HÌNH ẢNH BÌNH ĐỊNH TRONG THƠ YẾN LAN TRƯỚC 1945 (Nguyễn An Thanh Nhàn – Lớp Sư phạm Ngữ văn K38) 1 Hình ảnh thiên nhiên Bình Định Nghĩ về quê hương, Chế Lan Viên đã viết “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Kh.
Trang 1HÌNH ẢNH BÌNH ĐỊNH TRONG THƠ YẾN LAN TRƯỚC 1945
(Nguyễn An Thanh Nhàn – Lớp Sư phạm Ngữ văn K38)
1 Hình ảnh thiên nhiên Bình Định
Nghĩ về quê hương, Chế Lan Viên đã viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi
ta đi đất bỗng hoá tâm hồn” (Tiếng hát con tàu) Quê hương - có thể là mảnh
vườn ngày xưa cha chôn nồi nhau của đứa con đỏ hỏn vừa lọt lòng mẹ, với hy vọng con không quên quê cha đất tổ, hay đơn giản là một điểm dừng chân trong hành trình cuộc đời – đều sẽ để lại cho mỗi người một tình cảm riêng Với tâm hồn tinh tế của thi nhân, Yến Lan không thể nằm ngoài quy luật cảm
xúc đó: “Nghe sông nhắn nhánh, nghe đài nhủ hoa/ Mẹ ru con mẹ chan hoà/
Từ trong bú mớm thấm qua ngọn nguồn/ Rạng ngời một dải nước non” – (Ru con) Mảnh đất Bình Định này là máu thịt, đi vào tiềm thức từ cánh võng mẹ
đưa ngày thơ ấu, cho đến lúc tự đứng được trên đôi chân mình Với cái nhìn
đa chiều, đa phương diện và sắc nét, tâm tư tình cảm của cậu bé Lang với quê hương Đồ Bàn từng chút một hiện trong vườn hoa thơ ca đất nước
Thiên nhiên Bình Định trong sáng tác của Yến Lan dịu dàng như nó vốn
có Khi từng hạt mưa nối đuôi nhau gõ nhịp lên líêp cửa cũng chính là lúc tâm hồn con người hay chìm trong mải mê rung động Mưa thường gợi về quá khứ, về cái man mác buồn nhớ, u tịch Yến Lan cũng có những “cơn mưa” của riêng mình Là giọt mưa trong ngày trẻ, cho lứa đôi có thêm phút giây kề
bên: “Đôi ta áo mỏng mưa dày/ Bước đi thì ướt, đứng đây ngại ngùng/ Ban đầu ngoảnh mặt xây lưng/ Mưa xiêng mái dột nên cùng chạm vai”(Chạy mưa) Cơn thổn thức tinh nghịch của bầu trời hay tiếng lòng ngổng ngang
trăm mối của tình yêu – không ai lí giải được Cũng có lúc mưa là nỗi nhớ quay quắt, bởi trong cơn mưa, hình ảnh thôn xóm hiện lên như sương khói
nhẹ nhẹ: “Mưa đưa thương nhớ về làng/ Mưa làm xa những dịu dàng bến sông” Oán trách cơn mưa đi chàng thi sĩ: “Mưa ơi, thương nhớ bời bời/ Bời bời thương nhớ, mưa rơi khuất làng” (Đi trong nắng mới) Cơn mưa như tấm
Trang 2rèm mỏng làm nhoè đi đường nét thân thuộc, như bụi thời gian phủ sự phai lãng lên vạn vật nhưng giờ đã hoá thành phông nền cho nỗi nhớ khắc khoải Cảm hứng về đất trời trong sáng tác của Yến Lan còn là sự tràn ngập của
ánh trăng Trăng được làn nước của biển, của mưa gột sạch bụi trần: “Mưa thưa nhè nhẹ, trăng lên dịu dàng”(Đi trong nắng mới) Những “nhè nhẹ”,
“dịu dàng” tạo nên một nhịp thơ sao êm tai đến lạ? Nó khiến người ta như thấy được cả từng hơi thở của mình trong một đêm se lạnh, thấy được các mơn mởn, ngọt ngào của ánh sáng, của một thứ mật ong đã già ngày long lanh
trong vắt; là nơi gửi gắm tình tri âm tri kỉ: “Ừ sao không nhớ người trai trẻ/ Trò chuyện cùng tôi dưới ánh trăng” – (Nhớ) Giải thích cho những vầng thơ
thấm đẫm thứ ánh sáng dịu dàng tinh khiết ấy, Yến Lan đã nhiều hơn một dịp
để tiếng thơ nói hộ: “ Quê ngoại bên kia bãi cát vàng/ Mẹ tôi về, lỡ chuyến
đò ngang/ Cơn đau trở dạ, không giường chiếu/ Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng” (Bệnh trăng) Ngay từ giây phút được vẫy vùng với cuộc đời, thi sĩ đã
đắm mình trong thứ ánh sáng ngọt lành Hay tại do trăng đã cùng mẹ sinh ra hình hài này, bên vành nôi cánh võng cất tiếng ru hời, nâng niu bú mớm để
cái “bệnh” đến, ngự trị trong một góc tâm hồn, nồng hậu như khí trời: “Tôi nằm trong vũng ca dao lạnh/ Đón những vầng trăng mẹ vớt lên” (Bệnh trăng) Phải chăng đó cũng là sự lí giải cái sự cuồng si những gì thuộc về vầng sáng đẹp đẽ: “Tôi đã thành người mắc bệnh trăng”(Bệnh trăng).
Trăng cũng là hình tượng nghệ thuật đặc trưng để Yến Lan từ đó nói lên tâm tư, tình cảm của chính mình “Nàng nguyệt” ở những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp mang vẻ lạnh lùng, cô quạnh bên gió lạnh:
“Mây nổi đó nhưng hồn chìm xa xứ/ Trăng cô liêu chốn mộng hồ xa nào”? (Bình Định 1935) Là giọt nước mắt xót xa rõ xuống cho cảnh mất nước, mất
tự do: “Buổi trăng gầy gió luỵ xuống mong manh/…/ Trăng còn nương thuyền nhạc khuất trong sương”(Bình Định 1935) Để rồi hoà cùng nhịp đấu tranh của dân tộc, vầng trăng thành chiến sĩ: “Đầu súng trăng treo” (Đồng chí) giống như Chính Hữu từng miêu tả Trăng Yến Lan không dữ dội Nó chỉ
Trang 3nhẹ nhàng vui chung niềm vui chiến đấu: “Trăng đầu hôm im tựa trụ cờ cao” (Bình Định 1947) Sự chuyển hoá cảm xúc của sự vật cũng tựa như những
biến động trong tâm hồn con người Không chỉ có ánh trăng, rừng núi cũng để lại trong lòng nhà thơ bóng mát, hương hoa và tiếng muôn thú dội vọng trong
bước đi của cảm xúc: “ Một buổi trong rừng, chim hít cô” – (Nhớ), và cùng thổn thức với những cuộc chinh chiến: “Nhánh tòng bá có đau vì xứ sở/ Chớ quặng mình thêm nức nở hồn tôi/ Không được sống xin cho cùng được thở/ Vạn-lý-tình trong gió ngọt xa xôi” (Bình Định 1935)
Bức tranh thiên nhiên quê hương hiện lên từ những gì thân thuộc nhất với Yến Lan Nhơn Hoài, nơi cụ đồ Lâm cùng vợ đã sinh ra sáu người con mang tên các loài hoa thật là một nơi xứng đáng ươm lên một hạt giống thơ ca của
đất nước Nơi ấy được ngòi bút vẽ lên bởi đường nét mộc mạc: “Quê tôi nắng mới võ vàng/ Dừa cao lểnh khểnh, cành xoan ngòng nghoè”(Đi trong nắng mới) Ở đó có ngôi chùa gắn liền với thuở thiếu thời của thi sĩ, khi cụ đồ
Lâm được lựa chọn là người đủ tài đức làm thủ từ hầu hạ cụ Quan Thánh:
“Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt/ Đàng chờ xe nước ước mong thuyền” – Tĩnh mịch và tôn nghiệm trong “Bình Định 1935”: “Đây tôi sống trong xanh nghiêm thánh thất:/ Đèn lưu ly hao sáng mộng tràn đầy” … Quê
hương trong tâm thức Yến Lan là buổi trưa quê nhẹ nhàng tại ngôi nhà nhỏ
với đủ cả âm/hương/vị đủ để hoá thành nỗi khắc khoải đến mai sau: “Trưa đầy vườn ngõ/ Mùa hè quê em/ Nghe khe khẽ cành xoan hoa mơ/ Vị tương cà trong vại say men/ Bóng tăm cá vỡ/ Mùi rạ quanh thềm/ Cháo lợn riu riu bếp lửa”… (Trưa quê) Lời thơ như tiếng nói thường ngày, không hề được tô lục
chuốt hồng – có vẻ khá trái ngược với văn phong sang trọng vốn có của Yến Lan Có lẽ sự chân chất nơi đồng nội đã trở thành tiềm thức không thể nhạt nhoà trong tâm hồn người thi nhân của mùa lúa trổ đòng này.Nhưng không phải vì thế mà ta vội cho rằng thơ ông là những bài ca lãng mạng, thậm chí mang nhiều uỷ mị Bước theo tiến trình lịch sử, Làng quê An Lão từ những ngày rũ bùn đứng dậy sáng loà cũng đã hoá thành lời thơ với tiếng gọi xé lòng
Trang 4của những niềm thương nỗi nhớ: “Ơi An Lão – tên hằng ngày nhắc nhở/ Khi
cá đang kho, lúc cau vừa bổ”(An Lão) Là bài ca chiến thắng hào hùng: “ Như đất quê ta sống vì chiến đấu/ Mồ giặc Mỹ cũng là đây – An Lão/ Cỏ rực đỉnh đầu, nước chói mặt sông/ An Lão – vang lừng tên một chiến công” (An Lão) Làng quê, thôn xóm được choàng lên tấm áo mới của nhịp thời
đại….Và tuy sống chủ yếu là miền quê An Nhơn, nhưng trong tâm thức Yến Lan vẫn có một góc nhỏ cho thị thành - nơi đó có lẽ cũng mang chút sắc xanh
- một thị thành nhuộm màu trầm buồn: “Hàng dương liễu lặng lờ tờ đang rũ
tóc/ Khói thị thành dâng khuất phố quanh cong” (Xa xanh)
Viết về thiên nhiên, không thể không nhắc đến tác phẩm nổi tiếng nhất của
thi sĩ xứ Nẫu: “Bến My Lăng” Hàng trăm giả thiết được đặt ra về bến tâm
tưởng này và đến nay vẫn chưa có hồi kết Người ta chỉ khẳng định rằng, đó
là bến đò trên dòng sông Côn: “Sông Côn chảy qua bảy tầng thác đập”.Nó
gắng liền với kí ức về mẹ, về một tuổi thơ có phần nhiều u buồn Hàng ngày cậu bé Lang vẫn đi chuyến đò ngang ấy, mua bánh canh về cho mẹ trong những năm tháng cuối đời của bà Sông núi đất trời vẫn mang vẻ đẹp của thơ, của ánh trăng vàng, của dòng nước biếc và cũng ngậm chặt nỗi buồn run rẩy:
“Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã/ Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly/ Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả/ Sợ trăng vàng che khuất lối chưa đi”
-“Tiếng gọi đò ấy đã đi suốt thời thơ ấu của anh Đó là âm thanh kinh khủng nhất, đau đơn và gấp rút nhất”[3 Tr19] – bà Nguyễn Thị Lan đã từng có dòng chia sẻ như thế trong cuốn hồi kí Yến Lan, Nhớ mãi về anh , viết về cuộc
đời của người chồng đáng kính
Biển, núi, sông, mưa, nắng, gió… đã phụ hoạ cùng nhau, hoá thành tấm phông màn tô điểm thêm cho cảnh sắc thiên nhiên Bình Định hiện lên đúng với cái mĩ miều mà chân phương của nó Và phủ lên khắp đất trời là một màu
xanh, chẳng hay xanh của biển, của trời hay cỏ cây đồng nội: “Quy Nhơn lục, phụng dừa tung cánh uốn/ Thả vô tư thuyền giấy nép ven bờ/ Vành nôi lớn, sóng buồn lo thoáng gợn/ Xanh mơ màng, xanh ngợp cả trời thơ” Cái xanh “
Trang 5mạn hảo”, xanh “ lã cánh chim âu”, “ Xanh, xanh, xanh – màu biếc trải bao la” (Xa xanh) Thức sắc hài hoà ấy trải mênh mông, phóng khoáng và mát
dịu, tạo nên nét thanh – thật sắc mà cũng thật dịu – tô điểm thêm cho bàn tiệc thơ thịnh soạn của Yến Lan đủ mọi sắc hương
Tầm nhìn bao quát và óc tinh tế đã giúp nhà thơ góp nhặt từ hiện thực đời sống và tải vào lời thơ cả những gì bé nhỏ, tinh tuý nhất Nó tựa như bật lên thành tiếng gọi đến lạc giọng, nói lên niềm yêu thương chất chứa trong người con xứ Nẫu về những gì là thi, ca, nhạc, hoạ, về những gì thân thuộc đã khắc sâu trong tâm tư tiềm thức không phải chỉ của riêng mình, mà còn là tâm sự của mọi người con khác của mọi miền quê trên khắp đất nước Cảm hứng về thiên nhiên, cảnh sắc Bình Định đã trở thành tiền đề vững chắc , giúp Yến Lan luôn giữ vững hướng đi của mình trên con đường thi ca và cả sự nghiệp Cách mạng sau này, luôn tường trực một tấm lòng đau đáu với quê hương
2 Hình ảnh con người Bình Định
Bức tranh phong cảnh quê hương hiện lên qua ngòi bút bình dị, mộc mạc
mà vẫn bóng bẩy, tài hoa của Yến Lan đã được tạo hình từ văn hoá, lịch sử, thiên nhiên của mảnh đất địa linh nhân kiệt như thế Cái bản ngã, cái “Tôi” của một con người giữa tình cảm gắn bó với đất và người Bình Định đã trở thành cái “Ta” của tập thể, biểu trưng cho tấm lòng của nhân dân một vùng xứ
sở Nhưng quê hương đâu phải chỉ là cảnh sắc Phải có những con người mới làm nên kí ức, ấp ủ được tình thương
Mồ côi mẹ từ nhỏ, nên những suy nghĩ về Người luôn là nỗi trăn trở thường trực trong tâm hồn nhà thơ Nỗi nhớ ấy như bước ra từ sự vô thức:
“Tưởng tượng không ra hình dáng mẹ/ Đêm dài con thức vẽ chân dung/ Thôi đành mượn nét xưa cha kể/ Trên mũi kim còng một sống lưng”(Dáng mẹ) Là
mẹ, người ban cho ta hình hài Sự dịu ngọt của mẹ tựa như vầng trăng hay
chính trăng đã làm nhẹ đi phần nào nỗi nhớ về Người: “Vẫn đôi bầu sữa ấy căng đầy/ … Nói về người phụ nữ đã sinh thành ra mình, Yến Lan xúc động:
“Mẹ là một người phụ nữ có chút nhan sắc, bà hiền lành thông minh,…, xinh
Trang 6gái và khéo tay nhất làng” Đau đáu được gọi lên tiếng “Mẹ ơi” đến thoả lòng
mãi mãi không bao giờ thành hiện thực, thi sĩ chỉ còn biết ngậm ngùi tải hết tình cảm ấy ra trang giấy, như tiếng khóc vọng nức nở của yêu thương Đó cũng là hình ảnh chung của người phụ nữ Việt: tần tảo, giàu đức hy sinh Không êm đềm và cũng bớt phần mộng mị, tình cảm của Yến Lan về cha
rõ ràng, hình tượng hơn: “Lòng cha, không bến sông”, “Lòng cha không quán khách”, “Lòng cha, không vỏ ốc”(Hẹn gặp) Những cái “không” hữu ý
lặp đi lặp lại tạo nên vẻ mông lung, mơ hồ, dù tuổi thơ Yến Lan có khoảng thời gian dài ở bên cụ đồ Lâm trong đền Quan Thánh Cái chết của người vợ đầu gối tay ấp cùng nỗi buồn khoa cử khiến ông đồ Lâm sinh lòng chán nản, lãnh đạm với chính con cái mình Thời ấu thơ của Yến Lan là chuỗi ngày khao khát tình thương của đấng sinh thành mà không thể có được Nhưng cha luôn là thần tượng của con, nhất là người con trai Không gì có thể làm phai nhạt được thứ tình cảm thiêng liêng trong lòng người Thi sĩ vẫn gìn giữ ước
mơ được vẫy vùng biển lớn của người nam nhân, để nhận được tình yêu từ
vòng tay vững chãi: “Hãy uống cạn tình đời/ Đi vào trong ánh sáng/ Và ngửng mặt lên trời/ Để cha hôn giữa trán” (Hẹn gặp).
Mẹ mất, cha ít lưu tâm, dì ghẻ cay nghiệt, Yến Lan lớn lên dưới bàn tay tảo tần của người chị Tư, với nghề cuốn thuốc lá vẫn cố nuôi em ăn học thành người Một điển hình người chị thay phụ mẫu nuôi em nhỏ vẫn thường thấy ở
xã hội cả xưa và nay Để “Khi chị lấy chồng”, ông thổn thức tiếng nấc nghẹn:
“Khế chua chị nấu là mồng tơi/ Em ước cùng ăn đến trọn đời/ Tang mẹ mãn rồi bà mối giục/ Chị đi – bát đũa cũng mồ côi”.Ước muốn có phần thơ trẻ,
được giữ lại người chị đã nuôi nấng tháng ngày là không thể, chỉ còn biết đứng ngồi ngẩn ngơ nhớ về chị
Xa và rộng hơn tình thân, tình yêu, Yến Lan cũng dành một khoảng riêng cho những con người xung quanh, những người đồng hương – đồng chí –
đồng đội của mảnh đất miền Trung Đó là người thầy: “Thầy giáo tôi khi đến buổi đầu/ Một hòm sách cũ, tấm màn nâu” (Thầy tôi) Cái oai nghiêm của
Trang 7thầy, tựa như cha, khiến cậu trò nhỏ chú ý Những năm bốn mươi của thế kỉ trước, khi Cách Mạng vẫn chưa nổi lên mạnh mẽ, cám cảnh cho vận mệnh nước nhà trở thành xu hướng chung của rất rất nhiều tầng lớp Như nhiều tri
thức thời bấy giờ, ông giáo cũng mang nỗi ưu tư thời thế: “Tôi biết thầy lo chuyện nước non/ Lòng phơi như ánh mặt trăng tròn/ Mỗi khi nhắc đến người bôn tẩu/ Tâm sự trào lên ngọn bút son”(Thầy tôi) Những ngày đen tối ấy cũng qua: “Ôi Bình Định, hôm nay chào Cách Mạng/ Đón bình minh trong nhà nhỏ không đèn” (Bình Định 1945).Có sự mâu thuẫn trong câu thơ này?
Ánh sáng bình minh chưa đủ rạng rỡ để có thể quên đi sự tồn tại của ngọn đèn? Hay ánh sáng của Đảng giúp mở ra một con đường mới? Con người dưới sự biến động của thời đại cũng có sự thay đổi Yến Lan có rất nhiều sự
cảm mến cho con người cần lao Người ngư dân vươn khơi bám biển: “Tôi trên mũi thuyền/ Sóng duyềnh đôi bên/ Trời cao mây vắng/ Biển nào theo nắng/ Cánh buồm bay nghiêng”(Đi khơi) Không khí lao động làm say mê lòng người: “Hay thuyền say tôi/ Tôi say cuộc sống”(Đi khơi) trên những
“Tổ lưới rạng”, trong sự nồng nhiệt của người chị nuôi ngư trường Tâm hồn
ảm đạm: “Em nằm thương xanh biếc của trời buồn” những năm 1935 giờ rũ bùn đứng dậy sáng loài, khi “Bình Định đã qua cơn sốt rét” – “Tờ lịch, chị hôm qua sầu chửa ráo/ Mà em nay, đã dựng nét mày xanh” (Bình Định 1935) Đất võ đâu thể nằm ngoài cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc Từ già, trẻ, gái, trai,… ai nấy đều vui trong không khí đấu tranh của dân tộc “Mẹ binh sĩ lòng khâu theo túi đạn/ Phòng tuyển binh người áo vải chen chân”(Bình Định 1947) Những người hôm qua là anh trai cày cục mịch, chị hàng xén lất cất giờ cũng trở thành lịch sử: “Trai Bình Định ôm bao vào Tú Thuỷ/ Ngự đèo Nhong hay canh bãi Vân Sơn/ Gái quạt trấu cũng hoá thành dũng sĩ/ Cầu Bà Di đẩy dựng những toa gòong” (Bình Định 1945) Giặc đến,
thì cần gì phải tay đao tay súng, ai cũng có thể tự mình đứng lên đấu tranh Khí chất anh hùng từ ngàn xưa đã trở thành máu thịt, hoá thành tượng đài bất
tử: “Đất An Lão đâu nằm im chịu giặc/ Rẫy – dứa – hầm – chông, ngọn –
Trang 8cau- liên – lạc/ Anh cầm cày, chị bắt ốc ven sông/ Đặt bẫy, gài mìn chờ cuộc phản công”(An Lão).Cảm mến những con người lao động là mạch thơ xuyên
suốt sáng tác của Yến Lan trước và sau 1945 Nhưng đâu chỉ yêu cái đẹp ,cái
yên bình, Yến Lan nhớ cả những ngày tháng đìu hiu, cô lạnh: “Tỉnh nhỏ/ Đìu hiu/ Mặt trời ngủ giữa chiều/ Trở mình trên mái rạ”, “Tỉnh nhỏ, hôm nay đổi thay dấu vết/ Da thịt tuy gầy/ Cây gạo ngày xưa vẫn nở/ Mặt đường còn rỗ dấu bom!/ Ngực vách đang ôm vết đạn!/ Nhưng mỗi vật đang bừng ánh sáng?
Tự do.”(Lại về tỉnh nhỏ) Trong những ngày đầu sau thành công vang dội của
Cách mạng tháng Tám, nhà thơ vẫn hào hứng đi theo hình ảnh lòng người sục
sôi: “Dọc đường núi cheo leo/ Người đi vào đêm vắng/ Nghĩ đến giờ chiến thắng/ Lòng họ sáng hơn rằm”(Những bạn đẩy gòong).
Những nét chấm phá đời sống hiện thực được chuyển thành nghệ thuật ngôn từ qua ngòi bút của Yến Lan Quan cảnh một vùng quê trù mật đầy tinh thần thượng võ với những con người nồng hậu xứ dừa đã đi vào lòng người
để khi nhắc tới Bình Định, ai cũng đều nghĩ đến một mảnh đất hiền hoà, tươi tắn Người thi sĩ – người con của xứ sở đã tỏ hết lòng yêu mỗi hòn đất quê
hương Tiến sĩ Lê Thị Bích Hồng nhận xét: “Nhà thơ Yến Lan là một nhân cách văn hoá Xét ở góc độ con người cũng như thơ ca, Yến Lan đã thể hiện sâu đậm tình yêu, sự gắn bó sâu nặng với quê hương Bình Định Tình yêu ấy
da diết, thấm đẫm lên từng trang thơ” [12] Mỗi cảnh vật đều là thiêng liêng,
mỗi con người đều là thân thuộc, đồng bào
Những chuyến đi đưa bước chân thi nhân qua biết bao miền đất lạ Nỗi đau
xứ sở như được khắc lên từng tấc da thịt: “Ôi quê hương lá phổi – buồng tim/ Sống sao đây với hơi nghẹt – máu bầm” Biến đau thương thành sức mạnh, ông hân hoan cho ý chí kiên cường của mỗi người dân đất võ: “Nhưng lòng dân không vơi vì mất mát/ Cả sự sống chuyển ngầm trong mạch đất/ Mỗi tin yêu nuôi lớn một ước mơ/ Mỗi gian lao hồi chặt một căm thù”(An Lão).Tình
yêu đó kéo dài, trở thành cảm hứng xuyên suốt trong con đường sáng tác của thi sĩ Trong cuốn hồi kí của phu nhân Yến Lan về chồng mình, có đoạn nhận
Trang 9xét của Võ Văn Trực phát thảo về những chuyến đi của nhà thơ Yến Lan:
“Thơ cùng hành trình với anh lên Thái Nguyên, Việt Trì, Lai Châu, Sơn La… Thơ anh đã in dấu từng bước đi của dân tộc trong những ngày đất nước bị chia cắt Lòng anh cuồn cuộn thương nhớ quê Nam cùng tiếng quay xa Phù
Ly, hào hứng với chiến công An Lão…”[3.tr 91] Năm 1954, Yến Lan tập kết
ra Bắc nhưng mỗi phút giây nơi xa đều không nguôi ngoai nổi nhớ quê hương Từ trong tiềm thức, tình cảm ấy luôn âm ỉ như ngọn than hồng, chỉ một cơn gió nhẹ thoảng qua sẽ mau chóng bùng lên thành ngọn lửa rực rỡ:
“Trưa ghé Yên Châu núp bóng xoài/ Mùi hương Bình Định thoảng đâu đây” -(Mùa xoài) Nỗi nhớ niềm thương được tạo hình, thêm nét, hoá thành tiếng thổn thức khe khẽ: “Ôi Bình Định sao nằm trong mãi mãi/ Đĩa dầu vơi, tim cháy ngọn âm âm” (Bình Định 1935) Thời gian có thể làm bạc mái đầu, nhưng về với mẹ, ai cũng chỉ là đứa trẻ thơ thèm được nâng niu, ôm ấp: “Khó trụ vườn xưa để đợi mình/ Chồi lim gốc mít lẫn gio tranh/ Chỉ riêng phảng phất hương thời trẻ/ Theo bước dè trên đám miếng sành”(Về quê mẹ sau giải phóng).
Tình cảm của thi sĩ dành cho nơi chôn nhau cắt rốn còn được thể hiện
qua sự cảm mến những gì thuộc về tinh thần từ câu hát, điệu hò… :“Thông cựa mình thưa thới màu xanh/ Tiếng hát “ru hời” vắng bặt” Nhớ cả :“Măng
le gửi xuống, cá chuồng…”/ Câu hát ân tình nửa chừng bỗng dứt” Hay
những đêm sân đình trốn hội, khễnh chân nhòm qua khe hở giữa biển người
nghe điệu tuồng Đào Tấn: “Chưa xuân tiết nghĩa, mẹo gian hùng/ Đâu dễ nhìn ra lớp “sóng tung”/ Binh lửa vừa lui đèo núi dựng/ Gian nan là nợ khách anh hùng” (Tuồng) “Hồn tôi trải: đây lầu chuông xóm Đạo/ Đây cây
me Ty Niết, góc sân banh/ Đây ụ đất trơ màu hoang đảo/ Đem nhớ thương đỡ dậy những tâm tình”(Bình Định 1947).Cảnh vật không gian từ hòn đất, góc
tường đều được lưu vào hồi ức, trở thành những kỉ niệm riêng của thi sĩ
Chọn chính quê hương, một vùng đất nghèo yên tĩnh, làm điểm dừng chân cho cuộc đời mình, tránh đi những xa hoa của phố thị đông đúc nhiều vui thú,
Trang 10Yến Lan cho biết: “Thị trấn này tuy nhỏ nhưng nó đã ăn sâu vào máu thịt tôi một cách sâu nặng, thiêng liêng, khó giải thích được” [12] Hẳn là cảnh vật,
thiên nhiên và con người nơi đây đã níu lấy bước chân nhà thơ Làm sao mà một tâm hồn chan chứa như Yến Lan có thể thêm một lần rời xa mảnh đất đã
từ lâu hoá thành một phần thân thể? Về với mẹ, đó là niềm hạnh phúc của bất
kì ai Bình Định - mỗi con người, dù họ chưa từng làm nên một câu thơ nhưng cuộc đời họ đã là một bài trường ca mỹ lệ; mỗi cảnh vật dù đơn sơ một mạc nhưng cũng đã làm nên lịch sử… - chúng đã cùng nhau dựng nên bức tường thành vững chắc trong lòng người thi nhân, náu mình trong những lời thơ, rồi
từ đó truyền vang khắp thảy muôn nơi
3 Nghệ thuật thể hiện hình ảnh Bình Định trong thơ Yến Lan trước 1945
Dành hơn phần ba cuộc đời mình làm nghệ thuật, Yến Lan đã để lại cho bữa tiệc văn học của đất nước một khối lượng tác phẩm đồ sộ Riêng về thơ
có thể nhắc đến các tuyển tập: “Những ngọn đèn”; “Tôi đến, tôi yêu”; “Lẵng hoa hồng”; “Giữa hai chớp lửa”; “Thơ tứ tuyệt”… Theo đuổi con đường
cách tân nghệ thuật, là ngọn cờ đầu trong việc sáng tác thơ mới nhưng ở thi sĩ lại là sự hài hoà giữa xưa và nay Điều khiến ta khâm phục ở những sáng tác của Yến Lan chính còn ở sự phong phú về thể loại, và ở mỗi lối thơ ca khác nhau, nhà văn đều có những thành công nhất định bằng những tác phẩm đi vào lòng độc giả, đặc biệt chúng phần lớn đều mang tương tư, tình cảm gắn
bó với quê hương từ ngày thơ ấu, cho đến sự hồi tưởng nơi đất Bắc hay khi đã
trở về quê nhà: Lục bát – thể thơ đặc trưng của dân tộc ( Đi trong nắng mới, Phù Ly, Chạy mưa, Xóm hành lang,…) ; Ngũ ngôn (Vắng vẻ, Hẹn gặp, Chiều nay anh ở đâu, Đêm Trường Sơn,…), bát ngôn (Bình Định 1935/ 1945/ 1947,
…) , Thất ngôn (Gần nhà xa ngõ, Hương tự hoa, Chơi xuân,…), thơ tự do, với
những phá cách về độ dài – ngắn, nhịp điệu thơ cùng hình ảnh,thi ngữ mang nhiều âm sắc Pháp, thường thấy nhiều trong các sáng tác của Xuân Diệu, Chế
Lan Viên: (Ngườibạn đẩy gòong, Lại về tỉnh nhỏ, ) Nhưng chiếm số lượng