MỞ ĐẦU Con người, thiên nhiên và cả vũ trụ đều sống, tồn tại trong một hệ trục tọa độ gọi là không gian và thời gian Và cũng đồng nghĩa với việc người ta đánh giá sự tồn tại, ý nghĩa của một sự việc c.
Trang 1MỞ ĐẦU
Con người, thiên nhiên và cả vũ trụ đều sống, tồn tại trong một hệ trục tọa
độ gọi là không gian và thời gian Và cũng đồng nghĩa với việc người ta đánhgiá sự tồn tại, ý nghĩa của một sự việc cụ thể, một đối tượng cụ thể dựa vàokhông gian và thời gian mà đối tượng đó tồn tại Tương tự như vậy sự đánh giá
về một tác phẩm văn học cũng không thể tách khỏi quy luật này Chính khônggian và thời gian tồn tại của nó mà đối tượng mới bộc lộ hết bản thể vốn có của
nó
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao thì: “thời
gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trongtác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật,không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiệnnguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng
hệ thống nghệ thuật”
Nguyễn Bính là một tác giả tài hoa.Trong khi biết bao nhà thơ đi tìm tòi
để cách tân, lạ hóa thơ mình và chịu ảnh huởng của rất nhiều các truờng phái thơ
ca nuớc ngoài thì Nguyễn Bính vẫn đắm say, mơ mộng với hồn quê, tình quê.Ông vẫn mải miết tìm về với các thể thơ dân tộc với lối ví von so sánh quenthuộc mà ý vị, đậm đà.Vậy nên, tiếng thơ Nguyễn Bính như một nốt nhạc nhẹnhàng, bình dị, ngân nga trong bản hợp tấu thơ Mới đa thanh, đa điệu Cũngchính vì vậy mà đến hôm nay, thơ Nguyễn Bính vẫn được nhiều người tìm đọc
đế rồi say mê và tụng ca Trải qua bao thử thách của thời gian, thơ ông ngàycàng được khẳng định Từng vần thơ của ông cứ day dứt, ám ảnh khôn nguôitrong lòng độc giả bởi nó không chỉ là những vần thơ thể hiện tài năng hay xúccảm của riêng thi nhân mà nó đã chạm sâu tới những ngõ ngách tâm tư sâu kíncủa lòng người Nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính chính là cơ hội để chúng tađược đắm mình trong thế giới thơ ca đích thực và đồng thời góp một phần đểtiếng thơ ấy ngân nga vang vọng hơn nữa
Trang 21.1 Khái niệm không gian nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm không gian
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về không
gian như sau: “Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiệntượng xung quanh đời sống con người” [16.tr.633]
Trước khi có định nghĩa hoàn chỉnh về không gian như trên, trong tưtưởng của người phương Đông xưa đã quan niệm cấu trúc không gian vũ trụ với
mô hình tam tài và ngũ hành:
“Tam tài” là một khái niệm bộ ba, “ba phép”: Thiên - Địa - Nhân Nó thểhiện quan niệm của người xưa về cấu trúc không gian dưới dạng mô hình ba yếutố
Còn “Ngũ hành” là khái niệm dùng để mô phỏng cấu trúc không gian vũtrụ bởi năm yếu tố (năm hành) theo thứ tự: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ
Và xét về bản chất của những từ “thế giới”, “vũ trụ” thì đó đều là nhữngkhái niệm để chỉ tổng thể không - thời gian
“Thế giới” gồm có thế - đời (thời gian) và giới - cõi (không gian) Nhưvậy, thế giới được hiểu là cõi đời Nghĩa là nó bao hàm cả không gian và thờigian
Về “vũ trụ” lại có câu :
Tứ phương thương thượng hạ chi vũ Vãng cổ lai kim vị chi trụ
(Hoài Nam Tử - Tề tục huấn)
(Bốn phương, trên dưới gọi là vũ Xưa qua, nay lại gọi là trụ)
Theo cách hiểu đó thì vũ trụ cũng có nghĩa là một tổng thể không - thờigian Mà con người cũng là một tổng thể của không - thời gian, nghĩa là nó làmột tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, môt tiểu thế giới trong đại thế giới Như vậy,không gian chính là môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tại của các sự vật
Trang 3Không gian chính là hình thức tồn tại của vật chất với những thuộc tính nhưcùng tồn tại và tách biệt, có chiều kích và kết cấu.
1.1.2 Khái niệm không gian nghệ thuật
Để hiểu được khái niệm không gian nghệ thuật một cách cơ bản và khái
quát nhất, tôi xin được viện dẫn cách hiểu của Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình
tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [4.tr.162]
Trần Đình Sử lí giải thêm: “không gian nghệ thuật là hình thức tồn tạicùng thế giới nghệ thuật” [21.tr.88].Ông còn khẳng định một cách hết sức chắcchắn: “không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có mộtnhân vật nào không nào không có một nền cảnh nào đó”, và “không gian nghệthuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiệnmột quan niệm nhất định về cuộc sống” [21.tr.88 - 89] Như vậy, không giannghệ thuật là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Khônggian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống, “mang ý nghĩa biểutượng nghệ thuật” Và sự miêu tả, trần thuật bên trong tác phẩm văn học bao giờcũng xuất phát từ một điểm nhìn, ta xác định được vị trí của chủ thể trong không
- thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhấtđịnh Căn cứ vào điểm nhìn mà xác định được vị trí của chủ thể trong không -thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm củakhách thể được nhìn Điểm nhìn không gian được thể hiện qua các từ chỉphương vị (phương hướng, vị trí), để tạo thành “viễn cảnh nghệ thuật”
Tóm lại, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệthuật Không gian nghệ không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm vănhọc, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới,chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sởkhách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của cáchình tượng nghệ thuật Vì vậy không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà
nó tồn tại
Trang 41.2 Đặc điểm của không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với khônggian khách thể Bản thân không gian vật chất tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồntại của nó không phụ thuộc vào ý thức của con người, mà không gian vật chấtchỉ trở thành không gian nghệ thuật khi được tác giả cảm nhận về nó và thể hiệncách cảm cách nghĩ của nhà văn về thế giới, từ đó thấy quan niệm nhân sinh,thái độ sống trước cuộc đời:
Em đi để lại tiếng cười Tim tôi vỡ một khoảng trời pha lê Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may
(Lời thề Cỏ may- Phạm Công Trứ)
Thật vậy, đêm trăng là đêm trăng sáng vằng vặc hay hao khuyết như bảnthân nó vốn tồn tại không một chút cảm xúc, tâm trạng nếu không được “thẩmthấu” qua tâm hồn tác giả, không mang suy nghĩ chủ quan của người nghệ sĩ.Nhà thơ Phạm Công Trứ hồi tưởng lại không gian đêm trăng ở bờ đê để mà nuốitiếc cho tình yêu không thành
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có sự phân biệt với khônggian vật chất bên ngoài, nhưng không dễ thấy như cái khung của một bức tranh,cái sân khấu của một vở diễn Mà có lẽ ranh giới ấy chỉ mờ nhạt mong manhnhư “sợi tóc” (chữ của Thạch Lam)
Không gian có thể được mở rộng bao la hay thu hẹp chật chội tuỳ theocái nhìn nghệ thuật của tác giả :
Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu
(Tràng giang- Huy Cận)
Trang 5Từ một không gian điểm, nơi mà nhân vật trữ tình đang đứng giữa bao la
vũ trụ được mở rộng ra thành không gian ba chiều Đối lập với cái tôi nhỏ bé thìkhông gian lại càng trở nên rộng lớn đến không cùng:
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư
(Ngôn hoài- Không Lộ thiền sư)
Không gian nghệ thuật là một hình tượng nghệ thuật sinh động Nó khôngđơn giản chỉ là cảm nhận bằng tư duy tỉnh táo mà nó còn được cảm nhận bằng
óc chủ quan, bằng cảm xúc, bằng tâm trạng của nhà văn:
Anh là tháp Bay-on bốn mặt Giấu đi ba còn lại đấy là anh Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn mình
(Tháp Bay-on- Chế Lan Viên)
Có người nhìn tháp Bay- on chỉ thấy đó là ngọn tháp, một công trình kiếntrúc nhưng bằng giác quan căng mở với sự cảm nhận vi tế của thi sĩ, Chế LanViên đã thấy ở đó là cả một không gian mang tâm trạng buồn đau, bế tắc Tácgiả thấy ở đất nước Chiêm Thành, hình ảnh của những tháp Chàm đổ nát, mỗimột mặt lại mang những tâm trạng, cảm xúc khác nhau và nhà thơ thấy mìnhtrong đó Nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại, trái đất nứt làm đôivết nứt đi qua trái tim người nghệ sĩ và khi đến với bạn đọc thì đã dính máu Docảm nhận bằng tâm trạng nên không gian trong thơ có cách biểu hiện riêngkhông giống với không gian vật chất bên ngoài Trong tác phẩm văn học cónhiều không gian được tổ chức như vậy:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Trang 6Không gian trong văn học chia thành những ranh giới giá trị thể hiện quanniệm về trật tự thế giới và sự lựa chọn của con người Đó là sự tách biệt về ranhgiới của không gian, giữa không gian bên trong và không gian bên ngoài, giữaranh giới bất biến và khả biến:
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
(Lời kĩ nữ - Xuân Diệu)
Nó có thể là sự phân chia giữa cuộc sống bên ngoài theo đúng nghĩa của
nó và “địa ngục trần gian” như trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
Hình ảnh lỗ vuông ô cửa sổ trong tác phẩm chính là ranh giới phân biệt thànhhai không gian đối lập nhau hoàn toàn Trong cảm nhận của Mị: “Ở cái buồng
Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông
ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” [10.tr.92], là hìnhảnh của ngục thất tinh thần, địa ngục chốn trần gian đã cầm cố tuổi xuân củangười con gái
Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, mang ý nghĩa cảm xúc Nghĩa
là khi nhìn về một khoảng không gian nhất định sẽ gợi lên cho người nghệ sĩnhững hình tượng nhất định từ đó gợi nên cảm xúc cho sáng tác hay cảm xúccho các biểu tượng nghệ thuật của mình
Như không gian của “bãi bể nương dâu” luôn gợi tới sự trôi chảy của thờigian, sự đổi thay của không gian của kiếp người
Nghĩa là: chỗ kia, xưa là biển khơi nay đã thành nương dâu xanh tốt haychỗ là nương dâu ngày trước thì nay đã biến thành biển cả Vì thế, không gianbãi bể, nương dâu luôn được chọn làm nền cảnh cho các cuộc chia li, nó dự báotrước sự biến đổi lớn lao trong đời người Chẳng thế mà :
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai
Trang 7(Chinh phụ ngâm- Đoàn Thị Điểm)
Không gian trong văn học được biểu hiện bằng không gian điểm mangtính ước lệ tượng trưng, ví thử mỗi khi nhắc đến nỗi nhớ quê hương của khách
lữ thứ, người ta lại mượn không gian sông nước mênh mông với làn khói lamchiều
Không gian nghệ thuật trong văn học mang tính tượng trưng và mang tínhquan niệm Tính quan niệm này xuất phát từ nguyên tắc mô phỏng thiên nhiêntrong hội hoạ, đó là luật thấu thị - nhìn sự vật theo tỉ lệ xa gần, sáng tối trong hộihoạ phương Tây Vì thế trong văn học cổ, con người nhìn không gian theo cáchhiểu chứ không theo cái nhìn thấy Như trong tranh đời Đường, nhân vật quantrọng thì vẽ to, nhân vật phụ thì vẽ nhỏ
Tất cả các cặp đối lập không gian trong thế giới đều hàm chứa nội dung
tư tưởng- đạo đức Ví dụ: cao - thấp, khép kín - mở ra, trái - phải, trước - sau,thẳng - cong, chật - rộng… Những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng thường hay
sử dụng trong văn học, như: con đường, ngã ba, ga tàu, rừng quan san, bếnsông… là những hình ảnh gợi lên sự chia li:
Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng
hay: (Tống biệt hành - Thâm Tâm)
Người lên ngựa kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
(Tryện Kiều - Nguyễn Du)
Không gian nghệ thuật thể hiện tập trung vào cái nhìn, điểm nhìn, điểmquan sát Điểm nhìn là vị trí của chủ thể trong không thời gian, thể hiện ởphương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của khách thể được nhìn
1.3 Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học
Bao phủ lên không gian nghệ thuật là quan niệm của nhà văn Điều đómới biến không gian vật chất trở thành không gian nghệ thuật Mà quan điểm
Trang 8của nhà văn lại luôn biến đổi theo thời đại, cái mới phủ định trên cơ sở chọn lọctinh hoa của cái cũ Vì vậy mà việc tổ chức không gian nghệ thuật trong tácphẩm luôn chịu sự chi phối và tác động trực tiếp từ quan niệm thời đại và yếu tốthể loại.
1.3.1 Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian
Những tác phẩm văn học dân gian là những suy nghĩ hồn nhiên, là tìnhcảm chân thật của những con người lao động hàng ngày Bởi thế cái nhìn mangtính quan niệm của họ cũng rất đơn giản, ít phức tạp hơn so với các giai đoạnsau - khi tư duy con người đã phát triển ở mức cao Đặc điểm chung của khônggian văn học trong những sáng tác dân gian là mô hình ba giới, ba tầng, ba cõi:Thượng giới, trần gian và địa ngục với thần linh, người, ma quỷ Ở đó, conngười có thể tự do đi lại trong ba cõi mà ít gặp sự trở ngại nào (nếu như khôngmuốn nói là không hề có sự trở ngại) Đó chính là tính chất tôn giáo của khônggian nghệ thuật trong văn học dân gian
Tuy nhiên ở mỗi thể loại khác nhau, thì không gian nghệ thuật lại cónhững nét khác biệt so vớí thể loại khác Cụ thể:
Không gian thần thoại: Không gian có tính chất đặc thù là tính nguyên sơ,hoang dã của nơi xuất phát đầu tiên của sự kiện (như trời đất chưa phân, trời sụpphía Đông Nam…) Điều này có thể lí giải bởi: thần thoại là một trong nhữngthể loại văn học sớm nhất của loài người, “nó ra đời vào thời kì thơ ấu của conngười và một đi không trở lại” (K.Mark) Lúc đó, vũ trụ chỉ là cõi hồng hoang,
âm u, lạnh lẽo vắng bóng dáng con người: “Ban đầu vũ trụ là một cõi hỗn độn,
mờ mịt, tối tăm, lạnh lẽo Từ cõi hỗn độn ấy, Thần Trụ Trời xuất hiện, ông lấy
đầu đội trời lên cao và dùng chân đạp đất thấp xuống” [26.tr.14] (Thần trụ trời).
Không gian sử thi: Đến với không gian hùng vĩ bạt ngàn của núi rừngcùng những tiếng thét của những dòng thác trong sử thi Tây Nguyên, tiêu biểu là
sử thi Đam San, mỗi không gian đặc trưng của từng vùng miền đã thể hiện tình
yêu, lòng tự hào xứ sở
Trang 9Không gian truyện cổ tích: Đắm mình trong thế giới truyện cổ tích là đắmmình trong những giấc mơ ngọt ngào của người xưa, là ước mơ về một cuộcsống ấm no, hạnh phúc vì không còn những áp bức bất công Bởi thế, khônggian truyện cổ tích có đặc tính là ít tính chống đối (cản trở) của môi trường vậtchất - tính siêu dẫn của không gian Ở đó, con người tự do hoạt động, tự do dichuyển mà không gặp bất cứ trở ngại nào, và luôn có sự giúp đỡ của lực lượngthần kì, siêu nhiên Chính vì thế mà đã có những phương tiện đi lại kì diệu như:chiếc thảm bay, đôi hài bảy dặm, nồi cơm ăn mãi không hết, viên ngọc quý giúpnghe được tiếng nói của muôn loài và có thể rẽ nước đi xuống biển…
Không gian ca dao: Ca dao là tiếng nói chân thật của tình cảm nhữngngười dân lao động, là cây đàn muôn điệu, là dòng sữa trong lành đã nuôi takhôn lớn Trong lời ru của mẹ của bà, ta bắt gặp hình ảnh của con cò, của dòngsông, của “thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông”(Nguyễn Khoa Điềm).Không gian trong ca dao không còn yếu tố hư ảo như các thể loại trước đó, màthay vào đó là không gian sinh hoạt, không gian lao động của con người:
Bao giờ cho đến tháng hai Con gái làm cỏ, con trai be bờ
Qua đó, chúng ta thấy được những sắc thái, những cung bậc tình củangười lao động
1.3.2 Không gian nghệ thuật trong văn học viết trung đại
Trung đại là một phạm trù văn học lớn, sự đa dạng của không gian nghệthuật trong các thể loại với các tác giả khác nhau Song về mặt tư tưởng - thếgiới quan của các tác gia trung đại lại tương đối thống nhất Cho nên, khônggian nghệ thuật cũng có tính thống nhất Nền văn học Trung Quốc vàViệt Nam do chịu ảnh hưởng từ những học thuyết Nho, Phật, Đạo nên có chungmột mô hình vũ trụ Vì vậy, nét chung của không gian nghệ thuật là không gian
vũ trụ, gắn liền với tính bất biến của không gian Không gian vũ trụ được tạothành bởi nhật, nguyệt, mây, sao, sông, núi, chim, muông, cây cỏ Mỗi khi “conngười bất đắc chí thì tìm về thiên nhiên, vũ trụ như tìm về nguồn cội Khi ngắm
Trang 10cảnh trời mây, giang hồ họ cũng như mơ màng về nguồn cội” (Trần Đình Sử).Bởi quan niệm của con người thời kì này xem vũ trụ là căn bản tồn tại của cáthể Há chẳng phải Nguyễn Trãi, một đại thần của triều Lê, cũng đã từng về núiCôn Sơn để ở ẩn những mong thoát khỏi vòng lợi danh chốn quan trường vớinhững bon chen đố kị, ghen ghét Ở đây, ông sống chan hoà với thiên nhiêncảnh vật với tâm trạng thoải mái, thanh thản Thông qua đó ông cũng chiêmnghiệm về lẽ sống ở đời: Dù các hạng hạng người “hiền”, “ngu” với những sởdục khác nhau thì sau khi chết đi đều trở về với cỏ cây:
Trăm năm trong cuộc nhân sinh Người như cây cỏ thân hình nát tan
… Núi gò đài các đó đây Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh
(Côn Sơn ca - Nguyễn Trãi)
Vì thế, con người hãy biết vui với những gì mà mình đang có Qua cáchbiểu hiện thông qua vũ trụ, con người muốn khẳng định vị trí của mình Khônggian vũ trụ mang tính đối ứng với con người ở vị trí trung tâm, khiến cho conngười càng cảm thấy bé nhỏ, cô độc giữa vũ trụ vô cùng vô tận Chính vì cảmgiác ấy mà trong con người luôn “dấy lên khát vọng hoà nhập vào vũ trụ, khátvọng chiếm lĩnh không gian” Vì thế, ta luôn thấy con người ở tư thế “đăngcao”, “đăng u châu đài”, “thướng sơn”, “tân xuất ngục học đăng sơn” Conngười lên cao chiếm lĩnh không gian trong cái nhìn xa xăm, bao quát, đăng cao
để viễn vọng, để “thu vào tầm mắt mụôn trùng nước non” :
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư
(Ngôn hoài- Không Lộ thiền sư)
Không gian mang tính nhàn tản thoát tục, gợi lên cuộc sống bình dị thanh
nhàn của con người trong thế giới tự nhiên như bài thơ Nhàncủa Nguyễn Bỉnh
Khiêm:
Trang 11Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, tượng trưng cho thế giới, nó cótính gợi nhiều hơn là tả Và nó có sự đối lập giữa không gian cố hương với thahương, mang ý vị đồng quê ngọt ngào với xa lạ, lạnh lùng:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
(Hoàng Hạc lâu- Thôi Hiệu)
Theo dòng chảy của thời gian, không gian vũ trụ trong văn học trung đại
đã dần được “trần tục hoá”, “thế tục hoá” gắn với không gian sinh hoạt đờithường Có thể nói, khi trước, con người ta phóng tầm mắt vào vũ trụ bao larộng lớn để chinh phục vũ trụ thì khi xã hội với những biến động mạnh mẽ, cuộcsống của con người đang rên siết trong những cảnh đói khổ, chết chóc đã kéocác nhà thơ trở về với cuộc sống hiện thực, yêu cầu họ phải là những người sángtác ra những tác phẩm văn chương bám rễ vào cuộc đời Trong trường hợp này
có thể thấy rõ nhất ở nhà thơ Đỗ Phủ, người được coi là chiếc gạch nối của haithời kì thịnh Đường và suy Đường, là nhà thơ hiện thực sớm nhất của TrungQuốc, thơ của ông nóng bỏng tính thời sự Nói như tác giả Tiêu Điều Phi, “máu
và nước mắt của nhân dân đã tưới đẫm cho vườn thơ của Đỗ Phủ”
Không gian “trần tục hoá” trong thơ Hồ Xuân Hương đã được thể hiệnthông qua việc miêu tả những địa danh trong cảm quan “văn hoá phồn thực”,như đèo Ba Dội, hang Cắc Cớ, hang Thánh Hoá… Và không gian “thế tục hoá”
Trang 12trong thơ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương với không gian làng quê yên tĩnhcùng những cảnh phố xá, cao lâu, nơi buôn bán sinh hoạt chợ búa:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không
(Thương vợ - Tú Xương)
Có thể nói, Tú Xương với những vần thơ của ông đã “đánh dấu sự phainhạt của không gian nghệ thuật truyền thống, mở ra không gian sinh hoạt đờithường, đô thị”
1.3.3 Không gian trong văn học hiện đại
Do sự đổi thay trong quan niệm về xã hội, cá nhân, hoạt động của conngười mà không gian nghệ thuật trong văn học đã thay đổi Bên cạnh việc kếthừa các kiểu không gian nghệ thuật trên, ở giai đoạn này, không gian nghệ thuật
đa dạng và phong phú hơn
Với đại biểu cuối cùng của thời kì văn học trung đại, ông đã kéo khônggian nghệ thuật lại gần với cuộc sống của con người hơn Và đến các tác giả vănhọc hiện đại, không gian nghệ thuật mang tính khái quát cao, phạm vi phản ánhrộng lớn Đó là toàn bộ đời sống xã hội - không gian của con người phải vật lộnvới cuộc sống đầy sóng gió
Không gian nghệ thuật mang tính cá nhân, văn học trong thời đại này đã
đi sâu phản ánh cuộc sống, số phận của từng cá nhân, trong mối quan hệ hữu cơvới cuộc sống nhân dân Vì vậy không gian văn học mang đậm dấu ấn cá nhân.Đến với các tác giả Thơ mới, chúng ta được đắm chìm trong những không gian
cá nhân nhỏ hẹp, quẩn quanh bế tắc Không gian của Xuân Diệu là không gian
Trang 13luôn gắn với tình yêu và nỗi buồn, với Chế Lan Viên lại là không gian nghệthuật đầy hư ảo mộng mị, ma quái, kinh dị với những máu, tuỷ, sọ dừacùng những tiếng rỉ rên than…, hay lạc vào không gian của những cơn say trongthơ Vũ Hoàng Chương, về lại chốn quê bình yên thơ mộng trong thơ NguyễnBính với hoa cỏ may, giậu mồng tơi, những đàn bướm lượn vòng, những ngàymưa xuân cùng nụ cười mong mùa xuân của tình yêu:
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Khi tình yêu lỡ dở không thành, không gian mưa xuân ấy lại mang mộtnỗi buồn đến tái tê:
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay Hoa xoan đã nát dưới chân giày
(Mưa xuân - Nguyễn Bính)
Không gian nghệ thuật trở về gần hơn với cuộc sống của con người, phảnánh cuộc sống khổ cực của những con người lao động, những số phận kém maymắn Hình ảnh con người hiện lên với vai trò là nhân vật trung tâm của bứctranh cuộc sống xã hội Nhà văn đã bám sâu vào hiện thực cuộc sống để phảnánh chân thật những nỗi nhọc nhằn vất vả của cuộc sống con người trên hànhtrình mưu sinh và kiếm tìm hạnh phúc đầy nhọc nhằn Tác giả Nguyễn Minh
Châu, trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, ông đã khám phá về cuộc sống
của con người ẩn sau những vỏ bọc của cuộc sống, đồng thời là sự khám phá,phát hiện và chiếm lĩnh không gian cuộc sống, không gian nghệ thuật theokhoảng cách gần - xa Khi chiếc thuyền ở ngoài xa, cuộc sống hiện lên thật đẹpgiống như một bức tranh đẹp lãng mạn và thơ mộng nhưng khi nhà văn kéo conthuyền nghệ thuật lại gần bờ để nhìn ngắm kĩ hơn, thì lại hiện lên một bức tranhhoàn toàn đối lập với ban đầu Nguyễn Minh Châu nhận ra rằng, cuộc sống củacon người còn rất nhiều những khó khăn, thiếu thốn, những vết xước trong tâmhồn để từ đó với tư cách là nhà văn, người cầm bút đứng giữa cuộc đời, ônggióng lên những hồi chuông thức tỉnh: hãy cứu lấy nhân tính của con người
Trang 14Văn học không chỉ phản ánh đơn lẻ, rời rạc mà luôn hướng tới tầm kháiquát Từ những không gian mang đậm tính cá nhân đã được mở rộng, khái quátthành không gian xã hội vô cùng rộng lớn Khi nói đến không gian xã hội rộnglớn, nó gắn liền với đặc trưng thể loại tiểu thuyết, mà thời kì văn học hiện đạitiểu thuyết phát triển rất mạnh mẽ
Tiểu kết: Tóm lại, không gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật có
vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, tư tưởng chủ đề của tácphẩm Không gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học, làphương tiện chiếm lĩnh đời sống, là mô hình nghệ thuật về cuộc sống Khônggian nghệ thuật góp phần thể hiện quan điểm nghệ thuật của mỗi nhà văn
Không gian nghệ thuật luôn có sự biến đổi theo dòng chảy văn học Ở mỗithời kì, giai đoạn văn học, không gian nghệ thuật mang những đặc trưng riênglàm nên dấu ấn thời đại trong không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuậttrong văn học dân gian mang đậm màu sắc tôn giáo huyền bí với mô hình khônggian ba giới, ba tầng, ba cõi Đến văn học Trung đại, không gian nghệ thuậtmang tính rộng lớn bất biến của kiểu không gian vũ trụ, sau đó không gian đượctrở về gần hơn với cuộc sống của con người, đó là kiểu không gian trần tục hóa,không gian thế tục hóa Chỉ đến văn học hiện đại, không gian nghệ thuật mớithực sự gần gũi với cuộc sống của cá n hân con người, đi sâu phản ánh hiện thựccuộc sống đầy nhọc nhằn vất vả, không gian nghệ thuật được cá thể hóa
1.4 Nguyễn Bính và tập thơ “Lỡ bước sang ngang”
1.4.1 Cuộc đời
Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính Nhà thơ sinh vào cuốixuân đầu hạ năm Mậu Ngọ (1918) trong môt gia đình nhà nho nghèo tại xómTrạm, thôn Thiện Vinh, xã Đổng Đôi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Thuở bé Nguyễn Bính không được đi học ở trường mà mà chỉ học ở nhàvới cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bình, sau được cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêmnuôi dạy Nguyễn Bính là người rất có năng khiếu ông bắt đầu làm thơ từ lúc 13
Trang 15tuổi, năm 1932 Nguyễn Bính rời quê ra Hà Nôi và từ đây bắt đầu nổi tiếng trong
sự nghiệp sáng tác văn học Ông được giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn
với tập thơ Tâm hồn tôi (1940) Năm 1943 Nguyễn Bính đợc giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn với truyện thơ Cây đàn tỳ bà.
Năm 1947 Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bô.Nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và đợc giữ những trách nhiệm trọng yếuphụ trách hôi văn hóa cứu quốc tỉnh Rạch Giá, phó chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh
ở tỉnh Rạch Giá, sau làm ở ban văn nghệ thuộc phòng tuyên huấn quân khu tám.Thời gian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn, cổ động tinh thầnyêu nước quyết chiến quyết thắng, giết giặc lập công Tháng 11- 1954 NguyễnBính tập kết ra Bắc, ông công tác ở hội nhà văn Việt Nam Năm 1956 ông làmchủ bút tuần báo “Trăm hoa” và đã cho đăng báo một số bài viết
Năm 1958 Nguyễn Bính về trú tại Nam Định, ông công tác tại ty văn hoáthông tin Nam Định Ông đã góp phần vào sự trởng thành của phong trào sángtác văn nghệ của quê hơng và thơ ông vẫn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trịcủa địa phương cũng như của cả nước
Mùa thu năm 1965, ông theo cơ quan văn hoá Nam Định sơ tán vàohuyện
Lý Nhân Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 tết năm Ất Tỵ (20-1- 1966) lúcđến thăm một ngời bạn ỏ xã Hoà Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Định, khi ông
chưa kịp sang tuổi 49 Ông vừa hoàn thành và cho in bài thơ Quê hương, một
bài thơ có những nét báo hiệu của một giai đoạn mới trong đời thơ ông
Trong hơn 30 năm sáng tác với nhiều thế loại khác nhau (thơ, truyện thơ,kịch thơ, kịch bản chèo, lý luận sáng tác) Hoạt động văn nghệ của ông phongphú đa dạng song thành tựu xuất sắc nhất được độc giả ưa chuộng là thơ bởi thơ
là mảng sáng tác kết tụ tài năng và tâm huyết của cuộc đời ông Riêng về thơ cóthể nói rằng ông là cây bút sung sức nhất của phong trào Thơ Mới Chỉ trongmột thời gian ngắn (1940-1945) Nguyễn Bính đã cho ra đời những tập thơ có giá
trị: Tâm hồn tôi (1940); Lỡ bước sang ngang (1940); Hương cố nhân (1941);
Trang 16Một nghìn cửa sổ (1941); Người con gái ở lầu hoa (1942); Mười hai bến nước (1942);Mây tần (1942); Bóng giai nhân (Kịch thơ - 1942); Truyện tỳ bà (truyện
thơ - 1944)
Sau cách mạng Nguyễn Bính lại cho ra mắt các tập thơ:Ông lão mài
g-ơm (1947); Đồng tháp mười (1955); Trả ta về (1955); Gửi người vợ miền Nam (1955); Trông bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958); Tình nghĩa đôi ta (1960); Đêm sao sáng (1962).
Nhìn chung cuộc đời Nguyễn Bính tuy ngắn ngủi nhưng sự nghiệp sángtác của Nguyễn Bính rất phong phú và đa dạng Mỗi chặng đường sáng tác củaông đều có vẻ riêng song sức mạnh và tâm huyết sáng tác của nhà thơ có lẽ dồnvào giai đoạn trước cách mạng
Với lối viết giàu chất trữ tình dân gian Nguyễn Bính đã tạo được mộtgương mặt riêng trong nền văn học hiện đại Việt Nam Năm 2000 Nguyễn Bính
đã được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
1.4.2 Tập thơ “Lỡ bước sang ngang”
Nguyễn Bính là nhà thơ có bút lực dồi dào Ông làm thơ từ rất sớm vàtrong cuộc đời lao động nghệ thuật miệt mài của mình ông đã đế lại rất nhiều tậpthơ, truyện thơ, truyện, tùy bút Trong đó, có nhũng tác phẩm như viên minhchâu rọi sáng suốt hành trình sáng tác đưa tên tuổi nhà thơ lên tầm cao, khẳng
định được tài năng, phong cách riêng của mình Lỡ bước sang ngang chính là một tập thơ như vậy Ban đầu, Lỡ bước sang ngang là tên một bài thơ dài được
in trong ba kì liên tiếp của tờ Tiểu thuyết thứ năm Sau đó, Lỡ bước sang ngang
trở thành tên một tập thơ của Nguyễn Bính được nhà xuất bản Lê Cường in năm1940
Tập thơ gồm ba mươi lăm bài thơ viết bằng các thể thơ quen thuộc của
dân tộc như lục bát, thơ bảy chữ, thơ năm chữ Trong đó, có những bài như Mưa xuân, Lỡ bước sang ngang, Cô lái đò, Cô hái mơ, Viếng hồn trinh nữ đã để lại
ấn tượng sâu sắc Ba mươi lăm bài trong tập thơ là những mảnh ghép ghi lại hồn