1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy tiết luyện tập môn Hoá học lớp 10 ở trường THPT Đống Đa

31 955 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Lý do chọn đề tài Hóa học cũng như bất cứ môn học nào khác ở nhà trường đều cung cấp kiến thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học cho HS và đóng góp vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy người học. Trong quá trình giảng dạy, người thầy luôn phải đặt ra cái đích, đó là giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản, hình thành phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo, tạo thái độ và động cơ học tập đúng đắn để HS có khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh những nội dung kiến thức mới theo xu thế của thời đại và giải quyết phù hợp các vấn đề nảy sinh. Hóa học là môn khoa học tự nhiên, nghiên cứu tính chất, sự vật, hiện tượng có tính ứng dụng thực tiễn cao. Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Hóa học ở trường THPT Đống Đa, tôi nhận thấy rằng HS gặp khó khăn khi phải củng cố khắc sâu hệ thống kiến thức, kỹ năng …việc ghi nhớ của các em gần như tái hiện lại nguyên văn trong SGK làm cho việc học tập trở nên nhàm chán, máy móc, thụ động, không sáng tạo. Để nâng cao chất lượng dạy học, cần phải đổi mới phương pháp dạy học các môn học ở trường phổ thông nói chung và môn Hoá học nói riêng đặc biệt trong quá trình giảng dạy tiết tự chọn hóa học ở chương trình phổ thông . Bên cạnh đó sự góp mặt của công nghệ thông tin được ứng dụng vào môn hoá học đã góp phần cải thiện sự nhàm chán và gây hứng thú học tập bộ môn cho HS. Để đa dạng hóa các hình thức dạy học, để khắc sâu kiến thức trong bộ não một cách lôgic mà lại phát huy được khả năng tiềm ẩn trong bộ não của HS, trong quá trình giảng dạy của mình, tôi thường hướng dẫn HS ghi nhớ bài học dưới dạng từ khóa và chuyển cách ghi bài truyền thống sang phương pháp ghi bài bằng BĐTD. Chúng tôi thấy phương pháp này là thực sự cần thiết nhằm giúp HS rút ngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ lâu, dễ dàng hệ thống hoá kiến thức với lượng lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em. Vì vậy, tôi đã “Sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy tiết luyện tập môn Hoá học lớp 10 ở trường THPT Đống Đa’’. II. Mục đích đề tài Nghiên cứu sử dụng bản đồ tư duy để tổ chức hoạt động học tập cho học sinh trong giờ luyện tập hoá học lớp 10 THPT nhằm nâng cao năng lực nhận thức và tư duy logic, giúp học sinh biết nắm bắt các kiến thức cốt lõi, bản chất, tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức và vận dụng sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn. III. Đối tượng nghiên cứu Sử dụng bản đồ tư duy vào việc tổ chức tiết luyện tập cho học sinh trong dạy học phần hóa học lớp 10 nhằm góp phần đổi mới PPDH hóa học theo hướng dạy học tích cực. IV. Đối tượng khảo sát thực nghiệm Nghiên cứu trên nhóm học sinh lớp 10 đặc biệt lớp tôi trực tiếp giảng dạy V. Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu. 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn + Thăm dò lấy ý kiến của giáo viên, học sinh về giảng dạy có sử dụng BĐTD trong các tiết luyện tập trong dạy học hóa học. + Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm bước đầu kiểm nghiệm tính hiệu quả, khả thi của những đề xuất. 3. Phương pháp xử lý thông tin: Xử lý kết quả thực nghiệm bằng phương pháp thống kê toán học. VI. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 1. Nghiên cứu cấu trúc BĐTD và khả năng vận dụng BĐTD trong việc tổ chức tiết luyện tập cho học sinh trong dạy học phần hóa học lớp 10. 2. Đề xuất sử dụng BĐTD cho một số nội dung bài dạy trong chương trình hóa học lớp 10. 3. Xây dựng giáo án bài dạy có sử dụng BĐTD. 4. Bước đầu thực nghiệm sư phạm đánh giá sự phù hợp của các đề xuất và tính hiệu quả của BĐTD.

Trang 2

Trong quá trình giảng dạy, người thầy luôn phải đặt ra cái đích, đó là giúp

HS nắm vững kiến thức cơ bản, hình thành phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo, tạothái độ và động cơ học tập đúng đắn để HS có khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh

2

Trang 3

những nội dung kiến thức mới theo xu thế của thời đại và giải quyết phù hợp cácvấn đề nảy sinh.

Hóa học là môn khoa học tự nhiên, nghiên cứu tính chất, sự vật, hiện tượng

có tính ứng dụng thực tiễn cao Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy bộ mônHóa học ở trường THPT Đống Đa, tôi nhận thấy rằng HS gặp khó khăn khi phảicủng cố khắc sâu hệ thống kiến thức, kỹ năng …việc ghi nhớ của các em gầnnhư tái hiện lại nguyên văn trong SGK làm cho việc học tập trở nên nhàm chán,máy móc, thụ động, không sáng tạo

Để nâng cao chất lượng dạy học, cần phải đổi mới phương pháp dạy học cácmôn học ở trường phổ thông nói chung và môn Hoá học nói riêng đặc biệt trongquá trình giảng dạy tiết tự chọn hóa học ở chương trình phổ thông Bên cạnh

đó sự góp mặt của công nghệ thông tin được ứng dụng vào môn hoá học đã gópphần cải thiện sự nhàm chán và gây hứng thú học tập bộ môn cho HS Để đadạng hóa các hình thức dạy học, để khắc sâu kiến thức trong bộ não một cáchlôgic mà lại phát huy được khả năng tiềm ẩn trong bộ não của HS, trong quátrình giảng dạy của mình, tôi thường hướng dẫn HS ghi nhớ bài học dưới dạng

từ khóa và chuyển cách ghi bài truyền thống sang phương pháp ghi bài bằngBĐTD Chúng tôi thấy phương pháp này là thực sự cần thiết nhằm giúp HS rútngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ lâu, dễ dàng hệ thống hoá kiến thức

với lượng lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em Vì vậy, tôi đã “Sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy tiết luyện tập môn Hoá học lớp 10

ở trường THPT Đống Đa’’.

II Mục đích đề tài

Nghiên cứu sử dụng bản đồ tư duy để tổ chức hoạt động học tập cho họcsinh trong giờ luyện tập hoá học lớp 10 THPT nhằm nâng cao năng lực nhậnthức và tư duy logic, giúp học sinh biết nắm bắt các kiến thức cốt lõi, bản chất,tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức và vận dụng sáng tạo trong việc giải quyếtcác vấn đề học tập và thực tiễn

III Đối tượng nghiên cứu

Trang 4

Sử dụng bản đồ tư duy vào việc tổ chức tiết luyện tập cho học sinh trongdạy học phần hóa học lớp 10 nhằm góp phần đổi mới PPDH hóa học theohướng dạy học tích cực.

IV Đối tượng khảo sát thực nghiệm

Nghiên cứu trên nhóm học sinh lớp 10 đặc biệt lớp tôi trực tiếp giảng dạy

V Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp các cơ sở lý luận liênquan đến đề tài nghiên cứu

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Thăm dò lấy ý kiến của giáo viên, học sinh về giảng dạy có sử dụng BĐTD

trong các tiết luyện tập trong dạy học hóa học

+ Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm bước đầu kiểm

nghiệm tính hiệu quả, khả thi của những đề xuất

3 Phương pháp xử lý thông tin: Xử lý kết quả thực nghiệm bằng phương pháp

thống kê toán học

VI Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu

1 Nghiên cứu cấu trúc BĐTD và khả năng vận dụng BĐTD trong việc tổ chứctiết luyện tập cho học sinh trong dạy học phần hóa học lớp 10

2 Đề xuất sử dụng BĐTD cho một số nội dung bài dạy trong chương trình hóahọc lớp 10

3 Xây dựng giáo án bài dạy có sử dụng BĐTD

4 Bước đầu thực nghiệm sư phạm đánh giá sự phù hợp của các đề xuất và tínhhiệu quả của BĐTD

5 Kế hoạch nghiên cứu được thực hiện trên lớp học sinh lớp 10 của nhà trườngtrong năm học 2014-2015

4

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI

I CƠ SỞ KHOA HOC THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI

Bản đồ tư duy do Tony buzan là người đầu tiên nghiên cứu tìm ra hoạt độngcủa não bộ và ứng dụng vào cuộc sống Bản đồ tư duy ( còn gọi là sơ đồ tư duyhay lược đồ tư duy ) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ýtưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợpviệc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tíchcực

Theo các nhà nghiên cứu, thông thường ở trường phổ thông, HS mới chỉ sửdụng bán cầu não trái ( thông qua chữ viết, kí tự, chữ số, ) để tiếp thu và ghinhớ kiến thức mà chưa sử dụng bán cầu não phải ( nơi ghi nhớ thông tin kiếnthức thông qua hình ảnh, màu sắc ) tức là mới chỉ sử dụng 50% khả năng củanão bộ Kiểu ghi chép của BĐTD thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu sắcđược trải theo các hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng nên dễ bổ sung

Trang 6

Bản đồ tư duy có những ưu điểm sau :

- Lôgic, mạch lạc

- Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ

- Nhìn thấy “bức tranh tổng thể mà lại chi tiết”

- Dễ dạy, dễ học

- Kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của học sinh

- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức

- Giúp hệ thống hóa kiến thức, ôn tập kiến thức

- Giúp ghi nhớ nhanh , nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức

Điểm mạnh nhất của BĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ýtưởng, từ đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo

Với những ưu điểm trên, có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiếnthức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức saumỗi chương, mỗi học kì, cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao chohiệu quả nhất mà lại mất ít thời gian

Từ cơ sở thực tiễn và khoa học nêu trên, chúng tôi chọn tên cho giải pháp

khoa học giáo dục của mình là “Sử dụng BĐTD trong quá trình giảng dạy tiết luyện tập môn Hoá học lớp 10 ở trường THPT Đống Đa’’.

II NỘI DUNG

II.1 Khái niệm bản đồ tư duy ( lược đồ tư duy)

Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng và đơn giản, làphương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả

Bản đồ tư duy cho ta một cách nhìn tổng quan về một vấn đề hay một lĩnhvực rộng lớn Cho ta thấy rõ và kết nối những ý tưởng và thông tin tổng hợp đồng thời hiểu được các mối quan hệ chủ chốt, tập hợp số lượng lớn dữ liệu vào một chỗ Có thể nói lược đồ tư duy cũng là một tấm bản đồ

Bản đồ tư duy có cấu trúc cơ bản là các nội dung được phát triển rộng ra

từ trung tâm Rồi nối các nhánh chính tới hình ảnh trung tâm và nối các nhánhcấp hai, cấp ba với nhánh cấp một và cấp hai Điều này giống như phương thứccủa cây trong thiên nhiên nối các nhánh tỏa ra từ thân của nó

6

Trang 7

II 2 Phương pháp lập bản đồ tư duy

Một số hướng dẫn khi tạo bản đồ tư duy ( lược đồ tư duy)

- Việc lập bản đồ tư duy bắt đầu từ trung tâm với 1 chủ đề hoặc hình ảnh củachủ đề

- Cần sử dụng màu sắc vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não rất tốt

- Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh nhánhcấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,… bằngcác đường kẻ

- Mỗi từ hoặc ảnh hoặc ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ

- Nên cố gắng tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,

…)

- Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được

tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều

- Cần bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm

Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin việc tạo lập lược đồ tư duy được thựchiện nhanh chóng và trực quan hơn thông qua phần mềm MindjetMindMannager

Giao diÖn cña phÇn mÒm nµy nh sau:

Trang 8

Có thể tải phần mềm này từ http:/www.mindjet.com/support.

Khi cài đặt xong ta sẽ nhận được thư cảm ơn từ ’’ Mindiet Support’’mindjetorders-noreply@mindjet.com

Khi mở chương trình, nhấn vào New để tạo sơ đồ mới Bạn có thể chọnmẫu cố định hoặc tự do > OK Nhập tên chủ đề vào ô Central Topic > ấn Enter

để hoàn thành > ấn Enter lần nữa để lập ý nhánh trong ô Main Topic Trong ônày, bạn có thể nêu các ý nhỏ hơn bằng cách bấm chuột phải > Insert Subtopic.Các nhánh có thể xóa và thêm dễ dàng Ngoài ra, người dùng còn chèn được ghichú, văn bản, hình ảnh, âm thanh, đường link trang web và tô màu sắc

- Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.

Bước đầu tiên trong việc tạo ra một BĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm trên mộtmảnh giấy (đặt nằm ngang)

Quy tắc vẽ chủ đề :

+ Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác

+ Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà bạn thích

8

Trang 9

+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cầnđược làm nổi bật dễ nhớ.

+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng

- Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ.

Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm

Quy tắc vẽ tiêu đề phụ :

+ Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh dày

để làm nổi bật

+ Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm

+ Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác

Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trênnhánh Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa Việc này giúp cho nhiều từkhóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễdàng (bằng cách vẽ nối ra từ một khúc) Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra

từ một điểm Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên cócùng một màu Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ

cụ thể hơn

Ví dụ :

Trang 10

- Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của bạn bay bổng.

Bạn có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật,cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn

II 3 Ứng dụng bản đồ tư duy trong học tập

II.3.1.Ứng dụng trong đọc sách

Bản đồ tư duy trong đọc sách

II.3.2 Ứng dụng trong ghi chép

Bản đồ tư duy trong ghi chép

10

Trang 11

II.3.3 Ứng dụng trong thuyết trình

Bản đồ tư duy trong thuyết trình

II.3 4 Ứng dụng trong việc ôn tập, thi cử

Bản đồ tư duy cho việc ôn tập thi cử

Trang 13

II.4.4 Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học

Bản đồ tư duy trong nghiên cứu khoa học

Trang 14

II.3.5 Ứng dụng trong làm việc tổ nhóm

Bản đồ tư duy trong làm việc tổ nhóm

14

Trang 15

II.4 Quá trình hướng dẫn học sinh xây dựng bản đồ tư duy.

II.4.1.Các bước xây dựng bản đồ tư duy.

- Bước 1: Trước hết GV phải cho HS làm quen với BĐTD Bởi vì thực tế

cho thấy rằng rất nhiều HS cũng chưa biết BĐTD là cái gì, cấu trúc ra sao và vẽnhư thế nào, vì thế GV trước hết cần phải cho HS làm quen và giới thiệu vềBĐTD cho HS Giáo viên nên giới thiệu cho HS về nguồn gốc, ý nghĩa hay tácdụng của việc sử dụng BĐTD trong học tập môn Hoá học

Giáo viên có thể đưa ra một số BĐTD sau đó yêu cầu HS diễn giải, thuyếttrình về nội dung của BĐTD theo cách hiểu riêng của mình Với việc thực hiệnbước này sẽ giúp HS bước đầu làm quen và hiểu về BĐTD

Ví dụ : Trong bài ôn tập đầu năm GV sẽ đưa ra hệ thống hoá các khái niệm về chất yêu cầu HS diễn giải sơ đồ

- Bước 2: Sau khi đã làm quen với BĐTD giáo viên có thể giao cho HS hoặc

cùng HS xây dưng lên một BĐTD ngay tại lớp với các bài ôn tập, hệ thống hóakiến thức

- Bước 3: Sau khi HS vẽ xong bản đồ tư duy, giáo viên có thể để HS tự trình

bày ý tưởng về bản đồ tư duy mà mình vừa thực hiện được

II.4 Những điều cần tránh khi ghi chép trên bản đồ tư duy

- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng

- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết

- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép

Trang 16

VẬN DỤNG MỘT SỐ BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG QUÁ TRÌNHGIẢNG DẠY TIẾT LUYỆN TẬP HÓA HỌC LỚP 10

I Sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy tiết luyện tập hóa học lớp 10 THPT.

Qua thực tế giảng dạy bộ môn chúng tôi thấy rằng loại bài luyện tập là rấtquan trọng nhằm củng cố, hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức đồng thời rènluyện kỹ năng vận dụng giải bài tập hóa học Cấu trúc bài luyện tập ở SGK có 2phần :

- Phần 1 : Kiến thức cần nhớ

- Phần 2 : Bài tập

Cách viết của SGK ở phần 1 thường là hệ thống lại các kiến thức theo kiểuhàng ngang nếu GV không biết vận dụng phương pháp tích cực thì dạy phần nàytương đối tẻ nhạt, đơn thuần GV ra câu hỏi HS trả lời, hiệu quả cách dạy nàykhông cao

Khi sử dụng BĐTD để hệ thống hóa các kiến thức của một chương lên trênmột tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các nội dung kiến thức và được đặt trongmối liên hệ của chúng nên HS dễ nhớ và có điều kiện nhớ lâu

Để dạy phần 1 GV có hai phương pháp để triển khai :

+ Cho HS lập một BĐTD ở nhà về nội dung kiến thức cần nhớ, khi dạyphần này GV tổ chức cho HS nhận xét một vài bản đồ để chọn ra bản đồ hoànchỉnh nhất sau đó GV có thể bổ sung ý kiến của mình vào để có một bản đồchuẩn dùng cho HS nắm các kiến thức của bài học

+ Giáo viên đưa ra các từ khoá kiến thức để HS triển khai nội dung Sau đây là một số bản đồ tư duy chúng tôi đã cho học sinh xây dựng trongtiết luyện tập :

16

Trang 17

Bài 11 : Luyện tập bảng tuần hoàn, sự biến đổi tuần hoàn cấu hình electron nguyên tử và tính chất của các nguyên tố hoá học

Nguyên tắc áp dụng

Khi áp dụng một phương pháp dạy học bao giờ cũng phải tuân theo nhữngnguyên tắc chung trong dạy học: đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng, chươngtrình môn học, đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm và tính khả thi

Trang 18

II Một số bài giảng minh họa

LUYỆN TẬP CẤU TẠO VỎ NGUYÊN TỬ ( Tiết 1)

I Mục tiêu

1 Kiến thức

Học sinh nắm vững

- Vỏ nguyên tử gồm các lớp và phân lớp electron

- Các mức năng lượng của lớp, phân lớp Số electron tối đa trong một lớp,một phân lớp Cấu hình electron của nguyên tử

2 Kỹ năng

Học sinh được rèn luyện về một số dạng bài tập liên quan đến cấu hìnhelectron lớp ngoài cùng của nguyên tử 20 nguyên tố đầu Từ cấu hình electroncủa nguyên tử suy ra tính chất hoá học tiêu biểu của nguyên tố

II Chuẩn bị đồ dùng dạy học

- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm học sinh phân công mỗi nhóm chuẩn bị trước bài luyện tập bằng bản đồ tư duy

- Sơ đồ phân bố mức năng lượng của các lớp và các phân lớp

III Phương pháp dạy học chủ yếu.

- Hoạt động nhóm kết hợp phát vấn đáp, đàm thoại

IV Trọng tâm

- Viết cấu hình electron

- Xác định tính chất cơ bản của nguyên tố

Trang 19

+ số e tối đa trong lớp và phân lớp

- HS thảo luận sau đó các nhóm lên

báo cáo

- GV yêu cầu HS viết thứ tự phân

mức năng lượng trong nguyên tử

+ 3 e được chia vào những lớp nào

+ điền e tối đa vào các lớp từ trong

ra ngoài cho đến hết số e có sẽ

→ có 3 e

→ chia vào lớp 1 và lớp 2

→ cấu hình e : 1s2 2s1

Trang 20

Viết cấu hình e đầy đủ Nguyên tố

nào là kim loại, phi kim

a) 2s1 b) 2s2 2p3

c) 2s2 2p6 d) 3s2 3p3

e) 3s2 3p5 g) 3s2 3p6

1 Tổng số các hạt electron (E),

proton (Z) và nơtron (N) trong

nguyên tử của một nguyên tố là 42

Biết rằng số hạt mang điện gấp đôi

số hạt không mang điện Vậy số

khối và số hiệu của nguyên tử trên

Z = 3 : 1s2 2s1 → kim loại vì có 1 engoài cùng

b) Z = 8 : 1s2 2s2 2p4 → phi kim vì có 6 engoài cùng

Z = 16 : 1s2 2s2 2p6 3s2 3p4 → phi kim vì

có 6 e ngoài cùngc) 1s2 2s2 2p3 → phi kim vì có 5 e ngoàicùng

1s2 2s2 2p5 → phi kim vì có 7 e ngoài cùngBài 8 SGK trang 30

a) 1s2 2s1 → kim loại b) 1s2 2s2 2p3 → phi kimc) 1s2 2s2 2p6 → khí hiếm d) 1s2 2s2 2p6 3s2 3p3 → phi kime) 1s2 2s2 2p6 3s2 3p5 → phi kimg) 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 → khí hiếm

Z

Z N

N     2N + N = 423N =42  N =14 do đó Z = N =14

A = Z + N = 14 + 14 = 28Vậy: A =28 và Z = 14

20

Trang 21

2 Tổng số các hạt electron, proton

và nơtron trong nguyên tử của một

nguyên tố là 46 Biết rằng trong đó

số electron ít hơn số nơtron một

hạt Vậy đó là nguyên tử của

nguyên tố có số hiệu và số khối là:

A) 53 và 127 B) 35 và 80

C) 17 và 35,5 D) 15 và 31

3 Tổng số các hạt electron, proton

và nơtron trong nguyên tử của một

nguyên tố là 42 Vậy đó là nguyên

tử của nguyên tố có số hiệu và số

GV hưỡng dẫn cách học bài, hướng dẫn học sinh làm các bài tập, hướng dẫn cách chuẩn bị bài mới,nhắc lại mục tiêu cần đạt của bài học

Tiết 58 : LUYỆN TẬP OXI VÀ LƯU HUỲNH( Tiết 2)

I Mục tiêu bài học

Ngày đăng: 21/07/2016, 22:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 - SKKN Sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy tiết luyện tập môn Hoá học lớp 10  ở trường THPT Đống Đa
th ị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 (Trang 27)
Đồ thị  đường luỹ tích bài kiểm tra số 2Nhận xét: - SKKN Sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy tiết luyện tập môn Hoá học lớp 10  ở trường THPT Đống Đa
th ị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2Nhận xét: (Trang 28)
Đồ thị các đường lũy tích của lớp thực nghiệm luôn nằm bên phải và phía dưới các đường luỹ tích của lớp đối chứng - SKKN Sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy tiết luyện tập môn Hoá học lớp 10  ở trường THPT Đống Đa
th ị các đường lũy tích của lớp thực nghiệm luôn nằm bên phải và phía dưới các đường luỹ tích của lớp đối chứng (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w