1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

HẠN CHẾ TÍN DỤNG NGOẠI TỆ GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM

13 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 533,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặng Ngọc Đức Khoa NH-TC-Đại học KTQD Tín dụng ngoại tệ, bao gồm các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ, là đặc trưng của các hoạt động ngân hàng hải ngoại Eurobankings - n

Trang 1

HẠN CHẾ TÍN DỤNG NGOẠI TỆ

GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH KINH TẾ

VĨ MÔ Ở VIỆT NAM

TS Đặng Ngọc Đức

Khoa NH-TC-Đại học KTQD

Tín dụng ngoại tệ, bao gồm các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ, là đặc trưng của các hoạt động ngân hàng hải ngoại (Eurobankings) - những hoạt động ‘lách luật’, kinh doanh bằng đồng tiền của nước khác mà không chịu sự quản lý của ngân hàng trung ương của nước phát hành ra đồng tiền đó Có thể có những tác động tích cực nhất định của tín dụng ngoại tệ đối với nền kinh tế, song cần phải khẳng định rằng những tác động tiêu cực của loại hình tín dụng này là điều đáng được quan tâm nhiều hơn Ngoài việc làm giảm hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, tăng mức độ Đô-la hóa, tích lũy rủi ro, v.v , những hệ lụy của tăng trưởng tín dụng ngoại tệ ở Việt Nam trong thời gian gần đây còn là sự luân chuyển ‘luẩn quẩn’ của các luồng vốn, sự biến động bất thường của

tỷ giá và những vấn đề tiêu cực xã hội khác Bài viết này mạnh dạn trình bày một số biện pháp hạn chế và tiến tới xóa bỏ tín dụng ngoại tệ ở Việt Nam, cũng có nghĩa là loại bỏ những tác động tiêu cực và góp phần ổn định tỷ giá và kinh tế vĩ mô ở nước ta hiện nay cũng như trong những năm tới

1 Những tác động tiêu cực của tín dụng ngoại tệ

Dù cố gắng ‘gạn đục khơi trong’ nhất, cũng chỉ có thể liệt kê một vài tác động tích cực của tín dụng ngoại tệ đối với nền kinh tế như thúc đẩy tăng trưởng của thương mại và tài chính quốc tế, tạo điều kiện cho vốn di chuyển một cách dễ dàng giữa các quốc gia và do vậy, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập và quốc tế hóa của nền kinh tế Trên thực tế, đối với đa số các nước đang phát triển, những tác động tiêu cực và rủi ro tiềm ẩn của tín dụng ngoại tệ là rất đáng lo ngại, không chỉ đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) và các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế Việc đánh giá những tác động tiêu cực của tín dụng ngoại tệ ở Việt Nam trong thời gian qua là điều thực sự có ý nghĩa quan trọng

Thứ nhất, tín dụng ngoại tệ gia tăng tình trạng Đô-la hóa và làm giảm hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước

Trang 2

Mục đích đầu tiên của các NHTM thực hiện các hoạt động eurobanking chính là lợi ích ‘siêu ngạch’ và tránh sự kiểm soát của ngân hàng trung ương Nhưng khi các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ được thực hiện thì nền kinh tế đã đứng trước khả năng

bị Đô-la hoá (Dollarization), nhất là khi đồng bản tệ không được tin tưởng và ưa chuộng

do những khó khăn về tăng trưởng kinh tế và sự yếu kém trong quản lý vĩ mô của đa số các nước đang phát triển

Để có thể cho vay ngoại tệ, các NHTM phải huy động tiền gửi bằng ngoại tệ, làm gia tăng tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ (FCD) trong tổng khối lượng tiền mở rộng (M2) và tạo

ra động cơ đầu cơ cũng như sự tồn tại lưu lượng ngoại tệ trôi nổi trên thị trường tự do Lưu lượng ngoại tệ này chính là ‘vật cản’ làm giảm hiệu lực và hiệu quả của các công cụ điều tiết vĩ mô Mỗi khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vận hành chính sách tiền tệ, thắt chặt hay nới lỏng mức cung tiền để giảm lạm phát hay thúc đẩy tăng trưởng, lượng ngoại tệ sẽ được

‘đẩy’ vào (Inflows) hay ‘hút’ ra (Outflows), thế chỗ cho sự thay đổi trong mức cung nội tệ

và làm giảm hiệu lực, thậm chí vô hiệu hóa sự điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước

0 5 10 15 20 25

2007 Quý 3/2008 Qúy 4/2008 Quý 1/2009 Quý 2/2009 Quý 3/2009 Quý 4/2009 Quý 1/2010

Nguồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Hình 1- Chỉ số tiền gửi ngoại tệ của Việt Nam (FCD/M2)

Thật không may, ở Việt Nam, theo thống kê chính thức tuy tỷ lệ FCD/M2 chưa đến mức cao (Đồ thị 1) theo tiêu chuẩn đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nhưng ngoài

số tiền gửi bằng ngoại tệ FCD), ước tính còn khoảng 30% tổng giá trị thanh toán ngoài hệ thống ngân hàng được thực hiện trực tiếp bằng Đô-la(1) Do vậy cần phải nhận thức rằng Đô-la hóa không chính thức ở Việt Nam thực sự đã đến mức nguy hiểm và hình ảnh đồng Đô-la Mỹ được sung bái và thay thế hoàn hảo cho Đồng Việt Nam không chỉ còn chỉ trong

ý niệm

Đô-la hóa ở Việt Nam đã gây khó khăn trong dự báo và xác định tổng phương tiện thanh toán, dẫn đến việc đưa ra các quyết định tăng hoặc giảm mức cung tiền trong lưu thông thiếu chính xác và không kịp thời Đô-la hóa cũng làm cho giá trị của nội tệ trở nên nhạy cảm hơn và nhu cầu về nội tệ do vậy luôn không ổn định Nhũng sự thay đổi về kinh

tế, tài chính trong nước và quốc tế có thể gây ra sự chuyển dịch từ nội tệ sang ngoại tệ làm cho đồng nội tệ mất giá và lạm phát qua tâm lý bùng phát Những cố gắng điều chỉnh cung cầu tiền tệ và lãi suất nhằm tác động đến tổng cầu và thay đổi nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế hầu như không còn hiệu quả

(1) Theo báo cáo của NHNN Việt Nam, 2007-2010.

Trang 3

60

Mөc ÿích ÿҫu tiên cӫa các NHTM thӵc hiӋn các hoҥt ÿӝng eurobanking chính là

lӧi ích ‘siêu ngҥch’ và tránh sӵ kiӇm soát cӫa ngân hàng trung ѭѫng Nhѭng khi các

nghiӋp vө nhұn tiӅn gӱi và cho vay bҵng ngoҥi tӋ ÿѭӧc thӵc hiӋn thì nӅn kinh tӃ ÿã

ÿӭng trѭӟc khҧ năng bӏ Ĉô-la hoá (Dollarization), nhҩt là khi ÿӗng bҧn tӋ không ÿѭӧc

tin tѭӣng và ѭa chuӝng do nhӳng khó khăn vӅ tăng trѭӣng kinh tӃ và sӵ yӃu kém trong

quҧn lý vƭ mô cӫa ÿa sӕ các nѭӟc ÿang phát triӇn

ĈӇ có thӇ cho vay ngoҥi tӋ, các NHTM phҧi huy ÿӝng tiӅn gӱi bҵng ngoҥi tӋ, làm

gia tăng tӹ trӑng tiӅn gӱi bҵng ngoҥi tӋ (FCD) trong tәng khӕi lѭӧng tiӅn mӣ rӝng

(M2) và tҥo ra ÿӝng cѫ ÿҫu cѫ cNJng nhѭ sӵ tӗn tҥi lѭu lѭӧng ngoҥi tӋ trôi nәi trên thӏ

trѭӡng tӵ do Lѭu lѭӧng ngoҥi tӋ này chính là ‘vұt cҧn’ làm giҧm hiӋu lӵc và hiӋu quҧ

cӫa các công cө ÿiӅu tiӃt vƭ mô Mӛi khi Ngân hàng Nhà nѭӟc (NHNN) vұn hành

chính sách tiӅn tӋ, thҳt chһt hay nӟi lӓng mӭc cung tiӅn ÿӇ giҧm lҥm phát hay thúc ÿҭy

tăng trѭӣng, lѭӧng ngoҥi tӋ sӁ ÿѭӧc ‘ÿҭy’ vào (Inflows) hay ‘hút’ ra (Outflows), thӃ

chӛ cho sӵ thay ÿәi trong mӭc cung nӝi tӋ và làm giҧm hiӋu lӵc, thұm chí vô hiӋu hóa

sӵ ÿiӅu chӍnh cӫa Ngân hàng Nhà nѭӟc

Ngu͛n: QuͿ Ti͉n t͏ Qu͙c t͇ (IMF)

Hình 1- ChӍ sӕ tiӅn gӱi ngoҥi tӋ cӫa ViӋt Nam (FCD/M2)

Thұt không may, ӣ ViӋt Nam, theo thӕng kê chính thӭc tuy tӹ lӋ FCD/M2 chѭa

0 500000 1000000

1500000

2000000

2500000

1/2010

FCD M2

Nguồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Hình 2- Quy mô và tăng trưởng của tiền gửi ngoại tệ FCD

Thứ hai, tín dụng ngoại tệ gia tăng áp lực và chi phí can thiệp của NHNN

Tín dụng ngoại tệ tăng trưởng mạnh,vượt trội so với tín dụng nội tệ ở Việt Nam trong suốt giai đoạn 2008-2010 và tiếp tục duy trì ở mức cao trong sáu tháng đầu năm 2011 buộc NHNN phải thực hiện những biện pháp can thiệp quyết liệt nhằm ổn định tỷ giá và phải chấp nhận chi phí rất lớn(1)

500 1000

1500

2000

2500

0 00 00 00 00 00

VND/USD

Nguồn:NHNN và tổng hợp của Vietstock Hình 3- Sự biến động tỷ giá VND/USD năm 2008-2011

Trong năm 2009, mặc dù chương trình hỗ trợ lãi suất của chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, lãi suất cho vay VND trở nên hấp dẫn, nhưng tín dụng ngoại tệ vẫn tăng (1) Nhiều lần điều chỉnh đã gây ra những tổn thất lớn cho các doanh nghiệp khi tỷ giá tăng và không thể thực hiện các hợp đồng kinh tế đã ký kết, đặc biệt hợp đồng thương mại với nước ngoài

Trang 4

tới 15,12%, so với năm 2008 (Bảng 1) Năm 2010, khi chấm dứt hỗ trợ lãi suất, tín dụng ngoại tệ còn tăng mạnh hơn và đạt mức 56,9% so với 2009 Điều này đã gây ra sự gia tăng đột biến của tỷ giá vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011 do nhu cầu USD tăng đột biến khi những khoản vay đáo hạn kéo theo những bất ổn kinh tế vĩ mô và sự căng thẳng của thị trường ngoại hối(1) Ngay cả sau khi NHNN đã tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng tới 9,3% (11/2/2011) nhưng tín dụng ngoại tệ trong 6 tháng đầu năm vẫn tăng ở mức rất cao, đạt tới 23,21% so với đầu năm và 46,19% so với tháng 6/2010 (Bảng 1) trong khi tín dung nội tệ chỉ tăng 2,72% trong cùng thời kỳ

Bảng 1: Tăng trưởng tín dụng ngoại tệ của các TCTD

Quý/năm quý trước So với cuối năm trước So với cùng kỳ năm trước So với

Nguồn: Thống kê tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2011

Tín dụng ngoại tệ luôn gây áp lực đối với sự can thiệp vào tỷ giá trên thị trường ngoại hối ngay cả khi tổng thể nền kinh tế dư cung ngoại tệ Cụ thể, năm 2009, luồng vốn ròng từ nước ngoài lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai, phản ánh nền kinh tế có thặng dư ngoại

tệ, nhưng tài sản ròng của NHNN đã giảm tới gần 8,2 tỷ USDvà từ tháng 5/2011 đến nay NHNN đã phải bán ra 1,65 tỷ USD(2) Nguyên nhân cơ bản là tình trạng găm giữ ngoại tệ của cả dân cư và các doanh nghiệp

(1) Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do đã bắt đầu tăng từ 11/2010 và đạt mức 22.500 vào tháng 2/2011 Một lần nữa, giao dịch trên thị trường tự do lại phải đóng băng bằng các biện pháp hành chính.

(2) Báo cáo thường niên của NHNN 2009-2010 và tháng 9/2011.

Trang 5

Hơn nữa, tín dụng ngoại tệ và tình trạng Đô-la hóa còn tác động tiêu cực đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Trên thức tế, sự điều chỉnh tăng tỷ giá của NHNN

để khuyến khích xuất khẩu ở Việt Nam không chỉ tăng gánh nặng nợ cho các doanh nghiệp nhập khẩu mà còn gây thiệt hại cho chính các doanh nghiệp xuất khẩu vì các doanh nghiệp này có dư nợ tín dụng ngoại tệ Ngoài ra, khi chi phí sản xuất và giá cả được xác định bằng ngoại tệ, nếu các nước đối tác thương mại thực hiện phá giá tiền tệ thì Việt Nam sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu thông qua chính sách tỷ giá

Thứ ba, tín dụng ngoại tệ tạo ra sự vận động ‘luẩn quẩn’ của dòng vốn, mang lại thu nhập bất thường cho một số doanh nghiệp và ngân hàng thương mại

Ở Việt Nam, các doanh nghiệp và cá nhân được cấp phép vay và mua ngoại tệ trong thời gian qua đã kiếm được những khoản thu nhập đáng kể từ lãi suất thấp khi vay vốn bằng ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá ở thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do Nhiều doanh nghiệp đã vay hoặc mua với số lượng tối đa được phép từ các NHTM sau đó bán trên thị trường tự do để cho vay lại hoặc thậm chí gửi tại các NHTM bằng VND để hưởng lãi suất cao hơn Sự quay vòng ‘luẩn quẩn’ của những dòng vốn đã tạo ra nhu cầu giả tạo về ngoại

tệ, những cơn ‘sốt’ tỷ giá và để phản ứng lại, NHNN lại phải thực hiện can thiệp: hoặc là tăng cung ngoại tệ - tăng doanh số bán ra, hoặc là tăng lãi suất nội tệ Cung ngoại tệ và lãi suất nội tệ cao lại tạo động cơ động cho những vòng luẩn quẩn mới

Đáng chú ý hơn, sự luân chuyển một cách luẩn quẩn của dòng vốn ngoại tệ nói trên không chỉ diễn ra trong phạm vi nền kinh tế Việt Nam mà đã ‘vươn’ ra cả thị trường tài chính quốc tế Các NHTM lớn nhất của Việt Nam (SOCBs) đã có số tổng dư tiền gửi ngoại

tệ lên tới nhiều tỷ USD tại các NHTM nước ngoài và chỉ đến khi xảy ra sự kiện các NHTM

ở Mỹ đồng loạt đệ đơn lên Quỹ Dự trữ Liên Bang (FED) xin vay cứu cánh vào tháng 7/2009 thì số lượng ngoại tệ này mới được rút về Việt Nam Trong khi Chính phủ phải trả lãi suất cao ‘ngất ngưởng’(1) mới vay được 750 triệu USD tại New York (2005) và 1 tỷ USD tại Singapore (2010) thì các NHTM Việt Nam mang gửi tiền tại các NHTM ở Mỹ với lãi suất chưa bao giờ vượt quá mức 5,2%(2) trong cùng thời gian là một sự thật khó tin và chỉ có ở Việt Nam Chưa kể đến sự mâu thuẫn với pháp lệnh về quản lý ngoại hối cũng như không cần phải bàn đến chủ thể phải chịu trách nhiệm của vấn đề này, nhưng sự rõ ràng sự chuyển dịch vốn luẩn quẩn đã tạo ra mâu thuẫn đối lập giữa lợi ích quốc gia và lợi ích của các chủ thể thực hiện hoạt động tín dụng ngoại tệ

Thứ tư, tín dụng ngoại tệ tạo ra nguy cơ rủi ro nghiêm trọng cho các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại

(1) Lãi suất vay tại New York là 7,125% và lãi suất vay tại Singapore là 6,95%.

(2) Nguồn: Diễn biến lãi suất chiết khấu của FED, các năm 2005-2010.

Trang 6

Ngay sau khi các doanh nghiệp vay được ngoại tệ, cơn ‘sốt’ tỷ giá có thể được hạ nhiệt

do cung ngoại tệ tăng, song điều đó dường như là một ‘cạm bẫy’ đối với các NHTM và các doanh nghiệp sẽ phải hứng chịu rủi ro khi tỷ giá tăng, đặc biệt vào thời kỳ đáo hạn của các món vay Những lần điều chỉnh của NHNN trong giai đoạn 2008-2010 nói trên đã làm tăng

tỷ giá USD/VND lên hơn 20% Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất của các doanh nghiệp vay vốn ngoại tệ tăng, lợi nhuận giảm, đồng thời gánh nặng nợ gia tăng Nhiều người đã suy nghĩ một cách đơn giản cho rằng chỉ có các doanh nghiệp vay vốn phải đối mặt với nguy cơ rủi ro tỷ giá, các NHTM luôn ‘đứng’ ngoài vì họ sẽ có nguồn ngoại tệ thu nợ từ các doanh nghiệp vay vốn vào ngày đáo hạn Trên thực tế, ngay cả khi có trạng thái ngoại hối đóng, các NHTM cho vay ngoại tệ vẫn phải đối mặt với nguy cơ nợ quá hạn, mất vốn và mất khả năng thanh toán vì các doanh nghiệp vay ngoại tệ đã phải chịu những tổn thất, thua lỗ và sẽ rất khó khăn hoặc thậm chí không thể trả nợ các khoản vay do biến động ngoài dự kiến của

tỷ giá theo sự điều chỉnh của NHNN và của thị trường tự do

Thứ năm, tín dụng ngoại tệ có liên hệ và tạo điều kiện cho những hành vi tiêu cực, tham nhũng và phát triển thị trường chợ đen

Như đã đề cập ở trên, để có thể cho vay bằng ngoại tệ, các NHTM đã được phép huy động nguồn ngoại tệ Khoảng trên 60% nguồn ngoại tệ huy động được là tiền gửi của các doanh nghiệp và như vậy trên 30% là tiền gửi của cá nhân Điều cần nhấn mạnh là nguồn gốc thực sự của số tiền gửi bằng ngoại tệ tại các NHTM và việc tìm kiếm câu trả lời cũng không quá khó khăn Thực tế là không thể phủ nhận rằng một tỷ lệ không nhỏ trong tiền gửi ngoại tệ có liên quan đến tình trạng tham nhũng, hối lộ và các hình thức tiêu cực khác Sự trùng hợp rất khó giải thích là tuyệt đại đa số những người có tiền gửi ngoại ở các NHTM trong nước và nước ngoài là những người có quyền chức, không có thu nhập chính thức bằng ngoại tệ nhưng có cơ hội tham nhũng, nhận hối lộ Những người này cũng chính là những người sùng bái ngoại tệ nhất và tích cực mua ngoại tệ ở chợ đen, tiếp tay cho đầu cơ và góp phần phát triển thị trường ngầm Mặc pháp luật không cấm sở hữu và gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, song cơ quan chức năng có quyền điều tra làm rõ nguồn gốc của các khoản tiền gửi ngoại tệ và nếu làm như vậy cũng có thể hạn chế được đáng kể tình trạng tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam

Ngoài ra, tín dụng ngoại tệ khi được kết hợp với cơ chế hai tỷ giá, hai mức lãi suất cách biệt cũng chính là nguyên nhân nảy sinh những hiện tượng tiêu cực và những hành vi gian lận để được phép vay hoặc mua ngoại tệ Ngoài những ‘nghiệp vụ giao dịch tay ba’ với

số lượng gần 400.000USD bị bắt giữ tại Eximbank vào dịp 7/2011(1) là một điển hình, còn

có những hợp đồng nhập khẩu và thư tín dụng ‘ma’ cũng như những chứng từ nộp học phí (1) Gồm: doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu và ngân hàng thương mại.

Trang 7

du học, nộp viện phí giả ở nước ngoài v.v , để các doanh nghiệp và cá nhân có thể tiếp cận nguồn ngoại tệ ‘giá rẻ’ của các NHTM, rồi đem cho vay lại, đầu cơ hay gửi ra nước ngoài Tất cả những hiện tiêu cực này không thể có cơ hội tồn tại nếu không có tín dụng ngoại tệ

và tỷ giá ‘mậu dịch quốc doanh’

2 Một số giải pháp nhằm hạn chế và xóa bỏ tín dụng ngoại tệ ở Việt Nam

Nhận thức được những tác động tiêu cực của tín dụng ngoại tệ, NHNN đã có chủ trương hạn chế, thu hẹp đối tượng cho vay và thắt chặt khả năng cho vay của các NHTM và

hạ thấp lãi suất huy động ngoại tệ Trong giai đoạn 2008 - 2011, NHNN đã liên tục có đưa

ra những thay đổi về đối tượng được vay và quy định đối với tổ chức tín dụng cho vay bằng ngoại tệ, điển hình là các Quyết định 09/2008/QĐ-NHNN, Thông tư 25/2009/TT-NHNN,

Quyết định số 750/QĐ-NHNN, Quyết định số 74/QĐ-NHNN, v.v Những động thái này cho thấy chủ trương của NHNN tăng cường kiểm soát và hạn chế tín dụng ngoại tệ Tuy nhiên để biến chủ trương thành hiện thực cần phải xây dựng một lộ trình với các giải pháp

cụ thể

Việc hạn chế và tiến tới xóa bỏ tín dụng ngoại tệ có thể được thực hiện theo một lộ trình được xác định gồm hai giai đoạn, trước mắt đến hết năm 2012 là xóa bỏ huy động tiền gửi ngoại tệ và hạn chế cho vay ngoại tệ, sau đó xóa bỏ hoàn toàn tín dụng ngoại tệ chuyển sang quan hệ mua bán từ hết năm 2013 Các giải pháp cụ thể bao gồm như sau:

2.1 Chấm dứt việc nhận tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ song song với việc giải phóng lãi suất nội tệ và giải phóng tỷ giá, tạo điều kiện cho các chủ thể nắm giữ ngoại tệ bán cho các NHTM

Nhận tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ nhằm mục đích thu hút ngoại tệ trong dân cư

và tăng khả năng cung ngoại tệ cho các NHTM Mục đích này vẫn được thực hiện khi các NHTM thỏa mãn được yêu cầu về lãi suất và tỷ giá của những người nắm giữ ngoại tệ Có hai nguyên nhân chính phát sinh nhu cầu gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ: (1) sự mất lòng tin vào giá trị của VND do lạm phát; và (2) tâm lý sùng bái ngoại tệ

Để củng cố lòng tin vào VND cần phải ổn định sức mua của VND và đây là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và nhiệm vụ chính trị của các cơ quan chức năng của nhà nước như NHNN, Bộ Tài chính, v.v , do vậy, sớm hay muộn nguyên nhân thứ nhất của nhu cầu gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ sẽ được loại bỏ Ngược lại, cần phải xem xét trách nhiệm và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của các cơ quan đó

Đồng thời với phấn đấu ổn định nội tệ, NHNN cần ‘cởi trói’ về lãi suất và tỷ giá, cho phép các NHTM được thỏa thuận một cách công khai và minh bạch về tỷ giá và lãi suất

Trang 8

với khách hàng Thêm nữa, kết hợp với ‘giải phóng’ lãi suất và tỷ giá, cho phép các NHTM được mua bán hai chiều, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngoại tệ chính đáng Hai biện pháp này

sẽ không chỉ làm giảm động cơ nắm giữ ngoại tệ dự phòng mà lòng tin vào VND cũng được khôi phục và củng cố

Sau khi những biện pháp trên được thực hiện thì việc tiếp tục nắm giữ ngoại tệ không còn là dự phòng sự mất giá mà chỉ là sự sùng bái Điều này, cần kiên quyết loại bỏ, vì đó là

sự mù quáng, thiếu hiểu biết của những người giàu về tiền bạc nhưng ‘nghèo’ về kiến thức kinh tế và làm hại cho nền kinh tế và cộng đồng Cần phải chỉ ra rằng sùng bái ngoại tệ không phải là do ‘dân trí thấp’ bởi vì đa số dân chúng Việt Nam không có thu nhập cao để

lo ngại VND mất giá, thậm chí nhiều người còn chưa biết về ngoại tệ, làm sao có thể sùng bái, găm giữ ngoại tệ và gây ra vấn nạn Đô-la hóa Vì vậy cần phải thống nhất nhận thức trong toàn bộ hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước, sùng bái ngoại tệ và tiếp sức cho

Đô-la hóa như là một loại tệ nạn xã hội cần phải được loại bỏ Khẩn trương tiến hành các biện pháp nhằm minh bạch hóa nguồn gốc ngoại tệ nắm giữ nhằm góp phần chống tham nhũng

và nâng cao hiệu quả quản lý ngoại hối Mặt khác, không tuyên truyền mang tính chất ‘ca ngợi’(1) hoặc tạo ra sự khác biệt và những đặc quyền và đặc lợi cho những người giữ USD, không thỏa mãn thị dục huyễn ngã của những người nắm giữ ngoại tệ

Bàn đến tính khả thi của giải pháp này, một số người lo ngại việc chấm dứt nhận tiền gửi bằng ngoại tệ sẽ làm thất thoát nguồn ngoại tệ, giảm khả năng cung ngoại tệ của các NHTM Tuy nhiên, lo ngại đó có thể được giải tỏa khi phân tích kỹ hơn về điểm đến của

lượng ngoại tệ ở Việt Nam Thứ nhất, khi lãi suất và tỷ giá ở Việt Nam được xác định và

duy trì một cách thỏa đáng, đảm bảo những nguyên lý về ngang bằng về sức mua (PPP) và ngang bằng về lãi suất (IRP) và nếu như gửi tiết kiệm ở Việt Nam có lợi hơn thì luồng ngoại

tệ chắc chắn sẽ đi vào và bán cho NHTM nhiều hơn Thứ hai, có thể một số người chuyển

tiền ra với ‘vỏ bọc’ là đầu tư ra ngước ngoài(2), nhằm ‘rửa tiền’ hay ‘chạy của’ Trước hết,

dù có liên quan đến tham nhũng hay không thì những hành vi đó đã vi phạm pháp lệnh về quản lý ngoại hối của Việt Nam Trong trường hợp này, để chống tiêu cực, tham nhũng và

vi phạm pháp luật, các cơ quan điều tra của Việt Nam chắc chắn sẽ nhận được sự ủng hộ và hợp tác của Interpol, các cơ quan quản lý và các NHTM của các nước, buộc chủ sở hữu các khoản tiền này phải tôn trọng pháp luật Ngoài ra, việc chuyển tiền vào các nước khác một cách hợp pháp còn phải tuân thủ yêu cầu luật pháp và các quy định khác của mỗi nước và không đơn giản Ngược lại, nếu chuyển qua các ‘đường dây’ bất hợp pháp sẽ rất rủi ro và các ‘đường dây’ này cũng sẽ tự động ‘biến mất’ khi Việt Nam triệt xóa việc thanh toán trực tiếp bằng ngoại tệ

(1) Giống như đưa tin về ô-tô, xe máy siêu sang, siêu đắt, quảng cáo việc mua máy bay riêng, v.v

(2) Không vì mục đích kinh tế khi chấp nhận lãi suất hoặc lợi tức kỳ vọng thấp hơn đầu tư trong nước.

Trang 9

2.2 Hạn chế tình trạng nắm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp thông qua việc tái áp dụng chế

độ kết hối ngoại tệ và khuyến khích bán ngoại tệ cho các NHTM

Khác với công chúng, việc nắm giữa ngoại tệ của các doanh nghiệp nhằm dự phòng cho nhu cầu sử dụng để nhập khẩu phục vụ hoạt động kinh doanh Số dư tiền gửi ngoại tệ của các tập đoàn, tổng công ty vào cuối tháng 3/2011 là 1,61 tỷ USD(1), trong đó, lượng tiền gửi có kỳ hạn là 376 triệu USD Sau khi được ‘động viên’, các tập đoàn lớn đã bán cho các NHTM

thành công giải quyết vấn đề tỷ giá và vấn đề mất cân đối về ngoại tệ Để phối hợp chính sách điều chỉnh tỷ giá và bảo đảm cân đối cung cầu ngoại tệ, trong các năm từ 1994 đến

1996, Trung quốc đã thực hiện chính sách kết hối ngoại tệ 100%, nghiêm cấm việc giữ và

sử dụng ngoại tệ Đến 2002, Trung Quốc mới cho phép các doanh nghiệp trên được tự giữ ngoại tệ trên tài khoản với mức không quá 20% nguồn thu ngoại tệ từ giao dịch vãng lai Chỉ đến 2007, dự trữ ngoại hối Trung Quốc đạt 1.528,249 tỷ USD, cán cân vãng lai thặng

dư 371,832 tỷ USD, cán cân vốn thặng dư 73,454 tỷ USD, khi đó Trung Quốc mới xóa bỏ chính sách kết hối ngoại tệ(2) Nhờ thực hiện các chính sách quản lý ngoại hối đồng bộ và linh hoạt, Trung Quốc đã thành công trong việc điều hành tỷ giá, giải quyết được các khó khăn về cung cầu ngoại tệ, đảm bảo cung ứng ngoại tệ kịp thời cho nền kinh tế

2.3 Sàng lọc và lựa chọn khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ kết hợp với việc xác định hạn mức cho từng đối tượng khách hàng

Việc sàng lọc khách hàng để giảm đối tượng vay vốn bằng ngoại tệ cần được dựa trên

cơ sở khả năng tái tạo nguốn vốn bằng ngoại tệ cho các NHTM Tiêu chí sàng lọc này hoàn toàn phù hợp với nội dung quy định về đối tượng cho vay vốn bằng ngoại tệ của NHNN hiện nay đồng thời cũng phù hợp với thực tế ở Việt Nam là “xuất khẩu dựa trên nhập khẩu”(3) Thực hiện một cách nghiêm túc việc sàng lọc khách hàng theo tiêu chí này không chỉ giảm bớt nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ thông qua xác định chính xác khách hàng thực sự có nhu cầu chính đáng Khách hàng được lựa chọn cho vay vốn bằng ngoại tệ sẽ chỉ bao gồm những doanh nghiệp có doanh thu bằng ngoại tệ, có khả năng hoàn trả bằng ngoại tệ và khả năng tái tạo nguồn cung ngoại tệ cho NHTM

Sau khi chọn lọc được khách hàng, các NHTM cần xác định hạn mức tín dụng bằng ngoại tệ cho từng khách hàng cụ thể, thậm chí theo các nhu cầu khác nhau như vay ngắn hạn,

mở L/C trả chậm hay bảo lãnh, v.v , dựa trên cơ sở nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và (1) Theo báo cáo về kết quả rà soát của NHNN.

(2) Chiến lược tỷ giá và quản lý ngoại hối của Trung Quốc, 2009.

(3) Phần lớn giá trị xuất khẩu có nguồn gốc từ nhập khẩu, bao gồm nguyên vật liệu và các yếu tố đầu khác.

Trang 10

nhập khẩu Không nên xác định hạn mức và cho vay bằng ngoại tệ chỉ căn cứ vào nhu cầu được đề xuất và giá trị tài sản đảm bảo của doanh nghiệp Làm được như vậy, các NHTM

có thể tiết kiệm được nguồn vốn ngoại tệ và loại bỏ được những hành vi kinh doanh trái đạo đức khi mà chúng ta chưa thể xóa bỏ tình trạng hai tỷ giá hai lãi suất hiện nay Trên cơ sở xác định hạn mức tín dụng ngoại tệ, các NHTM có thể chủ động xây dựng các phương án huy động trong từng thời kỳ để đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng đồng thời hạn chế trạng thái ngoại hối âm (short position) thừa vốn và phải điều chuyển vốn ra nước ngoài

2.4 Hạn chế khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ trung và dài hạn bằng cách khuyến khích vay bằng Đồng Việt Nam

Ngoài việc sàng lọc khách hàng và thiết lập hạn mức tín dụng, nên hạn chế tín dụng ngoại tệ trung và dài hạn, loại hình luôn mang lại sự mất cân đối về kỳ hạn, nguy cơ rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro thanh khoản Vì vậy, một mặt cần hạn chế tối đa nhu cầu và

số lượng khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ với thời hạn trung và dài hạn bằng cách xóa bỏ

sự khác biệt về lãi vay vốn bằng ngoại tệ và nội tệ Nếu còn duy trì chênh lệch lãi suất giữa USD và VND và mức chênh lệch lãi suất rất lớn thì dù biết là có khả năng rủi ro tỷ giá, không ít doanh nghiệp vẫn mạo hiểm vay vốn bằng USD Mặt khác, áp dụng các biện pháp khuyến khích tăng sức hấp dẫn của vốn vay bằng VND như: (1) nâng cao chất lượng dịch

vụ và tăng thêm các sản phẩm tiện ích cho khách hàng vay vốn bằng VND, đặc biệt là tối

ưu hóa quy trình thẩm định tín dụng và các thủ tục giải ngân; (2) chủ động áp dụng lãi suất linh hoạt theo thị trường; (3) thỏa thuận việc hoàn trả trước thời hạn

Ngoài ra, đối với những doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, thay vì vay USD sẽ phải mua USD hoặc sử dụng nguồn ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi để đầu tư Như vậy nêu đáp ứng được nhu cầu mua kỳ hạn của các doanh nghiệp sẽ làm giảm đáng kể sự tăng trưởng của tín dụng ngoại tệ

2.5 Phát triển thị trường ngoại hối nhằm đáp ứng sử dụng ngoại tệ thông qua quan hệ mua - bán tiến, tới xóa bỏ hoàn toàn tín dụng ngoại tệ từ sau năm 2013

Có quan điểm cho rằng, cần có các đối tượng ưu tiên hay một số trường hợp ngoại lệ

do vậy vẫn nên duy trì tín dụng ngoại tệ một cách hạn chế Tuy nhiên, nếu đã có ngoại lệ sẽ không thể thực hiện xóa bỏ một cách nghiêm túc và triệt để Tình trạng Đô-la hóa và sùng bái ngoại tệ sẽ vẫn còn ‘đất sống’ và sẽ vô hiệu hóa những ‘hy sinh’ và cố gắng nhằm ổn định tỷ giá và kinh tế vĩ mô nói chung Tín dụng ngoại tệ rõ ràng mang lại những tác hại nghiêm trọng, không phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể của Việt Nam và cần phải xóa bỏ Sau một thời gian thực hiện hạn chế thành công, cần tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tín dụng ngoại tệ ở Việt Nam, thay vào đó, mọi nhu cầu về ngoại tệ sẽ được giải quyết thông

Ngày đăng: 17/02/2016, 01:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1- ChӍ sӕ tiӅn gӱi ngoҥi tӋ cӫa ViӋt Nam (FCD/M2) - HẠN CHẾ TÍN DỤNG NGOẠI TỆ GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 1 ChӍ sӕ tiӅn gӱi ngoҥi tӋ cӫa ViӋt Nam (FCD/M2) (Trang 3)
Bảng 1: Tăng trưởng tín dụng ngoại tệ của các TCTD - HẠN CHẾ TÍN DỤNG NGOẠI TỆ GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Bảng 1 Tăng trưởng tín dụng ngoại tệ của các TCTD (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w