Thế nhưng, có thể dễ dàng thấy rằng, sự “yên ắng” này sẽ rất tạm thời nếu như không giải quyết tận gốc rễ những vấn đề còn bất cập trong cơ chế tỷ giá ở Việt Nam: việc xác lập tỷ giá USD
Trang 1Lựa chọn cơ chế tỷ giá và ổn định kinh tế vĩ mô
TS Hoàng Công Gia Khánh*
Bài viết này đề cập việc lựa chọn cơ chế tỷ giá của các quốc gia trên thế giới để đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong nước Từ kinh nghiệm này, cùng với việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ chế tỷ giá, bài viết đưa ra các khuyến nghị trong việc xác lập cơ chế tỷ giá ở Việt Nam và gợi ý những hành động cần thiết để triển khai thực hiện cơ chế này
1 Mở đầu
Sau gần hai tháng kể từ lần mạnh tay điều chỉnh tỷ giá USD/VND vào ngày 11/02/2011 và quyết liệt triển khai các biện pháp kinh tế lẫn hành chính, thị trường ngoại tệ Việt Nam đã phần nào lắng dịu, đỡ căng thẳng hơn
so với trước đây Thế nhưng, có thể dễ dàng thấy rằng, sự “yên ắng” này sẽ rất tạm thời nếu như không giải quyết tận gốc rễ những vấn đề còn bất cập trong cơ chế tỷ giá ở Việt Nam: việc xác lập tỷ giá USD/VND theo thiên hướng của cơ chế tỷ giá cố định dù xuất hiện dày đặc các chỉ báo bất ổn trong kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát và thâm hụt cán cân thanh toán
Trừ phi chính thức bác bỏ lý thuyết bộ ba bất khả thi, Việt Nam cần sớm có kế hoạch tổng thể dài hạn mang tính hệ thống với những kịch bản chi tiết, chấp nhận đánh đổi hy sinh có mức độ sự vẹn toàn các mục tiêu của
“bộ bất khả” để phối hợp hiệu quả chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ mới có thể ngăn chặn những bất ổn đã và đang hiện hữu Một trong những vấn đề then chốt là phải lựa chọn và xác lập được cơ chế tỷ giá thích hợp, thay vì chỉ điều hành mang tính chất giải quyết tình thế như đã xảy ra không hiếm lần trong quá khứ
2 Xu hướng lựa chọn cơ chế tỷ giá trên thế giới
Ở các nước có nền kinh tế phát triển, sự phát triển đáng kể nhất là việc
ra đời đồng tiền chung châu Âu năm 1999 Các nước thị trường mới nổi có
ba xu hướng rõ rệt Thứ nhất, khá nhiều các quốc gia lựa chọn cơ chế tỷ giá
trung gian, do nỗi sợ thả nổi (fear of floating) một số các quốc gia này chấp
nhận tình trạng lưỡng cực Thứ hai, từ giữa thập niên 1990 đến những năm
đầu thế kỷ 21, số lượng quốc gia lựa chọn cơ chế tỷ giá thả nổi cả trên pháp
lý lẫn thực tế đã tăng gấp đôi và giảm phần nào, kể từ năm 2003 (xem đồ thị
1a) Thứ ba, có sự khác biệt rõ rệt giữa cơ chế tỷ giá theo pháp lý và cơ chế
tỷ giá trên thực tế điều hành
*
Trường Đại học Kinh tế - Luật
Trang 2Ở các quốc gia đang phát triển, không có sự biến động lớn về số
lượng quốc gia theo đuổi cơ chế trung gian (xem đồ thị 1b) Tỷ lệ giữa cơ
chế cố định và cơ chế thả nổi theo phân loại pháp lý không có sự thay đổi đáng kể trong hai thập kỷ gần đây và cũng như nhóm các nước thị trường mới nổi, vẫn có sự khác biệt giữa cơ chế tỷ giá theo pháp lý và trên thực tế
(xem bảng 1) Các quốc gia thuộc nhóm này thường có khuynh hướng để tỷ
giá ít linh hoạt hơn so với công bố chính thức tức là việc công bố thả nổi chỉ
là hành động mang tính miễn cưỡng
Đồ thị 1: Cơ chế tỷ giá ở các nước thị trường mới nổi và đang phát triển
Bảng 1: Phân phối cơ chế tỷ giá
Đvt: Số quan sát
Phân loại theo thực tế (De facto)
TT Phân loại theo pháp lý
(De Jure) Cố định Trung gian Thả nổi Tổng
Trang 3Nguồn: Exchange Rate Regimes: Choices &
Consequence và IMF Occasional Paper No.270
Khảo sát của Atish R.Ghosh (năm 2010) cho thấy, có tỷ lệ lớn các nước đang phát triển và các nước thị trường mới nổi trên thực tế sử dụng cơ chế cố định - can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại tệ - dù không công bố chính thức áp dụng cơ chế này Điều đáng lo ngại nhất là sự thiếu minh bạch, thiếu tin cậy do không chính thức thừa nhận cơ chế cố định, vẫn công
bố cơ chế thả nổi, nhưng không đủ sức hoặc không muốn duy trì, sẽ khiến các nước này khó có khả năng tự động điều chỉnh trước các cú sốc thương mại, chính sách tiền tệ phản ứng chậm trễ khi có bất ổn, thiếu khả năng chống đỡ với các cuộc tấn công đầu cơ và ngân hàng trung ương không duy trì được chức năng người cho vay cuối cùng
3 Biến động vĩ mô dưới các cơ chế tỷ giá khác nhau
3.1- Chính sách kinh tế vĩ mô
Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi, một quốc gia không thể cùng một lúc đạt được ba mục tiêu: cố định tỷ giá, tự do hóa tài khoản vốn và chính sách tiền tệ độc lập
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, cơ chế cố định sẽ làm hạn chế khả năng phản ứng của chính sách tiền tệ với các điều kiện kinh tế vĩ mô hơn là cơ chế trung gian hoặc cơ chế thả nổi Kết quả hồi quy sự biến động lãi suất đối với lạm phát, chênh lệch sản lượng và neo lãi suất trong nước dưới cơ chế cố định và cơ chế trung gian của Atish R.Ghosh (năm 2010)1 cho thấy:
- Chính sách tiền tệ có phản ứng với lạm phát; chênh lệch sản lượng dưới cơ chế thả nổi và trung gian, nhưng không có phản ứng dưới cơ chế cố định
- Sự kém chủ động trong chính sách dưới cơ chế cố định ở các quốc gia đang phát triển, thị trường mới nổi là rõ nét hơn so với các quốc gia có nền kinh tế phát triển
- Tổng thâm hụt của chính phủ, nhìn chung, ở mức độ thấp dưới cơ chế cố định, trung gian hơn là cơ chế thả nổi, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển Chính sách tài khóa ngược chu kỳ cũng ít xảy ra hơn dưới cơ chế
cố định, tăng dần lên ở cơ chế trung gian và cơ chế thả nổi
- Cơ chế cố định làm hạn chế đáng kể hiệu quả của các chính sách vĩ
mô và là con dao hai lưỡi: có khả năng hữu ích trong bối cảnh các nước còn thiếu minh bạch, kỷ luật kém; ngược lại, sẽ xảy ra tình trạng gượng ép,
“cưỡng bức” trong chính sách vĩ mô và dễ tạo ra các cú sốc ở các nước có
đủ tính kỷ luật trong chính sách
3.2- Lạm phát
Trang 4Kết quả khảo sát của IMF cho thấy, nhìn chung, lạm phát thường thấp
dưới cơ chế tỷ giá cố định theo pháp lý (xem bảng 2)
Thả nổi Cố
định
Trung gian
Thả nổi
Tất cả các nước 8,0 10,8 13,6 11,0 15,5 9,5 Các nước phát triển 2,7 6,7 3,6 2,7 6,5 2,8 Các nước thị trường mới nổi 11,6 12,9 17,1 11,0 15,5 10,4 Các nước đang phát triển 8,1 11,1 17,4 8,2 13,2 15,9
Nguồn: IMF, World Economic Outlook
Bảng 2 cho thấy, trong mối quan hệ tương quan, các nước theo đuổi
cơ chế cố định theo pháp lý có tỷ lệ lạm phát thấp hơn 4,5% so với các nước theo đuổi cơ chế trung gian, thả nổi Kết quả này được giải thích là do khi áp dụng cơ chế cố định, dân chúng có lòng tin lớn hơn về sự ổn định tỷ giá (hiệu ứng tin cậy) và độ tăng trưởng tiền tệ thấp hơn (hiệu ứng kỷ luật) Bên cạnh đó, ở các nước đang phát triển và các nước thị trường mới nổi, mối liên
hệ giữa lạm phát thấp và cơ chế cố định trên pháp lý là mạnh hơn so với cơ chế cố định trên thực tế Có thể giải thích kết quả này là do trong cơ chế cố định theo pháp lý, ngân hàng trung ương có cam kết chính thức rõ ràng hơn
so với cơ chế cố định theo thực tế
3.3- Tăng trưởng kinh tế và sự bất ổn trong tăng trưởng
Bảng 3 cho thấy, độ lệch chuẩn trong tăng trưởng GDP ở những nước
theo đuổi cơ chế cố định cao hơn so với các nước theo cơ chế trung gian hoặc thả nổi Mức khác biệt này càng cao ở những nước phát triển nhưng giảm đi ở những nước đang phát triển Như vậy, sự bất ổn về tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ với cơ chế tỷ giá, theo đó, mức bất ổn cao ở những nước theo đuổi cơ chế cố định và giảm dần đi qua cơ chế trung gian; cuối cùng, thấp nhất là cơ chế thả nổi Thêm vào đó, các nước phát triển sẽ có sự
ổn định cao khi theo đuổi cơ chế thả nổi hơn là cơ chế cố định Điều này cũng đúng với cả các nước đang phát triển dù mức khác biệt không cao
Bảng 3: Tăng trưởng GDP, sự bất ổn trong tăng trưởng, đầu tư, tăng
trưởng xuất khẩu và cơ chế tỷ giá
TT Chỉ tiêu
Phân loại theo pháp lý Phân loại theo thực tế
Trang 5Cố định
Trung gian
Thả nổi
Cố định
Trung gian
Thả nổi
1,9 2,3 2,4 1,5
1,4 1,9 1,5 1,1
1,6 2,5 1,7 1,4
1,7 2,2 2,2 1,4
1,5 1,9 1,6 1,1
2,1 2,0 2,1
2,3 1,7 2,9
3,5 3,4 3,5
2,3 2,5 1,8
3,6 2,5 4,1
hay thực tế (xem bảng 4)
Bảng 4: Khả năng xảy ra khủng hoảng phân theo cơ chế tỷ giá
Đơn vị: % mẫu quan sát
Phân loại theo pháp lý Phân loại theo thực tế
Trung gian Thả nổi Khủng hoảng tiền tệ
Trang 6Nguồn: IMF, World Economic Outlook
Về mặt tổng thể, có thể thấy các nước thị trường mới nổi với độ mở tài khoản vốn cao hơn có thể bị tấn công tiền tệ và khủng hoảng tài chính dưới cơ chế tỷ giá kém linh hoạt, điều này đúng cho cả hai cách phân loại Điều này có nghĩa là các nước thị trường mới nổi nên lựa chọn cơ chế linh hoạt hơn, ngược lại, nếu chọn cơ chế kém linh hoạt thì cần phải đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản để đủ sức cân đối khi xảy ra cuộc tấn công tiền
tệ hoặc khủng hoảng tài chính
Như vậy, có thể thấy rằng sự linh hoạt tỷ giá sẽ trở nên giá trị hơn khi các nước đã có sự chuẩn bị kỹ trong việc gia nhập thị trường vốn quốc tế và khi hệ thống tài chính của họ đã phát triển tốt Ở các nước đang phát triển có mức độ luân chuyển với nguồn vốn quốc tế còn thấp thì cơ chế cứng với tỷ giá cố định hoặc ở mức trung gian kém linh hoạt sẽ giúp làm tăng độ tin cậy vào các chính sách; do đó, giúp đạt được tỷ lệ lạm phát thấp với ít chi phí hữu hình như mất đi sự tăng trưởng, nguy hiểm cho tăng trưởng cao và khủng hoảng thường xuyên hơn Thực thi cơ chế cố định tốt cần cam kết thể hiện từ sự công bố rộng rãi trước công chúng về mục tiêu và sau đó là tiếp tục tăng cường thực hiện thông qua các chính sách vĩ mô nhất quán thì sự tồn tại của cơ chế mới có thể được dài hơn
Ngược lại, đối với các nước thị trường mới nổi, mức độ luân chuyển với nguồn vốn quốc tế cao thì nên áp dụng cơ chế linh hoạt hơn (trung gian)
là hữu ích hơn bởi vì nếu áp dụng cơ chế tỷ giá cố định thường sẽ gây nên hậu quả bất ổn cả ở khu vực tài chính lẫn cán cân thanh toán Hơn nữa, cơ chế tỷ giá cố định cũng không đem lại lợi ích rõ ràng cho việc kiểm soát lạm phát ở mức thấp hoặc giúp tăng trưởng cao Tuy nhiên, cơ chế tỷ giá thả nổi cũng khó đem lại hiệu quả cao ở các nước thuộc khu vực này bởi vì nó có thể gây nên hậu quả xấu do sự lo ngại tỷ giá sẽ có những biến động lớn
Ở các nước phát triển, thả nổi thường đem lại tăng trưởng nhanh hơn những cơ chế khác mà không phát sinh lạm phát cao, do ở những nước này thị trường tài chính đã phát triển, sử dụng hiệu quả các công cụ phòng ngừa rủi ro, chính sách tiền tệ linh hoạt cao, các món nợ phổ biến bằng nội tệ đã
Trang 7giúp giảm đi đáng kể những hậu quả bất lợi từ những mất cân xứng trên thị trường, vốn dĩ là nguyên nhân gây nên nỗi lo sợ thả nổi
4 Các yếu tố lựa chọn cơ chế tỷ giá
Phân tích ở trên cho thấy, việc xác định cơ chế tỷ giá hữu hiệu là việc làm không mấy dễ dàng với hệ thống các yếu tố cần phải xem xét trong mối quan hệ đan xen tác động qua lại lẫn nhau, do vậy, cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu để phân tích, đánh giá trước khi quyết định lựa chọn
Từ các nghiên cứu của Masson (năm 2001), Duttagupta và Robe (năm 2003), Frankel (năm 2003), Rogoff và cộng sự (năm 2003, năm 2010) có thể phân tích hệ thống các yếu tố cần phải xem xét khi quyết định lựa chọn cơ chế tỷ giá như sau:
Otker-Độ mở thương mại (Trade openness) và quy mô nền kinh tế (Size of economy): Độ mở thương mại được đo bằng tỷ lệ giữa xuất khẩu và nhập
khẩu so với GDP còn quy mô nền kinh tế được dựa trên GDP Dựa trên hai lợi điểm quan trọng của cơ chế tỷ giá cố định là (i) cung cấp neo danh nghĩa cho chính sách tiền tệ và (ii) khuyến khích hoạt động thương mại, đầu tư nhờ vào việc giảm thiểu chi phí giao dịch và rủi ro tỷ giá Có thể thấy, nếu hoạt động thương mại chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế thì sự thiếu ổn định của tỷ giá sẽ gây nên vấn đề nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế; chẳng hạn như trường hợp nền kinh tế quá nhỏ và quá mở nhưng lại chọn lựa cơ chế thả nổi hoàn toàn Trong trường hợp một quốc gia nhỏ đang trong tiến trình hội nhập, độ mở thương mại trong quá khứ thường ở mức cao hoặc rất cao, sẽ có
xu hướng giảm đi theo thời gian Tuy nhiên, các quốc gia này sẽ vẫn khó có thể chuyển hẳn sang trạng thái có độ mở thương mại thấp, do vậy, sự chuyển đổi cơ chế tỷ giá cũng sẽ chỉ dừng lại ở mức kém linh hoạt sang mức linh hoạt hơn
Sự đa dạng trong cấu trúc sản xuất/xuất khẩu (Diversified production/export structure) - được đo bằng tỷ trọng thương mại với các đối tác chính - và sự tập trung hoạt động thương mại theo vùng địa lý (Geographic concentration of trade) - được đo bằng tỷ trọng các đồng tiền
dùng cho thanh toán với các đối tác chính: Nếu một quốc gia có cấu trúc sản xuất và xuất khẩu đa dạng thì nó sẽ dễ dàng hấp thụ được các cú sốc hoặc những biến động của thị trường/đối tác và không quá phụ thuộc vào một đặc trưng nào, lúc này, nó đủ khả năng để thực thi cơ chế linh hoạt Ngược lại, nếu mức độ đa dạng thấp thì tính linh hoạt của cơ chế tỷ giá sẽ phải càng giảm để đảm bảo an toàn cho chính nó Bên cạnh đó, nếu hoạt động thương mại là đa dạng và phân tán với nhiều đối tác khác nhau thì nó không cần thiết phải neo vào một đồng tiền nào, nhưng ngược lại, khi mức độ tập trung thương mại vào một quốc gia nào đó là lớn, thì việc neo vào tiền tệ đó là
Trang 8điều đáng cân nhắc Các quốc gia nhỏ có nguồn tài nguyên dồi dào trong tiến trình hội nhập thường có sự thay đổi lớn trong cấu trúc xuất khẩu, từ xuất khẩu sản phẩm thô sang xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao, từ việc xuất khẩu một vài sản phẩm chủ lực sang xuất khẩu đa dạng sản phẩm nhờ vào việc dễ dàng hơn trong việc đổi mới công nghệ và năng lực sản xuất Bên cạnh đó, các quốc gia này thường tìm cách đa dạng hóa khách hàng và như vậy, sẽ hướng đến việc phân tán hoạt động thương mại cao Vì những lý do đó, tiêu chí sự đa dạng trong cấu trúc sản xuất/xuất khẩu và sự tập trung hoạt động thương mại theo vùng địa lý thường là một trong những căn cứ để xem xét lựa chọn cơ chế tỷ giá đối với các quốc gia đang trong tiến trình hội nhập
Chênh lệch lạm phát (Inflation differential): Nếu độ lệch của tỷ lệ lạm
phát trong nước và lạm phát của các đối tác chính là không cao thì không có
áp lực buộc phải điều chỉnh tỷ giá Ngược lại, nếu độ lệch này cao thì đòi hỏi phải thường xuyên điều chỉnh tỷ giá Tuy nhiên, nếu quốc gia rơi vào tình trạng siêu lạm phát thì tỷ giá cố định sẽ là lựa chọn khôn ngoan Đối với các quốc gia đang phát triển, mức lạm phát dù có thể được cải thiện đáng kể trong tiến trình hội nhập nhưng thường vẫn ở mức cao và kém ổn định so với các nước phát triển - vốn là các đối tác chính - do vậy, tiêu chí chênh lệch lạm phát đóng vai trò trọng yếu trong việc lựa chọn cơ chế tỷ giá
Sự di chuyển lao động (Labor mobility): Nếu nền kinh tế có sự liên
kết cao với các quốc gia láng giềng hoặc đối tác, người lao động sẽ có thể phản ứng lại với tình trạng suy thoái trong nước bằng cách di chuyển qua biên giới để làm việc: như vậy, sẽ làm giảm áp lực mở rộng chính sách tiền
tệ và phá giá nội tệ Đối với các quốc gia kém phát triển hoặc đang phát triển, lợi thế lao động chủ yếu vẫn nhờ vào nhân công rẻ Tuy nhiên, các rào cản về ngôn ngữ cũng như trình độ sẽ khiến cho nhân công của các quốc gia này không dễ luân chuyển để phản ứng trước diễn biến của tình trạng kinh
tế Hơn nữa, các quốc gia nhỏ đang phát triển thường đeo đuổi chính sách bảo vệ lao động của nước mình nên họ thường đặt ra các rào cản đối với lao động nước ngoài Chính các đặc điểm này làm giảm tầm quan trọng của tiêu chí di chuyển lao động đến việc lựa chọn cơ chế tỷ giá
Sự di chuyển vốn (Capital mobility) hay mức độ mở của vốn (Capital openness): Khi di chuyển vốn càng cao, càng dễ dàng; các quốc gia sẽ rất
khó khăn nếu muốn duy trì cơ chế tỷ giá cố định Quá trình hội nhập và áp lực thực thi các cam kết hội nhập sẽ khiến các quốc gia đang phát triển phải theo xu hướng gia tăng độ mở cửa của vốn và dần dần hướng đến tự do hóa tài khoản vốn, dù điều này cần rất nhiều điều kiện và thời gian Tuy nhiên,
áp lực phải thay đổi mạnh trong phương thức can thiệp thị trường sẽ ngày càng rõ nét theo hướng giảm nhanh các can thiệp phi thị trường Trong bối
Trang 9cảnh có sự thay đổi mạnh, nhanh và kém ổn định của dòng vốn di chuyển (dễ dàng đảo ngược), việc lựa chọn cơ chế tỷ giá cần phải đặc biệt quan tâm đến tiêu chí này
Sự hỗ trợ tài chính/Tấm lá chắn tài khóa (Fiscal cushion): Sự can
thiệp của hệ thống tài chính vào những khu vực bất ổn nhằm mục đích giảm thiểu những biến động kinh tế vĩ mô sẽ là hỗ trợ đắc lực cho việc duy trì cơ chế tỷ giá cố định
Sự đối xứng (Symmetry): Nếu phạm vi những cú sốc xảy ra giữa hai
nền kinh tế có mối quan hệ tương quan thì sẽ không cần thiết phải duy trì chính sách tiền tệ độc lập, vì lúc này, có thể chia sẻ song hành việc mở rộng chính sách tiền tệ
Một số các yếu tố khác như mức độ phát triển kinh tế được đo bằng GDP bình quân đầu người, tăng trưởng tín dụng trong nước, dự trữ ngoại tệ,
sự bất ổn của tỷ giá hối đoái thực, nợ nước ngoài, các cú sốc trong nước, các
cú sốc từ nước ngoài và các yếu tố liên quan đến thể chế như sự bất ổn về chính trị, mức độ độc lập của ngân hàng trung ương, cũng được một vài tác giả sử dụng trong các mô hình lựa chọn cơ chế tỷ giá
5 Lựa chọn cơ chế tỷ giá ở Việt Nam
Kể từ năm 1999, khi Việt Nam có sự thay đổi lớn trong cơ chế tỷ giá, bảng phân loại cơ chế tỷ giá của IMF xếp Việt Nam vào nhóm cơ chế tỷ giá thả nổi với mức phân định là cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý không định trước (Managed floating with no predetermined for exchange rate) cùng với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore Ở cùng thời gian này, Malaysia và Trung Quốc vẫn được xếp vào nhóm cố định truyền thống (Conventional pegged arrangement) tức là có cơ chế tỷ giá “cứng” hơn so với Việt Nam Tuy nhiên, từ cuối năm 2004 trở lại đây, IMF chuyển Việt Nam sang nhóm nước có cơ chế cố định truyền thống vì nhận định rằng kể
từ tháng 8/2004, NHNN công bố sẽ không để tỷ giá USD/VND tăng quá 1%/năm Có thể thấy, dưới góc nhìn của IMF, Việt Nam đã có sự chuyển đổi
cơ chế tỷ giá theo hướng lùi về nhóm “cứng” Trong khi đó, Malaysia với sự cải cách cơ chế tỷ giá từ 7/2005 theo hướng “mềm hóa”, được xếp nhóm cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý không định trước cùng với Singapore, Thái Lan, Ấn Độ, Miến Điện, Lào, Trung Quốc dù có sự cải cách mạnh cơ chế tỷ giá vẫn được xem là nước thuộc nhóm cơ chế tỷ giá cố định truyền thống Như vậy, IMF bám rất sát các thay đổi trong cơ chế tỷ giá của các nước dù
đó chỉ là những công bố hoặc hành động điều chỉnh nhỏ Dẫu rằng mỗi nước thành viên IMF đều có quyền lựa chọn cơ chế tỷ giá cho riêng mình trong phạm vi tuân thủ những cam kết của điều lệ IMF nhưng những công bố của IMF vẫn tạo ra những ảnh hưởng đáng kể - kể cả về mặt tâm lý đến nhìn
Trang 10nhận của quốc tế Do vậy, bất kỳ một sự thay đổi hoặc điều chỉnh dù nhỏ trong cơ chế tỷ giá vẫn phải được cân nhắc hết sức thận trọng
5.1- Độ mở thương mại
Việt Nam là quốc gia nhỏ, có quy mô GDP bình quân giai đoạn 2000 -
2010 chiếm chưa đến 1,0% quy mô GDP khu vực châu Á, trong khi đó, quy
mô GDP khu vực châu Á chỉ chiếm vào khoảng 30% tổng GDP toàn thế giới Như vậy, có thể thấy quy mô GDP của Việt Nam quá nhỏ bé so với quy
mô GDP khu vực châu Á lẫn toàn thế giới
Đồ thị 2: Độ mở thương mại của một số nước Châu Á và Úc
Tính toán của tác giả từ số liệu của ADB, IFS
Với độ mở thương mại khá cao (xem đồ thị 2), sự thiếu ổn định của tỷ giá sẽ gây nên vấn đề nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế Việt Nam Trong ngắn hạn và kể cả trung hạn, Việt Nam khó có thể chuyển sang trạng thái có độ mở thương mại thấp nên nếu dựa trên yếu tố này, điều đương nhiên là Việt Nam sẽ chưa thể lựa chọn cơ chế thả nổi Tuy nhiên, nếu đeo đuổi cơ chế tỷ giá theo hướng cứng kém linh hoạt, Việt Nam sẽ đối mặt với