít xuân xanh trả lại trời ?
CHUYẾN TÀU ĐÊM
Đầy thuyền hận có biết bao nhiêu người!
Nhưng em ơi một đêm hè,
Hoa xoan nở, xác con ve hoàn hồn.
Người đi xây dựng cơ đồ
Chị về trồng cỏ nấm mồ thanh xuân.
LỠ BƯỚC SANG NGANG
Biểu tượng xuân trong thơ Nguyễn Bính mang chức năng tư tưởng, bất cứ ai
cũng tìm thấy một mùa xuân của riêng mình trong thơ Nguyễn Bính Phân tích biểu
tượng xuân với những biến thể khác nhau để thấy được sự phong phú về tầng nghĩa
cũng như khả năng biểu hiện tư tưởng, tình cảm, của tác giả Với tập thơ Lỡ bước sang ngang chỉ trong khoảng 13 bài thơ ta thấy tần số xuất hiện của biểu tượng xuân
là hơn 78 lần với 5 bài thơ từ Xuân xuất hiện trực tiếp ở tiêu đề.
Biểu tượng xuân được dựng lên bằng hình ảnh mùa xuân,tuổi xuân, thanh xuân, tết, phiên chợ, hoa xoan, mưa bụi, câu đối, sắm tết… các phong tục ngày tết… …vv Tất cả góp phần tạo nên một biểu tượng xuân xuyên suốt trong các sáng
tác của Nguyễn Bính và mang những nét ý nghĩa riêng trong thơ ông Nó cũng thể
Trang 18hiện được những cung bậc tình cảm khác nhau của nhà thơ - một thi sĩ của phong trào thơ Mới, tài hoa nhưng cuộc đời đầy trắc trở, éo le.
2.2 Xuân biểu tượng của bức tranh cảnh sắc và văn hóa làng quê Việt Nam
2.2.1 Xuân – bức tranh cảnh sắc
Đi vào thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính, có thể thấy xuân là biểu tượng rõ
nét của một bức tranh cảnh sắc làng quê Việt Nam, với những nét đặc trưng vô cùng tiêu biểu của vùng quê Bắc Bộ với mưa xuân, hoa xoan, lúa, đồng, lá nõn, cành non…
Đặc trưng của mùa xuân đất Bắc được thể hiện khá rõ nét trong thơ Nguyễn
Bính với những cơn mưa xuân, mưa bụi… “Hoàn toàn có thể gọi Nguyễn Bính là thi
sĩ của mưa xuân (…) Duyên mưa kia cơ hồ chỉ trao cho mình Nguyễn Bính – một hồn thơ thuần Việt thuần Quê” (Chu Văn Sơn) Trong bức tranh cảnh sắc mùa xuân thơ
mộng ấy Nguyễn Bính mang về những cơn mưa báo hiệu xuân:
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
(Mưa xuân)
Hai câu thơ ngắn bảy chữ đủ để Nguyễn Bính nói lên được cảnh sắc đất trời vào xuân ở làng quê Bắc Bộ Mùa xuân trong ông không phải gợi lên từ sắc đỏ rực rỡ của những cành đào, hay sắc vàng lung linh của hoa mai mà gắn với hoa xoan, một biểu tượng của nông thôn Việt Nam:
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe
Mưa bụi nên em không ướt áo … Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay Hoa xoan đã nát dưới chân giày
(Mưa xuân)
Nhưng em ơi một đêm hè,
Hoa xoan nở, xác con ve hoàn hồn.
Trang 19(Lỡ bước sang ngang)
Dường như trong bức tranh mùa xuân ấy, mưa là nét chấm phá không thể thiếu để tạo nên nét đặc trưng phong cảnh làng quê Việt Nam vừa bình yên thơ mộng, lại dịu dàng nhưng vẫn không thiếu cái se lạnh của những cơn mưa
Dường như mưa xuân cũng mang lại sức sống cho tạo vật trong thơ ông Trong
thế giới màu sắc rộn ràng của thơ xuân Nguyễn Bính (bướm trắng, bướm vàng vẽ vòng trên vồng hoa cải vàng tháng chạp; trong vườn, hoa cam, hoa chanh rụng trắng đất; hoa xoan tím trong màn mưa bạc; lá nõn trên nhành non; cụ già tóc trắng bên cô yếm đỏ khăn thâm …), đã tạo nên một bức tranh về mùa xuân vô cùng sinh động:
Từng đàn con trẻ chạy xun xoe
Mưa tạnh trời quang nắng mới hoe
(Xuân về) Mùa xuân là cả một mùa xanh, Trời ở trên cao, lá ở cành.
Lúa ở đồng tôi và lúa ở đồng nàng và lúa ở đồng anh.
(Mùa xuân xanh) Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở Vườn nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gửi cho em một cánh hồng
(Xuân tha hương)
Cánh đào, vườn hoa…đặc trưng của mùa xuân ngày Tết miền Bắc cũng là hình ảnh thường xuyên xuất hiện trong thơ xuân của Nguyễn Bính Sắc đỏ của đào gợi nên một màu xuân rộn ràng nơi đất Bắc