Nghiên cứu cơ sở khoa học và khả năng áp dụng các giải pháp nâng cao khả năng cấp nước tưới mùa kiệt của hệ thống Thủy Lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên phù hợp với các phương án điều hành các hồ thượng nguồn
Trang 1MỞ ĐẦU:
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Hệ thống Thuỷ lợi Bắc Hưng Hải là một hệ thống thuỷ lợi lớn vào bậc nhất nước ta , nằm ở giữa đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên là 214.932ha, diện tích phần trong đê là 185.600ha; diện tích đất canh tác toàn hệ thống khoảng 150.200ha bao gồm đất đai của toàn bộ tỉnh Hưng Yên (10 huyện, thành phố ), 7 huyện thị của Hải Dương, 3 huyện của tỉnh Bắc Ninh và 2 quận, huyện của thành phố Hà Nội
Toàn bộ hệ thống thủy lợi của tỉnh Hưng Yên nằm trong hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, Hưng Yên là một tỉnh mà sản xuất Nông nghiệp là ngành sản xuất chính, chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo bước chuyển biến căn bản nền sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa cơ cấu kinh tế nông thôn
Trong những năm gần đây việc xây dựng những hồ chứa nước trên thượng nguồn cộng với sự ảnh hưởng ngày càng rõ rệt do biến đổi khí hậu dẫn đến những năm gần đây mực nước sông Hồng xuống thấp kỷ lục trong vòng hơn 100 năm qua dẫn đến khả năng đảm bảo cấp nước tưới của hệ thống Bắc Hưng Hải bị ảnh hưởng rất lớn, hàng chục ngàn ha diện tích gieo trồng của hệ thống Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đứng trước nguy cơ bị hạn hán ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Vì vậy để đảm bảo việc cấp nước tưới cho hệ thống Thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn Hưng Yên thì việc nghiên cứu cơ sở khoa học và áp dụng các giải pháp nâng cao khả năng cấp nước tưới mùa kiệt cho hệ thống Thủy Lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên phù hợp với các phương án điều hành các hồ thượng nguồn là rất cần thiết
Trên đây là lý do chính và là sự cần thiết nghiên cứu của đề tài:
“Nghiên cứu cơ sở khoa học và khả năng áp dụng các giải pháp nâng cao khả năng cấp nước tưới mùa kiệt của hệ thống Thủy Lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên phù hợp với các phương án điều hành các hồ thượng nguồn“
Trang 22 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn, ứng dụng công nghệ tiên tiến để nghiên cứu
đề xuất và lựa chọn các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cấp nước tưới, khai thác,
sử dụng và phát triển bền vững nguồn nước hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải thuộc địa bàn tỉnh Hưng yên, góp phần cải tạo môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân tỉnh Hưng Yên
3 NỘI DUNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
+ Nghiên cứu xây dựng các giải pháp cấp nước và sử dụng nước trong mùa kiệt của hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
+ Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của phương án lựa chọn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá hiện trạng tình hình hạn hán của hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, nghiên cứu đề xuất các phương án cấp nước phục vụ phát triển kinh tế -xã hội đặc biệt là cấp nước cho nông nghiệp của hệ thống dưới ảnh hưởng của điều hành hệ thống hồ thượng nguồn
4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
4.1.Cách tiếp cận
- Tiếp cận theo quan điểm của hệ thống
- Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn, tổng hợp đa mục tiêu
- Tiếp cận theo mục tiêu và chiến lược phát triển bền vững của hệ thống
- Tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng trong dự án phát triển nguồn nước
- Tiếp cận đáp ứng nhu cầu cho các ngành dung nước
- Tiếp cận công nghệ và phương tiện, kỹ thuật mới
Trang 34.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu của luận văn đề tài áp dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
+ Kế thừa áp dụng có chọn lọc các sản phẩm khoa học, công nghệ hiện có trên thế giới và ở Việt Nam
+ Điều tra khảo sát thực địa, thu thập tài liệu (tài liệu hiện trạng và phương hướng phát triển dân sinh kinh tế - xã hội, hiện trạng các công trình thủy lợi trong vùng nghiên cứu)
+ Phương pháp phân tích thống kê các tài liệu dân sinh kinh tế, tài liệu khí tượng, thuỷ văn
+ Phương pháp tổng hợp địa lý xây dựng sơ đồ mạng thuỷ lực, phân tích đánh giá tài nguyên nước và sự biến đổi của chúng theo không gian bằng phương pháp phân vùng hay hệ số tham số tổng hợp
+ Phương pháp phân tích hệ thống đánh giá về tài liệu, đặc trưng của vùng nghiên cứu
+ Phương pháp chuyên gia (tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong việc phân tích tính toán)
+ Phương pháp sử dụng mô hình toán, thủy lực và thủy văn
+ Nghiên cứu đề xuất được các giải pháp cấp nước mùa kiệt cho các ngành kinh tế trong mùa kiệt của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
+ Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của phương án được lựa chọn
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THỦY LỢI BẮC HƯNG HẢI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1.1 Vị trí và giới hạn.
Hưng Yên là một tỉnh thuộc trung tâm đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội - Hưng Yên - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh - Bắc Ninh - Vĩnh Phúc - Hà Tây), trong phạm vi toạ độ:Vĩ độ Bắc từ
20006' đến 21036' Kinh độ Đông từ 105053' đến 106009'
Hình 1.1 : Bản đồ hành chính tỉnh Hưng YênĐược giới hạn bởi:
- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh và Thành phố Hà Nội
- Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, Hà Nam
- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương
Trang 5- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Hà Tây và tỉnh Hà Nam
Tỉnh Hưng Yên được chia thành 10 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã gồm các huyện: Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Khoái Châu, Văn Giang, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ và thị xã Hưng Yên với tổng diện tích tự nhiên 923,09km2, dân số 1.134.119 người
1.1.2 Đặc điểm địa hình.
Địa hình tỉnh Hưng Yên có hướng dốc chung từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây sang Đông Nhìn chung địa hình phức tạp cao độ đất đai không đồng đều mà hình thành các dải, các khu, vùng cao thấp xen kẽ nhau như làn sóng
Về cao độ toàn tỉnh, sơ bộ đánh giá như sau:
+ Cao độ trung bình từ +2,0 đến + 4,5m chiếm 70%
+ Cao độ thấp nhất từ +1,2 đến +1,8m chiếm 10%
+ Cao độ cao nhất từ +5 đến +7m chiếm 20%
Địa hình cao tập trung chủ yếu ở phía Tây Bắc tỉnh gồm các huyện: Văn Giang, Khoái Châu, Văn Lâm, địa hình thấp tập trung ở các huyện: Phù Cừ, Tiên
Lữ, Ân Thi
Do điều kiện địa hình phức tạp, ruộng đất cao thấp chênh lệch lớn và xen kẽ nhau nên việc tưới, tiêu gặp rất nhiều khó khăn Tình trạng mới nắng đã hạn, mới mưa đã úng xảy ra thường xuyên gây ảnh hưởng lớn đến thời vụ năng suất cây trồng và chi phí quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi rất lớn Đất đai trong tỉnh tuy phì nhiêu, màu mỡ nhưng phần lớn là chua và phèn
1.1.3 Đặc điểm địa chất.
Tỉnh Hưng Yên nằm gọn trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông Hồng được cấu tạo bằng các trầm tích bở rời thuộc kỷ Đệ tứ , chiều dày từ 150m đến 160m
Theo thứ tự địa tầng bao gồm các loại đất đá như sau:
- Các trầm tích Phistoxen, bề dày 130m đến 140m với các trầm tích vụn thô gồm sạn, sỏi, cát thô, cát trung có xen kẹp các thấu kính xét bột Bao gồm các lớp:
+ Tầng bồi tích sông, thành phần chủ yếu là cuội, sạn, cát đa khoáng xen kẹp các lớp sét mỏng màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 75 đến 80m, nằm chính hợp trên tầng bồi tích sông, phân bố khắp khu vực
Trang 6+ Tầng bồi tích sông kiểu hỗn hợp, thành phần là cát, sét, sét cát màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 50 đến 60m nằm chỉnh hợp trên tầng bồi tích sông, phân bố khắp khu vực.
- Các trầm tích Holoxen, bề dày 5 đến 30m thành phần chủ yếu là sét cát, sét bột, sét chứa hữu cơ, phân bố trên mặt địa tầng bao gồm các lớp:
1.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng.
Đất đai trong tỉnh được hình thành do phù sa của các con sông trong khu vực bồi đắp, thành phần cơ giới của đất từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha nhiễm chua và nghèo lân, có thể chia ra 8 loại chính sau:
1 - Loại đất phù sa sông Hồng không được bồi màu nâu thẫm trung tính, ít chua, đây là loại đất tốt rất thích hợp cho trồng màu và lúa cao sản Tập trung ở các huyện: Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động
2 - Đất phù sa ít được bồi của hệ thống sông Hồng Tập trung ở ngoài đê sông Hồng, sông Luộc thuộc huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Thị xã, Tiên Lữ
3 - Loại đất phù sa được bồi của hệ thống sông Hồng Tập trung ở ngoài đê sông Hồng, sông Luộc thuộc huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Thị xã, Tiên Lữ
4- Đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Thái Bình Tập trung ở các huyện Văn Lâm, Mỹ Hào, Phù Cừ, Ân Thi
5- Đất phù sa glây của hệ thống sông Hồng Tập trung ở các huyện Kim Động, Ân Thi, Tiên Lữ, Yên Mỹ, Phù Cừ
6- Đất phù sa glây chua của hệ thống sông Hồng có ở các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Ân Thi, Tiên Lữ
7- Đất phù sa úng nước mưa mùa hè, phân bố rải rác ở các huyện
8- Đất phù sa loang lổ đỏ vàng, phân bố ở Phù Cừ
Nhìn chung, đa phần các loại đất ở Hưng Yên có độ phì khá, thích hợp để canh tác nhiều loại cây trồng cả ngắn ngày và lâu năm Tài nguyên đất của Hưng Yên cơ bản đáp ứng với yêu cầu phát triển của một nền nông nghiệp thâm canh cao với cơ cấu sản phẩm đa dạng Đây là cơ sở khá thuận lợi để Hưng Yên chuyển đổi
cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển nông sản hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng đất
Trang 71.1.5 Đặc điểm khí tượng
1.1.5.1 Mạng lưới trạm khí tượng - thuỷ văn
Bảng 1.1: Mạng lưới trạm khí tượng, thủy văn
T
T Tên trạm Sông
Yếu tố quan trắc
Thời đoạn quan trắc Ghi chú
1 Hưng Yên Hồng H, Q 1955 - nay Di chuyển trạm nhiều lần
2 Triều Dương Luộc H, Q 1990 - nay Từ 1979 ngừng đo Q
1.1.5.2 Đặc điểm khí hậu
Hưng Yên thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuy không giáp với biển nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của khí hậu miền duyên hải, hàng năm chia hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều Mùa đông lạnh, ít mưa
từ tháng 11 đến tháng 3
1 - Mưa
a - Mưa năm: Tổng lượng mưa năm bình quân của Hưng Yên đạt 1.633mm và phân
bổ thành 2 mùa: Mùa mưa là thời kỳ có lượng mưa tháng ổn định trên 100mm và bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 hoặc 11 với tổng lượng mưa bình quân
cả mùa là từ 1.200 đến 1.400mm, chiếm 80 đến 90% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa từ 24 đến 87mm, chiếm 10 đến 20% tổng lượng mưa năm Lượng mưa ở Hưng Yên biến động khá mạnh theo các tháng, mức độ biến động phụ thuộc vào thời gian và cường độ hoạt động của các hệ thống gió mùa và các kiểu nhiễu động thời tiết Hàng năm ở Hưng Yên có khoảng
100 đến 150 ngày mưa Trong cùng một tỉnh song số ngày mưa mỗi nơi một khác, ở thị xã Hưng Yên có số ngày mưa là 100 đến 145 ngày Trong mùa đông, trung bình một tháng có 8 đến 10 ngày mưa, mùa hạ trung bình một tháng có 13 đến 15 ngày mưa Lượng mưa nhỏ nhất vào tháng 1 và tăng dần đến tháng 4, tháng 8 là tháng có nhiều ngày mưa và lượng mưa nhiều nhất
Trang 8Chế độ mưa không những biến động về thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa, mà còn rất mạnh mẽ về lượng mưa Năm mưa nhiều lượng mưa lớn gấp 3 lần năm mưa ít.
Bảng 1.2: Lượng mưa trung bình tháng tại các trạm
b - Mưa gây úng: Lượng mưa một ngày lớn nhất đã đo được tại một số vị trí trong
tỉnh như sau: Hưng Yên 377,9mm, Bần 281,1mm Trong các tháng mùa mưa, nhất
là tháng 7 và 8 thường có những đợt mưa kéo dài 3, 5, 7, 10 ngày hoặc hơn nữa, sinh ra lũ lớn và úng lụt nghiêm trọng như các năm 1963, 1968, 1971, 1973, 1979,
1996 Lượng mưa 1, 3, 5 ngày lớn nhất ứng với tần suất khác nhau ở các trạm xem bảng 1.3
Bảng 1.3 Lượng mưa 1,3,5, ngày lớn nhất ứng với các tần suất
Đơn vị: mm
2 - Nhiệt độ: Lượng bức xạ ở Hưng Yên dồi dào, nên nhiệt độ cao, nhiệt động trung
bình năm 23,50C và khá đồng nhất trên địa bàn tỉnh, phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp quanh năm, tuy nhiên do sự chi phối mạnh mẽ của hoàn lưu cực đới nên hàng năm nhiệt độ tại Hưng Yên phân hoá thành hai mùa có tính chất khác hằn nhau: Mùa hè nóng, nhiệt độ trung bình ổn định trên 250C, mùa đông rét lạnh, nhiệt
độ trung bình dưới 200C
Trang 9Bảng 1.4: Nhiệt độ trung bình tháng, cao nhất tuyệt đối, thấp nhất tuyệt đối
tại trạm khí tượng Hưng Yên
Đơn vị: 0 C
Trung bình 16,7 17,6 20,2 23,9 26,8 28,9 29,1 28,5 26,9 24,7 21,3 17,9 23,5Cao nhất tuyệt đối 30,0 32,6 31,9 36,1 38,9 39,4 38,2 36,5 34,5 33,9 32,5 30,5 39,4Thấp nhất tuyệt đối 4,9 5,3 9,4 13,0 17,3 19,4 20,6 21,8 36,6 11,2 8,4 5,3 4,9
3 - Độ ẩm: Khí hậu ở đây khá ẩm ướt, độ ẩm tương đối trung bình năm vượt quá
80% Biên trình ngày của độ ẩm hơi ngược pha với nhiệt độ, ban ngày độ ẩm thấp, đêm cao, giá trị lớn nhất tại thời điểm 4 đến 6 giờ sáng, nhỏ nhất tại thời điểm 12 đến 15 giờ
Bảng 1.5 Độ ẩm tương đối trung bình tháng tại Hưng Yên
Đơn vị: %
Hưng Yên 85,6 86,8 90,2 90,6 87,4 84,4 85,2 88,8 88 83,7 83 83,3 86,4
4 - Bốc hơi: Lượng bốc hơi trong toàn năm ở Hưng Yên từ 700 đến 900mm, thấp
nhất là ở Hưng Yên và tăng dần lên các huyện phía Bắc Mùa hè lượng bốc hơi nhiều, chiếm 55 đến 60% lượng bốc hơi cả năm Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 10, 11 và nhỏ nhất là tháng 3
Bảng 1.6 Lượng bốc hơi tháng trung bình nhiều năm tại trạm Hưng Yên
Đơn vị: mm
Hưng Yên 65,6 50,6 49,8 55,8 82,1 89,3 95 73,7 71,5 85,1 85 79,8 73,6
5 – Gió: Hướng gió trong một năm biến đổi và thể hiện theo mùa của hoàn lưu
Các tháng giữa mùa đông, gió có thành phần Bắc (Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc) chiếm tần suất từ 40 đến 65%, trong đó hướng Bắc xuất hiện nhiều hơn cả Tuy vậy trong mùa đông gió Đông Nam vẫn có tần suất lớn (đầu mùa 15 đến 25%, giữa mùa 25 đến 45%, cuối mùa 50 đến 65%) vì khi không khí lạnh suy yếu, tín phong lại phát huy tác dụng
Trang 10Về mùa hạ gió Đông Nam lại thịnh hành với tần suất 32 đến 65% Ngoài ra gió Tây Nam tuy xuất hiện với tần suất 5% nhưng có ảnh hưởng xấu tới người, cây trồng và vật nuôi vì tính chất khô nóng Bảng (1.7) cho thấy tần suất các hướng gió
Lặng gió
Bảng 1.8 Tốc độ gió tại trạm Hưng Yên
Đơn vị: m/s
TB tháng 1,57 1,57 1,43 1,36 1,43 1,14 1,07 1,14 1,07 1,14 1,14 1,29
6 - Bão và áp thấp nhiệt đới: Hưng Yên không tiếp giáp với biển, không bị bão đổ
bộ trực tiếp, do vậy sức gió khi vào đến đây đã giảm đi đáng kể Tuy vậy, tốc độ gió trong cơn bão có năm tới 35m/s Mưa to do ảnh hưởng của bão gây ngập lụt khá nghiêm trọng, lượng mưa do bão chiếm tỷ trọng lớn tới 15 đến 20% tổng lượng mưa cả năm, tháng 8 lượng mưa do bão chiếm tới 30 đến 50% tổng lượng mưa tháng
Trang 117 - Các yếu tố khí tượng khác: Tổng số giờ nắng cả năm ở Hưng Yên từ 1.500 đến
1.800 giờ, xấp xỉ số giờ nắng ở các nơi khác thuộc đồng bằng Bắc bộ, mùa nóng số giờ nắng nhiều hơn mùa lạnh Các tháng V, VI, VII số giờ nắng tới 200 đến 230 giờ
có năm tới 280 đến 300 giờ, trong khi các tháng mùa lạnh, số giờ nắng chỉ có 45 đến 95 giờ mỗi tháng
1.1.6 Đặc điểm thủy văn
1.1.6.1.Mạng lưới sông ngòi :
Sông ngòi Hưng Yên có thể chia thành 2 loại: các sông chính bao ngoài và các sông trong nội đồng
Sông Ngoài :
- Sông Hồng chạy dọc theo ranh giới phía Tây của tỉnh dài 57km, đoạn sông này rộng (có chỗ tới 3 đến 4km) và sâu, có nhiều cồn bãi lớn Sông Hồng là nguồn cung cấp nước tưới chủ yếu cho hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải qua cống Xuân Quan, mực nước thượng lưu cống Xuân Quan dao động từ 1,74 ÷ 2,84 m; nhưng trong thời gian gần đây, mực nước có chiều hướng suy giảm cụ thể năm 2006 mực nước thấp nhất đã xuống đến (+1,42) m
- Sông Luộc dài 63km chảy dọc theo ranh giới phía nam của tỉnh Hưng Yên và tỉnh Hải Dương Đoạn bao quanh Hưng Yên dài khoảng 20km, sông rộng trung bình 150 đến 250m, sâu 4 đến 6m cao độ đáy (-1,0) ÷ (-5,0 ) m, Sông chảy quanh
co uốn khúc, lòng sông hẹp nhưng có bãi khá rộng, vào mùa lũ, lũ của sông Hồng truyền tải một phần qua sông luộc sang sông Thái Bình với lưu lượng khoảng 2000
m3/s, đoạn hạ lưu cũng chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều ( An Thổ)
Sông nội vùng: Các sông nội đồng: Kim Sơn, Cửu An, Điện Biên, Tây Kẻ
Sặt là các trục tưới tiêu rất quan trọng trong hệ thống tưới tiêu của hệ thống
- Sông Kim Sơn: hay còn gọi là sông Chính Bắc, từ cống Xuân Quan đếu Âu
thuyền Cầu Cất, là trục dẫn nước tưới chính cho hệ thống và cùng với sông Đình Đào là trục tiêu Chính phía Bắc cho hệ thống Bắc Hưng Hải
Trang 12- Sông Điện Biên: là đoạn sông từ cống Lực Điền đến cửa thị xã Hưng Yên,
dài 25km là sông dẫn nước chủ yếu cho tiểu khu tây nam Cửu An lấy nước của sông Kim Sơn qua cống Lực Điền
- Sông Tây Kẻ Sặt: Là con sông khá rộng và sâu nối sông Kim Sơn với sông
Cửu An Là con sông dẫn nước tưới quan trọng, lấy nước từ sông Kim Sơn qua cống Tranh tưới cho tiểu khu Bình Giang- Bắc Thanh Miện, đông nam Cửu An và một phần tiểu khu tây nam Cửu An
- Sông Đình Đào: đoạn sông từ Bá Thuỷ đến Ngọc Lâm dài 33km Là con
sông nối sông Kim Sơn với Cửu An, vai trò của sông này cũng như sông Điện Biên và Tây Kẻ Sặt, là trục tiêu chính phía Bắc, tiêu nước từ sông Kim Sơn và sông Tràng Kỷ đổ vào dẫn xuống ngã ba Cự Lộc rồi đổ ra Cầu Xe,
An Thổ
- Sông Cầu Xe (cống Cầu Xe), Tứ Kỳ (cống An Thổ): Cống Cầu Xe và An Thổ
là 2 cửa tiêu quan trọng nhất của của khu Bắc Hưng Hải trong mùa mưa lũ
- Sông Cửu An: Là sông chính nam của hệ thống từ Sài Thị đến Cự Lộc, là
trục tiêu chính nam hiện nay
- Sông Tràng Kỹ: Là sông tưới tiêu kết hợp, có nhiệm vụ dẫn nước tưới cho
phần phía Đông của tiểu khu Gia Thuận, một phần tiểu khu Bắc Kim Sơn và phần phía bắc của tiểu khu Cẩm Giàng
- Sông Đình Dù: Là sông dẫn nước cung cấp cho trạm bơm Văn Lâm và Như
Quỳnh
- Sông Cầu Bây: Là trục dẫn nước tưới tiêu kết hợp của tiểu khu Gia Lâm lấy
nước từ sông Kim Sơn và tiêu vào sông Kim Sơn đều qua cống Xuân Thuỵ
- Sông Hoà Bình: Là trục dẫn nước tưới chính cho tiểu vùng tây nam Cửu An,
sông nối với sông Cửu An bằng các con sông Bản Lễ - Phượng Tường, Nghĩa Trụ
1.1.6.2 Dòng chảy năm
Trang 13Cũng như lượng mưa năm, dòng chảy phân phối không đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 10 chiếm 80% lượng dòng chảy năm Lượng dòng chảy tháng 8 lớn nhất chiếm 24% lượng dòng chảy năm, còn lượng dòng chảy nhỏ nhất là tháng 3 chỉ chiếm 1,2 đến 2,2% lượng dòng chảy năm Mùa lũ kéo dài 5 tháng nhưng lượng nước chiếm tới 80% lượng dòng chảy năm, mùa kiệt kéo dài 7 tháng và 3 tháng kiệt nhất chỉ chiếm 4,2% lượng dòng chảy năm.
1.1.6.3 Dòng chảy lũ
Dòng chảy các sông nội đồng chịu ảnh hưởng của dòng chảy các sông lớn như sông Hồng, sông Luộc
1.1.6.4 Tần suất xuất hiện đỉnh lũ và thời gian xuất hiện đỉnh lũ
Đỉnh lũ mỗi năm lớn nhỏ khác nhau, song đỉnh lũ hầu như năm nào cũng vượt báo động 1
Mùa lũ thường xảy ra chung với mùa mưa (tháng 6 đến tháng 10) Lũ lớn thường xảy ra vào các tháng 7, 8, 9 trùng với thời gian có nhiều mưa to, tức là trùng với thời gian thường xảy ra úng vụ mùa Mực nước lũ ngoài sông là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc tiêu úng Khả năng tiêu tự chảy hoặc tiêu bằng bơm nhiều hay ít và do mức độ úng nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào mục nước lũ ngoài sông thấp hay cao Mực nước1,3,5,7 ngày max tại các trạm dọc sông xem Bảng 1.9
Bảng 1.9 Mực nước1,3,5,7 ngày max tại các trạm dọc sông
Trang 14Do hai nguyên nhân chủ yếu là được tăng cường lượng nước vào mùa cạn do tác dụng của các công trình thuỷ lợi như hồ Hoà Bình và do diễn biến lòng sông nên
tỷ lệ lưu lượng phân qua Thượng Cát trên sông Đuống và Triều Dương trên sông Luộc tăng lên, do vậy tình hình cung cấp nước vào mùa cạn cho các sông nội đồng Hưng Yên được cải thiện đáng kể
Bảng 1.10 Mực nước 1,3,5,7 ngày thấp nhất năm tại các trạm theo từng thời đoạn
Trang 15Về mùa cạn, triều ảnh hưởng lên tới gần trạm Hưng Yên trên sông Hồng ở mức biên độ thuỷ triều lớn nhất 0,5m.
Như đã nêu ở phần đặc điểm khí tượng, tình hình hạn hán cũng thường xuyên xảy ra vào mùa cạn, mực nước sông xuống thấp vì vậy việc lấy nước tưới gặp nhiều khó khăn
1.1.6.6 Dòng chảy rắn
Trong 1 năm lượng ngậm cát biến đổi theo mùa Mùa lũ, lượng ngậm cát lớn
và mùa cạn, lượng ngậm cát bé Chênh lệch khá lớn, trong vùng nghiên cứu hiện nay không còn trạm nào còn tiến hành đo độ đục mà đã ngừng từ những năm 1980,
1981 Chỉ còn trạm Thượng Cát (Sông Đuống) và Sơn Tây (sông Hồng) là còn tiếp tục đo
Từ tháng 1 đến tháng 3 lượng ngậm cát các sông nhỏ và tương đối ổn định Tháng 7, 8 có lượng ngậm cát lớn trong đó tháng 8 lớn nhất có thể gấp 10 đến 40 lần lượng ngậm cát nhỏ nhất
Trang 16Qua bảng thống kê ta nhận thấy rằng nhờ sự điều tiết của hồ Hoà Bình mà lưu lượng nước về mùa kiệt tăng, mùa lũ giảm và do vậy lượng ngậm cát cũng thay đổi tương ứng.
Lượng ngậm cát nhỏ nhất và lớn nhất trong một tháng chênh nhau 10 đến 15 lần, cá biệt có thể lên tới 100 lần Lượng cát bùn tập trung vào mùa lũ tới 90% và trong mùa lũ chủ yếu là hai tháng 7, 8 chiếm tới 60 đến 70% lượng cát bùn cả năm Tổng lượng cát bùn biến đổi trong năm cũng tương tự như biến đổi của lượng nước nhưng mức độ tập trung của cát bùn cao hơn về mùa lũ
Qua bảng thống kê lượng chuyển cát, độ đục trên thấy rõ ảnh hưởng của hồ Hoà Bình Từ sau 1990, khi hồ Hoà Bình bắt đầu đi vào hoạt động lượng cát bùn giảm rõ rệt
1.1.6.7 Mặn:
ở một vị trí nhất định trên sông, độ mặn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như lưu lượng thượng du, thuỷ triều ở biển, mưa, gió nhiệt độ, tác động của con người và sự thay đổi địa hình sông Về mùa cạn nếu lấy độ mặn 1%o làm giới hạn có thể sử dụng để tưới ruộng thì toàn bộ hệ thống sông của Hưng Yên không bị ảnh hưởng của mặn Đây là một điểm rất thuận lợi cho việc lấy nước sông phục vụ tưới
1.1.6.8 Thuỷ triều:
Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều Thời gian trung bình một con triều trong mùa cạn là 25h, thời gian triều lên khoảng 11h và thời gian triều xuống là 13h Độ lên thuỷ triều là chênh lệch mực nước đỉnh triều và chân triều, cứ khoảng 15 ngày có 1
kỳ nước cường và 1 kỳ nước ròng Trong năm mực nước triều trung bình tháng lớn nhất thường vào tháng 10 và thấp nhất vào tháng 3 Mực nước biển cao nhất và thấp nhất đã xảy ra ở mỗi trạm có khác nhau Chênh lệch triều lớn nhất ở Hòn Dấu là 3,94 (23/8/1968) ứng với chu kỳ xích vĩ của mặt trăng, chế độ triều cũng có chu kỳ nhất định do thiên văn quyết định, khoảng 16,25m năm có một thời kỳ triều mạnh nhất, một thời kỳ triều yếu nhất
Mùa lũ triều không ảnh hưởng lên tới Hưng Yên Mùa cạn nước thượng nguồn về nhỏ, mực nước trong sông xuống rất thấp Do ảnh hưởng của thuỷ triều trong những pha triều lên mực nước được nâng cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy nước tưới ruộng
Trang 17Mặt khác, do sự dao động của mực nước trong vùng chịu ảnh hưởng của thuỷ triều có chu kỳ, vì thế có thể chủ động được kế hoạch tưới Như trên đã phân tích trong mùa cạn nước sông Hưng Yên không bị ảnh hưởng của mặn, do vậy nhờ việc theo dõi sát các con triều, việc tưới tiêu sẽ trở nên thuận lợi hơn nhiều.
1.1.6.9 Nguồn nước ngầm:
Qua khảo sát trữ lượng nước ngầm của tỉnh là tương đối lớn, chất lượng nước tốt tập trung ở phía Bắc của tỉnh Nguồn nước ngầm hiện nay được khai thác một phần sử dụng trong sinh hoạt của nhân dân, công nghiệp, khai thác đóng chai ở Như Quỳnh huyện Văn Lâm Khối lượng khai thác nước ngầm của toàn tỉnh tính đến nay khoảng 19.000m3/ngàyđêm, tập trung chủ yếu ở nhà máy nước An Vũ - thị xã Hưng Yên 5.000m3/ngàyđêm, Phố Nối 6.000m3/ngàyđêm Các điểm cấp nước Tiên Quán, thị trấn Khoái Châu, Ngọc Thanh, thị trấn Trần Cao, Thụy Lôi, nhà máy nước Lavie, ngoài ra còn có khoảng 15.000 giếng khoan ở các hộ gia đình
1.2.Hiện trạng và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng
1.2.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội
1.2.1.1 Hiện trạng chung nền kinh tế
Theo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hưng Yên đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020” thì nhịp tăng giá trị sản xuất bình quân trong giai đoạn 2001-2005 trên địa bàn tỉnh đạt 17,4% hàng năm Trong đó, giá trị sản xuất khối ngành nông nghiệp - thuỷ sản tăng bình quân 5,2%/năm, giá trị sản xuất khối ngành công nghiệp tăng bình quân 24,7%/năm, giá trị sản xuất khối ngành dịch
vụ tăng bình quân 15%/năm
GDP trên địa bàn tỉnh cũng có xu hướng phát triển không ngừng Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP trong giai đoạn 2001-2005 đạt 12,3%/năm, năm 2001 đạt 10,9% tăng lên 12,9% năm 2005
Cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh trong những năm qua có bước chuyển dịch mạnh theo hướng gia tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp
Bảng 1.11 Cơ cấu GDP theo từng ngành kinh tế của tỉnh
Đơn vị: %
2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Trang 18GDP 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2010
1.2.1.2 Hiện trạng nông nghiệp
Những năm qua, nông nghiệp Hưng Yên đã có sự phát triển tích cực trên cơ
sở chú trọng khai thác và phát huy lợi thế sinh thái nông nghiệp của địa bàn nằm ở trung tâm vùng châu thổ sông Hồng màu mỡ và trù phú, đồng thời là bộ phận hợp thành của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Nhờ vậy đã tạo được sự chuyển dịch quan trọng trong cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển hàng hoá: diện tích gieo trồng các cây ngắn ngày như cây công nghiệp, rau, đậu, thực phẩm và cây hàng hoá khác (hoa, cây cảnh, dược liệu ), diện tích cây ăn quả lâu năm, quy mô đàn gia súc, gia cầm, thuỷ sản đã có sự tăng trưởng đáng kể Trong thời kỳ 2001-2005 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp –thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,42%/năm tăng lên 5,2%/năm giai đoạn 2005-2010s, giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp (theo giá hiện hành) năm 2005 chiếm 30,5% GDP của tỉnh
Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Hưng Yên năm 2010chỉ đạt 1,6 triệu USD, chiếm tỷ trọng nhỏ (0,6%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Các nông sản xuất khẩu chính là dưa chuột, cà chua, cải xa lát, nhãn, vải quả khô, long nhãn
1 Hiện trạng sử dụng đất.
Theo báo cáo kiểm kê sử dụng đất năm 2010 của tỉnh Hưng Yên, năm 2010 đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh hiện có là 56.413ha chiếm 61% diện tích tự nhiên, trong đó đất trồng cây hàng năm 52.525 ha chiếm 86% đất nông nghiệp, đất lúa 46.240ha chiếm 75,8% đất nông nghiệp, đất cây lâu năm là 3.888ha chiếm 6,4% đất nông nghiệp, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 4.541ha chiếm 7,4% đất nông nghiệp Đất bằng chưa sử dụng là 508ha chiếm 0,5% diện tích tự nhiên
Trang 19- Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của tỉnh Hưng Yên xem bảng 1.12 phụ lục 1.
- Bảng tổng hợp diện tích đất bãi toàn tỉnh phân theo các huyện xem bảng 1.13 phụ lục 1
2 Tình hình sản xuất nông nghiệp qua một số năm của tỉnh Hưng Yên
Sản lượng lương thực có hạt năm 2010 đạt 537.090 tấn (riêng thóc là 506.847 tấn), là tỉnh đạt chỉ tiêu cao về an toàn lương thực, với mức bình quân 474 kg/người Tuy nhiên diện tích lúa chiêm xuân, lúa mùa đều giảm qua các năm do quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá Các loại cây trồng có giá trị khác như: cây công nghiệp, cây ăn quả, đặc sản đều tăng khá Riêng diện tích, năng suất, sản lượng cây đậu tương vụ đông tăng mạnh
Theo niên giám thống kê năm 2010 của tỉnh thì diễn biến diện tích, năng suất
và sản lượng cây trồng của các huyện qua 3 năm 2008 - 2010 được thống kê ở bảng 1.14 phụ lục 1
3 Chăn nuôi
Trong thời kỳ 2005-2010, ngành chăn nuôi của Hưng Yên đã giữ được sự tăng trưởng giá trị sản xuất ổn định với tốc độ tăng khá cao, bình quân 9,6% Tuy nhiên, tỷ trọng của chăn nuôi trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chưa cao chiếm 29% năm 2010, tăng 5% so với năm 2005
Chăn nuôi đại gia súc: Đàn trâu có xu hướng giảm trong giai đoạn
2005-2010 Năm 2010, tổng đàn trâu của tỉnh còn 3.305 con, giảm 1.517 con so với năm
2005 Cùng với quá trình phát triển cơ giới hoá trong nông nghiệp vai trò cày kéo của đại gia súc đang giảm (đặc biệt là đàn trâu) Đàn bò có xu hướng tăng nhanh trong những năm qua Đàn bò đang được chuyển dần sang chăn nuôi hướng thịt
Chăn nuôi gia cầm cũng phát triển mạnh, tăng bình quân 2,8%/năm trong giai đoạn 2005-2010 Diễn biến phát triển ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm của tỉnh
ở bảng 1.15
Bảng 1.15 Diễn biến phát triển ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm của tỉnh Hưng Yên Đơn vị: con
Trang 20TT Hạng mục Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Bảng 1.16 Một số chỉ tiêu ngành thủy sản tỉnh Hưng Yên
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2010
1.2.1.3 Hiện trạng công nghiệp
Giai đoạn 2005-2010 giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Hưng Yên đã tăng trưởng mạnh luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với công nghiệp của cả nước, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và vùng kinh tế Hà Nội Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Hưng Yên chiếm tỷ trọng về giá trị sản xuất công nghiệp 0,28% so với cả nước, 1,61% so với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, 2,23% so với vùng kinh tế Hà Nội, đến năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng trưởng đạt
tỷ trọng 1,84% so với cả nước, 8,36% so với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, 11,01% so với vùng kinh tế Hà Nội
Theo số liệu của niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2010, tỉnh Hưng Yên có 16.641 cơ sở hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bao
Trang 21gồm: 8 cơ sở thuộc khu vực quốc doanh, 16.600 cơ sở ngoài quốc doanh và 33 cơ
sở có vốn đầu tư nước ngoài Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh Hưng Yên được thống kê ở Bảng 1.17 - Phụ lục 1
+ Trên địa bàn tỉnh có các tuyến giao thông quan trọng gồm 3 tuyến quốc lộ: đường 5, đường 39, 38
+ Có 10 tuyến đường tỉnh lộ gồm: 39B, 195, 199, 200, 205, 205C, 206, 196, 204,
209 và đường huyện lộ, đường đô thị và đường nông thôn Đến nay 100% số xã trong tỉnh đã có đường ô tô đến trung tâm
- Tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng (Qua tỉnh Hưng Yên dài 17km)
- Giao thông đường thuỷ:
+ Sông do Trung ương quản lý: tuyến sông Hồng, sông Luộc (dài 92km trong địa phận tỉnh Hưng Yên) Sông Hồng đoạn qua địa phận Hưng Yên dài 64km, sông Luộc đoạn qua địa phận Hưng Yên dài 28km Luồng lạch trên sông khá ổn định, đảm bảo độ sâu 1,5 - 3m
+ Sông do địa phương quản lý; Sông đào Bắc Hưng Hải đoạn qua địa phận tỉnh dài 34km, sông rộng trung bình 40-50m, sâu 1,8-2m Sông Cửu Yên đoạn qua địa phận tỉnh dài 23km, sông rộng trung bình 30-40m, sâu 1,8-2m Sông Chanh dài 27km, sông rộng trung bình 50m, sâu 1,8-2m, cả 3 sông này xà lan trọng tải 150 tấn
đi lại được Sông Điện Biên dài 22km, sông rộng trung bình 20m, sâu 1,2-1,5m Sông Tam Đô dài 7km, sông rộng trung bình 50m, sâu 1,0-1,5m, xà lan trọng tải 70 tấn đi lại được
2 Điện
Trang 22Hệ thống cung cấp điện của Hưng Yên tương đối phát triển so với nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng Nguồn cung cấp điện năng chủ yếu của tỉnh là nhận điện từ lưới điện quốc gia cấp điện áp 220kv và 110kv, tỉnh Hưng Yên không có nhà máy điện riêng Lưới điện trên địa bàn có 72km đường dây cấp điện áp 220kv, 121,3km đường dây cấp điện áp 110kv và 536km đường dây cấp điện áp 35kv Hiện tại, 100% số xã của tỉnh đã được cấp điện, khu vực thành phố 100% số hộ có điện, khu vực nông thôn số hộ có điện chiếm trên 99,95%
3 Các ngành dịch vụ
Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, đạt tốc độ tăng trưởng 15,7%/năm, hệ thống thương nghiệp đang được sắp xếp lại Xuất khẩu tăng mạnh, giá trị xuất khẩu của tỉnh tăng từ 22 triệu USD năm 2005 lên 210 triệu USD năm 2010 Một số khách sạn, di tích văn hoá lịch sử đang được xây dựng và tôn tạo lại, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển ngành du lịch trong những năm tới
1.2.2.Phương hướng phát triển kinh tế xã hội của vùng
1.2.2.1 Dự báo dân số và nguồn nhân lực
Nhờ vào những thành quả trong công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình được thực hiện tốt trong giai đoạn vừa qua, tốc độ tăng dân số tự nhiên trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm Dự kiến trong giai đoạn 2010-2015, tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân trên địa bàn tỉnh khoảng 0,9%/năm Đến năm 2015, dự báo dân số trên địa bàn tỉnh khoảng 1.183.000 người Giai đoạn 2015-2020 dự kiến tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm khoảng 0,8 – 1,0%/năm, dự báo dân số trên địa bàn tỉnh năm 2020 khoảng 1.300.000 người
Trên cơ sở xu hướng phát triển của lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh trong các giai đoạn phát triển vừa qua, dự báo dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh đến năm 2015 dự kiến là 775.000 người, chiếm 62,5% dân số tỉnh Dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh đến năm 2020 dự kiến là 800.000 người, chiếm 61,5% dân số tỉnh
1.2.2.2.Phương hướng tổng thể :
1 Các chỉ tiêu kinh tế
Theo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hưng Yên đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020” nhịp độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2006 - 2010
Trang 23đạt 13,5%/năm, trong đó ngành công nghiệp-xây dựng tăng bình quân 19,8%, dịch
vụ tăng bình quân 14,3% và ngành nông nghiệp-thuỷ sản tăng bình quân 3,1%/năm Giai đoạn 2011-2015 đạt 13,2%/năm, trong đó ngành công nghiệp-xây dựng tăng bình quân 16,8%, dịch vụ tăng bình quân 12,8% và ngành nông nghiệp-thuỷ sản tăng bình quân 3,1%/năm
Sản lượng lương thực quy thóc đến năm 2015 dự báo đạt 528.950tấn, đến năm
2020 đạt 510.744 Bình quân lương thực đầu người ước đạt 447kg/người năm 2015 và 410kg/người vào năm 2020
Tỷ trọng GDP các khối ngành: Năm 2015 Năm 2020+ Ngành nông nghiệp: 20% 12,6%
2 Mục tiêu về xã hội
Đảm bảo việc làm ổn định cho khoảng 95% số lao động trong tỉnh Tạo thêm 2,2 vạn việc làm mới hàng năm Nâng tỷ lệ lao động được đào tạo lên trên 45% vào năm 2015, 50% vào năm 2020
Đến năm 2015, 100% các đô thị (thị xã, thị trấn), các khu công nghiệp và khoảng 85% khu vực nông thôn được dùng nước sạch Từ 2020 toàn bộ dân cư trong tỉnh được dùng nước sạch
Đến năm 2020 hoàn thành chương trình kiên cố hoá các cơ sở y tế giáo dục với phương tiện kỹ thuật hiện đại và thuận tiện, về cơ bản không còn tình trạng trẻ
em suy dinh dưỡng Ngăn ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất các bệnh dịch, bệnh
Trang 24kỳ 2011 - 2020 là 4 đến 4,5%/năm.
Tập trung chỉ đạo để chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong toàn tỉnh theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại Với tỷ lệ giữa các ngành trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ: 51%-45%-4% vào năm 2015 và 44%-50%-6% vào năm 2020
Diện tích đất trồng lúa năm 2015 là 31.960 ha giảm 13.242ha so với năm
2010, trong đó diện tích gieo trồng lúa chất lượng cao chiếm khoảng 50% tổng diện tích trồng lúa toàn tỉnh Trong bối cảnh diện tích lúa ngày càng bị thu hẹp, dân số tiếp tục gia tăng, yêu cầu sử dụng lương thực của thị trường có xu hướng đòi hỏi chất lượng cao, định hướng phát triển sản xuất lương thực cần đảm bảo sự tăng trưởng cả về chất và lượng, trên cơ sở khai thác hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng cách tăng vụ, tăng năng suất và tăng cơ cấu sản xuất lúa chất lượng cao Diện tích lúa còn lại chiếm khoảng 50% diện tích lúa canh tác sẽ được đầu tư phát triển theo hướng lúa cao sản Phương hướng sử dụng đất tỉnh Hưng Yên đến năm
2015 xem trong bảng 1.18 phần phụ lục 1
Phát triển cây ăn quả là một trong những thế mạnh của Hưng Yên kể cả về điều kiện tự nhiên cũng như về thị trường tiêu thụ, đặc biệt là nhãn, vải thiều Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, phát triển mạnh cây ăn quả trên cơ sở chuyển đổi một phần diện tích đất canh tác lúa, màu, vườn tạp hiệu quả thấp sang trồng cây ăn quả Về chủng loại, nhãn là cây đặc sản của tỉnh và là cây chủ lực trong các cây ăn quả của tỉnh, chiếm 65% diện tích cây ăn quả tập trung, vải chiếm 15%, cam và cây
ăn quả có múi chiếm 15% còn lại là các cây ăn quả khác Vùng trồng nhãn tập trung
ở địa bàn ven sông Hồng, sông Luộc của huyện Khoái Châu, Kim Động, Thị xã Hưng Yên, Tiên Lữ, vùng trồng vải ở Phù Cừ, Ân Thi, Tiên Lữ, Cam, bưởi, quýt, táo ở Văn Giang, Văn Lâm, Khoái Châu
Bảng 1.19 Dự báo diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng tỉnh Hưng Yên
đến năm 2015, 2020
Trang 252 Cây ngô ha 4.000 4.000
về chất, đáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng hàng hoá với chất lượng sản phẩm cao và đa dạng
Bảng 1.20 : Dự kiến phát triển ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm của tỉnh Hưng Yên Đơn vị: con
Trang 26xuất thuỷ sản, cần đẩy nhanh ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt là về giống và thức ăn
Phương thức phát triển chú trọng đa dạng hoá cả trên diện tích mặt nước tập trung lẫn kết hợp trong các mô hình vườn quả - cá, ruộng - cá, VAC, chú trọng gắn thuỷ sản với chăn nuôi lợn để tận dụng nguồn thức ăn, mặt nước Khuyến khích phát triển kinh tế trang trại nuôi trồng thuỷ sản nhất là ở các địa bàn ven đô thị, khu công nghiệp, các địa bàn phát triển thuỷ sản trọng điểm là Khoái Châu, Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi, Kim Động
Bảng 1.21 :Dự kiến phát triển ngành thủy sản tỉnh Hưng Yên đến năm 2015, 2020
Nguồn: Quy hoạch tổng thể PTKTXH tỉnh Hưng Yên đến năm 2020
1.2.2.4 Phương hướng phát triển công nghiệp
- Phát triển công nghiệp tỉnh phải phù hợp với định hướng phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng kinh tế Hà Nội, phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp của vùng và quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp Gắn phát triển công nghiệp với việc hình thành các khu công nghiệp và đô thị mới làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của tỉnh
Định hướng phát triển khu cụm công nghiệp đến 2020, toàn tỉnh có 14 khu công nghiệp, diện tích 7 khu công nghiệp tập trung trên 100ha, mỗi huyện có từ 1 đến 2 khu công nghiệp làng nghề Trong đó tóm tắt một số khu công nghiệp của tỉnh như sau:
Bảng 1.22 : Bảng tổng hợp dự kiến quy hoạch phát triển khu công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên
TT Tên khu công nghiệp Diện tích KCN (ha)
Năm 2015
Diện tích KCN (ha) Năm 2020
Trang 27* Đường bộ: Đường 5 cao tốc: Giai đoạn 2000-2015, Trung Ương sẽ đầu tư
xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng Đoạn đi qua Hương Yên dài 21km Đường gồm 6 làn xe, là đường cao tốc loại A, mặt đường rộng 22,5m, dự kiến hoàn thành năm 2013
Đường vành đai IV Hà Nội: Theo dự kiến hướng tuyến qua sông Hồng vào địa phận Hưng Yên ở khu vực xã Mễ Sở - giao với đường quốc lộ 5, với chiều dài 14km, quy mô mặt cắt ngang từ 6-8 làn xe
Quốc lộ 39 mới: Điểm đầu giao với quốc lộ 39 cũ, chạy dọc sông Điện Biên cắt đường 5 cao tốc Chiều dài dự kiến 41km
Phấn đấu 100% các tuyến đường tỉnh cải tạo, nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp III đồng bằng, 100% các tuyến đường huyện cải tạo nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp IV đồng bằng, 100% đường thôn, đường xã rải nhựa hoặc bê tông xi măng
* Đường sông: Cải tạo, nâng cấp tuyến đường thuỷ qua hệ thống sông đào Bắc
Hưng Hải đảm bảo thông suốt từ sông Hồng đến sông Thái Bình.Cảng sông Hồng: Năng lực thông qua 350.000 tấn, trọng tải cho phép 1.000 tấn.Cảng Triều Dương: Năng lực thông qua 300.000 tấn, trọng tải cho phép 400 tấn
* Đường sắt:Dự kiến kiến xây dựng đường sắt đôi tuyến Hà Nội – Hải Phòng
tốc độ cao Tại ga Lạc Đạo xây bãi tập trung container rộng 10ha
2 Điện
Lưới truyền tải:
Trang 28Lưới 110KV: Xây dựng mới 18 Km đường dây 110KV, xây dựng mới 4 trạm
110 KV với tổng công suất 206 MVA
Lưới điện trung thế : Đến năm 2015 phần lớn sử dụng cấp điện áp trung thế
là 22 KV, phần còn lại sử dụng cấp điện áp 35 KV Xây dựng mới 69,5 Km đường dây trung thế 35Kv, 227,2 Km đường dây trung thế 22 KV
Lưới hạ thế : Xây dựng mới 1.150 Km đường dây 0,4 KV Sản lượng điện
phân phối đến 2015 đạt 1.644 triệu kwh, bình quân đầu người 1.373kwh/người Đến
2020 đạt 3.466 triệu kwh, bình quân đầu người 2.876kwh/người Phấn đấu đến năm
2020 đạt 100% số hộ được dùng điện lưới quốc gia
Đô thị mới Văn Giang (đô thị loại IV, thị xã thuộc tỉnh) Quy mô dân số năm
2020 khoảng 6 vạn người, dự án đang lập quy mô 495ha
* Đô thị thuộc huyện:
Các thị trấn huyện lỵ: Là các đô thị trung tâm huyện, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trung tâm công nghiệp của mỗi huyện Các thị trấn huyện
lỵ và thị trấn trực thuộc huyện đều là đô thị loại V
Trang 29Tất cả có 11 thị trấn huyện lỵ của 9 huyện trong tỉnh, riêng huyện Văn Giang
1.3.Hiện trạng các công trình tưới của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trện địa bàn tỉnh Hưng Yên.
1.3.1 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải
1.3.1.1 Sơ lược quy hoạch thủy lợi năm 1956-1958 vùng Bắc Hưng Hải
- Vùng nghiên cứu được bao bọc bởi 4 sông lớn: sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc, sông Thái Bình bao gồm các huyện: Gia Lâm thuộc Hà Nội; huyện Gia Lương, Thuận Thành thuộc Bắc Ninh; huyện Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh giang và thị xã Hải Dương thuộc Hải Dương và 10 huyện thị thuộc Hưng Yên (trừ diện tích đất ngoài đê sông Hồng và sông Thái Bình)
- Nội dung chủ yếu của quy hoạch hệ thống Bắc Hưng Hải năm 1956 đến
1958 do Trung Quốc giúp ta xây dựng được Chính Phủ phê duyệt năm 1958 như sau:
* Về tưới.
- Bảo đảm cung cấp nước cho 150.200ha canh tác với tần suất bảo đảm P = 75%, hệ số tưới q = 0,69 l/s/ha, hệ số lợi dụng kênh mương ηK = 0,85, lưu lượng thiết kế QTK = 122m3/s
- Xây dựng cống Xuân Quan: QTK = 92m3/s tưới cho 113.200ha
- Xây dựng cống Nghi Xuyên: QTK = 30m3/s tưới cho 37.000ha
- Cải tạo mở rộng, nạo vét hệ thống sông nội địa (hai trục chính và các nhánh) để dẫn nước đến các tiểu khu, xây dựng các cống điều tiết Kênh Cầu, Bá
Trang 30Thuỷ trên sông Kim Sơn (kênh chính Bắc) cống điều tiết Neo trên sông Cửu An (kênh chính Nam), xây dựng 26 trạm bơm cố định và các trạm bơm thuyền ở ven 2 trục chính.
1.3.1.2 Quy hoạch hoàn chỉnh thủy nông 1973 – 1975 :
Quy hoạch hoàn chỉnh thuỷ nông 1973 - 1975 được Bộ Thuỷ lợi (cũ) và Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng (cũ) phê duyệt khu Bắc Hưng Hải Riêng tỉnh Hưng Yên được phân làm 4 tiểu khu như sau:
Tiểu khu Châu Giang: Tổng diện tích 21.001ha, trong đó diện tích canh tác 14.266ha gồm diện tích của 3 huyện: Văn Giang, Khoái Châu, 6 xã Yên Mỹ, Kênh Đông 5.906ha, kênh Tây 8.360ha, hệ số tưới q = 0,7 l/s/ha, hệ số tiêu q = 2,44 l/s/ha
Tiểu khu Bắc Kim Sơn: Tổng diện tích 21.398ha, trong đó diện tích canh tác 16.046ha gồm 11 xã huyện Văn Lâm, 13 xã huyện Mỹ Hào, 10 xã huyện Yên Mỹ, 1/5 xã Bắc Sơn huyện Ân Thi, một phần nhỏ huyện Văn Giang và một phần đất đai tỉnh Hải Dương với hệ số tưới mặt ruộng q = 0,742 l/s/ha, hệ số tiêu q = 2,78 l/s/ha
Tiểu khu Ân Thi - đường 39: Tổng diện tích 16.880ha, trong đó diện tích canh tác là 13.340ha gồm 19 xã thuộc huyện Ân Thi, 2 xã thuộc huyện Yên Mỹ, 3
xã thuộc huyện Khoái Châu, Kim Động, 2 xã thuộc Phù Cừ, 1 xã thuộc Bình Giang với hệ số tưới q = 0,74 l/s/ha, hệ số tiêu q = 2,78 l/s/ha
Tiểu khu Tây Nam Cửu An: Tổng diện tích tự nhiên 20.285ha, diện tích canh tác 15.913ha bao gồm 5 xã huyện Kim Động, 2 xã huyện Ân Thi, 12 xã huyện Phù Cừ, 21 xã huyện Tiên Lữ, toàn bộ thị xã Hưng Yên hệ số tưới q = 0,7 l/s/ha, hệ số tiêu q = 2,91 l/s/ha
Ngoài phân khu để tính toán quy hoạch này còn xác định nhiệm vụ chính như sau:
* Tưới.
- Nâng mức bảo đảm tưới lên 85% đối với toàn hệ thống Bắc Hưng Hải
- Về công trình đầu mối chưa đặt vấn đề làm thêm cống Nghi Xuyên nhưng yêu cầu phải bảo đảm đủ nguồn nước tưới, tận dụng khai thác để tưới cho toàn bộ diện tích thuộc lưu vực, nạo vét hệ thống trục dẫn nước đến các trạm bơm tưới Tính toàn thời kỳ tưới dưỡng là tháng 3, tần suất P = 85% tại thượng lưu Xuân Quan +1,85m, hạ lưu +1,75m Kênh Cầu thượng lưu +1.293m, hạ lưu +1,285m; Lực Điền
Trang 31+1,18m; Cống Tranh +1,08m; Trương Xá +1,023m; Bằng Ngang +0,908m; Tam Đô +0,913m; Cầu Trang +0,832m; Trà Phương +0,88m; Bích Trang +0,865m; Tòng Hoá +0,841m Với mực nước này toàn bộ diện tích trong tỉnh đều phải tưới bằng bơm Trên cơ sở đó kiểm tra, hoàn thiện các trạm bơm đã xây dựng và bổ sung thêm máy, hoàn chỉnh hệ thống kênh mương để bảo đảm tưới 50.877ha đất canh tác trong đê, mức tưới ải toàn hệ thống cũng như các khu là 1.650m3/ha, vùng Khoái Châu, Văn Giang là 1.800m3/ha, hệ số tưới ải vụ chiêm xuân q = 0,95 l/s/ha.
- Mực nước tưới thiết kế vụ chiêm xuân ở sông Hồng tại Xuân Quan và Nghi Xuyên tính bình quân tuần 10 ngày như sau:
Bảng 1.23: Mực nước thiết kế trạm Xuân Quan, Nghi Xuyên
1.3.1.3 Bổ sung quy hoạch thủy lợi giai đoạn 1990 đến 1993
- Giai đoạn 1990 đến 1993 Viện Quy hoạch và Quản lý nước (cũ) này là Viện quy hoạch Thuỷ lợi đã tính toán mực nước tưới, tiêu, hệ số tưới, tiêu cho các tiểu khu thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải trên cơ sở các chỉ tiêu do Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng (cũ) đề nghị như đã nói ở phần trên
- Giai đoạn này cũng nêu ra sự cần thiết phải nạo vét sông trục Bắc Hưng Hải và đã có luận chứng kinh tế kỹ thuật về nạo vét sông trục Bắc Hưng Hải để xin vốn ADB, dự án đã được thực hiện
1.3.1.4 Bổ sung quy hoạch thủy lợi tỉnh Hưng yên đến 2010
Trang 32Năm 2001 Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đã lập dự án bổ sung quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Hưng Yên đến 2010 và đưa ra phương án cụ thể như sau:
+ Xây dựng 13 trạm bơm tưới, tiêu
+ Nâng cấp và cải tạo 58 trạm bơm tưới, tiêu
+ Nạo vét 22 sông trục chính
+ Đắp đê sông Bắc Hưng Hải
+ Tiếp tục triển khai chương trình kiên cố hoá kênh mương
Thực hiện bổ sung quy hoạch này, đến nay đã xây dựng được các trạm bơm tưới, tiêu kết hợp như: La Tiến (5 x 8.000 và 2 x 1.400m3/h), trạm bơm tiêu Bá Đông (6 x 4.000m3/h) trạm bơm tiêu Tống Phan B (6 x 2.500m3/h), các trạm bơm trên vừa được xây dựng năm 2005 và 2006 đã phát huy hiệu quả tốt
Năm 2005 vừa khôi phục lại cống Võng Phan hiện tại cũng đã phát huy hiệu quả tốt, với nhiệm vụ tạo nguồn cấp nước tưới cho 2.800ha của huyện Phù Cừ, Tiên Lữ
1.3.1.5 Kết quả thực hiện quy hoạch cho đến nay
- Qua quá trình thực hiện các quy hoạch đã lập trước đây và các quy hoạch
bổ sung, đến nay tỉnh Hưng Yên đã có hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh
- Các cống lớn đầu mối và điều tiết trục chính đã được xây dựng (trừ cống Nghi Xuyên) như: Xuân Quan, Báo Đáp, Kênh Cầu, Lực Điền, Cống Tranh cùng với các cống trục nhánh, đầu kênh và hàng ngàn các cống nhỏ khác
- Với hàng trăm km đê Trung ương và đê địa phương, 12 tuyến kè chỉnh trị sông, bảo vệ đê đã góp phần bảo vệ tốt cho sản xuất và cơ sở hạ tầng của tỉnh
- Hệ thống tưới tiêu động lực với hàng trăm trạm bơm bao gồm hơn một nghìn máy các loại đã bảo đảm tưới ổn định cho 47.191ha đất canh tác
- Hệ số tưới đã đạt và vượt hệ số tưới thiết kế q = 1,15 l/s/ha
- Bảo đảm diện tích tiêu động lực 62.146 ha trong tổng số 81.882ha diện tích trong đê với hệ số tiêu đạt được từ 6,27 đến 8,59 l/s/ha
Trang 331.3.2.Tình hình hạn hán của hệ thống Thủy Lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên những năm gần đây :
Trong những năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên toàn cầu
và Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu Nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng cùng với lượng mưa trên lưu vực ít nên tình trạng hạn hán kéo dài
Tình trạng hạn trong vùng trong các năm gần đây đã xảy ra gây nhiều thiệt hại cho các ngành đặc biệt là nông nghiệp mặc dù các công trình thủy lợi đã hoạt động hết công suất, công tác chỉ đạo chống hạn thực hiện tích cực với một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Tình hình thời tiết lượng mưa ít cộng với khí hậu khô hanh kéo dài, lượng bốc hơi mặt ruộng lớn
- Công trình đầu mối bị bồi lấp, xuống cấp, lượng nước lấy vào không đáp ứng được nhu cầu nước trong vùng
- Nhu cầu nước tăng cao nhất là thời kỳ đổ ải
- Kênh dẫn nước bị bồi lắng, lấn chiếm, hư hòng nên khả năng dẫn nước kém
- Mực nước sông ngoài hạ thấp nên một số trạm bơm, cống hoạt động kém hiệu quả và thậm chí không hoạt động được Đợt hạn năm 2004, 2005 mực nước sông Hồng xuống tới 1,47 m
Vì các nguyên nhân trên nên trong một số năm gần đây tình trạng hạn hán diễn ra gây nhiều thiệt hại cho nông nghiệp, môi trường trong vùng bị ô nhiễm Mặc
dù đã có các giải pháp chống hạn:
- Lấy nước ngược từ cống Cầu Xe, An Thổ đã giải quyết được một phần diện tích như năm 2005 lượng nước này đã giải quyết được cho 45% diện tích trong toàn vùng tuy nhiên chất lượng nguồn nước này rất kém và bị nhiễm mặn
- Với công tác chỉ đạo chống hạn như trữ nước trong lòng kênh, hồ, ao để tưới cho đợt hạn; chuyển đổi cây trồng, mùa vụ
- Lơi dụng lượng nước điều tiết từ hồ Hòa Bình lấy nước vào trong hệ thống
Trang 34Diện tích hạn năm 2003 lên đến 3.071 ha, năm 2004 là 3.294 ha, năm 2005
là 3.996 ha
Dưới đây là thống kê tình trạng hạn hán trong những năm gần đây ( từ năm
2001 đến năm 2005) của hệ thống Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên bảng 1.25
Bảng 1.25 : Diện tích hạn từ năm 2006- 2010 theo các huyện
Đơn vị: ha
Năm Toàn
tỉnh
TX Hưng Yên
Văn Lâm
Văn Giang
Mỹ Hào
Yên Mỹ
Khoái Châu Ân Thi
Kim Động
sử dụng nguồn nước
Trong những năm gần đây mực nước sông Hồng xuống thấp kỷ lục trong hơn 100 năm qua, hiện nay và trong tương lai do dân số phát triển và việc phát triển kinh tế xã hội thì nhu cầu dùng nước cho sản xuất nông nghiệp và dùng trong các ngành kinh tế ngày càng tăng Bên cạnh đó khi phát triển kinh tế thì nhu cầu dùng điện ngày càng tăng, trong thời gian mùa kiệt thì lượng nước về các hồ thượng nguồn như Hòa Bình và Thác Bà rất ít nên việc phát điện cũng gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy việc nghiên cứu cơ sở khoa học và khả năng áp dụng vào thực tiễn để giải quyết được mâu thuẫn giữa phát điện với nhu cầu cấp nước nhằm nâng
Trang 35cao khả năng cấp nước cho hệ thống ở hạ du nói chung và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên nói riêng trong mùa kiệt phù hợp với các phương án điều hành các hồ thượng nguồn.
1.3.3 Phân khu và tiểu khu thủy lợi hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn Hưng Yên
Hiện nay hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn Hưng Yên đã dược phân chia thành các tiểu khu thuỷ lợi như sau:
1 -Khu Bắc Kim Sơn.
Được giới hạn phía Bắc huyện Thuận Thành - Bắc Ninh và Gia Lâm - Hà Nội Phía tây nam là sông Kim Sơn phía đông là huyện Cẩm Giàng - Hải Dương Với tổng diện tích tự nhiên 20.988ha, diện tích canh tác 12.166,5 ha Bao gồm các huyện: Văn Lâm, Mỹ Hào, một phần Yên Mỹ
Thống kê hiện trạng các công trình thủy lợi tưới của tiểu khu Bắc Kim Sơn xem bảng 1.26 phụ lục 1
2 - Khu Ân Thi - đường 39:
Giới hạn phía Bắc sông Kim Sơn, phía đông sông Tây Kẻ Sặt, phía tây sông Điện Biên, phía nam sông Cửu An
Với tổng diện tích 17.520,6ha, diện tích canh tác 11.416,4ha Bao gồm một phần các huyện: Ân Thi, Yên Mỹ, Phù Cừ, Kim Động, Khoái Châu
Thống kê hiện trạng các công trình thủy lợi tưới của tiểu khu Ân Thi- Đường
39 xem bảng 1.27 phụ lục 1A
3 - Khu Tây Nam Cửu An:
Giới hạn phía Bắc sông Cửu An, phía nam sông Luộc, phía Đông sông Tây
Kẻ Sặt, phía Tây sông Hồng
Với tổng diện tích 31.753ha, diện tích canh tác 17.317,7ha Bao gồm một phần các huyện: Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ, Khoái Châu và toàn bộ thị xã Hưng Yên, huyện Tiên Lữ
Thống kê hiện trạng các công trình thủy lợi tưới của tiểu khu Tây Nam Cửu
An xem bảng 1.28 phụ lục 1A
Trang 364 - Khu Châu Giang:
Được giới hạn phía Bắc sông Kim Sơn, phía Nam sông Cửu An, phía tây là sông Hồng, phía đông sông Điện Biên
Tổng diện tích 22.048ha, trong đó diện tích canh tác 11.625ha Bao gồm một phần các huyện: Khoái Châu, Kim Động, Yên Mỹ và toàn bộ huyện Văn Giang
Thống kê hiện trạng các công trình thủy lợi tưới của tiểu khu Châu Giang xem bảng 1.29 phụ lục 1A
Hình 1.2 Bản đồ hiện phân vùng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải
1.3.4 Tình hình thiên tai trong Tỉnh.
Trong khu vực có lũ, bão, úng ngập, mưa lớn và khô hạn là những thiên tai thường xảy ra hàng năm
Những năm gần đây do ảnh hưởng sự biến động của thời tiết và tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu nên về mùa kiệt thường xảy ra hạn hán do mực nước sông ngoài thấp, ít mưa nên một số trạm bơm không hoạt động được do thiếu nước bơm
Trang 37tưới Do thời tiết có nhiều biến động, kết hợp với sự tác động của con người đến công trình và lớp thảm thực vật ở đầu nguồn dẫn đến mực nước ở các sông thay đổi lớn Hiện tượng nước biển dâng cao, mực nước sông Hồng dao động lớn dẫn đến mực nước trục chính Bắc Hưng Hải và các trục sông nội đồng cũng diễn biến phức tạp.Về mùa kiệt sau khi có hồ Hoà Bình vận hành ổn định, mực nước trên sông Hồng vụ chiêm xuân được nâng lên cụ thể: Tại Xuân Quan mực nước tháng 1 được nâng lên từ 17 ÷ 20cm so với quy hoạch 1973 - 1974 (Xem tài liệu cơ bản trước đây
đã tính toán) Sau khi tính toán lại mực nước toàn hệ thống Bắc Hưng Hải, ngày 17/3/1993 Bộ Thuỷ lợi đã ra thông báo số 149/TB-KH mực nước các điểm so với quy hoạch 1973 - 1974 thì mực nước hạ lưu các cống vụ mùa đều cao lên từ 0,35m
÷ 0,55m ứng với tần suất 10%
Tuy vậy việc cấp nước tưới cho một số trạm bơm còn khó khăn do sông dẫn chưa được nạo vét
1.3.5 Hiện trạng các hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ tưới của tỉnh.
Các công trình thuỷ lợi được xây dựng nhằm phục vụ một số nhiệm vụ chính sau:
- Phòng và chống lũ ngoài sông trục
- Dẫn và cấp nước cho nông nghiệp và các ngành kinh tế, dân cư
- Dẫn và tiêu thoát nước cho nông nghiệp, dân cư
- Bảo vệ và cải tạo điều kiện môi trường, nhất là môi trường nước
Ngoài ra còn kết hợp cho giao thông, du lịch và dịch vụ trên địa bàn
Toàn tỉnh đã xây dựng được 415 trạm bơm, trong đó các Công ty KTCTTL huyện, thị quản lý 143 trạm bơm tưới được 33.200 ha với tổng số 647 máy bơm các loại từ 1.000 m3/h ÷ 8.000 m3/h, bao gồm:
- 22 máy loại 8.000 m3/h; 73 máy loại 4.000 m3/h
- 117 máy loại 2.500 m3/h; 435 máy loại 1.000 m3/h
Địa phương quản lý 272 trạm tưới được 17.100 ha gồm 416 máy các loại
- 25 máy loại 1.500 ÷ 2.500 m3/h
- 353 máy loại 1.000 m3/h
Trang 38- 38 máy loại < 540 m3/h
Tổng công suất đặt máy: 40.078 KW/h
- Công trình đầu mối tưới lớn nhất của hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải là cống Xuân Quan với nhiệm vụ thiết kế như sau:
+ Lưu lượng thiết kế QTK = 92,0 m3/s
+ Nhiệm vụ tưới thiết kế: FTK = 113.200ha
+ Chiều rộng B = 19m, gồm 4 cửa x 3,5m và âu thuyền 5m
+ Cao trình đáy cống: -1,0m
- Cống Xuân Quan có nhiệm vụ cấp nguồn cho hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải, theo đánh giá hiện nay và lâu dài đây vẫn là nguồn nước chủ yếu cấp cho các huyện trong tỉnh với chất lượng tốt
- Nguồn nước chính là từ sông Hồng được cấp qua cống Xuân Quan, qua cống Báo Đáp, kênh Cầu, Lực Điền, Cống Tranh, cấp nước vào sông Kim Sơn, Cửu
An, Điện Biên, Tây Kẻ Sặt thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải nối với các trung thuỷ nông và một hệ thống kênh mương từ cấp I đến cấp III dài 3.515 km (trong đó kênh tưới dài 1.961km) chưa kể đến kênh cấp IV và chân rết do dịa phương quản lý Từ sông trục qua các cống và trạm bơm nước được đưa vào cấp cho toàn bộ các tiểu khu thuỷ lợi
Diện tích đất canh tác toàn tỉnh: 52.525 ha
Toàn bộ hệ thống công trình thuỷ lợi của tỉnh đã bảo đảm phục vụ diện tích trong bối 5.230 ha ngoài bãi 574 ha và cấp nước tưới cho 46.721ha đất canh tác trong đồng Như vậy đã cấp nước tưới được cho 100% diện tích canh tác trong đồng TB Nhà nước đã tưới tự chảy được 33.221 ha, địa phương 17.112 ha còn lại bằng các biện pháp khác Tuy nhiên một số đất canh tác ở những vùng cao cục bộ, nơi xa công trình đầu mối hay ở cuối kênh do kênh dẫn quá dài (cụ thể là xã Việt Cường huyện Yên Mỹ, khu Tân Việt Hưng huyện Văn Lâm, phía Tây Nam Tiên Lữ và đông nam Phù Cừ) và diện tích đất bãi chưa chủ động được nước tưới
Trang 39- Nhìn chung hệ số tưới mặt ruộng ở các huyện thuộc Hưng Yên đều đạt
q = 1,15 l/s/ha
- Khi mực nước sông Hồng xuống thấp, sông trục lớn do Công ty Bắc Hưng Hải quản lý (sông Kim Sơn, Cửu An, Tây và Nam Kẻ Sặt, Điện Biên) cũng bị hạ mực nước thấp do bồi lắng nhiều, hiện nay đang được nạo vét bằng vốn ADB Các sông trục dẫn nước tưới nối với trục chính Bắc Hưng Hải do địa phương quản lý từ khi xây dựng đến nay chưa được nạo vét như: sông Đình Dù, Bần, Vũ Xá, Cầu Treo, Kim Ngưu, Quảng Lãng, sông Hoà Bình, Nghĩa Trụ Những năm qua tỉnh tập trung chỉ đạo nạo vét, song chỉ giải quyết được các kênh dẫn và hố hút vào trạm bơm là chủ yếu
- Kênh mương tưới bằng đất, chịu tác động lớn của thiên tai cùng với tác động thiếu ý thức của con người dẫn đến công trình xuống cấp
- Nhiều trạm bơm dã chiến do xã bỏ vốn đầu tư xây dựng ở thời kỳ bao cấp
hỗ trợ tưới phần đuôi kênh trạm bơm Nhà nước, nơi cao cục bộ nhưng có những trạm bơm vì mục đích sử dụng điện đã cùng vận hành với trạm bơm Nhà nước gây nên chồng lấn diện tích tranh chấp, thu hẹp diện tích phục vụ của các trạm bơm Nhà nước tạo dư thừa công suất các trạm bơm tưới
- Các máy bơm tưới thường là loại 1.000 m3/h đã qua 30 ÷ 40 năm phục vụ,
cũ kỹ đã hết thời gian khấu hao gây tốn điện, tăng chi phí quản lý
- Công ty KTCTTL và các xã chưa đầu tư vốn thoả đáng cho tu sửa thường xuyên, vi phạm công trình còn lớn làm thu hẹp dòng chảy, phát huy tác dụng thấp
- Từ lâu việc nghiên cứu thuỷ lợi vùng bãi có được đặt ra song chưa có biện pháp giải quyết hữu hiệu dẫn đến việc cấp nước tưới vùng bãi còn gặp nhiều khó khăn
Trang 40CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐƯA RA CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẤP NƯỚC TƯỚI TRONG MÙA KIỆT CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI BẮC HƯNG HẢI THUỘC ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN PHÙ HỢP VỚI CÁC PHƯƠNG ÁN ĐIỀU HÀNH CÁC HỒ THƯỢNG NGUỒN 2.1.Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài :
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước :
1 Phương pháp luận :
Trên thế giới , việc nghiên cứu điều hành lũ, điều phối cấp nước, phát điện
và các lợi ích khác được nhiều học giả và chuyên gia nghiên cứu rất sâu Đối với việc quản lý hệ thống các hồ phòng lũ, phát điện và cấp nước có thể tóm tắt những hướng phát triển chính như sau :
- Quản lý hệ thống theo biểu đồ điều phối cấp nước: Hướng nghiên cứu này thường được ứng dụng đối với các hồ chứa độc lập đơn thuần chỉ có nhiệm vụ cấp nước, phát điện và chống lũ cho bản thân công trình Đối với hệ thống hồ chứa bậc thang phát điện đã nghiên cú phát triển các phương pháp tối ưu hóa xác định chế độ làm việc tối ưu của hệ thống hồ chứa
- Quản lý theo mô hình : Đây là hướng phát triển hiện đại, hệ thống các hồ chứa và công trình phân phối nước được thiết lập như một hệ thống tổng hợp Các nghiên cứu tập trung xây dựng các mô hình mô phỏng kết hợp với dự báo để trợ giúp điều hành cho công tác quản lý vận hành
Một loạt các mô hình mô phỏng phục vụ công tác điều hành và quản lý hệ thống đã được phát triển: Các mô hình mô phỏng tính toán dòng chảy trong hệ thống sô như nô hình thủy lực 1 chiều, 2 chiều, 3 chiều, họ mô hình Hec( Hec-3, Hec5, Hec-ras) Các mô hình tính toán vỡ đập như DWOPER, DAMBRK, FLDWAY,tính toán và điều phối nguồn nước lưu vực ( MIKE 11, MIKE 21, MIKE BASIN, MITSIM, RIBASIM )
- Tự động hóa trong công tác điều hành : Việc tự động hóa đã thực hiện ở những nước tiên tiến như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Đài Loan, Trung Quốc