1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương môn mác lênin

31 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 217,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 Câu 3: Hãy cho biết tại sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế-xh là một quá trinh lịch sự tự nhiên?...6 Câu 4: hãy phân tích các điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sx

Trang 1

Đề cương môn Mác-lênin MỤC LỤC

Nhóm 1: các câu hỏi 5 điểm 2

Câu 1: hãy trình bày quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 2

Câu 2: hãy trình bày nội dung của cặp phạm trù “ cái chung- cái riêng” và “nguyên nhân-kết quả” 4 Câu 3: Hãy cho biết tại sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế-xh là một quá trinh lịch sự tự nhiên? 6

Câu 4: hãy phân tích các điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sx hàng hóa 8

Câu 5: hãy phân tích những đặc điểm kt cơ bản của CN tư bản độc quyền 9

Câu 6: hãy cho biết về sự phân chia giá trị thặng dư giữa các giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản 12

Câu 7: Hãy phân tích nguyên nhân ra đời và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có những biểu hiện chủ yếu nào? 12

Câu 8: hãy phân tích nội dung , ý nghĩa của qui luật lượng chất 17

Câu 9: hẫy phân tích tính tất yếu và đặc trưng cơ bản của thời lỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội 19

Nhóm câu hỏi 2 điểm 20

Câu 1: hãy cho biết nhận thức là gi? Có bào nhiêu trình độ nhận thức? 20

Câu 2: hãy cho biết tại sao nói sx vật chất là cơ sở của sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội? 22

Câu 3: hãy cho biết lượng giá trị hàng hóa là gì? Nhân tố nào ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hóa? 23

Câu 4: hãy làm rõ mâu thuẫn của công thức chung tư bản 24

Câu 5: hãy cho biết thế nào là tích tụ và tập trung tư bản 25

Câu 6: hãy phân tích vấn đề khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản 25

Câu 7: hãy phân tích các mệnh đề: CNXH- tương lai của loài người 26

Câu 8: hãy trình bày những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo 28

Câu 9: hãy làm rõ vấn đề nguồn gốc của ý thức 28

Trang 2

Câu 10: hãy trinh bày những đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật 30

Nhóm 1: các câu hỏi 5 điểm

Câu 1: hãy trình bày quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

a Định nghĩa vật chất: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại

khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"

- Theo địng nghĩa của V.I.Lênin cần phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học, nó chỉ tất cả những gì tác động vào ý thức của chúng ta, giúp hiểu

về sự vật hiện tượng

- Vật chất được thực tại khách quan, tồn tại bên ngoài ý thức, độc lập, không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức con người cho dù con người nhận thức được hay ko nhận thức đc nó

-vật chất có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó tực tiếp hay gián tiếp lên giác quan của con người vật chất là cái được ý thức phản ánh

b Định nghĩa ý thức: Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách

quan vào bộ óc con người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

c Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Theo quan điểm duy vật biện chứng: vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan

hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ đó vật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức

* Vai trò của vật chất đối với ý thức

-Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chật có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:

-Ý thức là sản phẩm của 1 dạng vật chất có tổ chức cao, là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất Do đó, vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức

-Các yếu tố cấu thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức, hoặc là chính bản thân thế giới khách quan hoặc là những dạng tồn tại của vật chất đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức

Trang 3

- Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức.Vật chất là cái có trước,nó sinh ra và quyết định ý thức: Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất :

bộ não ngưòi – cơ quan phản ánh thế giơí xung quanh,sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não ngưòi,tạo thành nguồn gốc tự nhiên Lao động và ngôn ngữ(tiếng nói,chữ viết )trong hoạt động thực tiễn cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành,tồn tại và phát triển của ý thức

-Mặt khác,ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Vật chất là đối tượng,khách thể của ý thức,nó quy định nội dung,hình thức,khả năng và quá trình vận động của ý thức

* Vai trò của ý thức đối với vật chất

Trong mối quan hệ với vật chất; ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thức khách quan

Mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chon phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện… để thực hiện mục tiêu của mình

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo 2 hướng: tích cực và tiêu cực

- Nếu con người nhận thức đúng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan – đó là sự tác động tích cực của ý thức Ngược lai, nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan thì ngay từ đầu con người đã đi ngược các quy luật khách quan hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn

=>Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thể quyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng

-Ý thức do vật chất sinh ra và quy định,nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó.Hơn nữa,sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần,phản ánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động,máy móc,nguyên si thế giới vật chất,vì vậy nó có tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

=>Tuy vậy,sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nó không thể sinh ra hoặc tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất được.Và suy cho cùng,dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản

Trang 4

ánh thế giới vật chất Biểu hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội,trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội,đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối

và tác động trở lại tồn tại xã hội Ngoài ra mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để nghiên cứu,xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn,khách thể và chủ thể,vấn đề chân lý …

Câu 2: hãy trình bày nội dung của cặp phạm trù “ cái chung- cái riêng” và

“nguyên nhân-kết quả”.

Cái chung- cái riêng

1, Khái niệm: - Cái riêng: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ định sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định

- Cái chung: Là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ giống nhau được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ

- Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau được lập lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ

- Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính vốn có chỉ ở mọi sự vật hiện tượng, không lặp lại ở các sự vật hiện tượng khác Nhờ cái đơn nhất mà con người có thể phân biệt được cái riêng này với cái riêng khác

2, Theo quan điểm của CNDVBC mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái

chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan.

-Thứ nhất: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng thông qua cái riêng Điều đó có nghĩa là cái chung thực sự tồn tại, nhưng nó chỉ tồn tại trong cái riêng, thông

qua cái riêng chứ không tồn tại biệt lập, bên ngoài cái riêng, tức mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể.

-Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung Điều đó có ý nghĩa là cái riêng tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa cái

riêng hoàn toàn cô lập với cái khác + Bất kỳ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ dẫn tới cái chung Cái riêng không những chỉ tồn tại mà còn hoàn toàn cô lập với cái khác.

+Cái riêng không những chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung, mà thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa, nó còn liên hệ với cái riêng thuộc loại khác.

Trang 5

-Thứ ba: Cái chung là bộ phận của cái riêng còn cái riêng không ra nhập hết vào cái chung vì bên cạnh các thuộc tính được lặp lại các sự vật khác, tức là bên cạnh cái chung bất cứ cái riêng nào cũng còn chứa đựng những cái đơn nhất tức

là những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ vốn có ở nó và không tồn tại ở bất kỳ sự vật nào khác Cái riêng phong phú hơn cái chung, còn cái chung sâu sắc hơn cái riêng

-Thứ tư: Trong quá trình phát triển khách quan, trong những điều kiện nhất định cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung và ngược lại Sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung đó là sự ra đời của cái mới Sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất đó là sự mất dần đi cái cũ

- Không được tách cái chung ra khỏi cái riêng Không được tuyệt đối hóa cái riêng Muốn tìm ra cái chung phải nghiên cứu từng cái riêng, thông qua cái riêng Phê phán quan điểm sai lầm của phái duy thực: cho rằng chỉ tồn tại cái chung không phụ thuộc vào cái riêng và sinh ra cái riêng Cái riêng thì hoặc là không tồn tại, hoặc nếu có tồn tại thì cũng là do cái chung sinh ra

va chỉ tạm thời Cái riêng sinh ra và chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định rồi mất đi, cái chung mới là cái tồn tại vĩnh viễn Ta phải biết phát hiện ra cái chung gắn liền với bản chất, quy luật vận động phát triển của sự vật.

Khái niệm nguyên nhân và kết quả:

- Nguyên nhân là phạm trù triết học chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một sự biến đổi nhất định

- Kết quả là phạm trù triết học chỉ là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau

3 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả

- Nguyên nhân sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân, khi nguyên nhân đã xuất hiện, đã bắt đầu tác động

-Tuy nhiên không phải mọi sự nối tiếp nhau về mặt thời gian của các sự vật hiện tượng cũng là biểu hiện của mối liên hệ nhân quả Trong hiện thực, mối quan hệ nhân quả biểu hiện hết sức phức tạp Một kết quả thường không phải do một nguyên nhân mà do nhiều nguyên nhân gây ra; đồng thời một nguyên nhân cũng

có thể sản sinh ra nhiều kết quả

- Tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân và sự chuyển hóa của nguyên nhân-kết quả:

Trang 6

Mối liên hệ nhân quả có tính chất tác động qua lại lẫn nhau trong đó không những nguyên nhân sinh ra kết quả mà kết quả còn tác động trở lại đối với nguyên nhân đã sinh ra nó, làm cho những nguyên nhân cũng biến đổi bởi vì nguyên nhân sinh ra kết quả bao giờ cũng là một quá trình

-Trong thế giới vô tận, nguyên nhân sinh ra kết quả, đến lượt nó kết quả chuyển hóa thành nguyên nhân mới sinh ra kết quả mới, là vô tận Chính vì thế, trong thế giới ta không thể chỉ ra được đâu là nguyên nhân đầu tiên và đâu là kết quả cuối cùng Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể diễn ra theo các hướng thuận nghịch khác nhau và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả nhưng vị trí , vai trò của chúng khác nhau

- Mối quan hệ nhân quả đã vạch rõ nguồn gốc của các hiện tượng cụ thể, riêng biệt vì vậy là cơ sở để đánh giá kết quả của sự nhận thức thế giới, hiểu rõ con đường phát triển của khoa học, khắc phục tính hạn chế của các lý luận

- Hiện tượng nào cũng có nguyên nhân, nên muốn hiểu đúng một hiện tượng thì phải tìm hiểu nguyên nhân xuất hiện của nó hoặc muốn xóa bỏ một hiện tượng thì phải xóa bỏ nguyên nhân sản sinh ra nó

- Nếu nguyên nhân chỉ sinh ra kết quả trong những điều kiện nhất định thì phải nghiên cứu điều kiện để thúc đẩy hay kìm hãm sự ra đời của kết quả Phải có quan điểm toàn diện và cụ thể khi nghiên cứu hiện tượng chứ không được vội vàng kết luận về nguyên nhân của hiện tượng đó

Câu 3: Hãy cho biết tại sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế-xh là một quá trinh lịch sự tự nhiên?

Hình thái kt-xh là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất của nó (cơ sở hạ tầng) thích ứng với lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định

và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó

- Nói hình thái kt-xh là một quá trình lịch sử tự nhiên bởi vì: Hình thái kinh

tế-xã hội là một hệ thống, một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp, trong đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc

+Lực lượng sản xuất – là quan hệ giữa người với tự nhiên trong quá trình sản xuất - là nền tảng vật chất-kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế-xã hội.Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế-xã hội Bản thân các lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm riêng của một thời đại nào mà là sản phẩm của cả một quá trình phát triển liên tục từ thấp lên cao qua các thời đại, là sự tiếp biến không ngừng của lịch sử.+Quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất - là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác,

Trang 7

không có những mối quan hệ đó thì không thành xã hội và không có quy luật xã hội Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này

tư tưởng được xây dựng trên những quan hệ vật chất-quan hệ hình thành ngoài

ý chí và ý thức của con người, như một kết quả của sự hoạt động của con người

+Học thuyết hình thái kinh tế–xã hội cho phép đi sâu vào bản chất của quá trình lịch sử, hiểu được logic khách quan của quá trình đó, nhìn thấy sự phát triển của

xã hội loài người như là một quá trình lịch sử tự nhiên, một quá trình diễn ra nhiều mặt và chứa đầy mâu thuẫn, quá trình vận động hợp với quy luật khách quan Đó là những quy luật nội tại, tự thân trong cấu trúc của hình thái kinh tế-

xã hội, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng.+Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã và đang trải qua năm hình thái kinh tế-xã hội khác nhau: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng, mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có những quy luật riêng của nó khi nó phát sinh, phát triển và chuyển sang một hính thái khác cao hơn Đồng thời cũng khẳng định đến sự tồn tại của những quy luật phản ánh những đặc điểm chung của mọi hình thái kinh tế-xã hội, những quy luật phổ biến phát huy tác dụng trong tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử, trong tất cả các hình thái kinh tế-xã hội.+Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất có vai trò quyết định nhất Con người làm ra lực lượng sản xuất bằng năng lực thực tiễn của mình Tuy nhiên, năng lực thực tiễn lại bị quy định bởi nhiều điều kiện khách quan Mỗi thế hệ làm ra lực lượng sản xuất của mình phải dựa trên những lực lượng sản xuất đã đạt được của thế hệ trước ở hình thái kinh tế-xã hội trước đó Vì vậy, bản thân các lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm riêng của thời đại nào, mà là sản phẩm của cả một quá trình phát triển liên tục từ thấp lên cao qua các hình thái kinh tế-xã hội Nhưng, chính tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã quy định một cách khách quan tính chất và trình độ của quan hệ sản xuất, do đó, xét đến cùng lực lượng sản xuất quyết định quá trình vận động phát triển của hình thái kinh tế-xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên

Trang 8

+Sự vận động phát triển thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội từ thấp lên cao trước hết được giải thích bằng sự tác động của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất, một mặt của phương thức sản xuất, là yếu tố đảm bảo tính kế thừa trong sự phát triển tiến lên của lịch sử Quan hệ sản xuất là mặt thứ hai của phương thức sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển của lịch sử.+Lịch sử loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội, nhưng lịch sử cụ thể vô cùng phong phú, không thể xem quá trình lịch

sử là một công thức hoặc như một đường thẳng Thực tế lịch sử diễn ra những hình thức quá độ khác nhau của các dân tộc, một số dân tộc phải trải qua tuần tự các hình thái kinh tế-xã hội, một số dân tộc lại bỏ qua một số hình thái để đạt được những bước phát triển nhanh hơn

Vd: việt nam bỏ qua chế độ chiếm hữu nô lệ và tư bản chủ nghĩa

-Nhân loại hiện nay đang và sẽ trải qua hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa có ba giai đoạn phát triển: Thời kỳ quá độ từ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội; Chủ nghĩa xã hội; Chủ nghĩa Cộng Sản

Câu 4: hãy phân tích các điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sx hàng hóa

-Điều kiện ra đời xản xuất hàng hóa:

+ Có sự phân công lao động xã hội : tức là có sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động XH vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác Sự phân chia lao động XH sẽ làm cho việc trao đổi sản phẩm trở nên tất yếu vì khi đó mỗi người khi đó sẽ chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm trong khi họ có nhu cầu

sử dụng nhiều loại sản phẩm khác nhau Do đó, tất yếu dẫn đến trao đổi mua bán Sự phân công lao động cũng làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày càng phổ biến Đây

là tiền đề, cơ sở cho sản xuất hàng hoá

+ Chế độ về tư hữu về tư liệu sản xuất, hay tính chất tư nhân của quá trình lao động Phải có sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất về mặt kinh tế, tức là những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định

Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc do họ chi phối Trong lịch sử,

sự tách biệt này là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định còn trong nền sản xuất hiện đại, sự tách biệt này còn do các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền s/d đối với tư liệu sản xuất quy định

Đây là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hoá Thiếu một trong hai điều kiện trên sẽ không có sản xuất hàng hoá

Trang 9

- So với sản xuất tự cung tự cấp thì sản xuất hàng hoá có những đặng trưng và

ưu thế hơn hẳn

+Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở Đồng thời, s/x hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động xh, chuyên môn hoá s/x ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc Từ đó, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xh được đáp ứng đầy đủ hơn +Trong nền s/x hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nguồn lực

và nhu cầu của mỗi cá nhân hay mỗi cơ sở mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực xh Từ đó, tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu KH – KT vào s/x, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ s/x nhỏ sang s/x lớn Mục đích của s/x hàng hoá để thoả mãn nhu cầu của người khác, của thị trường không phải để thoả mãn nhu cầu của bản thân người s/x như trong kinh

tế tự nhiên Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy s/x phát triển

+Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí s/x, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Nhờ đó, lực lượng s/x ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao

+Bên cạnh đó sự cạnh tranh trên thị trường giữa các đối thủ ngày càng gay gắt, buộc mỗi doanh nghiệp phải nhậy bén trong kinh doanh, ko chỉ cải tiến kỹ

thuật, hợp lý hoá s/x để tăng năng suất lao động, nhằm tiêu thụ được hàng hoá

mà còn thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng s/x phát triển mạnh mẽ

+Sự phát triển s/x, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước ko chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn Sự phát triển của s/x xã hội với tính chất "mở" của các quan hệ hàng hoá tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát triển Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân

Câu 5: hãy phân tích những đặc điểm kt cơ bản của CN tư bản độc quyền.

1.Sự tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền : tích tụ và tập trung s/x cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc điểm kt cơ bản của chủ nghĩa

a Sự tập trung sản xuất: là quá trình thay thế các xí nghiệp nhỏ, bố trí phân tán bằng cách xí nghiệp lớn có đông công nhân và làm ra một khốI lượng sản phẩm lớn Chính sự tích tụ và tập trung tư bản đã dẫn tớI sự tích tụ và tập trung sản

Trang 10

+Syndicate : là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn, ổn định hơn Cartel Các xí nghiệp tham gia Syndicate vẫn giữ độc lập về s/x nhưng mất độc lập về lưu thông, mọi việc mua bán do 1 ban quản trị chung đảm nhận mục đích là thông nhất đầu mối mua và bán để mua nguyên vật liệu với giá re và bán hàng hóa với giá cao để thu lợi nhuận độc quyền cao.

+Trust :là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn 2 loại trên nhắm thống nhất cả việc s/x ,tiêu thụ, tài vụ đều do 1 ban quản trị quản lý Các nhà tư bản tham gia trở thành cổ đông thu lợi nhuận cao theo số lượng cổ phần

+Consortium : là hình thức tổ chức độc quyền cao nhất có trình độ và quy mô lớn Ko chỉ các các nhà tư lớn tham gia Consortium mà còn cả các Cartel, Syndicate, Trust thuộc các ngành khác nhau nhưng liên quan đến nhau về kt- kỹ thuật Với kiểu liên kết dọc như vậy Consortium có thể có hàng trăm xí nghiệp liên kết trên cơ sở hòa toàn phụ thuộc tài chính vào 1 nhóm tư bản kếch sù

Độc quyền và cạnh tranh là 2 mặt trái ngược nhau song ở các nước đế quốc khi xuất hiện các tổ chức độc quyền thì không thủ tiêu được cạnh tranh mà lạI làm

2 Tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính

a Vai trò mới của tư bản ngân hàng Sự xuất hiện, phát triển các tỏ chức độc quyền trong ngân hàng đã làm thay đổi quan hệ giữa tư bản ngân hàng và tư bản công ngiệp làm cho ngân hàng có vai trò mới ngân hàng từ chỗ chỉ là trung gian trong việc thanh toán tín dụng, nay đã nắm được hầu hết tư bản tiền tệ của

xh nên có quyền lực vạn năng, khống chế mọi hđ của nền kt tư bản chủ nghĩa.V.I.Lênin nói « tư bản tài chính là kết quả cuea sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư bản của những liên

Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, khi trong công nghiệp diễn ra tích

tụ và tập trung sản xuất thì trong ngân hàng cũng có tích tụ và tập trung tư bản, làm hình thành nên các ngân hàng lớn cạnh tranh với nhau – các tổ chức độc

Trang 11

quyền trong ngân hàng.

b Tư bản tài chính

Tư bản tài chính là một loại tư bản được hình thành trên cơ sở sự xâm nhập lẫn nhau giữa tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng Tư bản ngân hàng với vai trò và địa vị mới của mình, đã cử người tham gia vào các tổ chức độc quyền công nghiệp để theo dõi việc sử dụng vốn vay

Sự phát triển của tư bản tài chính đãn đến hình thành 1 nhóm nhỏ độc quyền, chi phối toàn xh tư bản gọi là bọn đầu sỏ tài chính Nhóm nhỏ này thiết lập sự thống trị của mình thông qua chế độ tham dự khống chế các công ty lớn và các công ty con khác Nhờ theo phương pháp tập đoàn theo kiểu móc xích như vaajycasc nhà tư bản độc quyền tài chính có thể khống chế và điều tiết được 1 lượng tư bản lớn gấp nhiều lần về mặt chính trị, nhóm đầu sỏ tài chính chi phối mọi hđcủa các cơ quan nhà nước, biến nhà nước tư sản thành công cụ phục vụ cho lợi ích của chúng Sự thống trị của nhóm tài phiệt đa làm nảy sinh chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quân phiệt và nhiều chủ nhĩa phản động khác cùng chạy đua

vũ trang gây chiến tranh xâm lược, bóc lột các nước đang và chậm phát triển

3 Xuất khẩu tư bản

a Xuất khẩu hàng hóa

Xuất khẩu hàng hóa là thủ đoạn để các nước tư bản tiến hành bóc lột các nước chậm phát triển thông qua trao đổI không ngang giá

b Xuất khẩu tư bản

Xuất khẩu tư bản cũng là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhưng được tiến hành dướI hình thức đầu tư tư bản ra nước ngoài để bóc lột giá trị thặng dư và một số nguồn lợI khác ở các nước nhập khẩu tư bản Đây thực chất là công cụ để các tập đoàn tư bản bóc lột các nước chậm phát triển

Xuất khẩu tư bản là một tất yếu trong thờI kì chủ nghĩa tư bản độc quyền

4 Sự phân chia thế giới về kinh tế

Trong thờI kì tư bản tự do cạnh tranh, lượng hàng hóa sản xuất ra chưa lớn Song đến thờI chủ nghĩa tư bản độc quyền, lượng hàng hóa được sản xuất đã tăng chóng mặt, làm nảy sinh nhu cầu về thị trường và nguyên liệu ngoài nước Mặt khác, hàng hóa đem bán ở nước ngoài thu được lợi nhuận lớn hơn so với hàng hóa đem bán trong nước Do tầm quan trọng của thị trường bên ngoài, giữa các nước đế quốc diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt để giành giật thị trường thế giớI, hình thành nên những thỏa thuận có tính chất lũng đoạn giữa các tổ chức độc quyền trong việc sản xuất và tiêu thụ một số loạI hàng hóa, tạo nên những tổ chức độc quyền quốc tế - liên minh giữa các tổ chức độc quyền lớn của các nước để phân chia thị trường thế giớI, độc chiếm nguồn nguyên liệu, quy định quy mô sản xuất của từng tổ chức, định ra giá cả độc quyền nhằm thu lợIi nhuận độc quyền cao

5 Sự phân chia thế giới về lãnh thổ

Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ là hệ quả tất yếu của sự phân chia thế giới

Trang 12

về kinh tế, biểu hiện ở việc các nước đế quốc xâm chiếm và thuộc địa hóa

những nước chậm phát triển hòng độc chiếm nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hàng hóa và địa điểm lập căn cứ quân sự

Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản ở các nước nói chung diễn ra không đều; có những nước tư bản ra đời sau nhưng kinh tế lại phát triển vượt bậc, muốn đấu tranh để phân chia lạ thế giới Phương pháp phổ biến là chiến tranh

Câu 6: hãy cho biết về sự phân chia giá trị thặng dư giữa các giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản.

-Xét thuần túy trong lĩnh vực kinh tế, công thức trên cho thấy bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào có tiền (vốn) được đưa vào trong quá trình sản xuất và kinh doanh trực tiếp hay gián tiếp như thông qua đầu tư chứng khoán, thậm chí gửi ngân hàng sẽ sinh lời Đồng tiền chỉ trở thành công cụ sinh lời nếu đầu tư vào sản xuất hay kinh doanh Mỗi cá nhân đều có thể trở thành nhà tư bản nếu biết

sử dụng hợp lý tiền của mình trong đầu tư kinh doanh Nếu chỉ để tích lũy thuần túy thì đó là đồng tiền chết, không những không có lợi cho cá nhân đó mà còn không có lợi cho những người khác cần vốn để sản xuất

* Trong bất kỳ xã hội nào cũng cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư, nếu áp dụng được các công nghệ sản xuất tiên tiến, sử dụng được tri thức, trí tuệ vào trong quá trình sản xuất sẽ làm tăng giá trị thặng dư mà không cần phải kéo dài thời gian lao động hay cường độ lao động ảnh hưởng đến những người sản xuất

* Công thức cũng chỉ ra cách thức tích lũy làm tăng số tiền, là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, phát triển quy mô sản xuất, tăng trưởng kinh tế

Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, quy luật lợi nhuân độc

quyền cao là hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư

Câu 7: Hãy phân tích nguyên nhân ra đời và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có những biểu hiện chủ yếu nào?

Nguyên nhân ra đời: Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ

XIX đầu thế kỷ XX do những nguyên nhân chủ yếu sau:

.- Vào 30 năm cuối của thế kỷ XIX, Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật mới xuất hiện như lò luyện kim mới Betsơme, Máctanh, Tômát đã tạo ra sản lượng lớn gang thép với chất lượng cao phát hiện ra hoá chất mới như axít sunphuaric (H2SO4), thuốc nhuộm ; máy móc mới ra đời: động cơ điêzen, máy phát điện, máy tiện, máy phay ; phát triển những phương tiện vận tải mới: xe hơi, tàu thuỷ, xe điện, máy bay

và đặc biệt là đường sắt Những thành tựu khoa học kỹ thuật này, một mặt làm xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi xí nghiệp phải có quy mô lớn; mặt khác, nó dẫn đến tăng năng suất lao động, tăng khả năng tích lũy tư bản, đẩy

Trang 13

nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy phát triển sản xuất lớn, hình thành các xí nghiệp có quy mô lớn

- Trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích lũy ngày càng mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn

- Cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản phải tích cực cải tiến kỹ thuật, tăng quy mô tích lũy để thắng thế trong cạnh tranh Đồng thời, cạnh tranh gay gắt làm cho các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản, còn các nhà tư bản lớn phát tài, làm giàu với số tư bản tập trung và quy mô xí nghiệp ngày càng to lớn

- Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa làm phá sản hàng loạt xí nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung tư bản

- Sự phát triển của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa trở thành đòn bẩy mạnh

mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền

Từ những nguyên nhân trên, V.I Lênin khẳng định: " tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền"

Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước: Chủ nghĩa tư bản độc

quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư sản thành một thiết chế và thể chế thống nhất nhằm phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản.Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa

tư bản độc quyền (chủ nghĩa đế quốc) Nó là sự thống nhất của ba quá trình gắn

bó chặt chẽ với nhau: tăng sức mạnh của các tổ chức độc quyền, tăng vai trò can thiệp của nhà nước vào kinh tế, kết hợp sức mạnh của độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước trong một cơ chế thống nhất và bộ máy nhà nước phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền

V.I Lênin chỉ ra rằng: "Bọn đầu sỏ tài chính dùng một mạng lưới dày đặc những quan hệ lệ thuộc để bao trùm hết thảy các thiết chế kinh tế và chính trị

đó là biểu hiện rõ rệt nhất của sự độc quyền ấy"

Trong cơ cấu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, nhà nước đã trở thành một tập thể tư bản khổng lồ Nó cũng là chủ sở hữu những xí nghiệp, cũng tiến hành kinh doanh, bóc lột lao động làm thuê như một nhà tư bản thông thường Nhưng điểm khác biệt là ở chỗ: ngoài chức năng một nhà tư bản thông thường, nhà nước còn có chức năng chính trị và các công cụ trấn áp xã hội như quân đội,

Trang 14

cảnh sát, nhà tù Ph Ăngghen cũng cho rằng nhà nước đó vẫn là nhà nước của các nhà tư bản, là nhà tư bản tập thể lý tưởng và nhà nước ấy càng chuyển nhiều lực lượng sản xuất thành tài sản của nó bao nhiêu thì nó lại càng biến thành nhà

tư bản tập thể thực sự bấy nhiêu

Như vậy, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội chứ không phải là một chính sách trong giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản

Bất cứ nhà nước nào cũng có vai trò kinh tế nhất định đối với xã hội mà nó thống trị, song ở mỗi chế độ xã hội, vai trò kinh tế của nhà nước có sự biến đổi thích hợp đối với xã hội đó Các nhà nước trước chủ nghĩa tư bản chủ yếu can thiệp bằng bạo lực và theo lối cưỡng bức siêu kinh tế Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, nhà nước tư sản ở bên trên, bên ngoài quá trình kinh tế, vai trò của nhà nước chỉ dừng lại ở việc điều tiết bằng thuế và pháp luật Ngày nay vai trò của nhà nước tư sản đã có sự biến đổi, không chỉ can thiệp vào nền sản xuất xã hội bằng thuế, luật pháp mà còn có vai trò tổ chức và quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước, điều tiết bằng các biện pháp đòn bẩy kinh tế vào tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất: sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nhằm duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, làm cho chủ nghĩa tư bản thích nghi với điều kiện lịch sử mới

Những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nướcSự kết

hợp về nhân sự giữa tổ chức độc quyền và nhà nước

-V.I Lênin đã từng nhấn mạnh rằng sự liên minh cá nhân của các ngân hàng với công nghiệp được bổ sung bằng sự liên minh cá nhân của ngân hàng và công nghiệp với chính phủ/Sự kết hợp về nhân sự thực hiện thông qua các đảng phái

tư sản Chính các đảng phái này đã tạo ra cho tư bản độc quyền một cơ sở xã hội để thực hiện sự thống trị và trực tiếp xây dựng đội ngũ công chức cho bộ máy nhà nước Các hội chủ xí nghiệp này trở thành lực lượng chính trị, kinh tế

to lớn, là chỗ dựa cho chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước Các hội chủ này hoạt động thông qua các đảng phái của giai cấp tư sản, cung cấp kinh phí cho các đảng, quyết định về mặt nhân sự và đường lối chính trị, kinh tế của các đảng, tham gia vào việc thành lập bộ máy nhà nước ở các cấp +Mặt khác, chúng còn lập ra các uỷ ban tư vấn bên cạnh các bộ nhằm "lái" hoạt động của nhà nước theo chiến lược của mình Thông qua các hội chủ, một mặt các đại biểu của các tổ chức độc quyền tham gia vào bộ máy nhà nước với những cương vị khác nhau; mặt khác, các quan chức và nhân viên chính phủ được cài vào các ban quản trị của các tổ chức độc quyền, giữ những chức vụ trọng yếu chính thức Sự thâm nhập lẫn nhau này (còn gọi là sự kết hợp) đã tạo ra những biểu hiện mới trong mối quan hệ giữa các tổ chức độc quyền và cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương

Trang 15

-Sở hữu độc quyền nhà nước là sở hữu tập thể của giai cấp tư bản độc quyền có nhiệm vụ ủng hộ và phục vụ lợi ích của tư bản độc quyền nhằm duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản Nó biểu hiện không những ở chỗ sở hữu nhà nước tăng lên mà còn ở sự tăng cường mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và sở hữu độc quyền tư nhân, hai loại sở hữu này đan kết với nhau trong quá trình tuần hoàn của tổng tư bản xã hội.

+Sở hữu nhà nước không chỉ bao gồm những động sản và bất động sản cần cho hoạt động của bộ máy nhà nước, mà gồm cả những doanh nghiệp nhà nước trong công nghiệp và trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông vận tải, giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội trong đó ngân sách nhà nước là bộ phận quan trọng nhất

+Sở hữu nhà nước được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau: xây dựng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách; quốc hữu hoá các xí nghiệp tư nhân bằng cách mua lại; nhà nước mua cổ phần của các doanh nghiệp tư nhân;

mở rộng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn tích lũy của các doanh nghiệp tư nhân

-Một trong những hình thức biểu hiện quan trọng của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự điều tiết quá trình kinh tế Hệ thống điều tiết của nhà nước

tư sản hình thành một tổng thể những thiết chế và thể chế kinh tế của nhà nước

Nó bao gồm bộ máy quản lý gắn với hệ thống chính sách, công cụ có khả năng điều tiết sự vận động của toàn bộ nền kinh tế ,toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội Sự điều tiết kinh tế của nhà nước được thực hiện dưới nhiều hình thức như: hướng dẫn, kiểm soát, uốn nắn những lệch lạc bằng các công cụ kinh tế và các công cụ hành chính - pháp lý, bằng cả ưu đãi và trừng phạt; bằng những giải pháp chiến lược dài hạn như lập chương trình, kế hoạch tổng thể phát triển kinh

tế, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, bảo hiểm xã hội và bằng cả các giải pháp ngắn hạn

+Các chính sách kinh tế của nhà nước tư sản là sự thể hiện rõ nét nhất sự điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước Chúng bao gồm nhiều lĩnh vực như chính sách chống khủng hoảng chu kỳ, chống lạm phát, chính sách

về tăng trưởng kinh tế, chính sách xã hội, chính sách kinh tế đối ngoại Các công cụ chủ yếu của nhà nước tư sản để điều tiết kinh tế và thực hiện các chính sách kinh tế như ngân sách, thuế, hệ thống tiền tệ - tín dụng, các doanh nghiệp nhà nước, kế hoạch hoá hay chương trình hoá kinh tế và các công cụ hành chính

Ngày đăng: 01/07/2016, 17:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w