1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC

96 652 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢN ĐỒ HỌC 1.1.1. Khái niệm Định nghĩa chặt chẽ và hoàn chỉnh do Giáo sư K.A. Salishev đưa ra, được nhiều người thừa nhận: “Bản đồ học là khoa học về sự nghiên cứu và phản ánh sự phân bố không gian, sự phối hợp và sự liên kết lẫn nhau của các hiện tượng tự nhiên và xã hội (cả những biến đổi của chúng theo thời gian) bằng các mô hình ký hiệu hình tượng đặc biệt sự biểu hiện bản đồ” Phân tích định nghĩa + Định nghĩa đã bao hàm trong nó những bản đồ địa lí về Trái Đất và bản đồ các hành tinh khác. + Mở rộng đối với tất cả các sản phẩm bản đồ khác như Quả cầu địa lí, bản đồ nổi, biểu đồ khối, bản đồ số v.v... + Định nghĩa này không những xác định Bản đồ học là một khoa học độc lập thuộc lĩnh vực các khoa học tự nhiên mà còn chỉ ra Phương pháp bản đồ là một dạng đặc biệt của mô hình hoá. Năm 1995, tại Bacxêlôna Tây Ban Nha, đại hội lần thứ 10 Hội Bản đồ thế giới đã đưa ra định nghĩa: Bản đồ học là ngành khoa học giải quyết những vấn đề lí luận, sản xuất, phổ biến và nghiên cứu về bản đồ. Với định nghĩa này, vai trò và chức năng của Bản đồ học được phản ánh rõ ràng và mở rộng hơn. Phân biệt khái niệm. + “Bản đồ học” và “Bản đồ” không phải là đồng nhất. + Bản đồ học là một môn khoa học trong đó có hệ thống kiến thức lí luận được tạo ra với sự tham gia của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau, là các tác phẩm khoa học. + Bản đồ là sự hiện diện điều kiện rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của Bản đồ học. Định nghĩa chặt chẽ và hoàn chỉnh do Giáo sư K.A. Salishev đưa ra, được nhiều người thừa nhận. 1.1.2. Đối tượng nghiên cứu. Bản đồ học có đối tượng nhận thức là không gian cụ thể của các đối tượng địa lí và sự biến đổi của chúng theo thời gian. Bản đồ học là khoa học về các bản đồ địa lí. Bản đồ địa lí là đối tượng nhận thức của khoa học bản đồ. 1.1.3. Mối quan hệ giữa bản đồ học với các môn khoa học khác. Bản đồ học có liên quan chặt chẽ với nhiều môn khoa học khác, đặc biệt là với các môn Trắc địa, Thiên văn học, Địa lý học… Những mối liên hệ đó có tính chất hai chiều. Bản đồ học dùng kết quả nghiên cứu của các môn khoa học khác để soạn thảo nội dung bản đồ hoặc làm cơ sở toán học để thiết kế nội dung bản đồ + Môn trắc địa cao cấp, thiên văn học cung cấp cho bản đồ những số liệu về hình dạng, kích thước Trái đất, toạ độ các điểm của lưới khống chế đo đạc. + Trắc địa cơ sở, trắc địa ảnh bằng phương pháp đo vẽ khác nhau cung cấp cho bản đồ học những tài liệu bản đồ đầu tiên để nghiên cứu bề mặt Trái đất và là tài liệu gốc để xây dựng, thành lập các bản đồ khác. + Địa lý học nghiên cứu bản chất của các hiện tượng tự nhiên – kinh tế xã hội, nguồn gốc của chúng, những mối liên quan và sự phân bố của chúng trên bề mặt đất. Ngoài ra, bản đồ học còn liên hệ với các ngành khoa học khác: Địa chất, thổ nhưỡng, lịch sử…

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA TRẮC ĐỊA – BẢN ĐỒ

………***………

BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản lý Đất đai)

GV Bùi Thị Thúy Đào

Bộ môn Ảnh – Bản đồ

Hà Nội 12/2015

Trang 2

C hương 1 TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢN ĐỒ HỌC

1.1.1 Khái niệm

Định nghĩa chặt chẽ và hoàn chỉnh do Giáo sư K.A Salishev đưa ra, được nhiều người

thừa nhận: “Bản đồ học là khoa học về sự nghiên cứu và phản ánh sự phân bố không gian,

sự phối hợp và sự liên kết lẫn nhau của các hiện tượng tự nhiên và xã hội (cả những biến đổi của chúng theo thời gian) bằng các mô hình ký hiệu hình tượng đặc biệt - sự biểu hiện bản đồ”

- Năm 1995, tại Bacxêlôna - Tây Ban Nha, đại hội lần thứ 10 Hội Bản đồ thế giới đã

đưa ra định nghĩa: "Bản đồ học là ngành khoa học giải quyết những vấn đề lí luận, sản

xuất, phổ biến và nghiên cứu về bản đồ" Với định nghĩa này, vai trò và chức năng của Bản

+ Bản đồ là sự hiện diện điều kiện rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của Bản

đồ học Định nghĩa chặt chẽ và hoàn chỉnh do Giáo sư K.A Salishev đưa ra, được nhiềungười thừa nhận

1.1.2 Đối tượng nghiên cứu.

Trang 3

Bản đồ học có đối tượng nhận thức là không gian cụ thể của các đối tượng địa lí và sựbiến đổi của chúng theo thời gian.

Bản đồ học là khoa học về các bản đồ địa lí Bản đồ địa lí là đối tượng nhận thức củakhoa học bản đồ

1.1.3 Mối quan hệ giữa bản đồ học với các môn khoa học khác.

Bản đồ học có liên quan chặt chẽ với nhiều môn khoa học khác, đặc biệt là với cácmôn Trắc địa, Thiên văn học, Địa lý học… Những mối liên hệ đó có tính chất hai chiều.Bản đồ học dùng kết quả nghiên cứu của các môn khoa học khác để soạn thảo nộidung bản đồ hoặc làm cơ sở toán học để thiết kế nội dung bản đồ

+ Môn trắc địa cao cấp, thiên văn học cung cấp cho bản đồ những số liệu về hìnhdạng, kích thước Trái đất, toạ độ các điểm của lưới khống chế đo đạc

+ Trắc địa cơ sở, trắc địa ảnh bằng phương pháp đo vẽ khác nhau cung cấp cho bản đồhọc những tài liệu bản đồ đầu tiên để nghiên cứu bề mặt Trái đất và là tài liệu gốc để xâydựng, thành lập các bản đồ khác

+ Địa lý học nghiên cứu bản chất của các hiện tượng tự nhiên – kinh tế - xã hội, nguồngốc của chúng, những mối liên quan và sự phân bố của chúng trên bề mặt đất

Ngoài ra, bản đồ học còn liên hệ với các ngành khoa học khác: Địa chất, thổ nhưỡng,lịch sử…

b Nội dung

Trang 4

Mỗi bản đồ đều được xây dựng theo một quy luật toán học nhất định, trên đó, sự thểhiện nội dung bản đồ là bộ phận chủ yếu của bản đồ Đó là sự phân bố, các tính chất, nhữngmối quan hệ giữa các đối tượng và các hiện tượng được biểu thị Cụ thể, nội dung của bản

đồ địa lý bao gồm các yếu tố sau:

- Yếu tố cơ sở toán học

Bao gồm: Khung bản đồ, lưói kinh vĩ tuyến, lưới toạ độ vuông góc, phiên hiệu, tỷ lệbản đồ, các điểm khống chế đo đạc và một số thành phần khác

- Các yếu tố địa lý tự nhiên

+ Hệ thống thuỷ hệ bao gồm các đối tượng như biển, sông ngòi, hồ ao, kênh rạch,mương máng, nguồn nước

+ Địa hình mặt đất (còn gọi là dáng đất) và chất đất: biểu thị mức độ mấp mô lồi lõmcủa bề mặt trái đất, như các dạng địa hình, các dãy núi, đồi, cao nguyên, đồng bằng, địa hìnhkhe rãnh, vách đá, đầm lầy, bãi cát, xa mạc

+ Lớp phủ thực vật: Biểu thị các loại rừng, cây trồng, lúa, rau, màu, vườn cây ăn quả

- Các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội

+ Dân cư: biểu thị các thành phố, thị xã, thị trấn, các làng bản, thôn xóm, số dân + Các đối tượng thuộc lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội như các trung tâm côngnghiệp, nông nghiệp, các công trình văn hoá công cộng như các viện bảo tàng, nhà hát, sânvận động, các di tích lịch sử, lăng tẩm, đình chùa, nhà thờ, tượng đài kỷ niệm, nghĩa trangliệt sỹ v.v

+ Hệ thống đường giao thông bao gồm tất cả các loại đường như đường bộ, đườngthuỷ, đường hàng không

+ Các đường ranh giới bao gồm: mạng lưới địa giới hành chính các cấp như đườngbiên giới, đường địa giới tỉnh, huyện, xã và các loại đường ranh giới khác như ranh giớigiữa các khu vực kinh tế, văn hoá, xã hội, ranh giới khu vực cấm v.v

Trang 5

Hình 1.1 Một phần của bảng chú giải cho bản đồ địa hình

Ở một số bản đồ, đặc biệt là các bản đồ chuyên đề, để làm tăng thêm tính phong phúcủa nội dung bản đồ, những người thành lập bản đồ đưa thêm vào chỗ trống nằm trongkhung bản đồ những bản đồ phụ tỷ lệ nhỏ hơn và các cấu trúc đồ thị như mặt cắt, các biểu

đồ, bảng biểu tra cứu có nội dung gần gũi và quan hệ với nội dung bản đồ Những nộidung này được xem là yếu tố bổ sung

1.2.2 Đặc điểm và tính chất.

a Đặc điểm.

- Bản đồ được thành lập trên một cơ sở toán học nhất định

Cơ sở toán học của bản đồ nhằm thiết lập mối quan hệ hàm số giữa tọa độ địa lýcủa các điểm trên bề mặt đất và tọa độ vuông góc của các điểm tương ứng đó trên mặtphẳng tức là trên tờ bản đồ Cơ sở toán học của bản đồ gồm có: tỷ lệ bản đồ, các phép chiếuhình bản đồ, khung và bố cục bản đồ, trong đó tỷ lệ bản đồ và phép chiếu hình bản đồ làhai yếu tố quan trọng nhất Thiết lập cơ sở toán học của bản đồ (chủ yếu là lưới chiếu bảnđồ) thực hiện theo trình tự sau:

+ Chiếu mặt đất và các đối tượng trên bề mặt đất lên mặt toán học của Trái đất Bề mặttoán học đầu tiên của Trái đất là mặt Geoid Về sau, người ta thay mặt Geoid bằng mặtEllipsoid hoặc mặt cầu tùy thuộc vào độ chính xác của bản đồ

+ Chuyển mặt ellipsoid hay mặt cầu lên mặt phẳng Quá trình này làm xuất hiện nhữngkhe hở gây ra hiện tượng biến dạng và không liên tục Để đảm bảo tính liên tục khi chuyển

từ mặt ellipsoid hay mặt cầu lên mặt phẳng người ta áp dụng các phương pháp biểu diễnbằng toán học mà thường được gọi là các phép chiếu hình bản đồ Kết quả chúng ta nhậnđược là lưới chiếu bản đồ

Trang 6

- Bản đồ sử dụng ngôn ngữ hình ảnh - ký hiệu

Các yếu tố địa hình, địa vật trên bề mặt đất rất phức tạp và đa dạng Có địa vậthình dạng giống nhau nhưng bản chất lại khác nhau, hoặc có hình dạng khác nhau, hoặc cóhình dạng khác nhau nhưng lại có bản chất giống nhau, đồng thời lại có những đối tượng,hiện tượng mà ta không nhìn thấy được Vì vậy, để biểu diễn chúng được đúng đắn trên bản

đồ ta phải sử dụng những ký hiệu đặc biệt, gọi là ký hiệu quy ước

Ký hiệu quy ước là tập hợp các hình vẽ, đồ thị, ghi chú và màu sắc dùng để biểu diễnhình dạng, kích thước, đặc tính và mối quan hệ của các đối tượng, hiện tượng trên mặt đấtlên bản đồ Ký hiệu quy ước cung cấp cho người đọc bản đồ những hiểu biết về các hiệntượng tự nhiên, kinh tế xã hội đồng thời thiết lập trên bản đồ một mô hình phản ánh thực tếkhách quan của bề mặt Trái đất

Khi dùng ký hiệu quy ước để thể hiện bản đồ có nhiều ưu điểm sau đây:

+ Giảm bớt trọng tải bản đồ mà vẫn giữ được những chi tiết cần thiết nhất và quantrọng nhất Điều này những bức tranh hay bức ảnh thông thường không thể biểu hiện được,

vì đối với các bức tranh, tỷ lệ càng nhỏ thì các chi tiết của địa vật càng nhỏ và trở nên khóđọc, đặc biệt khi ở tỷ lệ 1:6.000 - 1:7.000 thì thực tế không thể nào đọc được

+ Biểu diễn độ cao, độ sâu địa hình bằng các đường đồng mức

+ Biểu diễn được đặc tính bên trong của đối tượng, hiện tượng (nhiệt độ, áp suất, độmặn của nước biển, tính chất của đất và động thực vật, )

+ Biểu diễn những hiện tượng mà ta không tri giác được bằng các giác quan thôngthường như: trọng trường Trái đất, độ lệch từ thiên,

+ Loại bỏ các chi tiết ít quan trọng đồng thời nhấn mạnh những dấu hiệu đặc trưngquan trọng của đối tượng, hiện tượng (ví dụ: vùng dân cư theo số dân, vùng dân cư theo ýnghĩa hành chính v.v…)

Trang 7

Tổng quát hóa bản đồ chỉ giữ lại và làm nổi bật những khía cạnh, những nét đặctrưng nhất của đối tượng, cho phép phân biệt được trên bản đồ những cái chủ yếu, cái thứyếu, tìm thấy ở những đối tượng riêng lẻ những đặc tính chung, cho phép ta hiểu đượcnhững hình ảnh rõ ràng và sâu sắc của địa phương Tổng quát hóa, trừu tượng hóa bản đồ đểnhận thức, đem đến cho bản đồ một phẩm chất mới, làm cho những bản đồ với mục đích,chủ đề, tỷ lệ khác nhau có nội dung khác nhau

Như vậy, khác với các loại hình nghệ thuật khác mô tả hình ảnh Trái đất: ảnh hàng

không, ảnh vũ trụ, tranh ảnh, các văn bản mô tả… Bản đồ có các đặc điểm riêng sau:

Mỗi bản đồ đều được xây dựng trên một cơ sở toán học xác định

Các đối tượng, hiện tượng được biểu thị trên bản đồ phải trải qua quá trình lựa chọn vàkhái quát nhất định

Các đối tượng, hiện tượng được biểu thị bằng ngôn ngữ bản đồ, đó là hệ thống ký hiệuqui ước

b Tính chất.

Bản đồ có 11 tính chất: Tính trừu tượng, Tính lựa chọn, Tính tổng hợp, Tính đo được,Tính đơn trị, Tính liên tục của sự biểu hiện, Tính trực quan, Tính bao quát, Tính tương tự vềkhông gian và thời gian, Sự phù hợp nội dung, Tính logic Nhưng có 3 tính chất cơ bản là:Tính trực quan, tính đo được và tính thông tin

- Tính trực quan của bản đồ: Bản đồ cho ta khả năng bao quát và nhận biết nhanhchóng những yếu tố chủ yếu và quan trọng nhất của nội dung bản đồ Một trong những tínhchất ưu việt của bản đồ là khả năng bao quát, biến cái không nhìn thấy thành cái nhìn thấyđược Bản đồ tạo ra mô hình trực quan của lãnh thổ, nó phản ánh các tri thức về các đốitượng hoặc các hiện tượng biểu thị Bằng bản đồ, người sử dụng có thể tìm ra được nhữngquy luật của sự phân bố các đối tượng và hiện tượng trên mặt đất

- Tính đo được: Đó là một tính chất quan trọng của bản đồ Tính này có liên quan chặtchẽ với cơ sở toán học của nó Trên bản đồ, người sử dụng có khả năng xác định được rấtnhiều các trị số khác nhau như: Tọa độ, độ cao, khoảng cách, diện tích, thể tích, góc,phương hướng và nhiều trị số khác

- Tính thông tin của bản đồ: Đó là khả năng lưu trữ và truyền đạt cho người đọc nhữngtin tức khác nhau về các đối tượng và các hiện tượng được biểu thị

Trang 8

a Phân loại theo đối tượng thể hiện.

Theo các đối tượng thể hiện thì các bản đồ được phân thành 2 nhóm: Các bản đồ địa lý

Trong đó, các bản đồ địa lý là loại bản đồ phổ biến nhất

b Phân loại theo tỷ lệ

Phân loại bản đồ theo tỷ lệ là sự phân loại căn cứ vào mức độ thu nhỏ đối tượng biểuhiện trên bản đồ so với thực tế Theo dấu hiệu này, các bản đồ được phân thành ba loại: Bản

đồ tỷ lệ lớn, bản đồ tỷ lệ trung bình và bản đồ tỷ lệ nhỏ

- Bản đồ tỷ lệ lớn: là các bản đồ có tỷ lệ ≥ 1: 200.000

- Bản đồ tỷ lệ trung bình: là các bản đồ có tỷ lệ từ 1: 200.000 đến 1:1.000.000.

- Bản đồ tỷ lệ nhỏ: là các bản đồ có tỷ lệ ≤ 1: 1.000.000

Riêng đối với các bản đồ địa lý chung, theo tỷ lệ chia ra làm ba loại:

+ Các bản đồ địa lý chung tỷ lệ lớn (≥ 1: 200.000) được gọi là các bản đồ địa hình.

+ Các bản đồ địa lý chung tỷ lệ trung bình (1: 200.000 ÷ 1: 1000.000) được gọi là các

bản đồ địa hình khái quát.

+ Các bản đồ địa lý chung tỷ lệ nhỏ (≤ 1: 1.000.000) được gọi là các bản đồ khái quát.

c Phân loại theo nội dung.

Theo nội dung thì các bản đồ địa lý được phân thành hai nhóm: các bản đồ địa lýchung và các bản đồ chuyên đề

Trang 9

- Các bản đồ địa lý chung gồm những bản đồ có nội dung rộng, biểu hiện cả những đốitượng tự nhiên và kinh tế - xã hội có trên bề mặt đất trong lãnh thổ thể hiện Những đốitượng đó bao gồm: thuỷ văn, dáng đất, dân cư, giao thông, lớp phủ thực vật và đất, cácđường ranh giới và các đối tượng kinh tế - văn hoá Những đối tượng này được biểu hiệnmột cách đồng đều theo cùng một mức độ tổng quát hóa, và chủ yếu phản ánh các đặc trưng

bề ngoài của đối tượng

- Các bản đồ chuyên đề là loại bản đồ mà nội dung của nó được quyết định bởi từng

đề tài cụ thể Tuỳ thuộc vào đề tài, bản đồ sẽ phản ánh chi tiết về một chuyên đề nào đó, cóthể là một yếu tố hoặc một nhóm yếu tố địa lý tự nhiên hay kinh tế - xã hội trên bề mặt đất

Ví dụ: Bản đồ công nghiệp, bản đồ địa chất, bản đồ văn hoá giáo dục, bản đồ khí hậu,bản đồ kinh tế chung

Bản đồ chuyên đề gồm những bản đồ có nội dung hẹp, chỉ biểu hiện một vài yếu tố,một vài đối tượng có hoặc không có trên bản đồ địa lý chung nhưng được phản ánh mộtcách sâu sắc, thể hiện nhiều khía cạnh của nội dung đối tượng theo chủ đề bản đồ Nội dungbản đồ được chia ra thành nội dung chính và nội dung phụ Các nội dung chính được biểuhiện sâu và nổi bật, các nội dung phụ được tổng quát hóa cao hơn

d Phân loại theo mục đích sử dụng.

Theo mục đích sử dụng, cho đến nay thì các bản đồ chưa có sự phân loại chặt chẽ, bởi vìđại đa số các bản đồ được sử dụng rộng rãi cho những mục đích rất khác nhau Đáng chú ýnhất trong sự phân loại theo dấu hiệu này là phân ra thành 2 nhóm: Các bản đồ được sử dụngcho nhiều mục đích và các bản đồ chuyên môn

Các bản đồ nhiều mục đích thường được áp dụng cho nhiều đối tượng sử dụng khácnhau, để giải quyết những nhiệm vụ có ý nghĩa kinh tế quốc dân và quốc phòng, để nghiêncứu lãnh thổ, để thu nhận những tư liệu tra cứu…

Các bản đồ chuyên môn là các bản đồ được dùng để giải quyết những nhiệm vụ nhấtđịnh và đáp ứng cho những đối tượng sử dụng nhất định, ví dụ: Bản đồ giáo khoa, các bản

đồ hàng hải, các bản đồ hàng không…

e Phân loại theo lãnh thổ thể hiện trên bản đồ.

Theo lãnh thổ thì các bản đồ được phân ra:

- Bản đồ thế giới

- Bản đồ bán cầu

- Bản đồ các châu lục

Trang 10

- Bản đồ quốc gia

- Bản đồ tỉnh, huyện, xã…

f Phân loại theo các đặc tính phụ khác.

Ngoài các cách phân loại chủ yếu trên, đôi khi người ta còn phân loại bản đồ theocác dấu hiệu khác như:

- Theo số màu in: bản đồ 1 màu, bản đồ nhiều màu

- Theo tính chất sử dụng: Bản đồ treo tường, bản đồ để bàn, bản đồ bỏ túi

- Theo số tờ: bản đồ 1 tờ, nhiều tờ.

1.2.4 Vai trò và ý nghĩa của bản đồ.

Bản đồ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân Nó được dùng

để phục vụ cho việc thiết kế các công trình, xây dựng mạng lưới đường giao thông và xâydựng cơ bản

Bản đồ là tài liệu không thể thiếu được trong công tác xây dựng các dự án, phân vùng,quy hoạch, quản lý đất đai, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, cải tạo đất, quy hoạch và khai thácrừng

Bản đồ là công cụ và phương tiện cần thiết trong công tác quản lý hành chính, là tàiliệu không thể thay thế được của sự nghiệp giáo dục trong và ngoài nhà trường Chúngkhông chỉ là kho tàng lưu trữ những kiến thức địa lý đã tích luỹ được mà còn là công cụ đểtruyền bá một cách có hiệu quả những kiến thức đó, để nâng cao trình độ văn hoá chung,giới thiệu cho đông đảo quần chúng về đất nước, quê hương và các quốc gia khác trên thếgiới

Trong quân sự, bản đồ có một ý nghĩa rất lớn, nhất là trong thời đại ngày nay, việc sửdụng kỹ thuật quân sự hiện đại đòi hỏi phải giải quyết những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp

do đó phải có sự nghiên cứu những khu vực địa lý lớn có tính chất toàn cầu

Ngày nay với nền kinh tế đang được toàn cầu hoá, việc giải quyết những nhiệm vụtrọng tâm của loài người đã vượt ra ngoài khuôn khổ của từng quốc gia: Bố trí hợp lý lựclượng lao động, sử dụng đúng đắn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái Thìbản đồ ngày càng có một vai trò quan trọng hơn trong việc phát triển kinh tế, xã hội nóichung

Trang 11

1.3 TỔNG QUÁT HÓA BẢN ĐỒ

1.3.1 Khái niệm.

Tổng quát hoá bản đồ là sự lựa chọn (lấy, bỏ) và khái quát các đối tượng được biểu thịtrên bản đồ phù hợp với tỷ lệ, nội dung của bản đồ và những đặc điểm riêng của nội dungbản đồ, đặc điểm địa lý vùng lãnh thổ Thực chất của tổng quát hoá bản đồ là truyền đạt lênbản đồ những đặc điểm cơ bản và điển hình của các đối tượng và những mối liên hệ giữachúng

1.3.2 Nội dung của vấn đề tổng quát hóa bản đồ.

Quá trình tổng quát hoá bản đồ bao gồm: Phân loại các đối tượng và các hiện tượng,lựa chọn các đối tượng cần thể hiện, khái quát các đặc trưng chất lượng, khái quát các đặctrưng số lượng, khái quát hình dạng, thay đổi các đối tượng riêng biệt bằng các ký hiệu tậphợp của chúng

a Phân loại các đối tượng và hiện tượng cần biểu thị

Tức là phân chia chúng thành các nhóm, mỗi nhóm bao gồm các đối tượng cùng loại.Quá trình phân loại được tiến hành trước khi biên vẽ bản đồ

b Lựa chọn các đối tượng biểu thị

Đó là sự hạn chế nội dung bản đồ ở những đối tượng cần thiết phù hợp với mục đích

đề tài, tỷ lệ của bản đồ và những đặc điểm địa lý của lãnh thổ

Khi lựa chọn phải tuân theo trình tự hợp lý, trước hết thể hiện những đối tượng quantrọng nhất, sau đó mới lựa chọn thể hiện những đối tượng ít quan trọng hơn Những đốitượng có kích thước nhỏ nhưng có ý nghĩa quan trọng về phương diện nào đó thì cũng phảithể hiện

Sự lựa chọn phải tuân theo tiêu chuẩn hoặc chỉ tiêu lựa chọn Tiêu chuẩn lựa chọn làgiá trị giới hạn quy định kích thước hoặc ý nghĩa của các đối tượng cần phải giữ lại trên bản

đồ khi tiến hành tổng quát hoá Ví dụ: Trên bản đồ quy định vẽ tất cả các hồ, ao có diện tích

từ 2mm2 trở lên, hoặc trên bản đồ vẽ tất cả các đường ranh giới hành chính từ cấp huyện trởlên

Chỉ tiêu lựa chọn là chỉ số quy định mức độ lựa chọn Ví dụ quy định khi chuyển từbản đồ địa hình tỷ lệ 1:200.000 sang tỷ lệ 1:500.000 thì số điểm dân cư giữ lại là 1/3 đối vớinhững vùng có mật độ dân cư dày đặc, là 1/2 đối với vùng có mật độ trung bình và vẽ hếtcác điểm dân cư đối với những vùng quá thưa thớt Khi xác đinh các chỉ tiêu lựa chọn và

Trang 12

khi vận dụng chúng để biên vẽ bản đồ thì không được gây ra những sai lệch về tương quanmật độ của các khu vực khác nhau.

c Khái quát hình dạng

Tức là bỏ đi những chi tiết nhỏ, không quan trọng của hình dạng đường viền Việckhái quát hình dạng cũng thường tuân theo các tiêu chuẩn về kích thước Đối với những chitiết nhỏ hơn tiêu chuẩn quy định nhưng lại quan trọng xét về phương diện nào đó thì phảiphóng to tới kích thước nào đó đã quy định để vẽ Khi biên vẽ bản đồ thì cũng thường phảiliên kết các đối tượng nhỏ cùng loại vào đường viền chung

d Khái quát đặc trưng số lượng

Là quá trình chuyển từ thang liên tục sang thang phân cấp và tiếp tục tăng dần khoảngcách giữa các bậc Ví dụ: Trên các bản đồ địa hình tỷ lệ nhỏ thì khoảng cao đều lớn

e Khái quát đặc trưng chất lượng

Là nhằm giảm bớt những sự khác biệt về chất trên những phương diện nào đó của cácđối tượng Ví dụ: Trên bản đồ phân bố đất nông nghiệp tỷ lệ trung bình thể hiện một cáchchi tiết sự phân bố các loại đất, đất trồng lúa, đất trồng khoai, sắn, đất trồng ngô Khi lậpbản đồ tỷ lệ nhỏ thì ba loại đất nói trên được thể hiện thống nhất trong một loại là đất trồngcây lương thực hay đất nông nghiệp

f Thay đổi các đối tượng riêng biệt bằng các ký hiệu tập hợp của chúng.

Khi chuyển dần từ bản đồ tỷ lệ lớn sang bản đồ tỷ lệ nhỏ hơn thì mức độ tổng quát hoácàng lớn Khi mà các đối tượng cần thể hiện không biểu thị được bằng ký hiệu đường viềnriêng biệt thì người ta phải dùng ký hiệu tập hợp của chúng Ví dụ: Trên các bản đồ tỷ lệnhỏ các điểm dân cư không thể biểu thị bằng các ký hiệu đường viền mà dùng các ký hiệutập hợp có dạng hình học chung (ví dụ vòng tròn) để thể hiện

Việc phân chia tổng quát hoá bản đồ thành những kiểu chủ yếu nói trên có ý nghĩa vềmặt phương pháp, nó chỉ ra đường lối để tiến hành tổng quát hoá Các kiểu đó của tổng quáthoá có quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau, khó có thể tách riêng

Tiến hành đánh giá tổng quát hoá bản đồ phải dựa trên các chỉ tiêu cơ bản, độ chínhxác hình học và độ tin cậy địa lý

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổng quát hóa bản đồ.

Những nhân tố cơ bản quyết định tính chất và mức độ tổng quát hoá là: Tỷ lệ bản đồ,mục đích của bản đồ, đề tài (nội dung) của bản đồ và đặc điểm của các yếu tố nội dung trênlãnh thổ cần biểu thị

Trang 13

a Ảnh hưởng của mục đích của bản đồ

Trên bản đồ chỉ cần biểu thị những đối tượng và hiện tượng phù hợp với mục đích của

nó Những bản đồ có cùng đề tài và cùng tỷ lệ nhưng có mục đích khác nhau thì mức độ chitiết và đặc điểm của sự biểu thị các yếu tố nội dung cũng khác nhau nên việc tổng quát hoácũng khác nhau

b Ảnh hưởng của tỷ lệ bản đồ

Những bản đồ có cùng đề tài và mục đích sử dụng nhưng tỷ lệ khác nhau thì mức độtổng quát hoá khác nhau Bản đồ có tỷ lệ càng lớn thì thể hiện nội dung càng chi tiết, ngượclại tỷ lệ càng nhỏ thì nội dung biểu thị càng khái lược

c Ảnh hưởng của đề tài bản đồ

Đề tài bản đồ quyết định các yếu tố nội dung nào cần thể hiện, quyết định những yếu

tố nào thể hiện chi tiết nhất, những yếu tố nào thể hiện sơ lược

d Ảnh hưởng của đặc điểm địa lý lãnh thổ biểu thị của bản đồ

Khi tổng quát hoá bản đồ cần phải xét đến đặc điểm địa lý của lãnh thổ bản đồ, bởi vìcùng là những đối tượng như nhau nhưng chúng lại có ý nghĩa khác nhau trong những điềukiện địa lý khác nhau Ví dụ: Một giếng nước ở vùng hoang mạc thì có ý nghĩa rất lớn,nhưng đối với những vùng có nguồn nước phong phú thì thì ý nghĩa của nó rất nhỏ trên bản

Vd: Trên bản đồ dân cư, tài liệu đầy đủ cho phép ta vạch được sự phân bố cụ thể củatừng điểm dân cư và xu hướng phát triển của chúng

Nguồn tài liệu tư liệu thành lập bản đồ càng mới, càng hiện đại, càng phù hợp với xuhướng phát triển của KHKT hiện nay thì bản đồ càng trở thành công cụ đắc lực trong việctích luỹ và truyền đạt thông tin hiện đại nhất

Trang 14

Hệ tọa độ vuông góc phẳng theo múi chiếu được thiết kế cho các bản đồ tỷ lệ lớn Cơ

sở để xác lập hệ tọa độ vuông góc phẳng theo múi chiếu tương tự như hệ tọa độ vuông góc

Đề các, đầu tiên người ta chọn trục theo hướng Bắc làm trục cơ sở (trục X) rồi theo chiềukim đồng hồ dựng trục theo hướng Đông (trục Y) vuông góc với trục X, gốc tọa độ O làgiao điểm giữa hai trục X và Y Để tránh giá trị âm, người ta dịch chuyển gốc tọa độ O vềphía Tây 500km, đối với các nước Nam bán cầu, dịch chuyển thêm gốc tọa độ về phía Nam10.000km Tọa độ của một điểm bất kỳ trong hệ tọa độ vuông góc được xác định bằng cácgiá trị tung độ X và hoành độ Y Để tránh sự nhầm lẫn với hệ tọa độ vuông góc trong Toánhọc, người ta thường gọi là trục Bắc và trục Đông thay vì gọi trục X và trục Y

Trang 15

tuyến trục của múi chiếu được chọn làm trục X, xích đạo làm trục Y, giao điểm giữa đườngxích đạo và kinh tuyến trục là gốc tọa độ O Tọa độ của một điểm là giá trị của X và Ythường tính theo đơn vị mét

Ví dụ, trong lưới chiếu UTM, múi 48 Bắc, thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ(1211,720km; 648,143km) có nghĩa là thành phố Hồ Chí Minh nằm cách xích đạo1211,72km và cách kinh tuyến 105o Đông (kinh tuyến trục của múi 48) 148,143km Vídụ: Điểm A’ có toạ độ:

- Kinh tuyến và kinh độ

Một mặt phẳng bất kỳ đi qua trục PP1 sẽ cắt mặt Elipxoid theo một giao tuyến, giaotuyến đó gọi là vòng kinh tuyến, một nửa của giao tuyến đó từ cực bắc xuống cực nam làmột đường kinh tuyến

15

Trang 16

Trước đây các nước lấy kinh tuyến gốc khác nhau nên kinh độ của cùng một điểm trênmặt đất có thể khác nhau, do vậy gây ra nhiều khó khăn Năm 1884 hội nghị quốc tế ởWashington đã thông qua nghị quyết lấy kinh tuyến đi qua đài thiên văn Greenweek gầnLuânđôn làm kinh tuyến gốc (λ = 0) thống nhất cho toàn thế giới, kinh độ của các đườngkinh tuyến khác được xác định bằng góc nhị diện tạo bởi mặt phẳng kinh tuyến gốc và mặtphẳng của kinh tuyến đã cho.

λ = từ 00÷1800 Đ từ kinh tuyến gốc về phía đông là kinh độ đông

λ= từ 00÷1800T từ kinh tuyến gốc về phía tây là kinh độ tây

ϕ = từ 00÷ 900 : từ xích đạo về phía bắc gọi là vĩ độ bắc

ϕ = từ 00÷900 : từ xích đạo về phía nam gọi là vĩ độ nam

2.2 TỶ LỆ BẢN ĐỒ

2.2.1 Khái niệm.

Tỷ lệ bản đồ là tỷ số giữa độ dài một đoạn thẳng trên bản đồ với hình chiếu nằm ngang tương ứng của nó ở ngoài thực địa và được ký hiệu dưới dạng phân số có tử số là 1,

M được gọi là mẫu số tỷ lệ bản đồ: 1/M.

Các bản đồ tỉ lệ lớn, không ảnh hưởng của độ cong Trái Đất, thì hình chiếu ngangbằng chiều dài tuyến tính Vì vậy có thể gọi tỉ lệ bản đồ là tỉ số độ dài một đoạn trên bản đồvới độ dài tương ứng của nó trên thực địa Như vậy tỉ lệ là mức độ thu nhỏ các đối tượngthực địa để đưa lên bản đồ

Hệ quả của sự lựa chọn tỉ lệ cho bản đồ là diện mạo của bản đồ và khả năng truyền tincủa nó Tỉ lệ được vận hành liên tục từ lớn đến nhỏ Bản đồ tỉ lệ lớn biểu hiện phần nhỏ của

Trang 17

bề mặt Trái Đất, thông tin biểu thị rất chi tiết Ngược lại, bản đồ tỉ lệ nhỏ biểu thị khu vựclớn của Trái Đất nên các chi tiết bị giới hạn khi đưa lên bản đồ Tỉ lệ cuối cùng được lựachọn để thiết kế bản đồ phụ thuộc vào mục đích của bản đồ và kích thước chung của lãnhthổ được biểu thị Mức độ chi tiết địa lí cần thiết để thoả mãn mục đích của bản đồ sẽ là mộtchuẩn mực khi lựa chọn tỉ lệ

Hệ quả quan trọng thứ hai của sự lựa chọn tỉ lệ là ảnh hưởng của nó tới kí hiệu hoá.Khi thay đổi từ tỉ lệ lớn sang tỉ lệ nhỏ, đối tượng của bản đồ phải được tái biểu thị với các kíhiệu không còn giống thực theo tỉ lệ và được tổng quát hoá nhiều hơn

Tỉ lệ, kí hiệu bản đồ và lưới chiếu bản đồ phụ thuộc lẫn nhau và sự lựa chọn từng yếu tố sẽ

có ảnh hưởng quan trọng đến bản đồ cuối cùng Sự lựa chọn tỉ lệ là sự quyết định quantrọng nhất trong quá trình thiết kế bản đồ

2.2.2 Các loại tỷ lệ trên lưới chiếu bản đồ.

Mỗi tờ bản đồ có một tỷ lệ nhất định nhưng sau khi thực hiện các phép chiếu hình thìviệc biểu thị mặt cong của trái đất lên mặt phẳng đều có biến dạng Dù thực hiện bằng bất

kỳ phép chiếu nào thì biến dạng tại các điểm trên mặt phẳng bản đồ cũng không đồng đều

Do đó có thể nói rằng: tỷ lệ bản đồ không phải là một hằng số mà là biến số Tại nhữngđiểm khác nhau trên bản đồ sẽ có tỷ lệ khác nhau, thậm chí trên một điểm theo các hướngkhác nhau cũng có tỷ lệ khác nhau

Như vậy, tỷ lệ bản đồ phụ thuộc vào tọa độ của điểm và phương vị của hướng từ điểm

Trên bản đồ chỉ ghi chú biểu thị tỷ lệ chung, thường ở phía dưới khung Nam của tờbản đồ Tỷ lệ chung chỉ được đảm bảo ở tại những điểm và những đường không có biếndạng độ dài

Ví dụ:

+ Trên lưới chiếu Gauss, tỷ lệ chung tồn tại trên đường kinh tuyến giữa múi

Trang 18

+ Trên lưới chiếu UTM, tỷ lệ chung tồn tại ở giao tuyến giữa mặt cầu và hình trụ nằmngang

Trên bản đồ tỷ lệ chung được biểu thị dưới ba dạng:

- Tỷ lệ dạng phân số: được xác định bằng một phân số có tử số là 1 và mẫu số thường

là một số chẵn thể hiện số lần được thu nhỏ trên bản đồ của một đoạn d so với khoảng cách

D trên thực địa

Ví dụ: 1: 50 000 ; 1/ 10 000

- Tỷ lệ chữ: Cụ thể hóa tỷ lệ dạng phân số bằng lời, ví dụ: 1cm trên bản đồ tương ứngvới bao nhiêu m (km) trên thực địa Tỷ lệ chữ thường có trên bản đồ địa hình và bình đồ

Ví dụ: 1cm trên bản đồ tương ứng với 500m trên thực địa

- Tỷ lệ thước: bao gồm thước tỷ lệ thẳng và thước tỷ lệ xiên (hay thước tỷ lệ ngang)

Trong hai loại thước tỷ lệ đồ thị có cùng đơn vị cơ sở thì thước tỷ lệ xiên có độ chínhxác gấp 10 lần so với thước tỷ lệ thẳng

Quy luật toán học đó xác định sự phụ thuộc hàm số giữa tọa độ địa lý (ϕ, λ) hoặc tọa

độ khác của điểm trên mặt Elipxoid hoặc mặt cầu Trái đất và tọa độ vuông góc x,y hoặc tọa

độ khác của điểm tương ứng trên mặt phẳng

Hình 2.3 a Thước tỷ lệ thẳng

b Thước tỷ lệ xiên

a

b

Trang 19

Tính chất của phép chiếu hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất và đặc trưng của các hàm

f1, f2, có vô số các hàm khác nhau do đó cũng có vô số các phép chiếu khác nhau

2.3.2 Sai số trong phép chiếu bản đồ.

a Khái niệm hình học của sai số

- Khái niệm về elip sai số (elip biến dạng)

+ Trên bề mặt của Elipxôid, ta lấy một hình tròn có bán kính vô cùng bé Hình chiếucủa nó lên trên mặt phẳng bản đồ sẽ bị biến dạng Gọi m và n là tỷ lệ độ dài theo kinh tuyến

và vĩ tuyến, ta có:

x’ = mx

y’ = ny

Ta biết phương trình của vòng tròn là x2 + y2 = r2

Lại có x = x’/m; y = y’/n Suy ra (x’/m)2 + (y’/n)2 = r2

Hay (x’/mr)2 + (y’/nr)2 = 1 trong đó mr là bán trục lớn của elip a; nr là bán trục nhỏcủa elip b Vì vậy phương trình có dạng: x’2/a2 + y’2/b2 = 1 Đây là phương trình elip.Hình dạng và kích thước của các elip sai số trong các phép chiếu khác nhau thì khác nhau

Trang 20

+ Tại mỗi điểm, tỷ lệ riêng của độ dài có thể thay đổi phụ thuộc vào phương hướng.

Có hai hướng vuông góc với nhau tại một điểm bất kỳ cho trước mà trong đó, một hướng có

tỷ lệ riêng của độ dài lớn nhất và hướng kia có tỷ lệ riêng của độ dài là nhỏ nhất Hai hướng

đó được gọi là những hướng chính, thường ký hiệu là a, b

b Các dạng sai số trên bản đồ

- Có ba loại biến dạng thường được nói đến trong toán bản đồ, đó là biến dạng về góc,biến dạng về diện tích và biến dạng về độ dài Có những phép chiếu không có biến dạng vềdiện tích và có những phép chiếu không có biến dạng về góc Nhưng không có phép chiếunào không có biến dạng độ dài Chỉ có những phép chiếu mà độ dài không biến dạng ở một

số điểm hay một vài đường nào đó trên lưới chiếu

- Tỷ lệ chính của bản đồ chỉ được bảo toàn tại một số điểm hoặc đường nào đó khidiễn giải bề mặt Elipxôit lên mặt phẳng bản đồ Tỉ lệ riêng của bản đồ có thể nhỏ hơn hoặclớn hơn tỷ lệ chính

Nếu ta coi tỷ lệ chính của bản đồ là 1 thì độ chênh lệch giữa tỷ lệ chính và tỷ lệ riêng

sẽ là đại lượng để xác định sai số trên bản đồ

Đối với biến dạng độ dài, ta có các khái niệm sau:

Tỷ lệ riêng của độ dài là tỷ số giữa độ dài của một đoạn vô cùng bé trên bản đồ vớikhoảng cách tương ứng của nó trên bề mặt Elipxôit Trái Đất

μ = ds’/ds

Như vậy, ds’ ≠ ds; chỉ khi μ = 1 = μ0, khi đó ds’ = ds

Tỷ lệ riêng của độ dài là một hàm số với các biến là toạ độ địa lí của điểm cần xácđịnh và góc phương vị theo hướng mà ta muốn xác định tỷ lệ riêng của điểm đó

Trang 21

Tỷ lệ riêng của diện tích là tỷ số của một diện tích vô cùng bé trên bản đồ so với diệntích tương ứng của nó trên bề mặt Elipxôit Trái Đất.

p = dp’/dp

Thông thường thì dp’ ≠ dp Chỉ trong trường hợp phép chiếu bản đồ được sử dụng làphép chiếu đồng diện tích, khi đó tại mọi điểm dp’ = dp Đây cũng chính là điều kiện để xâydựng các phép chiếu đồng diện tích

Tỷ lệ riêng của diện tích phụ thuộc vào vị trí địa lí của các yếu tố cấu thành diện tíchđó

Thông thường thì u’ ≠ u Chỉ trong trường hợp phép chiếu bản đồ được sử dụng làphép chiếu đồng góc, khi đó tại mọi điểm u’ = u Đây cũng chính là điều kiện để xây dựngphép chiếu đồng góc Ta có:

2.3.3 Phân loại phép chiếu bản đồ.

Toán chiếu hình bản đồ còn tìm mọi cách ứng dụng linh hoạt các phương pháp chiếuhình cơ bản bằng cách thay đổi vị trí tiếp xúc của các mặt chiếu hình để hạn chế đến mứcthấp nhất sai số biến dạng của các vùng lãnh thổ được vẽ lên bản đồ Lúc đó mạng lưới kinh

vĩ tuyến sẽ thay đổi khác dạng tiêu chuẩn, nhưng hình dáng các đường sai số chiếu hình vẫnphân bố theo quy luật các loại lưới chiếu ở dạng tiêu chuẩn

Trang 22

- Theo vị trí tiếp xúc giữa mặt Elipxôid và mặt chiếu hình, các phép chiếu hình đượcchia ra phép chiếu đứng, phép chiếu ngang và phép chiếu nghiêng

+ Phép chiếu đứng (hay còn gọi là phép chiếu thẳng, ngay) là phép chiếu mà trục của

bề mặt hỗ trợ trùng với trục của Elipxôid Trái Đất; trong phép chiếu phương vị, mặt phẳngchiếu vuông góc với trục quay của Elipxôid

+ Phép chiếu ngang là phép chiếu mà trục của bề mặt hỗ trợ nằm trong mặt phẳng xíchđạo của Elipxôid Trái Đất và vuông góc với trục quay của Elipxôid; trong phép chiếuphương vị, mặt phẳng chiếu vuông góc với đường pháp tuyến nằm trên bề mặt của mặtphẳng xích đạo

+ Phép chiếu nghiêng là phép chiếu mà trục của bề mặt hỗ trợ trùng với đường pháptuyến ở giữa cực và mặt phẳng xích đạo của Elipxôid Trái Đất; trong phép chiếu phương vị,mặt phẳng chiếu vuông góc với đường pháp tuyến này

Trong phép chiếu ngang và nghiêng, lưới bản đồ khác với lưới trong phép chiếu đứng.Trong phép chiếu đứng, lưới chuẩn (hay còn gọi là lưới thẳng đứng – là lưới toạ độ có dạngđơn giản nhất) chính là lưới kinh vĩ tuyến, còn trong phép chiếu ngang và nghiêng, hệ thốnglưới chuẩn là lưới của vòng thẳng đứng và vòng đồng cao

- Theo đặc điểm biến dạng, phép chiếu được chia ra thành ba loại: phép chiếu đồnggóc, phép chiếu đồng diện tích và phép chiếu tự do (trong phép chiếu tự do cần kể đến phépchiếu đồng khoảng cách)

- Theo mặt chiếu hình, phép chiếu chia thành phép chiếu hình trụ, phép chiếu hìnhnón, phép chiếu hình phương vị

2.3.4 Các phép chiếu dùng cho thành lập bản đồ trên lãnh thổ Việt Nam.

Bản đồ Việt Nam tỷ lệ 1: 1000000 và nhỏ hơn được xây dựng bằng phép chiếu hìnhnón đứng đồng góc với hai vĩ tuyến chuẩn là 11° và 21°

Bản đồ không có sai số chiếu hình trên hai đường vĩ tuyến chuẩn φ1 = 11° và φ2 =21° Phép chiếu thuộc nhóm đồng góc Sai số diện tích (p-1) có giá trị nhỏ nhất là -0,75%trên vĩ tuyến 16° 01'; giá trị của sai số diện tích ở biên cực Bắc và Nam phần đất liền lãnhthổ Việt Nam là +0,90%

Phép chiếu này thuận lợi để xây dựng bản đồ Việt Nam; có thể mở rộng ra các quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không ảnh hưởng đến sai số chiếu hình Với kinh tuyến lànhững đường thẳng, bản đồ vẽ theo phép chiếu này rất thuận lợi cho việc chia mảnh và chọnkinh tuyến giữa tuỳ ý, trình bày ngay ngắn trong một tập bản đồ

Trang 23

Bản đồ địa hình Việt Nam tỷ lệ 1: 1000000 của chúng ta được thiết kế theo phép chiếuhình này từ năm 1968 Phép chiếu này được dùng với bản đồ tỷ lệ nhỏ để thể hiện lãnh thổViệt Nam cho tới nay.

Phép chiếu Gauss được thiết lập vào những năm 1820-1830 Lí thuyết của phép chiếunày được phổ biến rộng rãi lần đầu tiên vào năm 1866 Sau đó, phép chiếu được Krugernghiên cứu và hoàn thiện vào những năm 1912-1919 Từ đó đến nay phép chiếu được mangtên Gauss-Kruger Ở Việt Nam, chúng ta quen gọi phép chiếu này là phép chiếu Gauss Trong phép chiếu Gauss, bề mặt Elipxôid Trái Đất được biểu diễn theo từng múi kinhtuyến Theo vĩ độ, múi lấy từ cực này đến cực kia, còn theo kinh độ, múi sẽ rộng hẹp tuỳtheo độ tăng của sai số khi càng cách xa trung tâm của múi và tuỳ theo độ dễ dàng của việctính toán sai số Nếu lấy múi kéo dài theo 3° kinh độ thì trên các biên của múi chiếu, sai sốchiều dài trên xích đạo đạt được 1/3200; khi múi kéo dài 6° kinh độ thì sai số lớn nhất bằng1/750; sai số ở các vĩ độ trung bình nhỏ hơn nhiều Bề mặt của Elipxôid Trái Đất được chia

ra các múi có số kinh độ bằng nhau: 60 múi 6° hoặc 120 múi 3° Số múi được tính bắt đầu

từ kinh tuyến Greenwich

Đây là phép chiếu hình trụ ngang đồng góc

Kinh tuyến giữa là đường thẳng Các kinh tuyến còn lại là đường cong, chiều lõmhướng về kinh tuyến giữa Lãnh thổ Việt Nam nằm trên 2 múi 6° có kinh tuyến giữa là 105°

và 111° Đó là các múi 18, 19

Xích đạo là một đường thẳng, vuông góc với kinh tuyến giữa Các vĩ tuyến đều lànhững đường cong, chiều lõm hướng về phía cực gần với vĩ tuyến đó hơn

Kinh vĩ tuyến đối xứng nhau qua kinh tuyến giữa hoặc qua xích đạo

Phép chiếu không có biến dạng về góc Tỷ lệ độ dài không đổi trên kinh tuyến giữa và

có giá trị bằng 1 ( Hằng số k=1) Tỷ lệ này không đổi trên các cặp đường thẳng song songvới kinh tuyến giữa và đối xứng nhau qua kinh tuyến giữa

Tại mỗi múi có hệ thống toạ độ vuông góc riêng Gốc toạ độ của mỗi múi là điểm giaonhau của xích đạo với kinh tuyến giữa của múi đó Để tránh có toạ độ âm, người ta lùi gốctoạ độ về phía Tây của kinh tuyến giữa 500 km

Phép chiếu được sử dụng nhiều trong các trường hợp thiết kế bản đồ có số hiệu Bản

đồ địa hình của nhiều nước trên thế giới đều dùng phép chiếu này

Hệ toạ độ Hà Nội 72 sử dụng phép chiếu Gauss với Elipxôid Kraxôpxki (1940) chotoàn cầu

Trang 24

a = 6378245m ; α = 1/298,3

Phép chiếu UTM (Universal Transverse Mercator) được xây dựng dựa trên nền tảngcủa phép chiếu hình trụ ngang Mercator (Transverse Mercator – TM) Phép chiếu này cònđược gọi là phép chiếu Gauss-Boag Phép chiếu đã được quân đội Mỹ đưa vào sử dụng năm

1940 Về cơ bản thì phép chiếu này giống với phép chiếu Gauss, chỉ khác hệ số k của phépchiếu UTM là 0,9996 trong khi hệ số k của Gauss là 1 Ở Việt Nam, chúng ta sử dụng cả hệ

số k=0,9999 đối với múi 3 độ cho bản đồ địa hình tỉ lệ lớn

Trong phép chiếu UTM, bề mặt Elipxôid Trái Đất được chia ra thành 60 múi theochiều kinh tuyến; mỗi múi 6° Múi đầu tiên được đánh số 1 từ kinh tuyến 180° Tây đến 174°Tây Các vĩ tuyến được lấy từ 80° Nam đến 84° Bắc Lãnh thổ Việt Nam nằm trên 2 múi 6°

có kinh tuyến giữa là 105° và 111° Đó là các múi 48 và 49

Tại mỗi múi có hệ thống toạ độ vuông góc riêng Gốc toạ độ của mỗi múi là điểm giaonhau của xích đạo với kinh tuyến giữa của múi đó Để tránh có toạ độ âm, người ta lùi gốctoạ độ về phía Tây của kinh tuyến giữa 500 km

Đây là phép chiếu hình trụ ngang đồng góc

Kinh tuyến giữa là đường thẳng Các kinh tuyến còn lại là đường cong, chiều lõmhướng về kinh tuyến giữa Xích đạo là một đường thẳng, vuông góc với kinh tuyến giữa.Các vĩ tuyến đều là những đường cong, chiều lõm hướng về phía cực gần với vĩ tuyến đóhơn Kinh vĩ tuyến đối xứng nhau qua kinh tuyến giữa hoặc qua xích đạo.Phép chiếu không có biến dạng về góc.Tỷ lệ độ dài tại kinh tuyến giữa nhỏ hơn 1 (Hệ số k =0,9996) Tỷ lệ độ dài là không đổi (k = 1) trên hai đường thẳng song song và đối xứng nhauqua kinh tuyến giữa và cách kinh tuyến giữa 180 km Tỷ lệ biến dạng nhỏ hơn một trongkhoảng giữa hai đường không biến dạng và lớn hơn ở ngoài hai đường đó

Phép chiếu được sử dụng nhiều trong các trường hợp thiết kế bản đồ có số hiệu Bản

đồ địa hình của nhiều nước trên thế giới đều dùng phép chiếu này Quân đội Mỹ sử dụngphép chiếu này cho bản đồ quân sự

Lưới chiếu UTM của quân đội Mỹ, tuỳ theo từng khu vực khác nhau dùng Elipxôidkhác nhau Phần đất liền khu vực Việt Nam (trước năm 1975) tính theo Elipxôid Everest(1930)

a = 6377276 m; α = 1/300,8

- Hiện nay, bản đồ địa hình Việt Nam được thành lập trong Hệ VN2000, với phépchiếu UTM theo thể Elipxôid WGS-84 định vị phù hợp với lãnh thổ Việt Nam

Trang 25

2.4 HỆ THỐNG PHÂN MẢNH VÀ DANH PHÁP BẢN ĐỒ

2.4.1 Bản đồ địa hình.

Chia mảnh và đặt phiên hiệu cho bản đồ địa hình Việt Nam được tiến hành theo quyếtđịnh số 83/2000/QĐ-TTg ngày 12/07/2000 của Thủ tướng chính phủ

a Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:1 000 000

Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000 kích thước 40 x 60 là giao nhau của múi 60 chia theođường kinh tuyến và đai 40 chia theo đường vĩ tuyến Ký hiệu múi được đánh số bằng số ẢRập 1, 2, 3, bắt đầu từ múi số 1 nằm giữa kinh tuyến 1800Đ và 1740T, ký hiệu múi tăng

từ Đông sang Tây Ký hiệu đai được đánh bằng các chữ cái La Tinh A, B, C (bỏ qua chữcái O và I để tránh nhầm lẫn với số 0 và số 1) bắt đầu từ đai A nằm giữa vĩ tuyến 00 và 40,

ký hiệu đai tăng từ xích đạo về hai cực

Trong hệ thống lưới chiếu UTM quốc tế, người ta đặt trước ký hiệu đai thêm chữ cái

N đối với các đai ở Bắc bán cầu và chữ S đối với các đai ở Nam bán cầu

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000 trong Hệ VN-2000 có dạng X-yy (NX-yy),trong đó X là ký hiệu đai và yy là ký hiệu múi, phần trong ngoặc là phiên hiệu mảnh theokiểu UTM quốc tế

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000 có phiên hiệu là F-48 (NF-48).

b Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 500 000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000000 chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 000, mỗimảnh có kích thước 20 x 30, phiên hiệu mảnh đặt bằng các chữ cái A, B, C, D theo thứ tự từtrái sang phải, từ trên xuống dưới

Theo kiểu UTM quốc tế, các phiên hiệu A, B, C, D được đánh theo chiều kim đồng hồbắt đầu từ góc Tây Bắc

Trang 26

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500000 là phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500

000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000, phần trong ngoặc là phiên hiệu mảnh bản đồ đótheo kiểu UTM quốc tế

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 000 có phiên hiệu F-48-D (NF-48-C).

c Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:250 000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 000 chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:250 000, mỗimảnh có kích thước 10x 1030' ký hiệu bằng các số Ả Rập 1, 2, 3, 4 theo thứ tự từ trái sangphải, từ trên xuống dưới

Theo kiểu UTM quốc tế, mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000 chia thành 16 mảnh bản đồ

tỷ lệ 1:250000, mỗi mảnh cũng có kích thước 10X1030' ký hiệu bằng các số Ả Rập từ 1 tới

16 theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:250000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 000chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:250 000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:250

000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 000, phần trong ngoặc là phiên hiệu mảnh bản đồ đó theokiểu UTM quốc tế

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:250 000 có phiên hiệu F-48-D-1 (NF-48-11).

Trang 27

d Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:100 000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000 chia thành 96 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000, mỗimảnh có kích thước 30'x30', ký hiệu bằng số Ả Rập từ 1 đến 96 theo thứ tự từ trái sang phải,

từ trên xuống dưới

Theo kiểu UTM quốc tế, hệ thống bản đồ tỷ lệ 1:100 000 được phân chia độc lập sovới hệ thống bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000 Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000 gồm 4 số, 2

số đầu bắt đầu bằng 00 là số thứ tự của các múi có độ rộng 30' theo kinh tuyến xuất phát từkinh tuyến 750Đ tăng dần về phía Đông (múi nằm giữa độ kinh 1020Đ và 102030'Đ là cột54), 2 số sau bắt đầu bằng 01 là số thứ tự của các đai có độ rộng 30' theo vĩ tuyến xuất phát

từ vĩ tuyến 40 Nam bán cầu (vĩ tuyến -40) tăng dần về phía cực (đai nằm giữa độ vĩ 80 và8030' là 25)

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1 000

000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000, phần trongngoặc là phiên hiệu mảnh bản đồ đó theo kiểu UTM quốc tế

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000 có phiên hiệu F-48-68 (6151).

Trang 28

e Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50 000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000 được chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50 000, mỗimảnh có kích thước 15' x 15', ký hiệu bằng A, B, C, D theo thứ tự từ trái sang phải, từ trênxuống dưới

Theo kiểu UTM quốc tế, việc chia thành mảnh thực hiện tương tự, phiên hiệu mảnhbằng chữ số La mã I, II, III, IV theo thứ tự bắt đầu từ mảnh góc Đông Bắc theo chiều kimđồng hồ

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50 000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50 000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50

000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000, phần trong ngoặc là phiên hiệu mảnh bản đồ đó theokiểu UTM quốc tế (phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50 000 theo kiểu UTM quốc tế cũng đặttheo nguyên tắc trên nhưng không có gạch ngang)

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50 000 có phiên hiệu F-48-68-D (6151II).

Trang 29

f Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50 000 chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25 000, mỗi mảnh

có kích thước 7'30'' x 7'30'', ký hiệu bằng a, b, c, d thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuốngdưới

Hệ thống UTM quốc tế không phân chia các mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25 000 và lớn hơn.Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50 000chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25 000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25

000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50 000.Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25 000 có phiên hiệu

F-48-68-D-d.

g Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ: 1:10 000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25 000 được chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10 000, mỗimảnh có kích thước 3'45'' x 3'45'', ký hiệu bằng 1, 2, 3, 4 theo thứ tự từ trái sang phải, từtrên xuống dưới

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25 000chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10 000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10

000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25 000

Ví dụ mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 10 000 có phiên hiệu F-48-68-D-d-4.

h Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:5 000

Trang 30

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000 được chia thành 256 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000, mỗimảnh có kích thước 1'52,5'' x 1'52,5'', ký hiệu bằng số từ 1 đến 256 theo thứ tự từ trái sangphải, từ trên xuống dưới.

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ: 1:5000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100000chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100 000 đặt trong ngoặc đơn

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 5 000 có phiên hiệu F-48-68(256)

k Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000 được chia thành 9 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000, mỗimảnh có kích thước 37,5'' x 37,5'', ký hiệu bằng chữ La-tinh a, b, c, d, e, f, g, h, k (bỏ qua i, j

để tránh nhầm lẫn với 1) theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000 chứamảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 trongmảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000, đặt trong ngoặc đơn cả ký hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000 vàmảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 2.000 có phiên hiệu F-48-68(256-k)

* Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ lớn

Bản đồ địa hình tỷ lệ lớn 1:1000 và 1:500 chỉ được thành lập cho các khu vực nhỏ,

có thể thiết kế hệ thống phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh phù hợp cho từng trường hợp cụthể Ngoài ra, cũng có thể sử dụng cách phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh theo hệ thốngchung như sau:

a Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:1000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000, ký hiệu bằngchữ số La Mã I, II, III, IV theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 chứamảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 trongmảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000, đặt trong ngoặc đơn cả ký hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000,mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 và mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 có phiên hiệu F-48-68(256-k-IV)

b Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:500

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 được chia thành 16 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500, ký hiệubằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 16 theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới

Trang 31

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 chứamảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 trongmảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000, đặt trong ngoặc đơn cả ký hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500,mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 và mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500.

Bản đồ tỷ lệ 1/ 10.000

Dựa theo giới hạn khu đo, từ xích đạo và kinh tuyến trục của từng Tỉnh, thành phốTrung ương, chia khu đo thành các ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế là 6 x 6 kmtương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1/10000 Kích thước hữu ích của bản đồ là 60 x 60 cmtương ứng với diện tích đo vẽ là 3600 ha

Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/10000 gồm 8 chữ số: hai số đầu là 10, tiếp sau là dấu gạchnối, ba số tiếp là số chẵn km của tọa độ X, ba số tiếp sau là số chẵn km của tọa độ Y củađiểm góc trái trên của mảnh bản đồ

Ví dụ: Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/10000 là: 10-340 500

Trang 32

Bản đồ tỷ lệ 1/ 5000

Chia mảnh bản đồ 1/10000 thành 4 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế là 3 x

3 km tương ứng với một mảnh bản đồ 1/5000 Kích thước hữu ích của bản đồ là 60 x 60 cmtương ứng với diện tích đo vẽ là 900 ha

Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/5000 chỉ ghi 6 số, ba số tiếp là số chẵn km của tọa độ X,

ba số tiếp sau là số chẵn km của tọa độ Y của điểm góc trái trên của mảnh bản đồ

Ví dụ: Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/5000 là: 340 503

 Bản đồ tỷ lệ 1/ 2000

Chia mảnh bản đồ 1/ 5000 chia thành 9 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 1

x 1 km tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 Kích thước hữu ích của bản đồ là 50 x

50 cm tương ứng với diện tích đo vẽ là 100 ha

Các ô vuông được đánh số bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 9 theo nguyên tắc từ trái quaphải và từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 bao gồm số hiệu mảnh1/5000, gạch nối và số thứ tự ô vuông

Ví dụ: Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 là: 340 503-3

Trang 33

Bản đồ tỷ lệ 1/ 1000

Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 thành 4 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tê là0.5 x 0.5 km tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000 Kích thước hữu ích của bản đồ là

50 x 50 cm tương ứng với diện tích đo vẽ là 25 ha

Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng các chữ cái a, b, c, d theo nguyên tắc từ trái quaphải và từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ 1/1000 bao gồm số hiệu mảnh 1/2000,gạch nối và số thứ tự ô vuông

Ví dụ: Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000 là: 340 503-3-d

Bản đồ tỷ lệ 1/ 500

Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 thành 16 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế0.25 x 0.25 km tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1/500 Kích thước hữu ích của bản đồ

là 50 x 50 cm tương ứng với diện tích đo vẽ 6.25 ha

Các ô vuông được đánh số thứ tự từ 1 đến 16 theo nguyên tắc từ trái qua phải và từtrên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/500 bao gồm số hiệu mảnh 1/2000, gạch nối

và số thứ tự ô vuông trong ngoặc đơn

Ví dụ: Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/500 là: 340 503-3-(4)

Trang 34

 Bản đồ tỷ lệ 1/ 200

Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 thành 100 ô vuông Mỗi ô vuông có kích thước thực tế0.10 x 0.10 km tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1/200 Kích thước hữu ích của bản đồ

là 50 x 50 cm tương ứng với diện tích đo vẽ là 1 ha

Các ô vuông được đánh số thứ tự từ 1 đến 100 theo nguyên tắc từ trái qua phải và từtrên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/200 bao gồm số hiệu mảnh 1/2000, gạch nối

và số thứ tự ô vuông

Ví dụ: Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1/200 là: 340 503-3-(19)

b Bản đồ địa chính

Bản đồ địa chính được phân chia cơ bản theo nguyên tắc một mảnh bản đồ địa chính

cơ sở là một mảnh bản đồ địa chính Kích thước khung trong của mảnh bản đồ địa chính lớnhơn kích thước khung trong của mảnh bản đồ địa chính sơ sở 10 hoặc 20 cm

Số hiệu mảnh bản đồ địa chính bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính cơ sở đó và sốthứ tự của tờ bản đồ địa chính đánh theo đơn vị hành chính xã bằng số Ả Rập từ 01 đến hếttheo nguyên tắc từ trái qua phải, từ trên xuống dưới

Ví dụ: Số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1/200 là: 340 503-3-(19) tờ số 22

Trang 35

Chương 3 TRÌNH BÀY BẢN ĐỒ 3.1 KÝ HIỆU BẢN ĐỒ

3.1.1 Khái niệm và vai trò của ký hiệu bản đồ

Ký hiệu bản đồ là một đặc trưng cơ bản của bản đồ, đó chính là hình thức thể hiện nộidung của bản đồ Có thể coi ký hiệu bản đồ là một thứ ngôn ngữ của bản đồ và tạo thànhmột trong những hệ thống ký hiệu khoa học riêng Cũng như các ngôn ngữ khác, ngôn ngữbản đồ là hình thái thể hiện trực tiếp những ý nghĩ và là phương tiện để trợ giúp sự tổnghợp Chức năng của ngôn ngữ bản đồ là truyền đạt nội dung bản đồ

3.1.2 Phân loại ký hiệu bản đồ

Có thể phân loại theo hai cách sau:

a.Phân loại dựa vào đặc điểm về tỷ lệ của ký hiệu

Các ký hiệu được chia làm 3 loại sau:

- Các ký hiệu được vẽ theo tỷ lệ bản đồ

Là những ký hiệu có kích thước được tính theo tỷ lệ so với kích thước thực tế của địavật Các ký hiệu này thường được dùng để biểu thị các đối tượng có kích thước lớn như hồ

ao, sông, suối, thửa đất, rừng, vườn cây (Hình 3.5)

- Các ký hiệu bán tỷ lệ hay còn gọi là các ký hiệu nửa tỷ lệ

Là những ký hiệu có một chiều vẽ theo tỷ lệ và một chiều vẽ theo quy định, thườngđược dùng để biểu thị cho các đối tượng có dạng tuyến như đường giao thông, đường ranhgiới, sông suối có chiều ngang quá hẹp, không thể vẽ được theo tỷ lệ bản đồ Vị trí chínhxác của các ký hiệu này chính là vị trí tâm trục của ký hiệu (Hình 3.6)

- Các ký hiệu không vẽ theo tỷ lệ hay còn gọi là kí hiệu phi tỷ lệ (ký hiệu quy ước)

Là những ký hiệu có hình dạng và kích thước khác nhau, không theo đúng tỷ lệ, kíchthước của địa vật mà theo quy ước Loại ký hiệu này được dùng để biểu thị cho các đốitượng nhỏ, không vẽ theo tỷ lệ được (Hình 3.7)

Trang 36

b.Phân loại dựa vào đặc điểm hình dạng của ký hiệu.

vị trí của địa vật và phần lớn không vẽ được theo tỷ lệ bản đồ

Để thể hiện các đối tượng nói trên, người ta dùng các loại ký hiệu sau:

+ Ký hiệu có dạng hình học đơn giản như hình tròn, hình vuông, tam giác, hình chữnhật, hình thoi

Ưu điểm của loại ký hiệu này là dễ vẽ, dễ nhớ, chiếm ít diện tích, có thể chỉ rõ vị tríphân bố của đối tượng Trong thực tế số lượng các hình đơn giản này không nhiều nhưngcác đối tượng trong tự nhiên cần biểu thị lại vô cùng phong phú, do đó người ta dùng thêmmàu sắc hoặc vẽ thêm các chi tiết bên trong để khắc phục nhược điểm trên

+ Ký hiệu nghệ thuật: là các ký hiệu có hình dáng giống với hình dáng thực tế củađối tượng

Dạng ký hiệu này có khả năng trực quan cao nếu đứng biệt lập Nhưng với bản đồ cónhiều nội dung thì lượng thông tin truyền đạt giảm đáng kể, các đối tượng có thể chồngchéo và che lấp nhau Mặt khác, việc dùng các loại ký hiệu trực quan không thuận tiện khi

Trang 37

so sánh và định vị các đối tượng vì chúng cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích ngay cả trênnhững bản đồ đơn giản nhất.

Ví dụ: dùng hình vẽ con tàu để biểu thị nhà máy đóng tàu, cây đàn để biểu thị chocác câu lạc bộ, hoặc các hình vẽ các loài động vật hay thực vật để biểu thị trên các bản đồđộng vật, bản đồ thực vật v.v…

+ Ký hiệu tượng trưng: Là dùng những hình vẽ tượng trưng cho đối tượng để làm kýhiệu Đó là sản phẩm của sự phối hợp tinh tế giữa ký hiệu nghệ thuật và ký hiệu hình họcđơn giản

Dùng ký hiệu tượng trưng sẽ khắc phục được nhược điểm và phát huy được mặtmạnh của phương pháp ký hiệu nghệ thuật Ký hiệu tượng trưng là sự gợi nhớ tới hình dángcủa đối tượng ngoài thực địa để người đọc có thể dễ dàng hình dung được

+ Ký hiệu chữ: Là hệ thống ký hiệu sử dụng các chữ cái đầu tiên bắt đầu tên gọi củađối tượng được biểu thị Nếu các đối tượng mà tên gọi của chúng trùng nhau ở chữ cái đầutiên thì phải lấy thêm chữ cái thứ hai, cứ tiếp tục như vậy cho tới khi nào khắc phục được sựtrùng lặp thì thôi

Ví dụ: Trên bản đồ khoáng sản, dùng các ký hiệu hóa học trong bảng tuần hoàn làm kýhiệu bản đồ Al ký hiệu cho các mỏ nhôm, chữ U cho mỏ uran, Cu cho mỏ đồng

Al Cu

Chính vì vậy việc sử dụng ký hiệu chữ còn nhiều bất tiện, tuy chúng cho phép đọcnhanh các đối tượng nhưng khó xác định vị trí, ký hiệu cồng kềnh chiếm một diện tíchtương đối lớn trên bản đồ, không nêu được chính xác vị trí phân bố của đối tượng, khó so

Trang 38

sánh về độ lớn Mặt khác ký hiệu chữ hạn chế sự truyền đạt thông tin vì bản đồ nước nàothì sử dụng ngôn ngữ của nước đó, do đó ký hiệu chữ thường ít được sử dụng.

- Ký hiệu dạng đường

Đó là các ký hiệu có dạng hình tuyến (Hình 3.11), được dùng để biểu thị cho các đốitượng phân bố theo chiều dài như đường giao thông, sông suối, đường địa giới, đường dâyđiện

Nếu các ký hiệu hình tuyến có kích thước đủ lớn, thì được vẽ theo tỷ lệ bản đồ Vớinhững đối tượng có chiều ngang hẹp như đường dây điện, sông, suối nhỏ thì chiều dài được

vẽ theo tỷ lệ, còn chiều rộng được vẽ theo ký hiệu quy ước Các ký hiệu này còn gọi là các

ký hiệu bán tỷ lệ (hay nửa tỷ lệ)

- Ký hiệu dạng vùng (ký hiệu diện tích)

Các ký hiệu dạng vùng được dùng để biểu thị những đối tượng mà diện tích củachúng biểu thị được theo tỷ lệ bản đồ Đường viền của ký hiệu có thể được vẽ bằng nét liền,nét đứt, bằng các điểm chấm hoặc bằng các ký hiệu đường tuyến khác Bên trong đườngviền có thể dùng màu sắc, ký hiệu hoặc các ghi chú bằng chữ hay số để thể hiện đặc trưngcủa đối tượng cần thể hiện

Trang 39

Các ký hiệu diện tích chỉ rõ vị trí phân bố của đối tượng, các đặc điểm về số lượng vàchất lượng của các hiện tượng được biểu thị (như kích thước, diện tích hay các đặc điểm về

số lượng khác)

3.1.3 Nguyên tắc vẽ ký hiệu bản đồ.

Ký hiệu bản đồ được cấu tạo từ 6 kiểu phần tử đồ họa (còn gọi là 6 biến trị trực quan)như sau: hình dạng, kích thước, hướng, mầu sắc, độ sáng, cấu trúc

Mỗi ký hiệu có thể được cấu tạo nên từ một hoặc một số phần tử đã nêu

- Hình dạng: Các ký hiệu với hình dạng khác nhau thường được dùng để biểu thị cácđối tượng khác nhau về nghĩa Người ta phân biệt các đối tượng biểu thị trên bản đồ ra làm

ba dạng: dạng điểm, dạng tuyến, dạng vùng (diện) Tương đương, ta có các ký hiệu dạngđiểm, dạng đường, dạng vùng

- Kích thước của ký hiệu (to - nhỏ, cao - thấp, rộng - hẹp, dầy - mỏng, v.v…) thườngđược dùng để phản ánh về mặt định lượng hoặc quy mô của đối tượng (lớn - nhỏ, nhiều - ít,mạnh - yếu, v.v…)

Hình 3.10: Cấu tạo của ký hiệu bản đồ

Trang 40

- Mầu sắc của ký hiệu là các sắc mầu (xanh, đỏ, tím, vàng,v.v …) thường được dùng

để phản ánh thuộc tính về tính chất đối tượng (ví dụ: phân biệt các loại hình sử dụng đất)hoặc trạng thái của đối tượng (ví dụ: Hồ có nước quanh năm, hồ có nước theo mùa,v.v…)

- Hướng của ký hiệu là dùng những ký hiệu giống nhau nhưng sắp đặt theo các hướngkhác nhau trên bản đồ, thường được dùng để biểu thị hướng phân bố của đối tượng (ví dụ:Hướng nhà), hoặc trạng thái (ví dụ: Ký hiệu cửa hầm lò đang khai thác và ngừng khai thác

có hướng ngược nhau 180o) Nhưng trong thực tế ít sử dụng các ký hiệu phân biệt hướng vì

dễ nhầm lẫn

- Độ sáng là mức độ gần của mầu so với mầu trắng (được đo bằng hệ số phản chiếucủa bề mặt nhận ánh sáng), thường được dùng để phản ánh mức độ khác nhau giữa các đốitượng, theo một quy ước phân bậc, phân khoảng theo chiều tăng dần hoặc giảm dần

Hình 3.11: Kích thước của ký hiệu bản đồ đặc trưng về số lượng của đối tượng

Hình 3.12: Mầu sắc của ký hiệu bản đồ đặc trưng về chất lượng của đối tượng

Ngày đăng: 30/06/2016, 08:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Một phần của bảng chú giải cho bản đồ địa hình - BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC
Hình 1.1. Một phần của bảng chú giải cho bản đồ địa hình (Trang 5)
Hình 2.7. Mô tả phép chiếu bản đồ - BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC
Hình 2.7. Mô tả phép chiếu bản đồ (Trang 19)
Hình 3.10: Cấu tạo của ký hiệu bản đồ - BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC
Hình 3.10 Cấu tạo của ký hiệu bản đồ (Trang 39)
Hình 3.11: Kích thước của ký hiệu bản đồ đặc trưng về số lượng của đối tượng - BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC
Hình 3.11 Kích thước của ký hiệu bản đồ đặc trưng về số lượng của đối tượng (Trang 40)
Hình 3.12: Mầu sắc của ký hiệu bản đồ đặc trưng về chất lượng của đối tượng - BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC
Hình 3.12 Mầu sắc của ký hiệu bản đồ đặc trưng về chất lượng của đối tượng (Trang 40)
Hình 3.26: Vòng tròn màu - BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC
Hình 3.26 Vòng tròn màu (Trang 47)
Hình 3.28: Các thang ký hiệu - BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC
Hình 3.28 Các thang ký hiệu (Trang 56)
Hình 4.9: Thước tỷ lệ xiên - BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC
Hình 4.9 Thước tỷ lệ xiên (Trang 87)
Hình 4.11: Đo độ dài đường gấp khúc - BÀI GIẢNG BẢN ĐỒ HỌC
Hình 4.11 Đo độ dài đường gấp khúc (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w