1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

BÁO CÁO TIẾN ĐỘ luận văn thạc sỹ đề tài NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUY HOẠCH BẢO TỒN BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NGỌC LINH, TỈNH QUẢNG NAM

44 324 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 918 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUY HOẠCH BẢO TỒN BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NGỌC LINH, TỈNH QUẢNG NAMI. TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI11. Nội dung và kết quả đã hoàn thành theo đúng tiến độ11.1. Thu thập số liệu sơ cấp, những thông tin liên quan với đề tài:11.2. Kết quả tổng quan vấn đề nghiên cứu21.2.1. Trên thế giới21.2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống khu BTTN21.2.1.2. Bảo tồn Đa dạng sinh học và phát triển bền vững61.2.2. Ở Việt Nam81.2.3. Chính sách và các quy định của pháp luật Việt Nam đối với các KBTTN:171.3. Kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu:191.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu191.3.2. Đặc điểm dân sinh, kinh tế xã hội241.4. Điều tra thực địa về tài nguyên rừng, đa dạng sinh học271.4.1. Hiện trạng sử dụng các loại đất, loại rừng271.4.2. Đặc điểm tài nguyên rừng302. Nội dung chưa hoàn thành theo kế hoạch đến tại thời điểm báo cáo383. Các nội dung tiếp tục hoàn thành theo kế hoạch của đề cương38II. NHỮNG ĐỀ XUẤT THAY ĐỔI TRONG ĐỀ TÀI39III. CAM KẾT CỦA HỌC VIÊN39

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN QUỐC CƯỜNG

BÁO CÁO TIẾN ĐỘ

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUY HOẠCH BẢO TỒN BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NGỌC LINH,

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP

Chuyên ngành: Lâm học

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN QUỐC CƯỜNG

BÁO CÁO TIẾN ĐỘ

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUY HOẠCH BẢO TỒN BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NGỌC LINH,

Trang 5

I TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1

1 Nội dung và kết quả đã hoàn thành theo đúng tiến độ 1

1.1 Thu thập số liệu sơ cấp, những thông tin liên quan với đề tài: 1

1.2 Kết quả tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

1.2.1 Trên thế giới 2

1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống khu BTTN 2

1.2.1.2 Bảo tồn Đa dạng sinh học và phát triển bền vững 6

1.2.2 Ở Việt Nam 8

1.2.3 Chính sách và các quy định của pháp luật Việt Nam đối với các KBTTN: 17

1.3 Kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu: 19 1.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 19

1.3.2 Đặc điểm dân sinh, kinh tế xã hội 24

1.4 Điều tra thực địa về tài nguyên rừng, đa dạng sinh học 27

1.4.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất, loại rừng 27

1.4.2 Đặc điểm tài nguyên rừng 30

2 Nội dung chưa hoàn thành theo kế hoạch đến tại thời điểm báo cáo 38

3 Các nội dung tiếp tục hoàn thành theo kế hoạch của đề cương 38

II NHỮNG ĐỀ XUẤT THAY ĐỔI TRONG ĐỀ TÀI 39

III CAM KẾT CỦA HỌC VIÊN 39

Trang 6

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên học viên: NGUYỄN QUỐC CƯỜNG

Chuyên ngành đào tạo: Lâm học; Lớp: Cao học 22C

Tên đề tài luận văn: Nghiên cứu cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp quy

hoạch bảo tồn bền vững tài nguyên rừng của khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam.

Thời gian thực hiện đề tài: 26 tuần (từ ngày 01/3/2018 đến 15/9/2018)

I TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Căn cứ vào đề cương đã được Hội đồng đánh giá đề cương thông qua, học viên báo cáo tiến độ thực hiện đề tài như sau:

1 Nội dung và kết quả đã hoàn thành theo đúng tiến độ

1.1 Thu thập số liệu sơ cấp, những thông tin liên quan với đề tài:

- Bản đồ, số liệu điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnhQuảng Nam giai đoạn 2011-2020 (Theo Quyết định số 120/QĐ-UBND ngày10/01/2017 của UBND tỉnh Quảng Nam);

- Bản đồ, số liệu kiểm kê rừng huyện Nam Trà My năm 2016 (Theo Quyết định

số 4379/ QĐUBND ngày 13/12/2016 của UBND tỉnh Quảng Nam);

- Bản đồ lập địa tỉnh Quảng Nam do Phân viện Điều tra, Quy hoạch rừng TrungTrung Bộ xây dựng năm 2004;

- Dự án nghiên cứu khả thi Khu bảo tồn thiên nghiên ngọc Linh, tỉnh QuảngNam, do Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế và Viện Điều tra, Quy hoạch rừng xây dựngnăm 2000;

- Báo cáo Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững KBTTN Ngọc Linh, tỉnhKon Tum đến năm 2020, do Viện Điều tra, Quy hoạch rừng xây dựng năm 2013;

- Các báo cáo chuyên đề về thảm thực vật, hệ thực vật, hệ động vật của khu vựcnghiên cứu;

- Niên giám thống kê năm 2016 của huyện Nam Trà My;

Trang 7

- Và một số văn bản pháp luật, tài liệu, số liệu liên quan khác

1.2 Kết quả tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Trên thế giới

1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống khu BTTN

* Khu bảo tồn thiên nhiên và Công ước Đa dạng sinh học:

Định nghĩa của IUCN khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản

của khu BTTN: “Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển

được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá

đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994)

Trong vài thập kỷ qua, các khu BTTN trên thế giới đang có xu hướng tăng cả

về số lượng và diện tích Theo tạp chí Khu BTTN, Tập 14, số 3, năm 2004, trên thếgiới có hơn 100.000 khu BTTN chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới Vườnquốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinhcảnh Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằmhiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà khu BTTN có thể đem lại vẫn còn là thách thứclớn nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Công ước ĐDSH (1992) xác định các khu BTTN là công cụ hữu hiệu và có vaitrò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ” Tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ”của Công Ước có các mục (a), (b) và (c) qui đinh rõ các nước tham gia công ướcĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống khu BTTN, xây dựng các hướng dẫn lựachọn, thành lập và quản lý các khu BTTN, quản lý các tài nguyên sinh học bên trong cáckhu BTTN để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững

* Hệ thống phân hạng quốc tế các khu BTTN theo IUCN

Nguồn gốc của các khu BTTN “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19 Vườn quốc giaYellowstone là Vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872.Trong quá trình hình thành và phát triển các khu BTTN, mỗi nước đều có cách tiếp cậnriêng, không có các tiêu chuẩn hoặc thuật ngữ chung, điều này gây trở ngại cho việcchia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm về khu BTTN trong phạm vi khu vực và toàn cầu

Những nỗ lực đầu tiên nhằm làm rõ những thuật ngữ và phân hạng các khuBTTN được ghi nhận vào năm 1933 Hệ thống phân hạng quốc tế khu BTTN đầu tiênđược IUCN xây dựng và công bố năm 1978 - gọi là Hệ thống phân hạng 1978 Hệ thốngphân hạng 1978 của IUCN gồm có 10 phân hạng Hệ thống này đã được sử dụng tươngđối rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới và trong các hoạt động quốc tế như làm cơ sởcho xây dựng “Danh Mục các khu BTTN của Liên Hiệp Quốc năm 1993”

Trang 8

Hệ thống phân hạng các khu BTTN năm 1978:

- Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/nghiên cứu khoa học (ScientificResearch/ Strict Nature Reserve)

- Vườn Quốc gia (National Park)

- Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên (National Monument/ Natural Landmark)

- Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên/Bảo vệ đời sống hoang dã (Nature

Conservation Reserve/Managed Nature Reserve/ Wildlife Sanctuary)

- Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/cảnh quan biển (Protected Landscape/Seascape)

- Khu dự trữ tài nguyên (Resource Reserve)

- Khu dự trữ thiên nhiên/ nhân chủng học (Nature Biotic Area/Anthropological Reserve)

- Khu quản lý sử dụng đa mục đích (Multiple use ManagementArea/Managed Resource Area)

- Khu dự trữ sinh quyển (Biosphere Reserve)

- Khu di sản thiên nhiên thế giới (World Natural Heritage Site)

Tuy nhiên, ngay sau đó, hệ thống phân hạng 1978 đã bộc lộ một số thiếu sót.Năm 1984, IUCN đã tiến hành những bước đầu tiên xem xét lại và đề xuất cập nhật hệthống phân hạng này

Hệ thống phân hạng khu BTTN quốc tế của IUCN hiện hành được công bố năm

1994, trên cơ sở cập nhật Hệ thống phân hạng 1978 Hệ thống phân hạng 1994 có tất

cả 6 phân hạng Năm phân hạng đầu tiên chủ yếu dựa trên các phân hạng (I- V) của hệthống phân hạng 1978 Phân hạng VI tập hợp các ý tưởng của các phân hạng VI, VII

và VIII của hệ thống phân hạng 1978

Hệ thống phân hạng các khu BTTN năm 1994:

- Hạng I: Khu BTTN nghiêm ngặt/Khu bảo vệ động vật hoang dã:

+ Khu bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt;

+ Khu bảo tồn thiên nhiên hoang dã

- Hạng II: Vườn Quốc Gia

- Hạng III: Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên;

- Hạng IV: Khu bảo tồn loài/Sinh cảnh;

- Hạng V: Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/cảnh quan biển;

- Hạng VI: Khu bảo tồn kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.

Trang 9

Việc sắp xếp một khu BTTN vào một phân hạng nhất định cần căn cứ vào mụctiêu quản lý chủ đạo của khu BTTN đó.

Hệ thống phân hạng các khu BTTN của IUCN không có ý định đặt ra nhữngtiêu chuẩn hoặc làm hình mẫu chính xác để áp dụng ở tất cả các quốc gia, tên các khuBTTN có thể thay đổi tuỳ từng quốc gia Các khu BTTN được thành lập trước tiên đểđáp ứng các yêu cầu của địa phương và quốc gia, sau đó được “đặt tên” và gắn với cácphân hạng của IUCN căn cứ vào mục tiêu quản lý

Như vậy, hệ thống phân loại của IUCN đã được cập nhật những quan điểm hiệnđại về vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học là kết hợp bảo tồn và sử dụng bền vững tàinguyên đa dạng sinh học Mặt khác hệ thống phân chia này đã bao trùm được tất cảcác loại hình bảo tồn ở các vùng địa sinh học khác nhau trên thế giới, với nhiều loại hệsinh thái khác nhau Đây là hệ thống phân chia đã được nhiều nước áp dụng theo cácmức độ khác nhau để bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học của mỗi nước

IUCN khuyến nghị: Đây là hệ thống các khu Bảo tồn xây dựng trên phạm vitoàn cầu, các nước thành viên của IUCN có thể tùy điều kiện đất nước mình để ápdụng hệ thống trên một cách sáng tạo

* Hệ thống các khu BTTN của một số nước vùng Đông Nam Á

Nhận thức được tình hình diện tích rừng bị thu hẹp dẫn đến mất nơi cư trú củanhiều loài động thực vật, các nước trong khu vực đã chủ động thực hiện chương trìnhbảo tồn đa dạng sinh học ở từng quốc gia, bảo tồn đa dạng sinh học được cụ thể hoábằng việc thành lập các khu bảo vệ Đông Nam Á hiện có 1.119 khu bảo vệ với tổngdiện tích hơn 52 triệu ha Hiện nay, hệ thống phân hạng của từng quốc gia áp dụng có

sự khác nhau

Khu bảo tồn và vườn quốc gia các nước Đông Nam Á

Trang 10

* Các loại hình BTTN khác

a) Khu Dự trữ sinh quyển thế giới

Khu dự trữ sinh quyển thế giới là một danh hiệu do UNESCO trao tặng cho cáckhu bảo tồn thiên nhiên có hệ động thực vật độc đáo, phong phú đa dạng Theo địnhnghĩa của UNESCO: Khu dự trữ sinh quyển thế giới là những khu vực có hệ sinh thái

bờ biển hoặc trên cạn giúp thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa dạng sinhhọc với việc phát triển bền vững khu vực đó có giá trị nổi bật, được quốc tế công nhận

Mạng lưới của các khu DTSQ thế giới được hình thành vào năm 1976 và đếnnăm 2012 đã có 610 khu dự trữ sinh quyển thuộc 117 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong

đó có 12 khu xuyên biên giới Các nước có nhiều khu DTSQ nhất là Mỹ (47), Nga

(39), Tây Ban Nha (38) và Trung Quốc (28) (Nguồn: http://www.unesco.org/ new/en/ natural-sciences/environment/ecological-sciences/biosphere-reserves/world -network- wnbr/).

b) Di sản thiên nhiên thế giới

Theo Công ước di sản thế giới thì di sản thiên nhiên là: Các đặc điểm tự nhiênbao gồm các hoạt động kiến tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt độngkiến tạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học Cáchoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới được xácđịnh chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đedọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn Các khu Disản thiên nhiên thế giới thường trùng với các khu BTTN Các khu Di sản thế giới làniền vinh dự, tự hào của quốc gia và thường thu hút nhiều khách du lịch

c) Khu RAMSAR

Công ước Ramsar là một công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp

lý và thích đáng các vùng đất ngập nước, với mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấnngày càng gia tăng vào các vùng đất ngập nước cũng như sự mất đi của chúng ở thờiđiểm hiện nay cũng như trong tương lai, công nhận các chức năng sinh thái học nềntảng của các vùng đất ngập nước và các giá trị giải trí, khoa học, văn hóa và kinh tếcủa chúng Các nước tham gia Công ước thành lập các khu BTTN và sử dụng bềnvững các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế được Công ước công nhận vàđưa vào Danh sách các khu RAMSAR của thế giới

Đến tháng 5/2012, tổng cộng có 160 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia công

ước Ramsar, bao gồm 2006 khu, tổng diện tích là 192.822.023 hecta (Nguồn: Số liệu

trên trang web Ramsar.org, ngày 09/05/2012)

Trang 11

1.2.1.2 Bảo tồn Đa dạng sinh học và phát triển bền vững

* Quan niệm về bảo tồn và phát triển bền vững:

Theo quan niệm trước đây, các khu BTTN thường được xem như một khu vựctách biệt với thế giới bên ngoài Quan niệm này đã dẫn đến những sai lầm trong việcquản lý các khu BTTN Kết quả là thiên nhiên vẫn liên tục bị con người tác động theohướng tiêu cực: khai thác tài nguyên rừng, thực vật và động vật rừng mà nguyên nhân

là do những áp lực xã hội và sinh thái cả trong và ngoài khu BTTN

Theo Chương trình Con người và Sinh quyển (Man and Biosphere Program;viết tắt là: MAB thuộc UNESCO) thực tế cho thấy các khu BTTN vẫn cần có một sốkhu vực không có hoặc chịu rất ít tác động của con người với những quy định kiểmsoát chặt chẽ, được gọi là “vùng lõi” Bên cạnh đó cần thúc đẩy phát triển kinh tế thânthiện với môi trường, phát triển giáo dục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyềnthống ở các vùng xung quanh được gọi là các “vùng đệm” và chuyển tiếp trong đó,người dân địa phương đóng vai trò chủ chốt Có như vậy công tác bảo tồn mới đạt đượchiệu quả lâu dài và bền vững

Bảo tồn và phát triển bền vững là nhằm giải quyết một trong những vấn đề thựctiễn quan trọng nhất mà con người đang đối mặt hiện nay: đó là làm thế nào để có thểtạo nên sự cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên

với sự thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, duy trì các giá trị văn hoá truyền thống đápứng nhu cầu ngày càng cao của con người tại các khu bảo tồn

* Bảo tồn đa dạng sinh học:

ĐDSH và bảo tồn đã trở thành một chiến lược trên toàn cầu, nhiều tổ chức quốc

tế đã ra đời để hướng dẫn việc đánh giá, bảo tồn và phát triển ĐDSH trên toàn phạm vithế giới như: Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Chương trình môi trườngLiên hiệp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện tài nguyên ditruyền quốc tế (IPGRI),

Loài người muốn tồn tại lâu dài trên hành tinh này thì phải có một dạng pháttriển mới và phải có cách sống mới Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của chúng ta phụthuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu những tài nguyên đó bị suy giảm thì cuộc sốngcủa chúng ta và các thế hệ mai sau sẽ bị đe doạ

Vì thế tại Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và ĐDSH đã tổ chứctại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992, 150 nước đã tham gia ký vào công ước

về ĐDSH và bảo vệ chúng

Từ đó, nhiều hội thảo được tổ chức để thảo luận và nhiều cuốn sách mang tínhchất chỉ dẫn về ĐDSH được ra đời Năm 1990, WWF đã xuất bản cuốn sách nói vềtầm quan trọng của ĐDSH (The importance of biological diversity) hay IUCN, UNEP

và WWF đưa ra Chiến lược bảo tồn thế giới (World conservation strategy), IUCN

Trang 12

-WWF đưa ra Chiến lược ĐDSH toàn cầu (Global biological strategy)

Theo số liệu của IUCN (2002) và WCPA thì số lượng các khu bảo vệ thiênnhiên trên toàn thế giới hiện là 30.000 khu với tổng diện tích khoảng 12,8 triệu km2chiếm 9,5% diện tích phần lục địa của thế giới

Tuy nhiên cùng với những biến cố về lịch sử, về kinh tế xã hội, ĐDSH trên thếgiới đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng Do đó cần có sự tham gia của mỗi cấp ở cácgia trên thế giới trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH Nhiều công ước quốc tế đã ra đời như:Công ước về bảo vệ các vùng đất ướt (RAMSAR) năm 1971, Công ước về bảo tồnloài (CITES) năm 1973, Công ước về ĐDSH (CBD) năm 1992,

Tóm lại, việc xây dựng, thành lập hệ thống khu bảo tồn trên thế giới đã quántriệt phương châm: Bảo tồn kết hợp chặt chẽ với phát triển và chú ý đến quyền lợi củangười dân địa phương sống trong và xung quanh các khu bảo tồn Điều này thể hiệntrong hệ thống phân hạng của IUCN và nhiều nước khác Ngoài các khu bảo tồn đượcbảo vệ nghiêm ngặt và toàn vẹn các hệ sinh thái và cảnh quan, thì cũng có những khubảo tồn được phép tác động hay khai thác hợp lý hoặc sử dụng bền vững, nếu các tácđộng đó không phá vỡ thành phần, cấu trúc hệ sinh thái Công tác qui hoạch, xây dựng

hệ thống rừng đặc dụng ở mỗi nước rất đa dạng, đi sâu vào nhiều mặt và có các giảipháp bảo tồn khác nhau, tuy nhiên đều có chung mục tiêu là: bảo vệ các hệ sinh thái,môi trường sống hay sinh cảnh (habitat), các loài động thực vật quý hiếm và các cảnhquan đẹp có giá trị lịch sử, văn hoá đặc biệt

* Phát triển bền vững:

Vào đầu thập niên những năm 1980, Liên minh Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên(IUCN) đã đề xuất khái niệm PTBV Đến năm 1987, khái niệm này đã được Ủy banThế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) tiếp thu, triển khai và định nghĩa trong

bản tường trình mang tựa đề “Tương lai của chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững

là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.

Cuối năm 1987, Liên Hiệp Quốc đã chuẩn bị cho 2 hội nghị quan trọng về vấn

đề PTBV Hội nghị thứ nhất diễn ra năm 1992 tại Rio de Janeiro gọi là Hội nghịThượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển đã chính thức hoá sự đồng lòng củacác nước hội viên Liên Hiệp Quốc về một chương trình nghị sự PTBV gọi là Agenda

21 (Action Plan for Sustainable Development for the 21st Century) Hội nghị thứ haidiễn ra năm 2002 tại Johannesburg, Nam Phi với sự tham gia của 196 Quốc gia “Hộinghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững” Hội nghị Johannesburg đã xácđịnh phải xúc tiến và thực hiện Agenda 21 và đề ra các mục tiêu cho thiên niên kỷmới PTBV đã trở thành tuyên ngôn và chiến lược hành động chung của nhiều Quốcgia trên thế giới

Trang 13

Từ năm 1992 đến năm 2004 đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực hiệnChương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 Chương trìnhnghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quanđộc lập để triển khai thực hiện chương trình này Các nước trong khu vực như TrungQuốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia đều đã xây dựng và thực hiện Chươngtrình nghị sự 21 về phát triển bền vững.

Như vậy, mục tiêu cuối cùng của PTBV là thoả mãn nhu cầu căn bản của conngười, cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái, bảo đảm tương lai

ổn định PTBV thực hiện và đảm bảo sự liên đới giữa các thế hệ, giữa các quốc gia,giữa hiện tại với tương lai PTBV có tính chất đa diện, thống nhất và toàn bộ MuốnPTBV phải lồng ghép được ba thành tố quan trọng của sự phát triển với nhau: kinh tế,

xã hội và bảo vệ môi trường

Đây là nguyên lý chung để hướng đến sự PTBV của các lĩnh vực trong nền kinh

tế Cách tiếp cận bền vững ngày càng được phát triển và mở rộng cho nhiều ngànhtrong đó có vấn đề về phát triển lâm nghiệp bền vững

1.2.2 Ở Việt Nam

1.2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống rừng đặc dụng

Rừng Đặc dụng là một loại Khu Bảo vệ do ngành Lâm nghiệp xây dựng và

quản lý Theo Điều 4 của Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004) thì “Rừng đặc dụng

được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường.”

Việt Nam là một trong những nước sớm quan tâm đến vấn đề bảo tồn tàinguyên ĐDSH Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống RĐD Việt Nam đã trảiqua hơn 50 năm và được chia làm 3 giai đoạn:

* Giai đoạn từ 1960 đến 1974

- Ở miền Bắc: Ngày 7/7/1962, Chính phủ Việt Nam ra Quyết định thành lậpKhu Rừng cấm Cúc Phương (đây là khu RĐD đầu tiên, sau trở thành Vườn Quốc giađầu tiên của Việt Nam) Là khu RĐD với hệ động thực vật trên núi đá vôi nằm tiếpgiáp vùng sinh thái Đồng bằng Bắc Bộ và Tây Bắc Trong giai đoan này ngành Lâmnghiêp đã phát hiện và đề xuất 49 khu Rừng cấm ở các tỉnh phía Bắc Do đất nướcđang trong thời kỳ chiến tranh và những hạn chế về điều kiện kinh tế kỹ thuật nên việcxây dựng, quản lý các khu RĐD mới chỉ dừng lại ở các hoạt động bảo vệ tài nguyênrừng là chủ yếu

- Ở miền Nam: Năm 1965, Chính phủ Sài Gòn quyết định thành lập 10 khu bảo

vệ vùng thấp: Côn Đảo, Châu Đốc, Bảo Lộc, Rừng cấm săn bắn Đức Xuyên (Buôn Ma

Trang 14

Thuột), đảo Hoang Loan và Mũi Dinh Vùng núi cao có 3 khu: Chư Yang Sin(2.405m), đỉnh Lang Biang (2.183m) và Bạch Mã - Hải Vân (1.450m) Theo số liệu

của IUCN (1974) miền Nam Việt Nam có 7 khu RĐD với diện tích 753.050 ha (Cao

Văn Sung- Hệ thống các khu bảo vệ thiên nhiên ở Việt Nam-1994).

* Giai đoạn từ 1975 đến 1986

Sau khi đất nước thống nhất, ngành Lâm nghiệp đã triển khai việc điều tra, pháthiện các khu vực có tính ĐDSH cao để thành lập các khu rừng cấm trên cả nước đặcbiệt ở các khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Các đề án về hệ thốngcác khu rừng cấm đã lần lượt được đệ trình lên Bộ và Chính phủ

Ngày 24/01/1977, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/TTg thànhlập 10 Khu rừng cấm, tổng diện tích 44.310 ha, gồm: Ba Bể, Đảo Ba Mùn, Ba Vì, BắcSơn (Mỏ Rẹ), Bán đảo Sơn Trà, Đền Hùng, Pắc Bó, Rừng Thông Đà Lạt, Núi TamĐảo và Tân Trào (Núi Hồng) Trong đó chỉ có 3 khu: Ba Vì, Đảo Ba Mùn va Núi TamĐảo thuộc loại Bảo tồn thiên nhiên, các khu còn lại thuộc loại Văn hóa – Lịch sử

Ngày 9/8/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 194/CTxác lập danh mục 73 Khu Rừng cấm trên toàn quốc với tổng diện tích là 769.512 ha,gồm 2 Vườn quốc gia (65.000 ha), 46 Khu Bảo tồn Thiên nhiên (629.661 ha) và 25Khu Văn hóa- Lịch sử và Môi trường (74.851 ha)

Ngày 30/12/1986, Quy chế quản lý ba loại rừng (trong đó có RĐD) được chínhthức ban hành theo Quyết định số 1171/QĐ của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp Theo Quychế này Rừng cấm được đổi tên là RĐD và được chia làm 3 phân hạng: Vườn Quốcgia, Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Khu Văn hóa- Lịch sử và Môi trường

Hệ thống RĐD Việt Nam ở giai đoạn này đã gồm nhiều khu đại diện cho cácđai, đới khi hậu và các đơn vị địa lý sinh học khác nhau phân bố tương đối đồng đềutrên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

* Giai đoạn từ 1987 đến nay

Trong giai đoạn này, việc xây dựng RĐD được đẩy mạnh nhờ sự quan tâm củacác ngành và các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, được sự cộng táctích cực của các nhà khoa học trong nước cũng như sự hỗ trợ có hiệu quả về khoa học

kỹ thuật và vật chất của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ

Song song với việc tiếp tục điều tra phát hiện thêm các khu mới, công tác xâydựng Luận chứng Kinh tế - Kỹ thuật (nay la Dự án đầu tư) cho các khu đã được côngnhận cũng được đẩy mạnh nhằm nhanh chóng cụ thể hóa và tăng cường năng lực quản

lý và bảo vệ hệ thống RĐD Việt Nam

Công tác điều tra cơ bản cũng thu được nhiều thành tựu có ý nghĩa khoa học nhưviệc phát hiện và mô tả mới một số loài thú lớn từ năm 1992 - 1996 bao gồm:

- Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), 1992

Trang 15

- Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), 1993

- Mang Trường sơn (Muntiacus truongsonensis), 1996…

Một số loài chim, côn trùng và thực vật mới cho khoa học cũng được phát hiệntrong giai đoạn này

Việc phát hiện các loài trên đã chứng minh thêm giá trị đa dạng sinh học caocủa khu hệ động vật và thực vật Việt Nam và đẩy mạnh hơn sự đầu tư của Chính phủViệt Nam và các tổ chức quốc tế cho công tác bảo vệ và phát triển hệ thống RĐD củaViệt Nam

Hệ thống các khu bảo vệ của Việt Nam vẫn đang phát triển cả về quy mô và tổchức Tuy nhiên mới chỉ có các khu trong hệ thống RĐD (chủ yếu trên đất liền và một

số rất ít các khu đất ngập nước và ven biển) có quyết định của Chính phủ, các Bộ hoặc

Ủy ban Nhân dân các tỉnh và thành phố Các khu Bảo vệ ngoài lâm nghiệp (đât ngậpnước và các khu bảo vệ biển) hiện chưa có quyêtt định

Ngay từ cuối năm 1990, để tăng cường công tác bảo tồn thiên nhiên ở ViệtNam, Chính phủ và Bộ Lâm nghiệp (cũ) nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn đã có chủ trương nâng tổng diện tích các khu RĐD của Việt Nam lên khoảng 2triệu ha Để thực hiện chủ trương này, trong hai năm 1997 và 1998, Bộ NN&PTNT đãgiao cho Viện Điều tra, Quy hoạch rừng phối hợp với Cục Kiểm lâm thực hiện kếhoạch “Điều tra đánh giá và quy hoạch mở rộng hệ thống RĐD của Việt Nam”, tiếp đóhợp tác cùng Tổ chức BirdLife Quốc tế (BirdLife International) thực hiện dự án “Mởrộng hệ thống các khu RĐD của Việt Nam cho thế kỷ 21” do Liên minh Châu Âu tàitrợ Tiếp sau đố, Cục Kiểm lâm – Bộ NN&PTNT và WWF đã triển khai thực hiện dự

án do Danida tài trợ có tên Cải thiện Quản lý các khu bảo vệ tại Việt Nam Một trong

các sản phẩm của dự án này là đã xây dựng được Chiến lược cho Hệ thống Khu Bảo

vệ của Việt Nam

Ngày 11/01/2001, Quy chế mới về quản lý RĐD đã được ban hành theo Quyếtđịnh số 08/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Theo Điều 6 của Quy chế này, RĐD được chia thành ba Phân hạng: “Vườn

Quốc gia”, “Khu Bảo tồn Thiên nhiên” và “Khu Văn hóa, Lịch sử và Môi trường (các

khu bảo vệ cảnh quan)” Khu Bảo tồn Thiên nhiên được chia thành hai Phân hạng phụ:

“Khu Dự trữ Thiên nhiên” và “Khu Bảo tồn loài/sinh cảnh” Quy chế cũng giao trách

nhiệm cho Bộ Văn hóa và Thông tin phối hợp với Bộ NN&PTNT thành lập và quản lýcác Khu Văn hóa, Lịch sử và Môi trường

Điều 8 của Quy chế nêu các mục tiêu cơ bản của vùng đệm để nhằm “ngăn

chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng” và chỉ rõ rằng “tất cả các hoạt động trong vùng đệm phải hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ Rừng đặc dụng Hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm, cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật hoang dã và chặt phá các loại thực vật là đối tượng bảo vệ”.

Trang 16

Trách nhiệm quản lý chung đối với hệ thống RĐD của quốc gia thuộc về CụcKiểm lâm – Bộ NN&PTNT Tuy nhiên, chính quyền các cấp có liên quan đến việcquản lý các khu RĐD ở cấp tỉnh, huyện, xã Công việc quản lý hàng ngày tại từngkhu RĐD do Ban quản lý RĐD hoặc một số đơn vị khác đảm nhiệm Trong đó có 106khu RĐD đã có Ban quản lý, trong số đó có 68 khu bao tồn thiên nhiên trong số 95 khu

đã được quyết định và toàn bộ 27 Vườn Quốc gia

Chỉ có 8 Vườn Quốc gia trực thuộc Bộ NN&PTNT Đó là: Ba Vì, Cúc Phương,Tam Đảo, Cát Bà, Bến En, Bạch Mã, YokDon và Cát Tiên Các Vườn quốc gia khác

và toàn bộ các khu Bảo tồn thiên nhiên, các khu Văn hóa, Lịch sử và Môi trường đềutrực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh và thành phố Nhân viên của các Ban quản lý thườngđược lấy từ các đơn vị kiểm lâm trong tỉnh, nhưng đôi khi cũng lấy từ các đơn vị khác

Ngày 17/9/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số192/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quản lý Hệ thống khu Bảo tồn Thiên nhiêncủa Việt Nam đến năm 2010 theo đó quy định rõ mục tiêu, cách thức phát triển, cáchoạt động chính và phân công trách nhiệm quản lý hệ thống khu bảo vệ của Việt Nam.Năm 2003, danh sách các khu RĐD cần được thiêtt lập đến năm 2010 đã được CụcKiểm Lâm – Bộ NN&PTNT xây dựng và đệ trình Chính phủ (Cục Kiểm lâm 2003).Danh lục này có lồng ghép cả các kiến nghị từ Hội thảo tại Cúc Phương và các kiếnnghị của các dự án do EU và Danida tài trợ

Theo Báo cáo đánh giá hệ thống quy hoạch rừng đặc dụng của Trần Thế Liên(2010) và Dự án rà soát quy hoạch hệ thống RĐD quốc gia (Viện Điều tra quy hoạchrừng, 2007), cả nước hiện có 164 rừng đặc dụng với diện tích 2.198.744 ha (chiếm 7%diện tích cả nước), bao gồm 30 vườn quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 11 khu bảotồn loài, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng thực nghiệm nghiên cứu khoa học

Hệ thống quản lý các rừng đặc dụng này phụ thuộc vào từng loại rừng đặcdụng, như ở cấp Trung ương quản lý 06 Vườn quốc gia, còn lại trực thuộc tỉnh Việcxây dựng và quản lý RĐD dựa trên Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và cácvăn bản pháp luật khác như: Quyết định số 62/2005/QĐ-BNN, ngày 12/10/2005 vềviệc ban hành tiêu chí phân loại rừng đặc dụng; QĐ số 186/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006

về quy chế quản lý rừng; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30/3/2006 về quản lýthực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và mới đây là Nghị định số117/2010/NĐ-CP, ngày 24/12/2010 về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng, đây làNghị định được xây dựng tương đối hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay, thể hiện sựthông suốt về tổ chức và quản lý rừng

Như vậy, hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam đã trở thành những nơi đểnghiên cứu khoa học, thực tập, tham quan du lịch, nghỉ dưỡng, bảo vệ nguồn nước,bảo tồn những văn hóa, kiến thức bản địa, bảo tồn đa dạng sinh học,… Các khu RĐD

sẽ là nơi dự trữ nguồn tài nguyên ĐDSH, nguồn gen phục vụ lâu dài và ổn định chocông cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 17

1.2.2.2 Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam - mối liên hệ giữa phát triển bền vững và biến đổi khí hậu

Lãnh thổ Việt Nam trải dài từ 8030’ Bắc đến 230 Nam Sự khác biệt lớn về khíhậu và địa hình giữa các miền, tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và ĐDSH.Các hệ sinh thái rừng rất đa dạng: từ rừng mưa thường xanh cận nhiệt đới ở phía Bắccho tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, tới rừng ngập mặn và các hệ sinh thái ngậpnước ven biển Đến nay đã thống kê được gần 13.000 loài thực vật và 12.000 loài độngvật Nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học và thựctiễn lớn

Từ 1992 đến nay đã có 3 loài thú mới (trong số 10 loài thú mới phát hiện trênthế giới) đã được phát hiện ở Việt Nam Với tỷ lệ về thành phần loài giữa Việt Nam vàthế giới là 6,3%, Việt Nam đã được xếp vào 1 trong 16 nước có ĐDSH cao nhất trênthế giới (WCMC, 1992)

ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên vàcân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sựbền vững của thiên nhiên trên trái đất Theo ước tính, giá trị của tài nguyên ĐDSHtoàn cầu cung cấp cho con người là 33.000 tỷ đô la mỗi năm Đối với Việt Nam,nguồn tài nguyên ĐDSH trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản hàng nămcung cấp cho đất nước khoảng 2 tỷ đô la

Hiện nay, nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho nguồn tài nguyên ĐDSHcủa Việt Nam bị suy giảm Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích

và nhiều taxon loài (bậc phân loại) và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệtchủng trong một tương lai gần

Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp,cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đấtnước Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cầnphải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động củabiến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH

* Thực trạng về bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam

Để ngăn ngừa sự suy thoái ĐDSH, Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồnĐDSH khá sớm Hai hình thức bảo tồn ĐDSH phổ biến được áp dụng ở Việt Nam là:

bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu conservation) và bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị

(Exsitu conservation).

a) Bảo tồn nội vi

Bảo tồn nội vi bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ cácloài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên Tuỳ theođối tượng bảo tồn để áp dụng các hình thức quản lý thích hợp Thông thường, bảo tồn

Trang 18

nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biệnpháp quản lý phù hợp.

Bảo tồn nội vi là hình thức bảo tồn chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian qua Kếtquả của phương pháp bảo tồn này thể hiện rõ rệt nhất là đã xây dựng và đưa vào hoạtđộng một hệ thống rừng đặc dụng

Hệ thống rừng đặc dụng hiện có phân bố rộng khắp trên các vùng sinh thái toànquốc Tuy nhiên, phần lớn các khu RĐD đều có diện tích nhỏ, phân bố phân tán.Trong số 164 khu RĐD nhiều khu còn bao chiếm nhiều diện tích đất nông nghiệp, đấtthổ cư, ranh giới một số khu RĐD trên thực địa chưa rõ ràng, còn có tranh chấp, tínhliên kết các khu còn yếu, chưa hình thành được các hành lang liên kết các khu RĐDnhỏ có nhiều đặc điểm giống nhau v.v

Trong nông nghiệp và lâm nghiệp, bảo tồn nguyên vị được hiểu là việc bảo tồncác giống loài cây trồng nông nghiệp và cây rừng được trồng tại đồng ruộng hay rừngtrồng Ngoài các khu RĐD, các hình thức bảo tồn dưới đây cũng đã được công nhận ởViệt Nam

- 8 khu Dự trữ sinh quyển quốc gia được UNESCO công nhận: Khu Cần Giờ(TP Hồ Chí Minh); Khu Cát Tiên (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước và Đắc Nông);Khu DTSQ - VQG Cát Tiên; Khu Cát Bà (TP Hải Phòng), khu ven biển Đồng bằngSông Hồng (Nam Định và Thái Bình); khu DTSQ Kiên Giang; khu DTSQ Tây NghệAn; khu DTSQ Mũi Cà Mau; khu DTSQ Cù Lao Chàm Hầu hết các khu này đều cóvùng lõi là RĐD;

- 2 khu Di sản thiên nhiên thế giới: Khu Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và KhuPhong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình);

- 3 khu Di sản thiên nhiên của ASEAN: VQG Hoàng Liên (Lào Cai), VQG ChưMom Rây (Kon Tum) và VQG Kon Ka Kinh (Gia Lai);

- 4 khu Ramsar: Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định); khu Bầu Sấu thuộcVQG Cát Tiên; VQG Ba Bể (Ba Bể - Bắc Cạn); VQG Tràm Chim, (Tam Nông-ĐồngTháp) Cả 4 khu này đều nằm trong Hệ thống các khu RĐD quốc gia

b) Bảo tồn ngoại vi

Bảo tồn ngoại vi bao gồm các vườn thực vật (VTV), vườn động vật, các bể nuôithuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưutập các chất mầm, mô cấy Các biện pháp gồm di dời các loài cây, con và các vi sinhvật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng Mục đích của việc di dời này là đểnhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (i) nơi sinh sống

bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên; (ii) dùng để làmvật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiếnthức cho cộng đồng Tuy công tác bảo tồn ngoại vi còn tương đối mới ở Việt Nam,

Trang 19

nhưng trong những năm qua, công tác này đã đạt được một số thành tựu nhất định:

- Bước đầu hình thành mạng lưới các VTV, vườn sưu tập, các lâm phần bảo tồnnguồn gen cây rừng, các vườn động vật trên toàn quốc và dần đi vào hoạt động ổnđịnh hơn Trong thực tế, hệ thống bảo tồn ngoại vi đã hỗ trợ tương đối hiệu quả chocông tác nghiên cứu, học tập về bảo tồn đa dạng sinh học Nhiều đề tài nghiên cứuthành công ở nhiều khía cạnh trong công tác bảo tồn ngoại vi ở các VTV và vườnđộng vật

- Các VTV, lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, vườn cây thuốc và vườnđộng vật đã sưu tập được số lượng loài và cá thể tương đối lớn Trong số đó, nhiều loàicây rừng bản địa đã được nghiên cứu và đưa vào gây trồng thành công; nhiều loàiđộng vật hoang dã đã gây nuôi sinh sản trong điều kiện nhân tạo Đặc biệt là các vườncây thuốc chuyên đề hoặc các vườn cây thuốc trong các VTV đã đóng góp đáng kểtrong công tác nghiên cứu dược liệu và gây trồng phát triển cây thuốc nam cung cấpnguyên liệu cho ngành dược

- Bảo tồn ngoại vi đã đóng góp đáng kể cho bảo tồn nội vi đối với các loài độngthực vật hoang dã đã và đang bị diệt chủng ngoài tự nhiên Một số loài động thực vậthoang dã đã bị tiêu diệt trong tự nhiên đã được gây nuôi thành công như Hươu sao, Hươu

xạ, Cá sấu hoa cà (động vật), thực vật có Sưa, Lim xanh

- Bước đầu xây dựng được ngân hàng giống bảo tồn nguồn gen của các loàiđộng thực vật, dự trữ lâu dài, hỗ trợ cho công nghệ sinh học và phát triển nông lâmnghiệp v.v…

* Bảo tồn với phát triển bền vững ở Việt Nam

Để đảm bảo sự phát triển bền vững, phải bảo tồn ĐDSH và biết cách sử dụng

nó một cách bền vững Đối với các loại tài nguyên sinh học là dạng tài nguyên có khảnăng tái tạo được, điều quan trọng là tạo được sản lượng ổn định tối đa mà không làmcạn kiệt nguồn tài nguyên cơ sở Sản lượng này hoàn toàn có hạn và không thể khaithác quá khả năng chịu đựng, nếu không muốn làm giảm năng suất trong tương lai

Trang 20

Mục tiêu của bảo tồn thiên nhiên, quản lý ĐDSH và sử dụng bền vững các tàinguyên sinh học là nhằm giữ được sự cân bằng tối đa giữa bảo tồn sự đa dạng củathiên nhiên và tăng cường chất lượng cuộc sống của con người.

b) Ảnh hưởng của các khu RĐD tới phát triển bền vững

Như vậy, tăng trưởng kinh tế ổn định, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trườngsinh thái là những mục tiêu mà quá trình phát triển và bảo tồn đều muốn hướng tới và

hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển Với tổng diện tích các khu RĐD trên 2 triệu

ha rừng, chúng ta có nguồn tài nguyên ĐDSH rất lớn, không những là nơi lưu giữ,cung cấp các nguồn tài nguyên, mà còn là nơi hỗ trợ, là hiện trường để phát triển kinh

tế, xoá đói giảm nghèo, hạn chế thiên tai v.v…

Bảo tồn hỗ trợ phát triển cộng đồng xoá đói giảm nghèo: Nhiều khu RĐD của

Việt Nam là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số Đây là những vùng có tỷ lệ đóinghèo cao Đối với những vùng xa xôi thì các khu RĐD là nơi cung cấp nguồn câythuốc, các loại lâm sản phụ, nguồn cung cấp nước sạch, giảm thiểu hiện tượng di cưbất hợp pháp v.v

Cung cấp và điều tiết nguồn tài nguyên nước: Các khu RĐD là những khu rừng

có độ che phủ cao, có tác dụng phòng hộ lớn, hạn chế lũ lụt và cung cấp nguồn nướccho các vùng hạ lưu v.v

Góp phần phát triển nông nghiệp: Các khu RĐD là nơi lưu giữ và cung cấp

nguồn gen để chuyển hoá thành các loài cây trồng, vật nuôi, đồng thời cũng là nhữngnơi điều tiết nguồn nước và điều hoà khí hậu cho sản xuất và đời sống của người dântại những vùng xung quanh các khu RĐD và vùng hạ lưu

Phát triển nuôi trồng thuỷ sản: Hệ thống các KBT đất ngập nước và rừng ngập

mặn ven biển đang là môi trường thuận lợi để các loài thuỷ sản phát triển, cũng là môitrường cho việc nuôi trồng và khai thác nguồn tài nguyên này (như VQG Xuân Thuỷ,KBT Thái Thuỵ )

Phát triển du lịch: Các khu bảo tồn, nhất là các VQG có điều kiện thuận lợi để

tiếp cận đang là những điểm đến hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước như VQGPhong Nha - Kẻ Bàng mỗi năm thu bình quân 5 tỷ đồng từ hoạt động du lịch

Bảo vệ môi trường: Các khu RĐD là những bể hấp thụ CO2 có hiệu quả để góp

phần làm giảm hiệu ứng khí nhà kính, ngăn chặn sự biến đổi khí hậu toàn cầu - mộttrong những vấn đề đang được tất cả các nước quan tâm

Bảo tồn và phát triển bền vững ở đây là nói đến các hoạt động nhằm gìn giữđược ĐDSH về các mặt: cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết, các giá trị về xã hội,văn hoá và các dịch vụ về sinh thái được khai thác và sử dụng bền vững và có hiệu quảcho cuộc sống của con người Bảo tồn ĐDSH cũng bao gồm cả các hoạt động liênquan đến bảo tồn các loài, nguồn gen có trong mỗi loài và các sinh cảnh, các cảnh

Trang 21

quan, thông qua việc bảo tồn các hệ sinh thái và việc khai thác một cách hợp lý cáccây, con và cả các nguồn tài nguyên vi sinh vật để phục vụ cho cuộc sống của conngười, cho đến việc sản xuất và phân phối các lợi nhuận có được từ các tài nguyênsinh vật Do vậy, để phát triển kinh tế ổn định, cần phải quan tâm đến việc bảo vệ hệthống các khu RĐD hiện có trên tất cả các mặt.

* Bảo tồn với biến đổi khí hậu

a) Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là biến đổi được quy trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động củacon người làm thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, làm tăng hiệu ứng nhàkính, gây biến đổi hệ thống khí hậu trái đất

Thay đổi khí hậu do phát thải khí nhà kính qua hoạt động của con người ngàycàng tăng Nồng độ CO2 hiện nay đã cao hơn 30-35% so với nồng độ tự nhiên khoảng10.000 năm về trước Nhiệt độ bề mặt trái đất đã tăng lên trung bình 0,60C so với thế

kỷ 20 và dự kiến có thể tăng lên 1,4 - 5,80C vào năm 2100, một mức chưa từng cótrong khoảng 10.000 năm qua Mức độ thay đổi khí hậu cũng sẽ tuỳ thuộc vào từngvùng khác nhau, tuy nhiên tất cả các vùng trên thế giới đều có thể bị tác động nhiềuhay ít Số loài sinh vật sẽ bị thay đổi, nhiệt độ mặt đất sẽ tăng lên, mực nước biển sẽdâng cao, và các hệ thống sản xuất cơ bản như nông nghiệp và lâm nghiệp sẽ bị tácđộng đáng kể Như vậy, khí hậu thay đổi sẽ làm thay đổi một số nhân tố bao gồm:nhiệt độ trái đất tăng lên; mực nước biển dâng cao; gây nên hiện tượng sa mạc hóa cục

bộ hoặc trên diện rộng; thay đổi chu trình thủy văn; các quy luật thời tiết sẽ thay đổinhư các hiện tượng mưa, nắng, lũ, lụt, gió bão…

b) Tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn đa dạng sinh học

Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những ảnh hưởng lớn tới tự nhiên và xã hội,gây ra những tác động trực tiếp tới cuộc sống của con người Biến đổi khí hậu cũng sẽảnh hưởng tới việc bảo tồn ĐDSH, cụ thể là:

- Một số loài sẽ bị biến mất, một số loài được ghi trong Sách Đỏ của IUCN, nhất

là các loài rất nguy cấp và nguy cấp chỉ còn sống sót ở một vài địa điểm nhất định

- Các hệ sinh thái, các sinh cảnh cần thiết cho các loài di cư, hoặc các loài nguycấp có phân bố hẹp, các loài đặc hữu sẽ bị biến mất hoặc thu hẹp

- Các hệ sinh thái bị biến đổi và phân mảnh: Do mực nước biển dâng cao nênmột số địa điểm mà ở đó tập trung những chủng quần quan trọng mức quốc tế hay lànhững chủng quần của các loài có vùng phân bố hạn hẹp có thể bị biến mất hoặc bịchia cắt, phân mảnh, như các vùng đảo, vùng ven biển v.v

- Một số khu RĐD cảnh quan có tầm quan trọng về kinh tế - xã hội, văn hóa vàkhoa học hoặc là đại diện, là độc nhất hay là có tầm quan trọng về tiến hoá hay cho cácquá trình sinh học ở các đảo hoặc ven biển, cửa sông sẽ bị mất hoặc bị thu hẹp

Trang 22

- Sự xâm nhập của các loài ngoại lai: Do môi trường sống thay đổi tạo điều kiệncho các loài động thực vật ngoại lai xâm nhập, phát triển Cùng với các hoạt động buônbán, sự xâm nhập của các loài ngoại lai hiện đang là mối đe dọa lớn lên tính ổn định và đadạng của các hệ sinh thái, chỉ sau nguy cơ mất sinh cảnh Các đảo nhỏ và các hệ sinh tháithuỷ vực nước ngọt, các vùng ven biển là những nơi bị tác động nhiều nhất.

c) Tác dụng của hệ thống các khu RĐD đối với biến đổi khí hậu

Hệ thống khu RĐD hiện nay không những là nơi bảo tồn tốt nhất các giá trịĐDSH mà còn góp phần quan trọng trong việc hạn chế sự biến đổi khí hậu cũng nhưnhững ảnh hưởng của biến đổi khí hậu:

- Các khu RĐD là những bể hấp thụ khí CO2 khổng lồ để giảm hiệu ứng khínhà kính một trong những nguyên nhân gây ra sự biến đổi khí hậu

- Giảm ảnh hưởng của lũ lụt, chống xói mòn, rửa trôi đất, bảo vệ sản xuất vàcác công trình hạ tầng cơ sở

- Hạn chế hiện tượng sa mạc hoá cục bộ hay trên diện rộng, một trong nhữngảnh hưởng đang diễn ra tương đối phổ biến ở các nước hiện nay

- Góp phần điều hoà khí hậu trong vùng cũng như trên cả khu vực rộng lớn hơn…Như vậy, hệ thống các khu RĐD không chỉ có tác dụng về mặt bảo tồn mà còn đápứng được nhiều mục tiêu như phát triển kinh tế - xã hội, hạn chế ảnh hưởng của thay đổikhí hậu… góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cuộc sống của con người

1.2.3 Chính sách và các quy định của pháp luật Việt Nam đối với các KBTTN:

1.2.3.1 Các văn bản trung ương

- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12năm 2004;

- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005;

- Luật Đa dạng sinh học đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XII, kỳ họp thứ tư, thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, và có hiệulực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009;

- Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 3 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về thihành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng;

- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ ban hành danhmục thực vật rừng, động vật rừng nguy câp, quý, hiếm;

- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP, ngày 11 tháng 1 năm 2008 của Chính phủ sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;

Ngày đăng: 30/09/2018, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w