1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI XUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

100 575 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm lãi suất chịu tác động của cung – cầu vốn và nhóm lãi suất Ngân hàng Nhà nước sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ Lãi suất trên TTTT biểu thị dưới rất nhiều hình thức khác nhau,

Trang 1

MỤC LỤC

3

DANH MỤC BẢNG BIỂU 3

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 4

LỜI NÓI ĐẦU 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI VIỆC ỔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ 10

1.1 Lãi suất 11

1.1.1 Lịch sử hình thành khái niệm lãi suất 11

1.1.2 Khái niệm lãi suất 11

1.1.3 Phân loại lãi suất 12

1.1.3.1 Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế 12

1.1.3.2 Lãi suất tài sản nợ và lãi suất tài sản có 12

1.1.3.3 Nhóm lãi suất chịu tác động của cung – cầu vốn và nhóm lãi suất Ngân hàng Nhà nước sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ 13

1.1.4 Các nguyên tắc xác định lãi suất 15

1.1.4.1 Các nguyên tắc xác định nhóm lãi suất phụ thuộc quan hệ cung – cầu vốn 15

1.1.4.2 Các nguyên tắc xác định nhóm lãi suất do Ngân hàng Trung ương công bố 15

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất 16

1.1.6 Tác động của lãi suất đối với nền kinh tế thị trường 18

1.1.6.1 Tác động của lãi suất đối với tiêu dùng và đầu tư, sản lượng quốc gia và tỷ lệ thất nghiệp 19

1.1.6.2 Tác động của lãi suất đối với lạm phát và mục tiêu ổn định giá cả 21

1.1.6.3 Tác động của lãi suất đối với tỷ giá hối đoái 24

1.2 Chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương 27

1.2.1 Khái niệm 27

1.2.2 Nội dung của chính sách lãi suất 27

1.2.3 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương 28

1.2.3.1 Khái niệm 28

Trang 2

1.2.3.2 Các cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương 28

1.2.4 Một số chính sách lãi suất trong nền kinh tế thị trường 29

1.3 Kinh nghiệm điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 30

1.3.1 Cơ chế điều hành lãi suất của một số nước có nền kinh tế thị trường phát triển 30

1.3.1.1 Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 30

1.3.1.2 Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) 31

1.3.1.3 Ngân hàng Trung ương Úc (RBA) 32

1.3.1.4 Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) 33

1.3.2 Một số nhận xét 33

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY 35

2.1 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ từ 1986 đến nay 36

2.1.1 Cơ chế điều hành lãi suất giai đoạn 1986 - 2004 36

2.1.2 Cơ chế điều hành lãi suất giai đoạn 2005 - 2010 39

2.2.1 Giai đoạn nền kinh tế đứng trước áp lực về lạm phát 47

2.2.2 Giai đoạn nền kinh tế đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 53

2.3 Đánh giá tác động của chính sách lãi suất đối với nền kinh tế giai đoạn 2005 – 2010 57

2.3.1 Tác động lên tỷ lệ lạm phát và mục tiêu ổn định giá cả 57

2.3.2 Tác động lên tỷ giá hối đoái 60

2.3.3 Tác động lên hệ thống Ngân hàng thương mại và hoạt động của các doanh nghiệp 62

2.3.3.1 Giai đoạn nền kinh tế đối mặt với áp lực lạm phát 62

2.3.3.2 Giai đoạn nền kinh tế đối mặt với khủng hoảng kinh tế 65

2.4 Thành công và hạn chế của chính sách lãi suất Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2010 68

2.4.1 Thành công của chính sách lãi suất Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 68

2.4.2 Hạn chế của chính sách lãi suất Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 69

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI MỤC TIÊU 74

Trang 3

ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 74

3.1 Tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 74

3.2 Những thách thức đối với điều hành chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 76

3.3 Định hướng điều hành chính sách lãi suất nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô 78 3.4 Một số khuyến nghị về việc điều hành chính sách lãi suất nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô 79

3.4.1 Khuyến nghị về công cụ điều hành chính sách lãi suất 79

3.4.2 Khuyến nghị về mục tiêu điều hành chính sách lãi suất 83

3.4.3 Khuyến nghị về việc phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay 90

3.4.4 Khuyến nghị về việc tăng cường khả năng phản ứng của chính sách lãi suất đối với biến động thị trường 94

3.4.5 Khuyến nghị về các nhóm giải pháp khác 95

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam giai đoạn 1986 – 2004 ……….37

Bảng 2.2 Lãi suất cơ bản từ năm 2005 đến 2008……….50

Bảng 2.3 Lãi suất huy động VND một số kỳ hạn tại một số thời điểm năm 2010……….….53

Trang 4

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Mô hình IS – LM 24 Hình 1.2 Mối quan hệ giữa lãi suất và dòng vốn vào, dòng vốn ra 26 Hình 2.1 Các mức lãi suất chính sách từ 1/10/2010 đến 31/3/2011 48 Hình 2.2 Diễn biến lãi suất vay, lãi suất thực vay ngắn hạn và dài hạn năm

2010 52 Hình 2.3 Diễn biến lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2009 53 Hình 2.4 Lãi suất huy động VND giai đoạn 2008 – 2009 56

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

IBRD : Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế

IDA : Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development Association)

ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)

Trang 6

TPCP : Trái phiếu chính phủ

VNIBOR : Lãi suất bình quân liên ngân hàng Việt Nam

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, nền kinh tế các nướctrên thế giới vẫn còn tiềm ẩn nhiều biến động Việt Nam thuộc nhóm các nướcđang phát triển, mặc dù không bị ảnh hưởng trực tiếp từ sự sụp đổ của hệ thốngtài chính thế giới nhưng với việc tham gia WTO từ năm 2007 đã khiến chonhững biến động của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây có mốitương quan chặt chẽ với biến động kinh tế thế giới Tình trạng thâm hụt thươngmại lớn cùng với tỷ lệ lạm phát cao trong giai đoạn 2008 – 2010 đã đặt ra tháchthức to lớn cho các nhà quản lý trong việc điều hành các chính sách kinh tế - tàichính một cách linh hoạt, hiệu quả

Nhiệm vụ này lại càng trở nên cấp bách và cần thiết hơn khi những thángđầu năm 2011, Việt Nam đã chứng kiến hàng loạt những nguy cơ có thể gây bất

ổn nền kinh tế quốc gia như chỉ số CPI tiếp tục tăng cao sau chuỗi tăng liên tục

và vượt quá dự báo từ cuối năm 2010 (CPI năm 2010 tăng 11,75%); tỷ giá chínhthức sau đợt điều chỉnh tháng 8/2010 vẫn ở mức cao khiến giá nguyên vật liệuhàng hóa nhập khẩu tăng theo; lãi suất tăng, giá vàng tăng, tỷ giá ngoại tệ tăng –tất cả đang trên đà leo dốc; thiên tai dịch bệnh trong nước tác động bất lợi đếnsản xuất và đời sống người dân Trước bối cảnh như vậy, Nghị quyết 11 củaChính phủ đã khẳng định phải thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, thận trọngnhằm thực hiện nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2011 là ổn định kinh tế vĩ mô,kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội

Thực tiễn điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gian qua ở Việt Nam đã chothấy chính sách lãi suất là một trong những công cụ có vai trò quan trọng củachính sách tiền tệ Tùy thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ là thắt chặt haynới lỏng, NHNN sẽ áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cho phù hợp, nhằm ổnđịnh và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân

Trang 8

hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế Lãi suất đã vàđang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính – tiền tệ,được các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước quan tâm, theo dõi, dự báo hàngngày Nền kinh tế ngày càng phát triển, các quan hệ kinh tế không chỉ còn tồntại giản đơn trong nội bộ quốc gia mà xa hơn đã vươn lên tầm quốc tế lại càngđặt ra thách thức cần phải có một cơ chế điều hành lãi suất sao cho linh hoạt, đểvừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là động thái tín hiệu về chủ trương củaChính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN

Nhận thức được điều này, NHNN đã có những bước cải cách quan trọngtrong chính sách lãi suất để tiến dần tới tự do hóa hoàn toàn lãi suất ở nước ta.Lãi suất bước đầu được điều chỉnh theo yêu cầu của thị trường chế độ kiểm soátlãi suất cứng nhắc dần được nới lỏng Tuy nhiên chính sách lãi suất hiện nay vẫncòn nhiều điểm chưa hợp lý, đôi khi chưa linh hoạt và vẫn chưa phát huy hết vaitrò là công cụ điều tiết một cách mạnh mẽ tới hoạt động kinh tế Vì thế độ nhạycảm của nền kinh tế với lãi suất chưa cao và đòi hỏi phải có những hoàn thiện,đổi mới nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại của chính sách lãi suất

Xuất phát từ thực tế đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện

chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với ổn định kinh tế

vĩ mô” nhằm mục đích đưa ra những đánh giá trong việc thực hiện chính sách

điều hành lãi suất hiện nay và tiến hành đề xuất một số kiến nghị nhằm hoànthiện cơ chế điều hành lãi suất trong thời gian tới

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện với những mục đích cơ bản sau:

Thứ nhất, làm rõ các quan điểm lý thuyết về lãi suất và chính sách lãi suất

của NHTW, các nhân tố ảnh hưởng cũng như tác động của lãi suất đối với nềnkinh tế

Thứ hai, dựa trên việc phân tích chính sách lãi suất của một số NHTW các

nước điển hình trên thế giới, nghiên cứu chỉ ra những bài học kinh nghiệm trong

Trang 9

điều hành lãi suất ở Việt Nam phù hợp với thực tiễn và tình hình phát triển thịtrường tài chính hiện nay.

Cuối cùng, phân tích thực trạng chính sách lãi suất của NHNN Việt Nam

trong thời gian qua, từ đó đánh giá tác động của chính sách lãi suất đối với mụctiêu ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát, đảm bảo phát triển bền vững, đồng thờiđưa ra những khuyến nghị có thể thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả trong điềuhành lãi suất

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong vai trò, tác động và hiệu quảcủa chính sách lãi suất đang áp dụng tại Việt Nam tới các biến số kinh tế vĩ môcũng như hoạt động doanh nghiệp và hệ thống NHTM trong giai đoạn 2005 -

2010 Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện chínhsách lãi suất trong thời gian tới, đặc biệt trong bối cảnh áp lực lạm phát cao nhưhiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích định tính: dựa trên cơ sở các lý thuyết kinh tế học

đã được chứng minh, kết hợp với tư duy logic, suy luận, phân tích biệnchứng, chúng tôi đưa ra các nhận định, bình luận về vấn đề đặt ra

- Phương pháp tổng hợp so sánh: Nhóm nghiên cứu tiến hành tổng hợpthông tin, số liệu, so sánh chuỗi thời gian tại Việt Nam

- Kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công trình trước đây như các đề tàinghiên cứu khoa học, luận văn, tạp chí

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, hình vẽ, đồ thị, danh mục tàiliệu tham khảo và phụ lục, đề tài nghiên cứu khoa học bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về lãi suất và chính sách lãi suất của Ngân hàngTrung ương đối với việc ổn định nền kinh tế

Chương 2: Thực trạng điều hành chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhànước Việt Nam hiện nay

Trang 10

Chương 3: Hoàn thiện chính sách lãi suất trong giai đoạn thực hiện mụctiêu ổn định kinh tế vĩ mô.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI VIỆC ỔN ĐỊNH

NỀN KINH TẾ

Trang 11

Bên cạnh tỷ giá, lãi suất là công cụ bổ trợ quan trọng trong điều hànhchính sách tiền tệ của NHTW nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô nóichung và ổn định hệ thống tài chính nói riêng Tùy theo tình hình phát triển kinh

tế mà mỗi quốc gia sẽ có một cơ chế điều hành lãi suất của riêng mình Trongchương 1, nhóm nghiên cứu tập trung phân tích các lý thuyết chung về lãi suất

và chính sách lãi suất

1.1 Lãi suất

1.1.1 Lịch sử hình thành khái niệm lãi suất

Khái niệm lãi suất được hình thành và phát triển từ khái niệm về lợi tứccho vay Từ xa xưa, xã hội đã tồn tại những trường hợp vay hiện vật với việc trảlợi tức – là phần phải trả thêm ngoài phần vay ban đầu – bằng hiện vật như: thócgạo, gia súc, kim loại quý…Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thônghàng hóa, quan hệ trao đổi phát triển và tiền tệ ra đời, các quan hệ vay mượncũng phát triển ngày càng nhiều và lợi tức cho vay cũng chuyển từ hình thứchiện vật sang hình thức tiền tệ Theo Marx, nguồn gốc của lợi tức cho vay cũngxuất phát từ giá trị thặng dư và lợi tức là một phần lợi nhuận mà nhà tư bản đivay có được do sử dụng tư bản của người khác mà anh ta phải trả cho nhà tư bảncho vay Do đó lợi tức cho vay phản ánh giá trị gia tăng của những món vay cụthể, nên để đánh giá hiệu quả của các khoản cho vay người ta dùng đến kháiniệm lãi suất

1.1.2 Khái niệm lãi suất

Một trong những nhận thức cơ bản và quan trọng nhất của kinh tế học đó

là “giá trị thời gian của tiền” Điều này được dựa trên quan điểm có ý nghĩachung là 1 đồng tiền thanh toán cho bạn sau 1 năm có ít giá trị đối với bạn so với

1 đồng tiền ngày hôm nay Chính vì vậy để được sở hữu tiền ắt cần phải bỏ ramột lượng chi phí nhất định Người ta gọi chi phí này là lãi suất

Theo quan điểm của John Maynard Keynes, lãi suất là sự trả công cho sốtiền vay, nó là phần thưởng cho sở thích chi tiêu hay sở thích thanh khoản

Trang 12

Trong khi đó, Frederic S.Mishkin đã đưa ra khái niệm về lãi suất hoàn vốn– một loại lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền thanh toán nhận đượctheo một công cụ nợ với giá trị hôm nay của công cụ đó Theo đó với từng loạicông cụ nợ trên thị trường mà lãi suất được phân chia thành 4 loại: lãi suất vayđơn, lãi suất vay trả cố định, lãi suất trái khoán coupon và lãi suất trái khoánchiết khấu.

Lãi suất có thể được coi là chi phí cơ hội của việc giữ tiền, hay nói khác đi,chi phí cơ hội của việc giữ tiền là khoản lợi tức mất đi khi người ta giữ tiền thay

vì việc giữ các trái khoán

Như vậy, xét về bản chất, “Lãi suất (Interest rate) là tỷ lệ % giữa tiền lãi (hay chi phí phải trả) trên một số lượng tiền nhất định để có được quyền sở hữu

và quyền sử dụng tiền ấy trong khoảng thời gian đã thỏa thuận”.

1.1.3 Phân loại lãi suất

1.1.3.1 Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế

Lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate) là lãi suất chưa được loại trừảnh hưởng của lạm phát, được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa người đivay và người cho vay về một số vốn nào đó

Lãi suất thực tế (real interest rate) là lãi suất đã được loại trừ ảnh hưởngcủa lạm phát, do đó nó phản ánh chính xác hơn chi phí thật của việc vay tiền.Quan hệ hai loại lãi suất này được thể hiện như sau:

r =i – π

Trong đó: r - lãi suất thực tế

i - lãi suất danh nghĩa

π - tỷ lệ lạm phát dự kiến

1.1.3.2 Lãi suất tài sản nợ và lãi suất tài sản có

Lãi suất trong hoạt động của NHTM được chia thành lãi suất tài sản nợ vàlãi suất tài sản có Trong đó thường dễ gặp nhất là lãi suất huy động vốn (thuộclãi suất tài sản nợ) và lãi suất cho vay (thuộc lãi suất tài sản có):

• Lãi suất huy động vốn: là các mức lãi suất khác nhau mà ngân hàng phảitrả cho các hình thức huy động vốn của mình Trong đó lãi suất tiền gửi là

Trang 13

lãi suất mà NHTM phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của kháchhàng Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào thời hạngửi, quy mô gửi và tính chất tiền gửi.

• Lãi suất cho vay: Là lãi suất của người vay phải trả cho NHTM Vềnguyên tắc, lãi suất cho vay thường cao hơn lãi suất tiền gửi, lãi suất chovay dài hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn

Thực tế cho thấy hai loại lãi suất này luôn luôn biến động cùng chiều nhau

và bổ sung cho nhau; khi biết được loại lãi suất này, các NHTM có thể dễ dàng

dự đoán được giá trị bình quân của loại lãi suất kia

1.1.3.3 Nhóm lãi suất chịu tác động của cung – cầu vốn và nhóm lãi suất

Ngân hàng Nhà nước sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ

Lãi suất trên TTTT biểu thị dưới rất nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên

có thể phân loại lãi suất thành hai nhóm theo tính cạnh tranh của các công cụ nợ:

•Nhóm lãi suất chịu tác động của cung – cầu vốn

Lãi suất tín phiếu kho bạc Nhà nước (KBNN) là tỷ lệ giữa số tiền lãi so với

số tiền gốc mà KBNN trả cho người mua tín phiếu khi đến hạn, nó đóng vai trò

là mức lãi suất chuẩn trên TTTT

Lãi suất tiền gửi ngắn hạn là tỷ lệ giữa số tiền lãi so với số tiền gốc mà

người huy động vốn phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, cóthời hạn dưới 12 tháng

Lãi suất kỳ phiếu do NHTM, các tổ chức trung gian tài chính khác phát hành là lãi suất ghi trên kỳ phiếu, có thời hạn thanh toán dưới 12 tháng, để huy

động vốn trên TTTT

Lãi suất cho vay ngắn hạn là tỷ lệ giữa số tiền lãi so với số tiền gốc mà

người vay phải trả người cho vay trong thời hạn dưới 12 tháng

Lãi suất thị trường liên ngân hàng là lãi suất vay ngắn hạn giữa các tổ

chức trung gian tài chính với nhau trên TTTT liên ngân hàng

Một số những loại lãi suất thị trường liên ngân hàng trên thế giới: lãi suấtLIBOR (lãi suất thị trường liên ngân hàng London), lãi suất SIBOR (lãi suất thị

Trang 14

trường liên ngân hàng Singapore), lãi suất VNIBOR (lãi suất thị trường liênngân hàng Việt Nam).

Ngoài ra còn có một số loại lãi suất khác như: lãi suất bảo chứng, lãi suất

kỳ phiếu công ty, lãi suất CD…

•Nhóm lãi suất NHTW sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ

Tùy theo từng quốc gia, NHTW ở mỗi nước sẽ xác định và công bố cácmức lãi suất chính thức làm công cụ để điều hành CSTT như sau:

Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất do NHTW áp dụng khi cho các NHTM vay

ngắn hạn

Lãi suất chiết khấu là một hình thức lãi suất tái cấp vốn được áp dụng khi

NHTW chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ có giá của NHTM

Lãi suất cho vay qua đêm là một hình thức lãi suất tái cấp vốn được áp

dụng khi NHTW cho vay qua đêm đối với NHTM, thông thường nó là giới hạntrên của lãi suất thị trường liên ngân hàng

Lãi suất tiền gửi của NHTM là lãi suất do NHTW công bố, áp dụng đối với

tiền gửi của NHTM tại NHTW

Lãi suất sàn tiền gửi là lãi suất tiền gửi tối thiểu do NHTW quy định, áp

dụng đối với lãi suất tiền gửi của khách hàng tại các NHTM

Lãi suất trần cho vay là lãi suất cho vay tối đa do NHTW quy định, áp

dụng đối với lãi suất cho vay của NHTM đối với khách hàng

Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHTW công bố, làm cơ sở cho các NHTM

xác định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau như ởNhật Bản là lãi suất cho vay thấp nhất; ở Mỹ dựa trên lãi suất cho vay áp dụngđối với khách hàng có mức rủi ro thấp nhất; hoặc căn cứ vào mức lãi suất cơ bảncủa một số NHTM đứng đầu

Lãi suất repo (hay còn gọi là lãi suất OMO) là lãi suất áp dụng đối với hợp

đồng mua lại giấy tờ có giá mà NHTM phải trả cho NHTW

Trên TTTT, dòng lưu chuyển vốn ngắn hạn từ người này sang người khácphụ thuộc vào yếu tố lãi suất Lãi suất không chỉ tác động tới hành vi kinh tế củangười gửi tiền trên thị trường tiền gửi, của các doanh nghiệp đi vay vốn trên thịtrường tín dụng, của các NHTM trên thị trường nội tệ liên ngân hàng mà còn làtín hiệu để NHTW dựa vào đó sẽ công bố các loại lãi suất chính thức bám sát lãi

Trang 15

suất trên TTTT Lãi suất trên thị trường tiền tệ là cơ sở để định hướng lãi suấttrên thị trường vốn Chính vì vậy mà NHTW của các quốc gia trên thế giới đềuphải đưa ra những mục tiêu cụ thể khi điều hành lãi suất để có thể ổn định đượclãi suất trên thị trường tiền tệ, từ đó điều tiết nền kinh tế vĩ mô theo hướng cótăng trưởng kinh tế thực tế, lạm phát thấp và có nền tảng tài chính bền vững

1.1.4 Các nguyên tắc xác định lãi suất

1.1.4.1 Các nguyên tắc xác định nhóm lãi suất phụ thuộc quan hệ cung –

Lãi suất cho vay phải thấp hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân.Nguyên tắc này

đảm bảo cho việc mở rộng cho vay, giải phóng năng lực sản xuất của xãhội, theo nguyên tắc lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân

Quan hệ hợp lý giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ, tỷ giá Lãi suất trong nước

phải phù hợp với lãi suất thị trường khu vực và thế giới

1.1.4.2 Các nguyên tắc xác định nhóm lãi suất do Ngân hàng Trung ương

công bố

• Nhóm lãi suất do NHTW công bố được xác định tùy thuộc vào mục tiêuchính sách tiền tệ, diễn biến tiền tệ và kinh tế vĩ mô Trong điều hành chính sáchtiền tệ, hai mục tiêu ổn định tiền tệ và tăng trưởng là quan trọng nhất nhưngkhông đồng thời có thể thực hiện mà luôn có sự mâu thuẫn với nhau Sự mâuthuẫn giữa các mục tiêu đòi hỏi NHTW phải có sự điều hành linh hoạt công cụCSTT trong từng giai đoạn để đạt được mục tiêu ưu tiên của quốc gia trong thời

kì đó

Trang 16

• Trong điều kiện nền kinh tế mở, diễn biến lãi suất trên thị trường quốc tế

và khu vực sẽ có tác động tới hoạt động kinh tế mỗi quốc gia Khi xác định cáclãi suất công bố, NHTW phải kết hợp cùng với chính sách tỷ giá và xem xét biếnđộng lãi suất trên thị trường thế giới

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất

Lý thuyết kinh tế hiện đại và kinh nghiệm điều hành lãi suất của NHTWcác nước đã chỉ ra tác động của các nhân tố chủ yếu đối với biến động của lãisuất trong điều kiện nền kinh tế quy mô nhỏ, mở cửa, thị trường tiền tệ phát triển

ở mức độ thấp như sau:

- Cung – cầu vốn tiền tệ:

Lãi suất là biểu hiện của giá cả của tiền tệ, được xác định bởi hoạt độngcủa cơ chế cung và cầu vốn

Cung của vốn có được chủ yếu từ các khoản tiết kiệm của dân chúng vàlượng vốn đã được cung cấp phụ thuộc nhiều vào lãi suất Nếu lãi suất quá thấp,dân chúng sẽ quyết định không cho vay các khoản tiết kiệm của mình, họ sẽ giữcác khoản tiết kiệm dưới dạng khả dụng Khi lãi suất tăng lượng tiết kiệm dânchúng sẵn sang cho vay tang lên làm cho khối lượng cung sẽ lớn hơn

Cầu vốn là nhu cầu vay vốn có khả năng thanh toán của các doanh nghiệp

và cá nhân, thông thường cầu vốn phụ thuộc vào kỳ vọng tăng trưởng kinh tế,mức độ ổn định của tiền tệ và tỷ suất lợi nhuận bình quân

Mọi sự thay đổi về các điều kiện cung và cầu về vốn đều tác động đến lãisuất Chẳng hạn, tăng tiết kiệm sẽ dẫn đến tăng cung vốn, và nếu cầu vốn khôngtăng tương ứng để cân bằng được cung cầu sẽ làm cho lãi suất giảm đi Ngượclại sự tăng lên của cung về vốn không tương ứng sự tăng lên của cầu về vốn sẽlàm cho lãi suất tăng lên

- Tác động của lạm phát:

Lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất theo hướng tỉ lệ thuận: Khi tỉ lệ lạm pháttăng cao thì lãi suất danh nghĩa cao tương ứng và ngược lại, khi tỉ lệ lạm phátgiảm thì lãi suất cũng giảm theo Nếu tỉ lệ lạm phát tăng cao, người cất giữ tiềnmặt sẽ thu được một lãi suất thực âm (giá trị thực tế của tiền mặt bị xói mòn).Ngược lại khi lạm phát thấp, đồng nội tệ ổn định, với chính sách lãi suất hợp lý

Trang 17

sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng Như vậy, về mặt lý thuyết vàthực tiễn, lạm phát và lãi suất thông thường là biến động cùng chiều và chínhsách lãi suất tích cực là phải đảm bảo nguyên tắc lãi suất lớn hơn tỷ lệ lạm phát,lãi suất thực dương.

- Tỷ suất lợi nhuận bình quân:

Về phương diện kinh tế vĩ mô, nếu lãi suất cho vay cao hơn tỷ suất lợinhuận bình quân thì có nguy cơ thu hẹp đầu tư, sản xuất kinh doanh bị đình đốn,kinh tế sẽ suy thoái và đó không phải là mục tiêu của chính sách tiền tệ cầnhướng tới Mặt khác, khi tỷ suất lợi nhuận bình quân nhỏ hơn lãi suất cho vay,thì lãi suất huy động cũng có thể cao, lúc đó, mọi nhà sản xuất kinh doanh đềutìm cách kiếm lợi nhuận qua việc gửi tiền vào ngân hàng hơn là đầu tư Điều nàycàng nguy hại cho nền kinh tế

- Cân đối thu, chi ngân sách:

Sự thay đổi trong mối tương quan giữa thu và chi ngân sách là một trongnhững nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất Nó tác động đến lãi suất theo hai hướngsau:

Thâm hụt (bội chi) ngân sách sẽ dẫn đến lãi suất tăng Khi ngân sách bộichi, Chính phủ sẽ vay dân chúng bằng cách phát hành tín phiếu, trái phiếu để bùđắp Như vậy, một lượng tiền tiết kiệm trong dân cư được dung để mua tínphiếu, trái phiếu của Chính phủ nay chuyển sang dạng tiền gửi vì vậy cung tiềngửi tăng lên dẫn đến việc giảm lãi suất

- Mức độ rủi ro:

Môi trường đầu tư bị đánh giá là rủi ro có thể do những nguyên nhân rấtkhác nhau như sự bất ổn định chính trị, sự không nhất quán trong đường lối pháttriển kinh tế, hệ thống pháp luật thiếu hoàn chỉnh… Đầu tư trong môi trườngcàng rủi ro thì yếu tố không chắc chắn trong kết quả hoạt động kinh doanh của

cá nhân, doanh nghiệp càng lớn, dẫn đến khả năng thất thoát vốn đầu tư do thua

lỗ lớn hơn Điều đó ảnh hưởng tới khả năng thu hồi vốn, lãi của người cho vay.Chính vì vậy trong nền kinh tế có môi trường đầu tư càng rủi ro thì lãi suất càngcao do giảm lượng cung tiền cho vay Điều này giải thích việc các nước đang

Trang 18

phát triển bị xếp hạng tín dụng thấp thường phải vay vốn với lãi suất cao trên thịtrường tín dụng quốc tế.

- Định hướng điều hành chính sách tiền tệ:

Việc mở rộng hay thu hẹp lượng tiền cung ứng của NHTW tác động tứcthời đối với lãi suất trên thị trường tiền tệ Nếu NHTW thực thi chính sách tiền

tệ nới lỏng – cung tiền tăng thì lãi suất sẽ có xu hướng giảm và ngược lại

Các công cụ của chính sách tiền tệ và nghiệp vụ NHTW đều có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau, và có ảnh hưởng tới lãi suấtthị trường:

• Dự trữ bắt buộc: Tỉ lệ dự trữ bắt buộc cao thì lãi suất cho vay cũng cao,ngược lại nếu tỉ lệ dự trữ bắt buộc thấp thì lãi suất cho vay của các tổ chứctín dụng thấp

• Nghiệp vụ thị trường mở: Nếu NHTW tung tiền mua các giấy tờ ngắn hạnhoặc trái phiếu sẽ khiến lãi suất hạ Nếu NHTW bán ra các giấy tờ có giángắn hạn hoặc trái phiếu để thu tiền thì lãi suất sẽ tăng

• Tỉ giá hối đoái: Nếu tỉ giá hối đoái tăng lên có nghĩa là nội tệ mất giá khiếncho lạm phát tăng theo nên lãi suất tăng Ngược lại, tỉ giá hối đoái thấplàm cho lãi suất hạ

• Lãi suất tái chiết khấu: NHTW mở rộng cánh cửa tái chiết khấu làm cho lãisuất trên thị trường tiền tệ giảm xuống Ngược lại, khi NHTW hạn chếviệc tái chiết khấu sẽ khiến cho lãi suất trên thị trường tiền tệ tăng lên

- Các nhân tố khác: Ngoài các nhân tố nói trên tác động đến lãi suất, còn

có các nhân tố khác cũng có thể tác động đến lãi suất như: chính sách quản lýngoại hối, thâm hụt cán cân vãng lai, tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số giá chứngkhoán, tình hình chính trị, thiên tai, dịch bệnh, biến động lãi suất trên thị trườngtiền tệ thế giới,…

1.1.6 Tác động của lãi suất đối với nền kinh tế thị trường.

Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, có tác động mạnh mẽ đến nhiều biến

số kinh tế vĩ mô cũng như hoạt động kinh tế trong nước Về phương diện lýthuyết cũng như thực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác

Trang 19

động tới tiêu dùng và đầu tư, lạm phát, tỷ giá cũng như hoạt động của doanhnghiệp, thị trường tài chính và các NHTM.

1.1.6.1 Tác động của lãi suất đối với tiêu dùng và đầu tư, sản lượng quốc

gia và tỷ lệ thất nghiệp

Lý thuyết kinh tế học đã chứng minh, lãi suất thực tác động đến chi tiêu dùng và đầu tư của hộ gia đình và tổ chức kinh tế, từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp.

Chẳng hạn, khi lãi suất trên thị trường tiền tệ giảm xuống, chi phí cơ hộicủa việc giữ tiền để tiêu dùng trở nên nhỏ Người dân ít có xu hướng gửi tiền tiếtkiệm vào ngân hàng và sẽ tìm kiếm các hình thức đầu tư tài sản khác an toànhơn như đầu tư vào kênh chứng khoán, vàng, bất động sản làm cho giá cả tài sảntài chính (chứng khoán) tăng lên Điều này lại khiến cho thu nhập của nhữngngười có tài sản tài chính được gia tăng Lãi suất giảm là một tín hiệu trên thịtrường tiền tệ làm tác động tới kỳ vọng và lòng tin của người dân đối với nềnkinh tế Tiền có nhiều trong tay người, chi phí để có tiền trở nên thấp xuống,mọi người dễ có tiền hơn, khuynh hướng chi tiêu sẽ tăng lên Người dân có xuhướng mua nhiều hơn những loại mặt hàng thiết yếu (như phương tiện đi lại,nghe nhìn, nhà ở) vì chi phí tín dụng để mua sắm các hàng hóa đó đang rẻđi.Nhu cầu về hàng hóa sẽ thúc đẩy giá cả lẫn hoạt động sản xuất phát triểnnhanh hơn Đối với các tổ chức kinh tế, chi phí vốn vay giảm cũng làm cho xuhướng doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn, có thể đầu tư nhiều thêm các

dự án mới cũng như mạnh dạn vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh Kếtquả là các khoản chi tiêu cho đầu tư, tiêu dùng tăng lên

Ngược lại khi lãi suất tăng cao, làm cho tiền trở nên khan hiếm, chi phí để

có được tiền tăng lên làm cho người dân thích gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng

và nắm giữ nhiều tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu Người dân không có

xu hướng tham gia nhiều trên thị trường chứng khoán đã làm giá cả tài sản tàichính giảm xuống, thu nhập của những người có tài sản tài chính từ đó cũng bịgiảm đi, tạo sức ép giảm tiêu dùng đối với các hộ gia đình Các doanh nghiệp e

Trang 20

dè trong hoạt động vay vốn để gia tăng vào đầu tư sản xuất vì chi phí vốn đắt đỏ,thậm chí là thu hẹp đầu tư các dự án mới, khó khăn cho việc thuê thêm nhâncông Trong khi các điều kiện khác không thay đổi, lãi suất tăng cao sẽ dẫn đếntăng giá đồng nội tệ Giá hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài sẽ giảm đi tươngđối, người dân có xu hướng sẽ chuyển đổi tiêu dùng nhiều hơn hàng hóa sảnxuất ở nước ngoài, từ đó cũng gây ra ảnh hưởng trực tiếp đối với việc thu hẹphoạt động sản xuất trong nước Bên cạnh đó, tỷ giá tăng cũng sẽ tác động tới cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu.Tất cả đều làm cho các khoản tiêu dùng cho đầu tư

và chi tiêu giảm xuống

Sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của các hộ giađình, các tổ chức kinh tế như đã trình bày sẽ dẫn đến sự thay đổi trong hành vitiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của toàn bộ nền kinh tế và làm thay đổi tổng cầu.Chẳng hạn như khi lãi suất trên thị trường giảm, thông qua đó làm cho cáckhoản tiêu dùng cơ bản của hộ gia đình và chi tiêu dùng của khu vực Chính phủtăng lên; khuynh hướng đầu tư dự định và khuynh hướng xuất khẩu dự địnhcũng tăng (do đồng nội tệ có xu hướng giảm giá) Khi đó tổng cầu và sản lượngquốc gia sẽ tăng, tạo ra triển vọng công ăn việc làm Nền kinh tế tiến gần hơn tớitoàn dụng Ngược lại, khi lãi suất tăng lên, sẽ làm cho sản lượng tụt xuống vànền kinh tế rơi vào suy thoái

Chính vì lãi suất có ảnh hưởng sâu rộng tới hành vi của toàn bộ các đốitượng trong nền kinh tế - từ các hộ gia đình, tổ chức kinh tế cho đến Chính phủnên các NHTW sẽ điều hành trực tiếp tới lãi suất trên thị trường tiền tệ hoặcđiều hành một cách gián tiếp thông qua các loại lãi suất chính thức của NHTWnhằm đạt mục tiêu ổn định Cơ chế dẫn truyền từ lãi suất chính thức tới tăngtrưởng kinh tế cùng với những phân tích ở trên có thể được tóm gọn trong sơ đồsau đây:

Trang 21

Một sự thay đổi trong lãi suất chính thức của NHTW công bố sẽ có tácđộng ngay lập tức tới lãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, tác động tới tăngtrưởng kinh tế cũng như lạm phát với thời gian dài hơn từ 1 đến 2 năm sau đó.Tác động lãi suất tới lạm phát sẽ được phân tích kĩ hơn trong phần nghiên cứusau bằng việc sử dụng các mô hình kinh tế để giải thích.

Nói tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, các NHTW sử dụng lãi suất làmột động lực khuyến khích tiết kiệm, từ đó gia tăng nguồn vốn đầu tư trongnước cho sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên tác động của lãisuất đến hành vi tiết kiệm, tiêu dùng và sản xuất của xã hội, tác động đến tăngtrưởng kinh tế quốc gia nhiều hay ít, nhanh hay chậm tùy thuộc vào đặc điểmkinh tế xã hội của mỗi nước Trong từng nước, mức độ tác động của lãi suấtcũng là khác nhau với mỗi giai đoạn phát triển của thị trường tài chính

1.1.6.2 Tác động của lãi suất đối với lạm phát và mục tiêu ổn định giá cả

Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa lãi suất vàlạm phát, trong đó người đầu tiên đặt nền móng cho các nghiên cứu lý luận saunày đó chính là nhà kinh tế học người Mỹ Irving Fisher Hiệu ứng Fisher ra đời

từ những năm 1930 – 1939 mô tả mối quan hệ giữa tỉ lệ lạm phát và hai loại lãisuất là lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế Theo đó, khi tỷ lệ lạm phát dự kiếntăng lên thì lãi suất danh nghĩa cũng phải tăng lên theo cùng tỉ lệ để đảm bảo lãisuất thực dương Song những khảo sát thực nghiệm không hoàn toàn ủng hộ

Trang 22

quan điểm này bởi trong lý thuyết của Fisher đã quên đi mất yếu tố thuế, hơnnữa những dự đoán trong tỷ lệ lạm phát dự kiến là khó khăn.

Bước tiếp theo đó là John Maynard Keynes, đã tiếp tục nghiên cứu mốiquan hệ giữa lạm phát và lãi suất Nhưng ông lại trình bày mối quan hệ này mộtcách gián tiếp khi cho rằng lãi suất là một công cụ quan trọng của chính sáchtiền tệ và thông qua chính sách tiền tệ, Chính phủ sẽ tác động đến tổng cầu từ đóảnh hưởng đến mức giá chung của nền kinh tế, tức là điều chỉnh lạm phát

Chúng ta sẽ xem xét mô hình IS – LM (Investment/Saving – Liquiditypreference/Money supply) – để thấy rõ vai trò của lãi suất trong việc điều chỉnhtổng cầu, từ đó điều chỉnh tỷ lệ lạm phát Trong đó đường IS là tập hợp các kếthợp khác nhau giữa lãi suất và sản lượng sao cho tổng chi tiêu kế hoạch bằngvới thu nhập khi cung ứng tiền và nhu cầu tiền thả lỏng Đường LM là đườngcân bằng thị trường tiền tệ, là tập hợp các kết hợp khác nhau giữa lãi suất và sảnlượng sao cho cầu tiền thực tế bằng với cung tiền thực tế với chính sách cố định

về cung ứng tiền

Trong phần nghiên cứu này cũng sử dụng mô hình AD –AS Trong đótổng cầu AD = C + I + G + NX với C là chi tiêu của hộ gia đình, I là tổng đầu tưcủa các doanh nghiệp, G là chi tiêu của Chính phủ và NX là xuất khẩu ròng.Tổng cung biểu thị khả năng sản xuất của một đất nước trong một giai đoạn nhấtđịnh.Trong dài hạn, đường tổng cung là thẳng đứng còn trong ngắn hạn đườngtổng cung dốc lên

Hình 1.1.Mô hình IS - LM

Trang 23

Để giữ cho tài sản nợ và có có hiệu quả không đổi, hệ thống ngân hàng sẽluôn cố gắng giữ cho lãi suất thực tế cố định Nhưng vì “lãi suất thực tế = lãisuất danh nghĩa – tỉ lệ lạm phát” nên nếu muốn cho lãi suất thực tế không đổi,lãi suất danh nghĩa phải tăng cùng với tỷ lệ lạm phát Khi lãi suất danh nghĩatăng, làm cho đường IS dịch qua phía trái thành IS’ Vào giai đoạn đầu, nhu cầu

về các loại tài sản khác, tiền tăng làm giảm tổng cầu Sản lượng về mặt lý thuyết

sẽ phải tụt xuống mức Y1 (r1) Nhưng sau đó, khi nhu cầu về tiền danh nghĩagiảm, xuất hiện thừa cung trên thị trường tiền tệ Cơ chế cân bằng tự nhiên sẽ épđường LM cũng phải dịch qua bên trái Sự dịch qua trái của LM kết thúc khithừa cung về tiền được san lấp Cân bằng giữa đường LM’ và IS’ là điểm B Lúcnày lãi suất danh nghĩa có hạ hơn do giá cả đã hạ vì cung trên thị trường giảm.Lãi suất giảm xuống r2, nhưng điều đáng nói là sản lượng tụt xuống Y2 do hỗnhợp ISLM đã biến động về lãi suất.

Khi các ngân hàng và hệ thống tài chính tăng lãi suất danh nghĩa theo lạmphát, hậu quả mà nền kinh tế phải gánh lấy là suy thoái và thất nghiệp gia tăng

Ta biết rằng lãi suất càng tăng, đầu tư thực tế càng giảm do đó về mặt lâu dài, sựcân bằng trên thị trường hàng hóa và tiền tệ sẽ kéo cả lạm phát và lãi suất xuốngkhi không có sự can thiệp của NHTW Nhưng cái giá phải trả là tiềm năng sảnxuất bị lãng phí Số việc làm giảm và đời sống nhân dân thêm khó khăn

Trang 24

Lý thuyết về sử dụng công cụ lãi suất trong điều hành chính sách tiền tệcủa Keynes đã trở thành một thành tựu trong lĩnh vực kinh tế Lãi suất đã vàđang là một công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW ở mỗi quốcgia nhằm điều hòa lưu thông tiền tệ, hướng đến kiểm soát lạm phát Tuy nhiên,việc điều chỉnh tăng giảm lãi suất luôn phải đối mặt với nhiều thách thức bởi lẽmột sự thay đổi trong điều hành chính sách lãi suất của NHTW sẽ ảnh hưởngđến nhiều khía cạnh trong nền kinh tế như sức cạnh tranh về giá của hàng hóa,sản phẩm trên thị trường; biến động của thị trường chứng khoán, thị trườngvàng, ngoại tệ, bất động sản và tình hình chung của nền kinh tế.

1.1.6.3 Tác động của lãi suất đối với tỷ giá hối đoái

Lãi suất là công cụ được các NHTW sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoáitrên thị trường, điều chỉnh giá trị đối ngoại của nội tệ Chính sách lãi suất cao có

xu hướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi vì nó hấp dẫn các luồng vốn nướcngoài chảy vào trong nước Nếu lãi suất tăng sẽ dẫn đến xu hướng là một đồngvốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và những người

sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có khuynh hướng chuyển đổi đồng ngoại tệcủa mình sang nội tệ để thu lãi cao hơn Điều này làm tăng cung ngoại tệ trên thịtrường hay tăng cầu đối với đồng nội tệ, từ đó đồng nội tệ sẽ tăng giá Lý thuyếtnày chỉ đúng với các nền kinh tế mở, nơi có đồng tiền tự do chuyển đổi và tự dolưu chuyển vốn

Hình 1.2.Mối quan hệ giữa lãi suất và dòng vốn vào, dòng vốn ra

Trang 25

Lãi suất biến động do tác động của quan hệ cung – cầu vốn cho vay Lãisuất có thể biến động trong phạm vi hoặc vượt quá tỷ suất lợi nhuận bình quân.Còn tỷ giá hối đoái là do quan hệ cung cầu về ngoại hối quyết định, mà quan hệnày là do tình hình cán cân thanh toán dư thừa hay thâm hụt quyết định Nhân tốhình thành lãi suất và tỷ giá là không giống nhau, do đó biến động lãi suất khôngnhất thiết đưa tỷ giá biến động theo Hay lãi suất và tỷ giá chỉ có mối quan hệgián tiếp mà không có mối quan hệ nhân quả trực tiếp.

Tuy nhiên không nên phủ nhận hoàn toàn vai trò của lãi suất đối với sựbiến động của tỷ giá Nếu tình hình tiền tệ của các nước đều gần giống nhau thì

xu hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vào những nước có lãi suất cao Do vậyhiện nay lãi suất vẫn có những ý nghĩa của nó và được kết hợp xử lý đồng bộcùng với tỷ giá, phù hợp với thực trạng của nền kinh tế trong từng thời kì nhấtđịnh

1.1.6.4 Tác động của lãi suất đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thị trường tài chính và hệ thống NHTM.

Đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, chúng ta sẽ xem xét

mối quan hệ giữa lãi suất cho vay của NHTM với các doanh nghiệp này Lãisuất cho vay phản ánh giá cả của đồng vốn đi vay Chi phí lãi vay sẽ hình thànhnên chi phí vốn và là chi phí đầu vào của quá trình SXKD Khi lãi suất cho vaycủa NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng lên, làm suygiảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, gây ra tìnhtrạng thua lỗ, thậm chí phá sản trong hoạt động SXKD Đồng thời lãi suất vayvốn tăng lên cũng đồng nghĩa với việc cắt giảm quy mô, thu hẹp phạm vi sản

Trang 26

xuất trong hoạt động của doanh nghiệp mình Lãi suất cho vay cao thông thường

là một tín hiệu rõ ràng trong việc hạn chế tín dụng đối với các doanh nghiệp, đặcbiệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Khi lãi suất cho vay của NHTM giảmxuống sẽ có tác động ngược trở lại

Hơn nữa, lãi suất là một yếu tố thúc đẩy kinh doanh có hiệu quả của cácdoanh nghiệp, vì khi doanh nghiệp vay vốn từ các tổ chức tín dụng sẽ phải camkết hoàn trả đúng kì hạn cả vốn lẫn lãi.Vì vậy muốn đảm bảo có nguồn vốn đểtrả nợ, doanh nghiệp phải quan tâm thực sự và không ngừng nâng cao kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của mình cũng như xem xét kỹ lưỡng việc đầu tưliệu có mang lại lợi nhuận hay không Điều này giúp các doanh nghiệp sử dụngtriệt để các nguồn lực của mình để gia tăng sản xuất, nâng cao lợi nhuận

Đối với thị trường tài chính, lãi suất là một công cụ tạo dựng sự phát triển

theo chiều sâu của thị trường tài chính Trong nền kinh tế, luôn tồn tại hai tháicực: một là những người có nguồn vốn nhàn rỗi và hai là những người cần vốn.Một mức lãi suất hợp lý và đem lại lợi tức ở mức chấp nhận, sẽ giúp cho luồngchu chuyển vốn giữa những người có vốn sang người không có vốn trở nên dễdàng hơn Mức lãi suất đó phải bảo tồn được giá trị vốn vay, đảm bảo tích lũycho cả người cho vay và người đi vay, cụ thể: tỷ lệ lạm phát < lãi suất tiền gửi <lãi suất cho vay < tỷ suất lợi nhuận bình quân Lãi suất tự bản thân nó có khảnăng điều tiết một cách tự nhiên lượng vốn lưu thông từ nơi thừa đến nơi thiếu

Sự chu chuyển vốn này sẽ giúp cho nền kinh tế đạt được mức toàn dụng trongviệc sử dụng các nguồn lực về vốn để tăng trưởng và phát triển

Đối với hoạt động của hệ thống NHTM, lãi suất có vai trò đòn bảy kinh tế

cực kỳ lợi hại, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.Trong hoạt động của mình, các NHTM sẽ phải tính toán mức lãi suất cho vay vàlãi suất tiền gửi hợp lý để bù đắp các khoản chi phí nghiệp vụ và có lợi nhuậncho mình Chính vì vậy lãi suất đóng vai trò là nhân tố bù đắp chi phí, nhân tốđảm bảo tính thanh khoản giúp ngân hàng hoạt động một cách có hiệu quả TrênTTTT, lãi suất được coi là công cụ cạnh tranh giữa các ngân hàng NHTM coilãi suất là một yếu tố hàng đầu để thu hút tối đa các khoản tiền gửi cũng như đẩy

Trang 27

mạnh cho vay Tuy nhiên sự cạnh tranh trong việc tăng giảm lãi suất giữa cácNHTM luôn được các NHTW theo dõi sát sao và được điều chỉnh thông quachính sách tiền tệ - tín dụng của NHTW bằng các biện pháp điều hành trực tiếphoặc gián tiếp

1.2 Chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương.

1.2.1 Khái niệm

Chính sách lãi suất là tổng thể những mục tiêu, quan điểm, định hướng vàgiải pháp cụ thể của NHTW nhằm kiểm soát và điều tiết lãi suất trên thị trườngtiền tệ, tín dụng trong từng thời kì nhất định

Mục tiêu theo đuổi của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu củaCSTT, quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kì phải đảmbảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, hỗ trợtăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô Điều đó có nghĩa, trong điều hànhchính sách lãi suất, không được gây ra những cú sốc thị trường, phải đảm bảotính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế

1.2.2 Nội dung của chính sách lãi suất

Chính sách lãi suất của NHTW bao gồm các nội dung chính sau đây:

- Mục tiêu hoạt động là kiểm soát về mức và chiều hướng biến động của lãisuất TTTT thứ cấp và sơ cấp, góp phần kiềm chế lạm phát, tăng trưởngkinh tế và ổn định sức mua đối ngoại của đồng nội tệ

- Các quan điểm, nguyên tắc và định hướng điều hành: Căn cứ vào mục tiêu,vai trò và hiệu lực tác động của công cụ lãi suất với điều tiết lãi suất vàkhối lượng tiền, NHTW xác định chiều hướng biến động và phương phápđiều hành lãi suất tăng hay giảm và biên độ điều chỉnh lớn hay hẹp

- Xây dựng và vận hành cơ chế kiểm soát lãi suất TTTT phù hợp với mức

độ phát triển của TTTT, vai trò khả năng điều tiết của lãi suất, mức độ độclập của NHTW trong hoạch định và điều hành CSTT

- Các giải pháp hỗ trợ đồng bộ, tạo điều kiện cho việc vận hành cơ chế kiểmsoát lãi suất TTTT như: phát triển quy mô và nâng cao chất lượng TTTT,

Trang 28

xây dựng các mức lãi suất chuẩn trên TTTT, hoàn thiện thể chế pháp lý,nâng cao năng lực cạnh tranh của các định chế trung gian tài chính, nângcao khả năng dự báo và điều tiết tiền tệ của NHTW.

1.2.3 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương

1.2.3.1 Khái niệm

Cơ chế điều hành lãi suất của NHTW là tổng hợp các quy định, biện pháp

mà NHTW áp dụng để hướng dẫn và điều chỉnh lãi suất TTTT phù hợp với mứclãi suất mục tiêu của NHTW trong từng giai đoạn, tránh biến động đột biến lãisuất thị trường

1.2.3.2 Các cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương

Tùy thuộc vào sự phát triển của thị trường tài chính, sự phát triển của nềnkinh tế ở mỗi quốc gia, NHTW sẽ có một cơ chế điều hành lãi suất riêng củamình

Cơ chế điều hành trực tiếp lãi suất thị trường

Đây là cơ chế điều hành mà trong đó NHTW sẽ quản lý lãi suất của các tổchức tín dụng đối với nền kinh tế như: quy định các mức lãi suất cụ thể về tiềngửi và cho vay; khung lãi suất; trần lãi suất cho vay; biên độ dao động đối vớilãi suất tiền gửi và cho vay; chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi,

…Thực chất là NHTW quy định mức lãi suất cho vay tối đa hoặc tiền gửi tốithiểu của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế

Ưu điểm của cơ chế này là NHTW luôn kiểm soát được diễn biến lãi suấtTTTT, nhưng nhược điểm là thiếu linh hoạt, không phù hợp với cơ chế thịtrường, lãi suất bị bóp méo, không phản ánh đúng cung cầu vốn thị trường, kìmhãm sự phát triển của TTTT Chính vì vậy hiện nay, ở các nước có nền kinh tếphát triển, lãi suất ngày càng được tự do hóa và xu hướng chung đều là ngàycàng giảm dần sự quản lý trực tiếp này

Cơ chế điều hành gián tiếp lãi suất thị trường

Trang 29

Đây là cơ chế điều hành mà trong đó các NHTW thông qua việc sử dụngcác công cụ CSTT gián tiếp kiểm soát lãi suất TTTT biến động phù hợp với mụctiêu của chính sách lãi suất đã đề ra.

Thông thường NHTW một nước tác động lên lãi suất bằng con đường giántiếp, có nghĩa thông qua nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc để tăng haygiảm lượng tiền trong lưu thông, từ đó làm giảm hay tăng lãi suất thị trường.Hoặc cũng có thể tăng hay giảm lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu để tác độngmạnh mẽ đến lãi suất trên TTTT Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thểtheo từng kì hạn, đối tượng của các tổ chức tín dụng sẽ do các tổ chức này tự ấnđịnh, dựa trên cơ sở cung – cầu về vốn và sự cạnh tranh trên thị trường

1.2.4 Một số chính sách lãi suất trong nền kinh tế thị trường

Chính sách lãi suất cố định

Lãi suất cố định là lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước khống chế NHTM cả

về lãi suất huy động và lãi suất cho vay Khi đó sẽ không có sự cạnh tranh giữacác ngân hàng, không thúc đẩy tăng trưởng Chính phủ hoàn toàn có thể kiểmsoát được lãi suất, bảo vệ được nhiều doanh nghiệp nhà nước

Chính sách lãi suất trần

Chính sách lãi suất trần là chính sách chỉ ấn định lãi suất cho vay tối đa.Khuyến khích huy động vốn, khả năng kiểm soát của chính phủ tốt hơn Chínhphủ ấn định một mức lãi suất và áp đặt cho toàn bộ các ngân hàng, chính sách lãisuất này được ấn định cho toàn bộ nền kinh tế

Chính sách tự do hoá lãi suất

Chính sách tự do hóa lãi suất là chính sách mà NHTW sẽ can thiệp khimức lãi suất vượt quá mức lãi suất chung Lãi suất tăng giảm hoàn toàn donhững biến đổi trong cung và cầu về vốn vay trên thị trường Các TCTD đượcphép quyết định lãi suất kinh doanh trong hoạt động của mình Tuy nhiên, để

Trang 30

thực hiện được chính sách lãi suất thỏa thuận cần phải xây dựng được thị trườngtrong đó các yếu tố đều được vận hành theo nguyên tắc cung – cầu.

1.3 Kinh nghiệm điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.3.1 Cơ chế điều hành lãi suất của một số nước có nền kinh tế thị trường phát triển

1.3.1.1 Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED)

Với tư cách là NHTW, FED điều hành lãi suất thông qua hai công cụ quantrọng đó là lãi suất chiết khấu (Discount rate) và lãi suất quĩ dự trữ liên bang(Federal Funds Rate – FFR) FFR hay còn gọi là lãi suất định hướng liên ngânhàng ra đời muộn hơn so với công cụ lãi suất chiết khấu (được sử dụng từ giaiđoạn đầu ngay sau khi FED được thành lập), mãi đến những năm 1920, FFRmới được FED sáng tạo ra

Sở dĩ FFR có tên gọi “quĩ dự trữ liên bang” là vì nguồn tiền để cho cáctrung gian tài chính nhận tiền gửi vay qua đêm (nhằm đảm bảo đủ dự trữ bắtbuộc theo qui định) được FED lấy từ quĩ dự trữ liên bang hình thành bởi số tiền

dự trữ bắt buộc của tất cả các trung gian tài chính nhận tiền gửi FFR được ủyban thị trường mở công bố sau các phiên họp định kỳ và nó không mang tínhchất ấn định cụ thể mà thực chất chỉ là lãi suất mục tiêu để FED thực hiện giaodịch trên thị trường mở nhằm đạt đến lãi suất mục tiêu đã công bố Tất nhiên làcác trung gian tài chính nhận tiền gửi có thể vay mượn lẫn nhau để bù đắp thiếuhụt dữ trữ bắt buộc chứ không nhất thiết phải vay từ FED Tuy nhiên, lãi suất từcác khoản vay lẫn nhau (lãi suất liên ngân hàng) thường cao hơn FFR vì vấn đềrủi ro Khi FED cho các trung gian tài chính vay tiền để bù đắp thiếu hụt dự trữbắt buộc, số tiền đó tuy được hạch toán báo có vào tài khoản của các trung giantài chính không được phép rút ngay cả khi phá sản, do vậy FED không có nguy

cơ mất số tiền đã cho vay dưới dạng này Khác với FED, khi một trung gian tàichính cho đối tác vay liên ngân hàng, họ phải cắt tiền từ tài khoản tiền gửi của

Trang 31

mình chuyển vào tài khoản tiềngửi của đối tác tại FED, từ lúc đó bên cho vaykhông còn thẩm quyền quản lí số tiền nữa Vì vậy nguy cơ không thu hồi đượctiền cho vay lẫn nhau xuất hiện nên lãi suất cho vay lẫn nhau đương nhiên phảicao hơn

Với phân tích ở trên có thể thấy FFR là lãi suất thấp nhất mà các trung giantài chính nhận tiền gửi có thể vay được (với món vay phi rủi ro), vì vậy lãi suấtnày có khi được gọi là LSCB, lãi suất chuẩn (benchmark rate) Bên cạnh nhucầu đảm bảo dự trữ bắt buộc, các trung gian tài chính còn có nhu cầu đảm bảothanh khoản, an toàn chi trả Lãi suất chiết khấu của FED chính là lãi suất chocác trung gian tài chính vay để đáp ứng các nhu cầu này Về nguyên tắc, lãi suấtliên ngân hàng thông thường sẽ thấp hơn lãi suất chiết khấu vì nếu không, trunggian tài chính sẽ không vay liên ngân hàng mà sẽ vay từ FED để được hưởng lãisuất chiết khấu thấp hơn Lãi suất chiết khấu thường thường cao hơn lãi suấtFFR và có ba mức lãi suất chiết khấu áp dụng cho ba loại cho vay khác nhau làtín dụng chính (Primary credit), tín dụng mở rộng (Secondary credit) và tín dụngthời vụ (Seasonal credit) với lãi suất chiết khấu hiện hành lần lượt là 0.5%, 1%

và 0.15%/năm

Như vậy, FED bảo vệ lãi suất chiết khấu đã ấn định thông qua chươngtrình cho vay chiết khấu và bảo vệ lãi suất FFR đã công bố thông qua nghiệp vụthị trường mở Cách điều hành này của FED sẽ khiến cho lãi suất liên ngân hàngluôn có xu hướng biến động giữa lãi suất FFR (có vai trò như lãi suất sàn trừgiai đoạn khủng hoảng tài chính 2009) và lãi suất chiết khấu (có vai trò như lãisuất trần) mà không phải đặt ra giới hạn bằng biện pháp hành chính

1.3.1.2 Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB)

Hội đồng thống đốc của ECB công bố ba mức lãi suất chủ chốt khu vựcđồng tiền Euro gồm:

Trang 32

• Lãi suất cho hoạt động tái cấp vốn chính (Main refinancing operations MRO) là mức áp dụng cho các khoản vay nhằm đảm bảo thanh khoản cho

-hệ thống ngân hàng

• Lãi suất cho các phương tiện tiền gửi thường xuyên, áp dụng cho cáckhoản tiền gửi qua đêm của các ngân hàng với Eurosystem (Cơ quan quản

lý ngoại tệ khu vực đồng Euro)

• Lãi suất cho các phương tiện vay giới hạn, áp dụng cho các khoản vay quađêm từ Eurosystem

ECB sẽ bảo vệ MRO bằng nghiệp vụ thị trường mở thông qua phươngthức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất Song song đó, NHTW của cácquốc gia thành viên ECB có trách nhiệm “bảo vệ” hai lãi suất chủ chốt còn lạithông qua hoạt động cho vay và nhận tiền gửi để lãi suất cho các phương tiệntiền gửi thường xuyên đóng vai trò lãi suất sàn còn lãi suất cho các phương tiệnvay giới hạn đóng vay trò lãi suất trần, lãi suất cho vay qua đêm sẽ dao độngtrong biên độ này Rõ ràng cũng như lãi suất chính thức của BOE hay FFR củaFED, các lãi suất chủ chốt mà ECB công bố đều mang tính chất mục tiêu, vàECB sẽ “bảo vệ” lãi suất mục tiêu thông qua các công cụ chính sách tiền tệ củamình để lãi suất thị trường hướng về lãi suất mục tiêu Trước khủng hoảng 2008

- 2009, chênh lệch lãi suất trần và lãi suất sàn duy trì ổn định phổ biến ở mức2% nhưng từ 9/10/2008 đến 20/01/2009 được rút xuống 1%, sau đó tăng lên 2%

và từ 13/05/2009 đến nay thì mức chênh lệch chỉ còn 1.5%

1.3.1.3 Ngân hàng Trung ương Úc (RBA)

Hội đồng RBA sẽ ấn định lãi suất tiền mặt (cash rate) là lãi suất mang tínhmục tiêu nhằm tác động đến lãi suất cho vay qua đêm giữa các trung gian tàichính Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, RBA sẽ tác động để lãi suất cho vayqua đêm càng tiệm cận với lãi suất mục tiêu càng tốt Có thể thấy RBA đã tácđộng thành công thông qua nghiệp vụ thị trường mở khi lãi suất cho vay quađêm và các kỳ hạn khác trên thực tế luôn bám sát với lãi suất mục tiêu mà RBAcông bố

Trang 33

1.3.1.4 Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ)

Không khác nhiều so với cách thức điều hành lãi suất của NHTW ở cácnước phát triển nói trên, trước đây BOJ sử dụng công cụ lãi suất có tên gọi là lãisuất chiết khấu chính thức (Official discount rate) bao gồm lãi suất chiết khấuthương phiếu và lãi suất cho vay có bảo đảm bằng trái phiếu chính phủ thườngthấp hơn 0.25% so với lãi suất cho vay có bảo đảm bằng các tài sản đảm bảokhác

Kể từ ngày 11/8/2006, các mức lãi suất khác nhau nói trên được gộp lạibằng nhau, gọi là lãi suất cho vay cơ bản và lãi suất chiết khấu cơ bản (Basicdiscount rate and basic loan rate) Việc thay đổi tên thực chất không làm thayđổi bản chất của loại lãi suất này bởi vì nó vẫn là lãi suất mà BOJ chiết khấu cácgiấy tờ có giá cho các NHTM Các NHTM sẽ vay chiết khấu từ BOJ khi khôngtìm được nguồn vay nào trên thị trường liên ngân hàng có chi phí thấp hơn chiphí vay từ BOJ, do đó lãi suất mà BOJ công bố nghiễm nhiên trở thành giới hạntrần của lãi suất cho vay qua đêm, dù BOJ không đưa ra rào cản hành chính nàocho lãi suất cho vay qua đêm

• Lãi suất công bố là lãi suất mục tiêu, là thông điệp mang tính định hướng

để thị trường tham khảo đồng thời nó cũng thể hiện ý chí của NHTW

• Sau khi công bố, NHTW sẽ sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ - thôngthường là nghiệp vụ thị trường mở - để điều tiết lãi suất liên ngân hànghướng đến lãi suất mục tiêu mà không hề dùng biện pháp hành chính cụthể nào

Trang 34

• Việc điều chỉnh lãi suất của NHTW chỉ tác động trực tiếp đến trung giantài chính, không tác động trực tiếp đến khu vực dân cư và doanh nghiệp.

• Định kỳ công bố lãi suất (ngay cả khi không có điều chỉnh) một cách rõràng và công khai

• Ở hầu hết các nước kể trên, lãi suất được ấn định bởi hội đồng/ủy ban theonguyên tắc bỏ phiếu bình đẳng giữa các thành viên hội đồng/ủy ban và kếtquả bỏ phiếu (ý kiến của từng thành viên hội đồng) đều được công bốcông khai ngay sau đó Điều này sẽ khiến cho các thành viên hội đồngphải có trách nhiệm hơn khi quyết định lá phiếu của mình

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Xu hướng chung là NHTW các nước từng bước nới lỏng sự kiểm soát đốivới TTTT, bằng việc tự do hóa lãi suất để tạo sự sôi động, cạnh tranh mạnh mẽtrên TTTT trong nước và có khả năng hội nhập thị trường tài chính - tiền tệ quốc

tế Hầu hết NHTW các nước đều xóa bỏ những ràng buộc về mặt thể chế và canthiệp thị trường bằng biện pháp phi kinh tế, NHTW đóng vai trò là người tạokhuôn khổ pháp lý, định hướng và đảm bảo an toàn cho sự phát triển của TTTT.Tùy thuộc mục tiêu CSTT ngắn hạn, dài hạn và điều kiện TTTT trong từngthời kì, các NHTW xác định và lựa chọn chính sách lãi suất phù hợp, đó là:chính sách lãi suất thấp, thể hiện bằng việc NHTW tăng lượng tiền cung ứng, đểduy trì lãi suất thị trường ở mức thấp nhằm kích thích tiêu dùng và đầu tư, khắcphục tình trạng trì trệ, khủng hoảng có tính chu kỳ của nền kinh tế, đẩy nhanhquá trình hồi phục tăng trưởng Hoặc, chính sách lãi suất linh hoạt, thể hiện bằngviệc NHTW thường xuyên can thiệp, điều tiết khối lượng tiền cung ứng, tácđộng cung – cầu vốn trên TTTT luôn ở mức thích hợp, để tránh biến động lớn

về việc huy động vốn và cấp tín dụng của các NHTM, hạn chế những bất lợi chocác khuynh hướng đầu tư lâu dài, chính sách này thường được sử dụng ở cácnước đang phát triển, nhất là các nước có nền kinh tế mở, quy mô nhỏ

Trang 35

NHTW các nước áp dụng các cơ chế điều hành và kiểm soát lãi suất TTTTkhác nhau, không có mô hình chung áp dụng cho tất cả NHTW các nước, nhưngmục đích cần đạt được là kiểm soát biến động lãi suất TTTT, đảm bảo mối quan

hệ chặt chẽ giữa lãi suất chính thức của NHTW và lãi suất thị trường Để xâydựng và thực hiện cơ chế điều hành và kiểm soát lãi suất một cách hiệu quả cầndựa trên cơ sở mức độ phát triển của TTTT, mức độ độc lập của NHTW, mức

độ mở cửa, hội nhập và tự do hóa thị trường vốn, điều kiện kinh tế vĩ mô, mụctiêu ngắn hạn và trung hạn của CSTT

Thông thường, NHTW các nước đều xây dựng và công bố mức lãi suấtmục tiêu là lãi suất thị trường liên ngân hàng hoặc lãi suất cho vay ngắn hạn tốtnhất của NHTM trên TTTT sơ cấp, mọi sự thay đổi hay điều chỉnh các công cụCSTT đều nhằm vào lãi suất mục tiêu và lấy đó làm cơ sở Ở các nước pháttriển, NHTW sử dụng lãi suất chính thức là lãi suất cho vay qua đêm hoặc lãisuất định hướng liên ngân hàng, lãi suất chủ đạo là lãi suất REPO, còn các nướcđang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi thì sử dụng lãi suất tái cấpvốn kết hợp lãi suất chiết khấu Sự thay đổi lãi suất chính thức phụ thuộc vào sựlựa chọn mục tiêu của CSTT và diễn biến kinh tế vĩ mô, tình trạng vốn khả dụngcủa NHTM, giá cả tài sản tài chính và lãi suất TTTT quốc tế, lãi suất chính thứccần phải phản ánh vai trò của NHTW là người cho vay cuối cùng trên thị trườngliên ngân hàng Việc công bố lãi suất chính thức của NHTW tác động đến nềnkinh tế theo nhiều kênh khác nhau và cần có sự tính toán kỹ lưỡng để không gâynên xáo trộn, biến động lớn đối với TTTT, thị trường vốn Đồng thời, NHTWkết hợp sử dụng linh hoạt công cụ tái cấp vốn và công cụ CSTT khác để cungcấp khối lượng vốn có tính mùa vụ, thời gian dài hơn, đảm bảo cho ổn định lãisuất thị trường

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 36

2.1 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ từ 1986 đến nay

Trước khi đánh giá về cơ chế điều hành lãi suất trong giai đoạn từ 2005đến 2010, nhóm nghiên cứu đưa ra tình hình diễn biến cơ chế điều hành lãi suấtgiai đoạn 1986 – 2004 nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về sự phát triển từngbước của cơ chế điều hành lãi suất ở nước ta tính đến giai đoạn hiện nay

2.1.1 Cơ chế điều hành lãi suất giai đoạn 1986 - 2004

Từ khi đất nước chấm dứt cơ chế tập trung quan liêu bao cấp năm 1986đến năm 2004, quá trình đổi mới cơ chế điều hành lãi suất ngân hàng ở ViệtNam đã có nhiều bước chuyển đổi và có thể tóm gọn trong năm bước chuyểnđổi căn bản sau đây:

Bảng 2.1.Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam

- Lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất tiền gửi.

- Lãi suất cho vay dài hạn nhỏ hơn lãi suất cho vay ngắn hạn.

- NHNN lần đầu tiên quy định lãi suất tái chiết khấu ở mức 1,5% đến 2,4%/tháng.

- Các NHTM căn cứ khung lãi suất để đưa ra mức lãi suất kinh doanh thích hợp cho mình.

- Lãi suất cho vay bình quân bằng lãi suất tiền gửi bình quân cộng thêm tỷ lệ chi phí và lãi hợp lý của Ngân hàng.

- NHNN khống chế đặt mức trần lãi suất cho vay ở mức thấp (1,6%/năm đến 2,5%/năm) và lãi suất tiền gửi liên tục tăng làm nảy sinh những tiêu cực

Trang 37

- Tỷ lệ DTBB giảm xuống còn 10% tính trên tiền gửi 12 tháng ở TCTD và giữ

ổn định trong suốt giai đoạn Tái cấp vốn giảm, chủ yếu là cho vay theo chỉ định của Chính phủ Quy định hạn mức tín dụng Năm 1995, NHNN phát hành 2 đợt tín phiếu

1996-7/2000: Cơ chế

điều hành lãi suất trần

- NHNN bỏ quy định “sàn” lãi suất tiền gửi Quy định khung lãi suất của các TCTD được thay thế bằng quy định trần lãi suất cho vay ở mức 0,2%/tháng

và có sự phân biệt lãi suất cho vay ngắn, trung và dài hạn; lãi suất khu vực thành thị và nông thôn.

- Khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân của các TCTD là 0.35%/tháng (1996-cuối 1997).

- Đầu năm 1998, trần lãi suất cho vay tăng 1% lên 1,2%/tháng, cho vay trung

và dài hạn tăng từ 1,1% lên 1,25%/tháng.

- Năm 1999, NHNN điều chỉnh giảm trần lãi suất vì nền kinh tế có dấu hiệu thiểu phát Lãi suất cho vay cuối năm giảm 0,35%-0,4% so với đầu năm và ở mức thấp so với những năm trước (0,85%/tháng cho khu vực thành thị và 1%//tháng cho khu vực nông thôn).

- Điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu phù hợp với hướng “nới lỏng” tiền tệ.

- 11/1999, nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá được bổ sung vào các công cụ điều hành lãi suất của NHNN.

- 7/2000, NHNN tiếp tục đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở với lãi suất được hình thành qua các phiên giao dịch theo quan hệ cung-cầu.

- Tỷ lệ DTBB 10% tiếp tục ổn định từ năm 1996 và tháng 3/1999 giảm xuống còn 5% NHNN xóa bỏ hạn mức tín dụng từ đầu năm 1998 cùng với việc phát hành thêm 4 đợt tín phiếu trong cả giai đoạn này.

Trang 38

- LSCB có xu hướng giảm từ tháng 8/2000 ở mức 0,75%/tháng xuống còn 0,62%/tháng vào cuối năm 2002.

- Các TCTD được ấn định lãi suất cho vay bằng ngoại tệ trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ Tuy nhiên NHNN vẫn quy định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng USD của các TCTD không vượt quá mức lãi suất SIBOR kỳ hạn 3 tháng cộng biên độ tối đa 1%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn không vượt quá mức SIBOR kỳ hạn 6 tháng cộng biên độ tối đa 2,5%/năm

- Điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu phù hợp với CSTT

“nới lỏng thận trọng”.

- Tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi nội tệ giảm xuống mức 3%, tiền gửi ngoại tệ là 5% Nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu thực hiện phương thức mua để bơm tiền ra Tái cấp vốn chủ yếu thực hiện thông qua nghiệp vụ thị trường mở và cửa sổ chiết khấu.

công bố LSCB để các TCTD tham khảo và định hướng lãi suất TTTT Lãi

suất ngoại tệ được tự do hóa từ tháng 6/2001.

- Đầu năm 2003, áp dụng mô hình hành lang lãi suất: lãi suất tái cấp vốn đóng vai trò lãi suất trần; lãi suất tái chiết khấu là lãi suất sàn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng; lãi suất thị trường mở là công cụ điều hành thường xuyên của NHNN Lãi suất cho vay qua đêm được áp dụng trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và thanh toán bù trừ; lãi suất tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại NHNN đóng vai trò làm phương tiện thường xuyên để điều tiết lãi suất liên ngân hàng.

- Tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi nội tệ là 2 – 5% NHNN sử dụng đồng bộ các công cụ gián tiếp và kiểm soát tăng trưởng tín dụng

Tính đến năm 2002, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản có kèm biên độ đãtạo khuôn khổ linh hoạt hơn cho các TCTD trong việc ấn định lãi suất kinhdoanh tuy nhiên có thể thấy cơ chế điều hành lãi suất còn chưa thực sự mangtính thị trường Thị trường tiền tệ liên ngân hàng chưa phát triển, nghiệp vụ thịtrường mở mới bắt đầu thực hiện chưa có chiều sâu, thị trường trái phiếu, tínphiếu kho Bạc chưa phản ánh đúng lãi suất của thị trường tiền tệ nên chưa thểchỉ căn cứ vào lãi suất trên các thị trường này làm cơ sở xác định lãi suất cơ bản

Trang 39

Biên độ lãi suất theo quy định của NHNN trong giai đoạn điều hành theo

cơ chế lãi suất cơ bản vẫn mang dáng dấp của quy định trần lãi suất tối đa Điềunày đã khiến cho NHNN tiếp tục đổi mới chuyển sang cơ chế điều hành lãi suấtthỏa thuận từ tháng 5/2002 Hỗ trợ cho việc hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suấtthỏa thuận của mình, trong giai đoạn này, NHNN đã tích cực sử dụng nghiệp vụthị trường mở cũng như nâng cao hiệu quả của công cụ dự trữ bắt buộc Chẳnghạn trong năm 2004, mặc dù chỉ số giá tiêu dùng tăng cao gây sức ép tăng lãisuất nhưng để thực hiện mục tiêu ổn định lãi suất, góp phần phục vụ tăng trưởngkinh tế, NHNN đã không tăng các mức lãi suất điều hành (lãi suất cơ bản, lãisuất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu) mà thay vào đó, trên nghiệp vụ thịtrường mở, NHNN đã thực hiện chào mua với lãi suất thấp dao động trongkhung lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu

Như vậy xét về bản chất, các bước chuyển đổi này đều khẳng định tínhchất điều chỉnh linh hoạt hơn và tự do hóa dần lãi suất, chuẩn bị sự hội nhập vềlãi suất với nền kinh tế thế giới NHNN Việt Nam đã từng bước thực hiện việckiểm soát lãi suất dựa trên lãi suất cố định, khung lãi suất, lãi suất trần, lãi suất

cơ bản có kèm biên độ và lãi suất thỏa thuận

2.1.2 Cơ chế điều hành lãi suất giai đoạn 2005 - 2010.

Tiếp nối giai đoạn 2002 – 2004, trong giai đoạn 2005 - 2008, NHNN tiếptục sử dụng cơ chế điều hành lãi suất thỏa thuận với việc LSCB chỉ mang tínhchất tham khảo và định hướng thị trường tiền tệ

Cơ chế điều hành lãi suất theo phương thức thỏa thuận đã phản ánh rõràng ràng hơn mối quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường Thị trường tiền tệnước ta ngày càng hội nhập hơn với khu vực quốc tế Việc thực hiện cơ chế lãisuất thoả thuận đã tạo điều kiện cho các ngân hàng chủ động trong việc huyđộng và cho vay vốn, tạo điều kiện khai thác triệt để sức mạnh của cơ chế thịtrường, các nguồn lực được phân phối và sử dụng có hiệu quả do đó đẩy nhanh

Trang 40

tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong các năm 2005, 2006, 2007, 2008 lầnlượt đạt mức 8,4%; 8,17%; 8,48% và 6,18%.

Với cơ chế điều hành này, NHNN đã sử dụng nhiều hơn các công cụmang tính gián tiếp như dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở để tác độngvào lãi suất trên thị trường Theo đánh giá của nhiều NHTM, trong năm 2006hoạt động nghiệp vụ thị trường mở đã phát huy vai trò điều tiết vốn khả dụngcủa các tổ chức tín dụng, đáng chú ý là sự gia tăng mạnh về số phiên giao dịch,doanh số giao dịch, và xu hướng mua bán 2 chiều ngày càng thể hiện rõ NHNN

đã thực hiện 133 phiên chào bán giấy tờ có giá.Tổng doanh số bán ra đạt khoảng87.400 tỷ đồng, tăng mạnh so với các năm 2005 và 2004 (năm 2004: 950 tỷđồng, năm 2005: 1.800 tỷ đồng) Việc chào bán giấy tờ có giá chủ yếu đượcthực hiện đối với tín phiếu NHNN theo phương thức bán hẳn

Vào thời điểm tháng 10/2007, khi lạm phát có xu hướng vượt trên hai con

số, Ngân hàng nhà nước cũng đã bán ra nhiều giấy tờ có giá để thu hút tiền về.Nghiệp vụ bán giấy tờ có giá được NHNN thực hiện liên tục, có ngày giao dịchđến 2 phiên

Tuy nghiên với việc NHNN đã mua vào dự trữ 7 tỷ USD và một lượngtiền tương đương 112 nghìn tỷ đồng được đưa ra lưu thông vào năm 2007 thìđến năm 2008, trước sự vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạmphát tăng cao ngay từ đầu năm, NHNN đã thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ,

sử dụng đồng thời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở Công cụ lãisuất được phát huy tối đa, liên tục có điều chỉnh và được triển khai quyết liệt.Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo cả hai hướng mở rộng và thắt chặttiền tệ đã không tạo tác động đáng kể nào tới lãi suất Trong tuần thứ ba củatháng 2/2008, NHNN bổ sung 33.000 tỉ đồng vào lưu thông nhưng các ngânhàng thương mại vẫn tiếp tục tăng lãi suất huy động tiền gửi Hiệu lực khôngthật rõ ràng của các nghiệp vụ thị trường mở vào thời kỳ lạm phát gia tăng là tínhiệu sự tồn tại bẫy thanh khoản trong hệ thống tín dụng tại thời điểm đó

Ngày đăng: 11/11/2015, 10:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính” – Predric S. Mishkin NXB Khoa học Kỹ thuật, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
2. “Tiền và hoạt động Ngân hàng” – TS. Lê Vinh Danh NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền và hoạt động Ngân hàng
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
3. “Lý thuyết tổng quát về việc làm - Lãi suất - Tiền tệ” – John Maynard Keynes, NXB Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tổng quát về việc làm - Lãi suất - Tiền tệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. “Phối hợp chính sách lãi suất và tỷ giá nhằm đảm bảo tăng trưởng nhanh và bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam” – ThS. Đặng Đức Anh (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phối hợp chính sách lãi suất và tỷ giá nhằm đảm bảo tăng trưởng nhanh vàbền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
5. “Chính sách lãi suất trong nền kinh tế thị trường Việt Nam” – TS. Nguyễn Ngọc Bảo (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách lãi suất trong nền kinh tế thị trường Việt Nam
6. “Cơ chế điều hành lãi suất tại một số nước và Việt Nam” – TS. Hoàng Công Gia Khánh, tạp chí tài chính 2/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế điều hành lãi suất tại một số nước và Việt Nam
7. “Giáo trình Ngân hàng Trung ương” – PGS. TS. Hoàng Xuân Quế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngân hàng Trung ương
8. “Sự độc lập của ngân hàng Trung ương và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam” - ThS. Nguyễn Hương Giang - Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương - Tạp chí Ngân hàng (Số 23/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự độc lập của ngân hàng Trung ương và một số gợi ý chính sách choViệt Nam
9. Pháp luật ngân hàng (1992), Luật các tổ chức tín dụng (2010), Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010) Khác
10. Báo cáo thường niên các năm 2005 - 2010 của NHNN Việt Nam Khác
11. Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Tạp chí Thị trường tài chính - tiền tệ, Thời báo Ngân hàng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam - HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI XUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
Bảng 2.1. Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam (Trang 36)
Hình 2.1.Lãi suất cơ bản từ cuối năm 2005 đến nay, đơn vị % - HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI XUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
Hình 2.1. Lãi suất cơ bản từ cuối năm 2005 đến nay, đơn vị % (Trang 47)
Bảng 2.2.Lãi suất cơ bản từ năm 2005 đến 2008 - HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI XUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
Bảng 2.2. Lãi suất cơ bản từ năm 2005 đến 2008 (Trang 48)
Hình 2.2.Các mức lãi suất chính sách từ 1/10/2010 đến 31/3/2011 - HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI XUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
Hình 2.2. Các mức lãi suất chính sách từ 1/10/2010 đến 31/3/2011 (Trang 50)
Bảng 2.3.Lãi suất huy động VND một số kỳ hạn tại một số thời điểm năm 2010 - HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI XUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
Bảng 2.3. Lãi suất huy động VND một số kỳ hạn tại một số thời điểm năm 2010 (Trang 51)
Hình 2.3.Diễn biến lãi suất vay, lãi suất thực vay ngắn hạn và dài hạn năm 2010 - HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI XUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
Hình 2.3. Diễn biến lãi suất vay, lãi suất thực vay ngắn hạn và dài hạn năm 2010 (Trang 52)
Hình 2.4.Diễn biến lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp - HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI XUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
Hình 2.4. Diễn biến lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp (Trang 54)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w