1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGÂN HÀNG CÂU HỎI BẢN ĐỒ HỌC

12 413 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 129,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ bản đồ là tỷ số giữa độ dài một đoạn thẳng trên bản đồ với hình chiếu nằm ngang tương ứng của nó ở ngoài thực địa và được ký hiệu dưới dạng phân số có tử số là 1, M được gọi là mẫu số tỷ lệ bản đồ: 1/M. Các bản đồ tỉ lệ lớn, không ảnh hưởng của độ cong Trái Đất, thì hình chiếu ngang bằng chiều dài tuyến tính. Vì vậy có thể gọi tỉ lệ bản đồ là tỉ số độ dài một đoạn trên bản đồ với độ dài tương ứng của nó trên thực địa. Như vậy tỉ lệ là mức độ thu nhỏ các đối tượng thực địa để đưa lên bản đồ. Hệ quả của sự lựa chọn tỉ lệ cho bản đồ là diện mạo của bản đồ và khả năng truyền tin của nó. Tỉ lệ được vận hành liên tục từ lớn đến nhỏ. Bản đồ tỉ lệ lớn biểu hiện phần nhỏ của bề mặt Trái Đất, thông tin biểu thị rất chi tiết. Ngược lại, bản đồ tỉ lệ nhỏ biểu thị khu vực lớn của Trái Đất nên các chi tiết bị giới hạn khi đưa lên bản đồ. Tỉ lệ cuối cùng được lựa chọn để thiết kế bản đồ phụ thuộc vào mục đích của bản đồ và kích thước chung của lãnh thổ được biểu thị. Mức độ chi tiết địa lí cần thiết để thoả mãn mục đích của bản đồ sẽ là một chuẩn mực khi lựa chọn tỉ lệ. Hệ quả quan trọng thứ hai của sự lựa chọn tỉ lệ là ảnh hưởng của nó tới kí hiệu hoá. Khi thay đổi từ tỉ lệ lớn sang tỉ lệ nhỏ, đối tượng của bản đồ phải được tái biểu thị với các kí hiệu không còn giống thực theo tỉ lệ và được tổng quát hoá nhiều hơn. Tỉ lệ, kí hiệu bản đồ và lưới chiếu bản đồ phụ thuộc lẫn nhau và sự lựa chọn từng yếu tố sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến bản đồ cuối cùng. Sự lựa chọn tỉ lệ là sự quyết định quan trọng nhất trong quá trình thiết kế bản đồ. Câu 2. Nêu khái niệm ký hiệu bản đồ. Ký hiệu bản đồ là một đặc trưng cơ bản của bản đồ, đó chính là hình thức thể hiện nội dung của bản đồ. Có thể coi ký hiệu bản đồ là một thứ ngôn ngữ của bản đồ và tạo thành một trong những hệ thống ký hiệu khoa học riêng. Cũng như các ngôn ngữ khác, ngôn ngữ bản đồ là hình thái thể hiện trực tiếp những ý nghĩ và là phương tiện để trợ giúp sự tổng hợp. Chức năng của ngôn ngữ bản đồ là truyền đạt nội dung bản đồ. Câu 3. Thế nào là bản đồ địa hình? Bản đồ địa hình là một mô hình đồ họa về mặt đất, nó cho ta khả năng nhận thức bề mặt địa lý bằng cái nhìn tổng quát, dễ thấy, dễ lấy thông tin, đếm đọc chi tiết hoặc đo đạc chính xác. Trên bản đồ địa hình thể hiện tọa độ, độ cao của bất kì điểm nào trên mặt đất, xác định được khoảng cách giữa hai điểm… Ngoài ra bản đồ địa

Trang 1

BẢN ĐỒ HỌC Câu 1 Tỷ lệ bản đồ là gì?

Tỷ lệ bản đồ là tỷ số giữa độ dài một đoạn thẳng trên bản đồ với hình chiếu nằm ngang tương ứng của nó ở ngoài thực địa và được ký hiệu dưới dạng phân số có tử số là 1, M được gọi là mẫu số tỷ lệ bản đồ: 1/M.

Các bản đồ tỉ lệ lớn, không ảnh hưởng của độ cong Trái Đất, thì hình chiếu ngang bằng chiều dài tuyến tính Vì vậy có thể gọi tỉ lệ bản đồ là tỉ số độ dài một đoạn trên bản đồ với độ dài tương ứng của nó trên thực địa Như vậy tỉ lệ là mức độ thu nhỏ các đối tượng thực địa

để đưa lên bản đồ

Hệ quả của sự lựa chọn tỉ lệ cho bản đồ là diện mạo của bản đồ và khả năng truyền tin của nó Tỉ lệ được vận hành liên tục từ lớn đến nhỏ Bản đồ tỉ lệ lớn biểu hiện phần nhỏ của

bề mặt Trái Đất, thông tin biểu thị rất chi tiết Ngược lại, bản đồ tỉ lệ nhỏ biểu thị khu vực lớn của Trái Đất nên các chi tiết bị giới hạn khi đưa lên bản đồ Tỉ lệ cuối cùng được lựa chọn để thiết kế bản đồ phụ thuộc vào mục đích của bản đồ và kích thước chung của lãnh thổ được biểu thị Mức độ chi tiết địa lí cần thiết để thoả mãn mục đích của bản đồ sẽ là một chuẩn mực khi lựa chọn tỉ lệ

Hệ quả quan trọng thứ hai của sự lựa chọn tỉ lệ là ảnh hưởng của nó tới kí hiệu hoá Khi thay đổi từ tỉ lệ lớn sang tỉ lệ nhỏ, đối tượng của bản đồ phải được tái biểu thị với các kí hiệu không còn giống thực theo tỉ lệ và được tổng quát hoá nhiều hơn

Tỉ lệ, kí hiệu bản đồ và lưới chiếu bản đồ phụ thuộc lẫn nhau và sự lựa chọn từng yếu tố sẽ

có ảnh hưởng quan trọng đến bản đồ cuối cùng Sự lựa chọn tỉ lệ là sự quyết định quan trọng nhất trong quá trình thiết kế bản đồ

Câu 2 Nêu khái niệm ký hiệu bản đồ.

Ký hiệu bản đồ là một đặc trưng cơ bản của bản đồ, đó chính là hình thức thể hiện nội dung của bản đồ Có thể coi ký hiệu bản đồ là một thứ ngôn ngữ của bản đồ và tạo thành một trong những hệ thống ký hiệu khoa học riêng Cũng như các ngôn ngữ khác, ngôn ngữ bản đồ là hình thái thể hiện trực tiếp những ý nghĩ và là phương tiện để trợ giúp sự tổng hợp Chức năng của ngôn ngữ bản đồ là truyền đạt nội dung bản đồ

Câu 3 Thế nào là bản đồ địa hình?

Bản đồ địa hình là một mô hình đồ họa về mặt đất, nó cho ta khả năng nhận thức bề mặt địa lý bằng cái nhìn tổng quát, dễ thấy, dễ lấy thông tin, đếm đọc chi tiết hoặc đo đạc chính xác Trên bản đồ địa hình thể hiện tọa độ, độ cao của bất kì điểm nào trên mặt đất, xác định được khoảng cách giữa hai điểm… Ngoài ra bản đồ địa hình còn phản ánh được các định tính, định lượng, định hình, trạng thái của các yếu tố địa lý và ghi chú địa danh của chúng

Trang 2

Bản đồ địa hình thể hiện các đối tượng có trong một khu vực trên bề mặt trái đất song không đưa tất cả đối tượng lên bản đồ mà chỉ bao gồm một lượng thông tin nhất định phụ thuộc vào không gian, thời gian và mục đích sử dụng bản đồ

Bản đồ địa hình là bản vẽ thu nhỏ dạng địa hình, địa vật trên mặt đất lên giấy theo một quy tắc toán học và tỷ lệ nhất định dựa trên cơ sở những số liệu đo đạc ngoài thực địa kết hợp với công tác ở trong phòng

Tuỳ theo tỷ lệ và mục đích sử dụng bản đồ mà người ta có thể bỏ bớt, lược đi hoặc thêm vào một số các yếu tố địa hình, địa vật

Các yếu tố nội dung bản đồ địa hình được chia thành 7 nhóm lớp theo 7 chuyên đề là:

Cơ sở toán học, Thủy hệ, Địa hình, Dân cư, Giao thông, Ranh giới và Thực vật Các yếu tố thuộc một nhóm lớp được vẽ thành một file riêng Trong một nhóm lớp, các yếu tố nội dung lại được sắp xếp theo từng lớp Cơ sở của việc phân chia nhóm lớp và lớp là các qui định về nội dung bản đồ địa hình trong "Ký hiệu bản đồ địa hình tỉ lệ 1:500; 1:1000; 1:2000 và 1:5000" ban hành năm 1995

Câu 4 Trình bày khái niệm bản đồ số.

Bản đồ số là một tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên những thiết bị có khả năng đọc bằng máy tính và được thể hiện dưới dạng hình ảnh bản đồ

Câu 5 Trình bày khái niệm bản đồ chuyên đề.

Các bản đồ chuyên đề là loại bản đồ mà nội dung của nó được quyết định bởi từng đề tài cụ thể Tuỳ thuộc vào đề tài, bản đồ sẽ phản ánh chi tiết về một chuyên đề nào đó, có thể

là một yếu tố hoặc một nhóm yếu tố địa lý tự nhiên hay kinh tế - xã hội trên bề mặt đất

Ví dụ: Bản đồ công nghiệp, bản đồ địa chất, bản đồ văn hoá giáo dục, bản đồ khí hậu, bản đồ kinh tế chung

Bản đồ chuyên đề gồm những bản đồ có nội dung hẹp, chỉ biểu hiện một vài yếu tố, một vài đối tượng có hoặc không có trên bản đồ địa lý chung nhưng được phản ánh một cách sâu sắc, thể hiện nhiều khía cạnh của nội dung đối tượng theo chủ đề bản đồ Nội dung bản

đồ được chia ra thành nội dung chính và nội dung phụ Các nội dung chính được biểu hiện sâu và nổi bật, các nội dung phụ được tổng quát hóa cao hơn

Câu 6 Trình bày khái niệm bản đồ.

Bản đồ là hình ảnh thu nhỏ bề mặt tự nhiên của trái đất hoặc bề mặt của các thiên thể khác lên trên mặt phẳng theo một quy luật toán học nhất định, thông qua việc khái quát hoá

và sử dụng một hệ thống ký hiệu quy ước nhằm phản ánh sự phân bố, trạng thái, các đặc điểm về số lượng, chất lượng và mối liên quan giữa các hiện tượng tự nhiên và xã hội

Nói một cách khác, bản đồ là sự biểu thị thu gọn toàn bộ mặt đất hoặc một phần rất lớn của bề mặt trái đất, của các thiên thể, các hành tinh khác hay bầu trời lên mặt phẳng Nó có

Trang 3

thể biểu thị toàn thế giới, một châu lục, một quốc gia hay một khu vực nào đó của bề mặt đất, hay các hành tinh khác

Câu 7 Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng quát hóa bản đồ.

Những nhân tố cơ bản quyết định tính chất và mức độ tổng quát hoá là: Tỷ lệ bản đồ, mục đích của bản đồ, đề tài (nội dung) của bản đồ và đặc điểm của các yếu tố nội dung trên lãnh thổ cần biểu thị

a Ảnh hưởng của mục đích của bản đồ

Trên bản đồ chỉ cần biểu thị những đối tượng và hiện tượng phù hợp với mục đích của

nó Những bản đồ có cùng đề tài và cùng tỷ lệ nhưng có mục đích khác nhau thì mức độ chi tiết và đặc điểm của sự biểu thị các yếu tố nội dung cũng khác nhau nên việc tổng quát hoá cũng khác nhau

VD: Bản đồ địa lý tự nhiên dành cho học sinh các cấp khác nhau là khộng thể giống nhau Mức độ chi tiết của các yếu tố tăng dần theo cấp học

b Ảnh hưởng của tỷ lệ bản đồ

Tỷ lệ bản đồ ảnh hưởng rất lớn tới khả năng dung nạp của một tờ bản đồ Những bản

đồ có cùng đề tài và mục đích sử dụng nhưng tỷ lệ khác nhau thì mức độ tổng quát hoá khác nhau Bản đồ có tỷ lệ càng lớn thì thể hiện nội dung càng chi tiết, ngược lại tỷ lệ càng nhỏ thì nội dung biểu thị càng khái lược

c Ảnh hưởng của đề tài bản đồ

Đề tài bản đồ quyết định các yếu tố nội dung nào cần thể hiện, quyết định những yếu tố nào thể hiện chi tiết nhất, những yếu tố nào thể hiện sơ lược Thể hiện rõ nhất ở các bản đồ chuyên đề

VD: bản đồ môi trường thì chỉ tập trung thể hiện hiện trạng môi trường, nguồn gây ô nhiễm môi trường, dự báo xu thế môi trường,…

d Ảnh hưởng của đặc điểm địa lý lãnh thổ biểu thị của bản đồ

Khi tổng quát hoá bản đồ cần phải xét đến đặc điểm địa lý của lãnh thổ bản đồ, bởi vì cùng là những đối tượng như nhau nhưng chúng lại có ý nghĩa khác nhau trong những điều kiện địa lý khác nhau Ví dụ: Một giếng nước ở vùng hoang mạc thì có ý nghĩa rất lớn, nhưng đối với những vùng có nguồn nước phong phú thì thì ý nghĩa của nó rất nhỏ trên bản

đồ không cần biểu thị

e Các tư liệu dùng để thành lập bản đồ

Các hệ thống ký hiệu quy ước và chữ ghi chú trên bản đồ cũng ảnh hưởng đến tổng quát hoá bản đồ.Một trong những ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tổng quát hoá bản đồ

đó là sự cung cấp của tài liệu, tư liệu bản đồ Quá trình thiết kế và thành lập bản đồ nếu được

Trang 4

cung cấp đầy đủ tư liệu, các thông tin của tư liệu mới, chính xác, tài liệu tư liệu càng chi tiết, đầy đủ bao nhiêu càng tạo sự thuận lợi cho quá trình tổng quát hoá bấy nhiêu Hơn nữa có thể thông qua các tài liệu đó để xét bản chất của đối tượng

Vd: Trên bản đồ dân cư, tài liệu đầy đủ cho phép ta vạch được sự phân bố cụ thể của từng điểm dân cư và xu hướng phát triển của chúng

Nguồn tài liệu tư liệu thành lập bản đồ càng mới, càng hiện đại, càng phù hợp với xu hướng phát triển của KHKT hiện nay thì bản đồ càng trở thành công cụ đắc lực trong việc tích luỹ và truyền đạt thông tin hiện đại nhất

Câu 8 Trình bày cách xây dựng và đặc điểm của phép chiếu UTM Vẽ hình minh họa

a Cách xây dựng

Phép chiếu UTM (Universal Transverse Mercator) được xây dựng dựa trên nền tảng của phép chiếu hình trụ ngang Mercator (Transverse Mercator – TM)

- Trong phép chiếu UTM, bề mặt Elipxôid Trái Đất được chia ra thành 60 múi theo chiều kinh tuyến; mỗi múi 6° Múi đầu tiên được đánh số 1 từ kinh tuyến 180° Tây đến 174° Tây Các vĩ tuyến được lấy từ 80° Nam đến 84° Bắc Lãnh thổ Việt Nam nằm trên 2 múi 6°

có kinh tuyến giữa là 105° và 111° Đó là các múi 48 và 49 Tại mỗi múi có hệ thống toạ độ vuông góc riêng Gốc toạ độ của mỗi múi là điểm giao nhau của xích đạo với kinh tuyến giữa của múi đó Để tránh có toạ độ âm, người ta lùi gốc toạ độ về phía Tây của kinh tuyến giữa 500 km

- Dựng hình trụ ngang cắt mặt cầu trái đất theo 2 đường cong đối xứng với nhau quá kinh tuyến giữa múi và có tỷ lệ chiếu k=1 (không bị biến dạng chiều dài) Kinh tuyến trục nằm ngoài mặt trụ có tỷ lệ chiếu k=0.9996

- Dùng tâm trái đất làm tâm chiếu, lần lượt chiếu từng múi lên mặt trụ theo nguyên lý của phép chiếu xuyên tâm

b Đặc điểm

Đây là phép chiếu hình trụ ngang đồng góc

Kinh tuyến giữa là đường thẳng Các kinh tuyến còn lại là đường cong, chiều lõm hướng về kinh tuyến giữa Xích đạo là một đường thẳng, vuông góc với kinh tuyến giữa Các

vĩ tuyến đều là những đường cong, chiều lõm hướng về phía cực gần với vĩ tuyến đó hơn Kinh vĩ tuyến đối xứng nhau qua kinh tuyến giữa hoặc qua xích đạo

Phép chiếu không có biến dạng về góc

Tỷ lệ độ dài tại kinh tuyến giữa nhỏ hơn 1 (Hệ số k = 0,9996)

Tỷ lệ độ dài là không đổi (k = 1) trên hai đường thẳng song song và đối xứng nhau qua kinh tuyến giữa và cách kinh tuyến giữa 180 km

Trang 5

Tỷ lệ biến dạng nhỏ hơn một trong khoảng giữa hai đường không biến dạng và lớn hơn

ở ngoài hai đường đó

Chỉ áp dụng cho khu vự 80 độ vĩ Nam đến 84 độ vĩ Bắc

Phép chiếu được sử dụng nhiều trong các trường hợp thiết kế bản đồ có số hiệu Bản đồ địa hình của nhiều nước trên thế giới đều dùng phép chiếu này Quân đội Mỹ sử dụng phép chiếu này cho bản đồ quân sự

Lưới chiếu UTM của quân đội Mỹ, tuỳ theo từng khu vực khác nhau dùng Elipxôid khác nhau Phần đất liền khu vực Việt Nam (trước năm 1975) tính theo Elipxôid Everest (1930)

a = 6377276 m; α = 1/300,8

- Hiện nay, bản đồ địa hình Việt Nam được thành lập trong Hệ VN2000, với phép chiếu UTM theo thể Elipxôid WGS-84 định vị phù hợp với lãnh thổ Việt Nam

Câu 9 Trình bày cách phân loại ký hiệu bản đồ theo đặc điểm về hình dạng của ký hiệu Vẽ hình minh họa.

- Ký hiệu dạng điểm

Những đối tượng địa lý phân bố theo những điểm riêng biệt (như các điểm mốc biên giới, điểm khống chế đo đạc) và các đối tượng có diện tích nhỏ không thể biểu thị lên bản đồ theo đường viền của chúng được (như trạm biến thế, trạm khí tượng, lò gạch, vôi v.v ) thì

sẽ được biểu thị bằng ký hiệu quy ước Các ký hiệu này chủ yếu được dùng để thể hiện vị trí của địa vật và phần lớn không vẽ được theo tỷ lệ bản đồ

Để thể hiện các đối tượng nói trên, người ta dùng các loại ký hiệu sau:

+ Ký hiệu có dạng hình học đơn giản như hình tròn, hình vuông, tam giác, hình chữ nhật, hình thoi

Ưu điểm của loại ký hiệu này là dễ vẽ, dễ nhớ, chiếm ít diện tích, có thể chỉ rõ vị trí phân bố của đối tượng Trong thực tế số lượng các hình đơn giản này không nhiều nhưng các

Trang 6

đối tượng trong tự nhiên cần biểu thị lại vô cùng phong phú, do đó người ta dùng thêm màu sắc hoặc vẽ thêm các chi tiết bên trong để khắc phục nhược điểm trên

+ Ký hiệu nghệ thuật: là các ký hiệu có hình dáng giống với hình dáng thực tế của đối tượng

Dạng ký hiệu này có khả năng trực quan cao nếu đứng biệt lập Nhưng với bản đồ có nhiều nội dung thì lượng thông tin truyền đạt giảm đáng kể, các đối tượng có thể chồng chéo

và che lấp nhau Mặt khác, việc dùng các loại ký hiệu trực quan không thuận tiện khi so sánh

và định vị các đối tượng vì chúng cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích ngay cả trên những bản

đồ đơn giản nhất

Ví dụ: dùng hình vẽ con tàu để biểu thị nhà máy đóng tàu, cây đàn để biểu thị cho các câu lạc bộ, hoặc các hình vẽ các loài động vật hay thực vật để biểu thị trên các bản đồ động vật, bản đồ thực vật v.v…

+ Ký hiệu tượng trưng: Là dùng những hình vẽ tượng trưng cho đối tượng để làm ký hiệu Đó là sản phẩm của sự phối hợp tinh tế giữa ký hiệu nghệ thuật và ký hiệu hình học đơn giản

Dùng ký hiệu tượng trưng sẽ khắc phục được nhược điểm và phát huy được mặt mạnh của phương pháp ký hiệu nghệ thuật Ký hiệu tượng trưng là sự gợi nhớ tới hình dáng của đối tượng ngoài thực địa để người đọc có thể dễ dàng hình dung được

+ Ký hiệu chữ: Là hệ thống ký hiệu sử dụng các chữ cái đầu tiên bắt đầu tên gọi của đối tượng được biểu thị Nếu các đối tượng mà tên gọi của chúng trùng nhau ở chữ cái đầu

Trang 7

tiên thì phải lấy thêm chữ cái thứ hai, cứ tiếp tục như vậy cho tới khi nào khắc phục được sự trùng lặp thì thôi

Ví dụ: Trên bản đồ khoáng sản, dùng các ký hiệu hóa học trong bảng tuần hoàn làm ký hiệu bản đồ Al ký hiệu cho các mỏ nhôm, chữ U cho mỏ uran, Cu cho mỏ đồng

Al Cu

Chính vì vậy việc sử dụng ký hiệu chữ còn nhiều bất tiện, tuy chúng cho phép đọc nhanh các đối tượng nhưng khó xác định vị trí, ký hiệu cồng kềnh chiếm một diện tích tương đối lớn trên bản đồ, không nêu được chính xác vị trí phân bố của đối tượng, khó so sánh về

độ lớn Mặt khác ký hiệu chữ hạn chế sự truyền đạt thông tin vì bản đồ nước nào thì sử dụng ngôn ngữ của nước đó, do đó ký hiệu chữ thường ít được sử dụng

- Ký hiệu dạng đường

Đó là các ký hiệu có dạng hình tuyến (Hình 3.11), được dùng để biểu thị cho các đối tượng phân bố theo chiều dài như đường giao thông, sông suối, đường địa giới, đường dây điện

Nếu các ký hiệu hình tuyến có kích thước đủ lớn, thì được vẽ theo tỷ lệ bản đồ Với những đối tượng có chiều ngang hẹp như đường dây điện, sông, suối nhỏ thì chiều dài được

vẽ theo tỷ lệ, còn chiều rộng được vẽ theo ký hiệu quy ước Các ký hiệu này còn gọi là các

ký hiệu bán tỷ lệ (hay nửa tỷ lệ)

- Ký hiệu dạng vùng (ký hiệu diện tích)

Trang 8

Các ký hiệu dạng vùng được dùng để biểu thị những đối tượng mà diện tích của chúng biểu thị được theo tỷ lệ bản đồ Đường viền của ký hiệu có thể được vẽ bằng nét liền, nét đứt, bằng các điểm chấm hoặc bằng các ký hiệu đường tuyến khác Bên trong đường viền

có thể dùng màu sắc, ký hiệu hoặc các ghi chú bằng chữ hay số để thể hiện đặc trưng của đối tượng cần thể hiện

Các ký hiệu diện tích chỉ rõ vị trí phân bố của đối tượng, các đặc điểm về số lượng và chất lượng của các hiện tượng được biểu thị (như kích thước, diện tích hay các đặc điểm về

số lượng khác)

Câu 10 Trình bày cách biểu thị nội dung bản đồ chuyên đề theo phương pháp nền chất lượng.

- Định nghĩa: Là phương pháp căn cứ vào chỉ tiêu chất lượng nào đó của hiện tượng để

phân chia toàn lãnh thổ bản đồ ra thành các khu vực mà trong phạm vi mỗi khu vực thì hiện tượng có tính chất đồng nhất về chất lượng

Ví dụ: Trên một khu vực người ta chia ra các loại đất khác nhau

- Trình tự xây dựng: Căn cứ vào tính chất của hiện tượng cần biểu thị tiến hành phân

loại bảng chú dẫn Phân chia lãnh thổ thành các nhóm khu vực đồng nhất về chất lượng theo dấu hiệu tự nhiên, kinh tế hoặc hành chính chính trị về ranh giới phân bố Với phạm vi phân

bố của cùng một loại, tô bằng màu sắc như nhau hoặc trải cùng một nét hoa văn như bảng chú dẫn đã thiết kế

- Đặc điểm và phạm vi ứng dụng: Phương pháp này thường dùng trên các bản đồ thổ

nhưỡng, bản đồ địa mạo, bản đồ địa chất, bản đồ sử dụng đất, bản đồ hành chính chính trị, bản đồ khoanh vùng tự nhiên kinh tế

Sự phân chia ra các khu vực có thể căn cứ vào một thuộc tính nào đó của hiện tượng

Ví dụ: Bản đồ địa chất căn cứ vào niên tạo, cũng có thể căn cứ vào chỉ tiêu tổng hợp (bản đồ phân vùng)

Theo mức độ chính xác các đường ranh giới của khu vực được phân chia có hai loại: + Đường ranh giới chính xác

+ Đường ranh giới khái lược

Trang 9

Chính xác hay khái lược chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm phân bố của hiện tượng trên thực nghiệm Có những hiện tượng có đường ranh giới rõ rang có những hiện tượng có đường ranh giói không rõ ràng và khó xác định

Bảng chú dẫn cần phải phản ánh tường tận các chỉ tiêu phân loại, cần phải chú ý các chỉ tiêu phân loại Khi lựa chọn màu sắc, cần cố gắng dùng các màu sắc gần với màu của hiện tượng để thể hiện

Phương pháp này có ưu điểm là rõ ràng, mỹ quan, nhưng giữa các hiện tượng khác nhau thì khó thể hiện được tính chuyển tiếp dần dần và sự xen kẽ trong một số trường hợp để thê hiện tính xen kẽ của hiện tượng người ta dùng cái “ cài răng lược” để biểu thị

Khi dùng phương pháp nền chất lượng có thể thể hiện 2 hiện tượng với màu sắc cho hiện tượng chủ yếu, còn gạch nét hao văn cho hiện tượng thổ nhưỡng

Câu 11 Trình bày cách sắp xếp ghi chú trên bản đồ Vẽ hình minh họa.

Để đảm bảo sự thống nhất giữa các bản đồ, khi ghi chú yêu cầu đầu tiên là phải tuyệt đối tuân theo mẫu về kiểu, cỡ và màu sắc của chữ đã được quy định trong quyển ký hiệu ở các tỷ lệ khác nhau Yêu cầu chung của việc bố trí chữ là mỗi ghi chú chỉ ra, giải thích rõ ràng đối tượng địa lý xác định Khi viết ghi chú trên bản đồ cần tính đến đặc điểm định vị của đối tượng điểm, đường và vùng

a Đối với các ký hiệu dạng điểm (như vùng dân cư, các địa vật…)

Thông thường các ghi chú được đặt đặt song song với vĩ tuyến, đầu chữ ghi chú quay lên phía Bắc của bản đồ Ghi chú thường bố trí từ phía phải, ở chỗ trống, cạnh ký hiệu khoảng 0,5 - 1mm Đối với những vùng có nhiều ký hiệu dạng điểm thì không phải lúc nào cũng có thể bố trí chữ từ phía phải Lúc này thì cho phép bố trí theo tự do và có khi ghi chú xiên, nhưng luôn phải đảm bảo ghi chú thuộc vào đối tượng nào rõ rệt Khi có trọng tải đường nét nhiều thì phải chọn hướng có độ giao cắt với nét ít nhất

b Đối với các ký hiệu dạng tuyến (như sông, suối, đường giao thông…)

Ghi chú của đối tượng phân bố theo tuyến thì ta bố trí song song đối tượng hay là dọc theo trục của nó

Nếu chiều rộng của các đối tượng nhỏ, hoặc là các đối tượng được vẽ theo ký hiệu bán

tỷ lệ thì đặt chữ ghi chú ra ngoài, tốt nhất là đặt ở phía trên hoặc bên trái ký hiệu

Trang 10

Trường hợp đặc biệt là ghi chú tên sông thì ta bố trí uốn lượn theo độ cong của nó Chữ ghi chú tên sông thường là chữ in nghiêng và việc định hướng mỗi chữ phải theo đường vuông góc với độ cong ở vị trí đó (Hình 3.32) Ghi chú tên sông bố trí không cần định hướng theo dòng chảy, mà chỉ ở vị trí thuận cho việc đọc Đối với sông lớn ta có thể ghi chú nhiều chỗ và kích thước khác nhau lớn dần về phía cửa sông Sông thể hiện ở tỷ lệ (hai nét) thì ghi chú có thể bố trí trong lòng sông

Khi ghi chú cho đối nghệ thuật tuyến cần phải theo quy định sau:

+ Nếu hướng của địa vật là Đông - Tây thì đầu chữ hướng về phía Bắc

+ Nếu hướng của địa vật là Nam - Bắc thì đầu chữ hướng về phía Tây

+ Nếu hướng của địa vật là Tây Nam - Đông Bắc thì đầu chữ hướng về phía Tây Bắc + Nếu hướng của địa vật là Tây Bắc - Đông Nam thì đầu chữ hướng về phía Đông Bắc Những quy định trên được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trong đó là hướng của đầu chữ ghi chú

Trong tất cả mọi trường hợp cần tuyệt đối không để đầu chữ quay xuống phía nam

c Đối với các đối tượng dạng vùng (như biển, vịnh, hồ, ao, các dãy nũi, dải núi…)

được sắp xếp rải theo hướng phân bố của đối tượng Phải tuỳ theo tình hình cụ thể mà sắp xếp sao cho thích hợp, mỹ quan và không vượt quá phạm vi phân bố của chúng Ghi chú có thể bố trí trong lòng đối tượng, nếu diện tích nhỏ thì bố trí bên ngoài (Hình 3.33)

Ngày đăng: 21/06/2016, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w