LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngày nay, quy mô sinh viên tăng quá nhanh trong khi sự đáp ứng nguôn Ịưccua cac nha nước thi han chê, cùng với sự quan tâm đôi vơi vân đe phát triển nguồnnhân Ịực trinh
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH • •
Phan Huy Hung
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG ĐẢM
BẢO
Sư Tư CHU, TƯ CHIU TRÁCH NHIÊM CỦÁ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NÁM
Hà Nội - 2009
Trang 2Phan Huy Hung
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG ĐẢM
BẢO
Sư Tư CHU, TƯ CHIU TRÁCH NHIÊM CỦÁ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NÁM
Chuyên ngành: Quản lý hành chính công Mã số : 62 34 82 01
LỤẨN ANTIÊN SI QUẢN LY HÀNH CHINH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS.TS Phạm Hồng Thái
2 TS Phạm Quang Huy
Hà Nội - 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tựchịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu củatôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả được trình bày trong luận án là trung thực
và chưa từng được công bố
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận án
Phan Huy Hùng
Trang 45 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 14
Chương 1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚCVỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ 23
ự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học 23
uan niệm trường đại học và sự phân cấp về thẩm quyền 26
1.1.3 Tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm xã hội của trường đại học 31
1.1.4 Điều kiện va sư cân băng tự chủ, tự chịu trách nhiệm 34 1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự chịu
1.2.1 Khái niệm và bản chất quản lý nhà nước về giáo dục đại học
đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học 39 1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về giáo dục đại học theo
hướng đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học 42 1.2.3 Nội dung và phương thức quản lý nhà nước về giáo dục đại 62 học theo hướng đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại
Trang 51.2.4 Các mô hình quản lý nhà nước về giáo dục đại học
1.3 Kinh nghiệm một số nước trong quản lý nhà nước về giáo dục đại 65 học 1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học bảo đảm 71
tự chủ, trách nhiệm xã hội của trường đại học một số nước 74 1.3.2 Bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước tăng cươn g tự chủ và
trách nhiệm xã hội của trường đại học
Kết luận Chương 1
Chương 2- QUYỀN Tự CHỦ, Tự CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC
2.1 Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học ở Việt 76
2.1.2 Tự chịu trách nhiệm của trường đại học 85
2.3 Thưc trang bảo đảm của nhà nước đối với giáo dục đại học ở Việt 103
2.3.1 Bảo đảm của Nhà nước về tự chủ nhà trường 115 2.3.2 Bảo đảm của Nhà nước đối với tự chịu trách nhiệm
2.3.3 Nguyên nhấn và hệ quả của những tồn tại trong quản lý nhà 126 nước đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học 129
Kết luận Chương 2
Chương 3- NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẢO ĐẢM Sự Tự CHỦ, Tự CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TRƯỜNG 131 ĐẠI HỌC 3.1 Đổi mới nhận thức về vai trò của Nhà nước, vai trò và địa vị pháp 131 lý của trường đại học, vai trò của thị trường định hướng XHCN 131 3.1.1 Đổi mới nhận thức về vai trò của Nhà nước
3.1.2 Đổi mới nhận thức về vai trò và địa vị pháp lý của trường đại 135
3.1.3 Đổi mới nhận thức về vai trò của thị trường định hướng
Trang 63.3 Hoàn thiên thể chế và chính sách bảo đảm tự chủ , tự chịu trách
3.3.1 Xác lập tầm nhin va chiến lươ c; quy định việc phối hợp và phân cấp quản lý, cung cấp dịch vụ, chuyển đổi sở hữu và tham gia 157 giám sát và đánh giá trong giáo dục đại học
3.3.2 Xây dựng và ban hành luật giáo dục đại học, luật giảng viên
và các chính sách bảo đảm sự công bằng, hiệu quả và chất lượng 161
3.3.3 Xây dựng thể chế và chính sách đảm bảo sự can thiệp phù hợp, hạn chế trao quyền mang tính đặc quyền, tự chủ về học thuật, 165 tài trợ công tích cực, thành lập trường đạt yêu cầu chất lượng, và 165
3.4 Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học đối với chương 170
3.4.1 Đổi mới quản lý nhà nước về chương trình, tuyển sinh và văn
3.4.2 Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học đối với giảng
3.5 Đổi mới quản lý nhà nước về tài chính giáo dục đại học
3.5.1 Đổi mới chính sách tài chính giáo dục đại học 177 3.5.2 Đổi mới phương thức quản lý tài chính, tách bạch giữa quản 179
lý nhà nước và quản lý của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu 184 3.6 Tăng cường chức năng kiểm soát nhà nước nhằm bảo đảm trách 185 nhiêm xã hội của trường đại học được thực hiên
3.6.1 Đổi mới nhận thức và hoàn thiên thể chế, chính sách bảo đảm trách nhiêm xã hội của trường đại học
3.6.2 Xây dựng khung bảo đảm trách nhiêm xã hội
Trang 7DANH MUC CÔNG TRÌNH CUA TAC giả 191
Trang 8CNH-HĐH Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
UNESCO United Nation Education Science Culture Organization
(Tổ chức văn hoá-khoa học-giáo dục Liên hợp quốc)
Trang 9DANH MUC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Cách thức phân cấp thẩm quyền ở các quốc gia 25
Bảng 1.3: Bốn mô hình từ kiểm soát đến tự chủ 28Bảng 1.4: Bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm 36Bảng 1.5: Đặc điểm quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự
Bảng 1.6: Vị trí có thể có của các chức năng quản lý chủ yếu 53Bảng 1.7: Bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính 57Bảng 1.8: Các công cụ của trách nhiệm xã hội 59Bảng 2.1: Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và quản lý nhà nước về GDĐH 87Bảng 2.2: Quy mô trương đai hoc, sinh viên va giang viên tìĩ năm hoc 20042005 đến
Bảng 2.3: So sánh đặc điểm quản lý nhà nước về giáo dục đại học trước và từ 92 sau
Đổi mới
Bảng 2.4: Thẩm quyền quyết định đối với một số nội dung quản lý của
Bảng 2.5: Quản lý nhà nước về giáo dục đại học 99Bảng 2.6: Quản lý chủ quản các trương đai hoc năm học (1997-1998) và năm
Bảng 2.7: Tự chủ và tự chịu trách nhiệm (b) 107Bảng 2.8: Chi ngân sách nhà nước cho GD&ĐT va giáo dục đại học 109Bảng 2.9: Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tài trợ công 112Bảng 2.10: Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học 121Bảng 2.11: Sinh viên tốt nghiệp đại học cần đào tạo lại 122Bảng 2.12: Thí sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng theo cơ cấu xã hội năm
Bảng 3.1: Một số chỉ số phát triển GDĐH Việt Nam đến năm 2020 135Bảng 3.2: Tầm nhìn về quản lý giáo dục đại học (a) 137Bảng 3.3: Quan niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học bảo đảm tự chủ, 141 tự chịu trách nhiệm của trường đại học công Bảng 3.4: Tầm nhìn về quản lý giáo dục
Trang 10DANH MUC CÁC HÌNH VE, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Chu trình tài trợ cho các trường đại học 46Hình 2.1: Quyền tự chủ của các loại hình trường đại học 80Hình 2.2: Trường đại học thanh lâp mới giai đoạn 2003-2007 118Hình 2.3: Quản lý chất lượng giáo dục đại học và định hướng cải thiện 120Hình 3.1: Mô hình bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm 143
Trang 11MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, quy mô sinh viên tăng quá nhanh trong khi sự đáp ứng nguôn Ịưccua cac nha nước thi han chê, cùng với sự quan tâm đôi vơi vân đe phát triển nguồnnhân Ịực trinh đô cao nhiều hớn đã tao sức ép Ịên các chính phủ vê hai vân đê: một
Ịà sử dụng hiệu quả nguồn Ịực và hai Ịà chất Ịượng của các sản phẩm giáo dục đạihọc (GDĐH) mà trường đại học cung cấp mà thực chất Ịà yêu cầu bảo đảm tráchnhiệm xã hội của trường đại học Sự quan tâm đến hiệu quả sử dụng nguồn Ịực đãdẫn đến sự can thiệp mạnh hớn của nhà nước vào trướng đai học từ những năm 70
và 80 Yêu cầu về chất Ịượng thì Ịàm dịch chuyển trọng tâm chú ý từ hoạt động cấp
vĩ mô sang cấp trướng Thay vì can thiệp trực tiếp, một số nhà nước chuyển sangtập trung xây dựng các mục tiêu và chính sách cho GDĐH Sự thay đổi chính sáchchỉ đạo cho thấy hai mặt của một vấn đề: một mặt, quản Ịý nhà nước (QLNN) theokiểu tập trung đang hướng đến hình thức phi tập trung; còn một mặt, Ịà khuynhhướng tự chủ (SanyaỊ, 2003) [86] Tự chủ đại học trở thành xu hướng quốc tế vàđược xem như chìa khoá thành công cho sự cải cách GDĐH của các quốc gia Bàihọc kinh nghiệm được Ngân hàng Thế giới đút kết năm 1994 cũng chỉ ra rằng tự chủđai hoc và việc định Ịại vai trò phù hợp hớn của nhà nước sẽ thúc đẩy cải thiện chấtỊượng và hiệu quả GDĐH [111]
Cớ cấu thẩm quyền và cách thức nhà nước điều khiển hệ thống đại học phản
rõ nét mối quan hệ giữa nhà nước và trường đai hoc, đặt cớ sở cho khả năng, mức độ
tự chủ hay môi trường hành động chủ động của trường đại học Tự chủ không chỉhàm ý quyền quyết định của một trường đối với chướng trình đào tạo và mục tiêucủa mình mà còn phải bao hàm cả quyền quyết định về cách thức để thực hiện mụctiêu và chướng trình [73]
Nhà nước hầu như Ịà tác nhân chính tạo môi trường và động Ịực phát triển cho các
tổ chức đại học nhưng cách thức tác động thì rất khác nhau Nó cũng Ịà
Trang 12nhân tố đặc biệt quan trọng bảo đảm phát huy mặt tích cực bên cạnh hạn chế khuyết tật của thị trường; giúp cân bằng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học Nghiên cứu nội dung, phương thức QLNN về GDĐH không chỉ để tìm ra cách thức quản lý của nhà nước sao cho hiệu quả hơn mà còn giúp cho chính nhà nước vànhà trường chủ động hơn cho bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt Trong bối cảnhmới, nhà nước giữ vai trò là chủ thể quản lý toàn diện hệ thống đại học, tạo ra sự thuận tiện , dễ dàng để các trương cũng như các thành phần có liên quan có thể phối hợp để đưa ra các chính sách và chiến lược phát triển phù hợp Đây chính là “chìa khoá” giúp giải quyết những khó khăn và vượt qua thách thức trong công cuộc cải cách GDĐH
Mục tiêu chiến lược đã được đặt ra như một dấu mốc lịch sử, đến năm 2020Việt Nam trở thành nước công nghiệp và từng bước phát triển kinh tế tri thức Trong
đó, GDĐH được xác định là lĩnh vực then chốt cần đột phá Tầm nhìn GDĐH ViệtNam đã trù tính quy mô toàn hệ thống sẽ tăng gấp 3-4 lần so với hiện tại, sự quản lý
và hội nhập quôc tê phải tốt hơn , dịch vụ đao tao va nghiên cưu phải mở cửa rộnghơn theo các cam kết quốc tế và đăc biêt la sự thương mại hoá cũng được tính đến Tât ca vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của dịch vụ GDĐH và liênquan chặt chẽ đến yêu cầu đổi mới cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước vềGDĐH Nhà nước trong vai trò đinh hương giám sát thay cho sự kiêm soat tâp trungchi tiêt, đảm trách việc hướng dẫn, thúc đẩy và bảo vệ lợi ích công của GDĐH.Muốn vậy, toàn hệ thống phải đổi mới tư duy và cơ chế quản lý GDĐH, kết hợp hợp
lý và hiệu quả giữa việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ QLNN và việc bảo đảmquyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở GDĐHtheo nghị sự của Chính phủ (Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005)
Vấn đề tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trương đai hoc Việt Nam mặc
dù đã được đề cập chính thức trong Nghị quyết TW 4 (khoá VII) từ năm 1993 và được pháp lý hoá lần đầu trong Luật Giáo dục 1998 nhưng trên thực tế
Trang 13thì “cơ chế quản lý các trường đai hoc có tính tập trung và xơ cứng” , theo nhân đinhcua Vallely (2005) [68]; “bộ chủ quản trở thành cơ quan trung gian, trường chịu sựchỉ đạo của nhiều cơ quan quản lý nên mất tính chủ động, sức ép tăng lên, hiệu quảgiảm đi ”, theo một nhận xét khác được đăng tải trên VietNamNet ngày26/12/2005 Thưc tê nay làm trương đại học chưa thực hiện được vai trò xã hội tolớn vốn có của nó , chưa đáp ứng đươc yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội (KT-XH),thiếu năng lưc cạnh tran h, nhât la không có đủ nguồn lực để phát triển Việc hoànthiện một số vấn đề lý luận , làm rõ bản chất va đanh gia đung thực trạng và sự bảođảm tự chủ, tư chiu trach nhiêm, cũng như đưa ra giải pháp QLNN phù hợp gópphần tháo gỡ những bất cập và tiếp cận các cơ hội.
Hơn nưa, trong hơn hai thập niên đổi mới GDĐH, mặc dù những đảm bảo tựchủ, tự chịu trách nhiệm đã tưng bươc được thực hiện nhưng no vẫn chưa theo kịp
cơ chế quản lý kinh tế, chưa tạo được động lực để phát triển toàn hệ thống đại họctrong bối cảnh mới Báo Nhân dân số ra ngày 17/12/2004 từng cảnh báo: “Nếu cáctrương đai hoc không thật sự được trao quyền độc lập và đảm bảo sự tự chủ thìkhông thể nào đủ năng động để đáp ứng nhu cầu thay đổi của xã hội và tiến bộ.”
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự
tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam ” là một yêu cầu vừa mang tính cấp thiết, vừa có ý nghĩa lâu dài.
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của luận án là làm rõ một số vấn đề lý luận , thực trạng và giải phápQLNN về GDĐH theo hương đam bao tự chủ , tự chịu trách nhiệm của trường đạihọc công Để đạt mục tiêu, luận án tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Cung cấp một số vấn đề lý luận về lơi ic h công của trường đại học; bảnchât, tâm quan trong, sự cân bằng và bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm; cơ câu tổchức và thâm quyền quản lý GDĐH ; vai trò điều khiên và tài trợ hệ thống
Trang 14GDĐH của nhà nước ; mô hình và kinh nghiêm quôc te QLNN về GDĐH Hệ thốngquan điểm của Đảng và Nhà nước về tăng cường quyền tự chủ và nâng cao tráchnhiệm của trường đại học
- Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về GDĐH bảo đảm tự chủ của nhàtrường về học thuật, tổ chức bộ máy học thuật và tài chính; trách nhiệm xã hội củatrường đại học Đồng thời, xác định nguyên nhân và hệ quả của những thành tựu vàtồn tại
- Đưa ra một số giải pháp QLNN bảo đảm được sự tự chủ và tự chịu tráchnhiệm của trường đại học, thiết lập môi trường cung cấp dịch vụ GDĐH thuận tiện,chủ động và bình đẳng, giới thiệu vai tro thich hớp cua Nha nước cũng như thể chế,chính sách điều hành GDĐH tích cực
- Cung cấp nguồn tư liệu tham khảo và gợi mở hướng nghiên cứu mới
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là QLNN về GDĐH , bao gồm thê chê , cớ cấu và quátrình mà trong đó các nhân tố của hệ thống GDĐH (nhà nước, trướng đaihọc, các thực thể xã hội khác ) tướng tác lẫn nhau và với thị trường định hướngXHCN Sự điều khiển, cách thức phối hợp thẩm quyền và mức đô can thiệp hớp lýcủa Nhà nước bảo đảm tự chủ và trách nhiệm xã hội Khái niệm đảm bảo được hiểunhư phướng thức QLNN mà theo đó nhà nước định hướng, chỉ dẫn, khuyến khích,bảo vệ và làm cho sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm được thực hiện
Phạm vi nghiên cứu về không gian là những vấn đề ly luân , thưc tiên va giảipháp về thể chế, chính sách, tài trợ công, cớ câu tô chưc, cớ chê vân hanh và giámsát trong QLNN về GDĐH bảo đảm tư chu và trach nhiêm x~a hô i Một số nộidung tham khảo mang tính đối chiếu cũng được nghiên cưu đê xem xét tác động của
tự chủ tới quản lý GDĐH và ngược lại Nó cũng bao gôm các chu thê QLNN vàquản lý chu quan (chủ yếu là các Bộ , ngành trung ướng); các khách thê quản lý là
cớ sở GDĐH, chủ yếu là các trường công lập (không bao gôm cac trướng thuôc lưclựớng vu trang và chinh tri) nhưng trong môt sô trướng hớp thì
Trang 15trường ngoai công lâp cũng đựơc đ'ê câp đê tăng tỉnh giai thich Trường đại họcđược tiếp cận như một tổ chức hay thể chế mà trong đó con người hoạt động trong
cơ cấu tổ chức quyền năng ràng buộc về lợi ích, có cùng tầm nhìn, mục tiêu, sứmạng và giá trị; có mối quan hệ mang tính hệ thống với các tổ chức khác trong hệthống như là nhà nước, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội
Về thời gian , nghiên cứu tập trung vào thời kỳ đổi mới GDĐH từ năm 1986 đến nay, nhất là từ khi Luât Giao duc 1998 đươc ban hanh Tuy nhiên, trong qua trinh nghiên cưu , để làm rõ hơn tính lịch sir cua vân đê , các dữ liệu trươc đo cung đươc sư dung Mốc đề xuất giải pháp là tư nay đên năm 2020
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sinh sử dụng phép biện chứng duy vật với quan điểm toàn diện, phát triển
và lịch sử cụ thể; cơ sở lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học Mác- Lê-nin;và quán triệt quan điểm của Đảng
và Nhà nước về đổi mới GDĐH, tăng cường quyền tự chủ , tự chịu trách nhiệm của
trương đai hoc Đồng thời, vận dụng và kết hợp hợp lý các phương pháp: so sánh để tìm ra xu hướng chung và mối quan hệ nhân quả; suy luận lo-gíc,lập luận đưa ra nhận xét
và kết luận từ các sự kiện được nghiên cứu, phân tích và tổng hợp để làm rõ các khía
cạnh QLNN về GDĐH; thống kê miêu tả nhằm cung cấp số liệu phản ảnh nội dung và vấn
đề nghiên cứu; tra cứu tài liệu để nắm và bổ sung về phương pháp nghiên cứu, hướng đi, kiến thức và luận cứ; mô hình hóa nhằm tăng tính trực quan và giúp nhận thức nội dung
khái quát Ngoài ra, để tăng tính khách quan, khoa hoc và thuyết phục trong các vấn
đề về lý luận, đanh gia thưc trang va lira chon giai pháp, nghiên cứu sinh cung tiếp cận
khám phá (trên cơ sở tham khảo phương pháp khảo sát của Meek và Goedegebuure
(1998) về tái cấu trúc và định hướng tương lai của GDĐH Úc [97]), thực hiện khaosat ykiên đối với 176 nhà quản lý GDĐH Việt Nam của 106 tổ chức quản lý GDĐH.Trong số các nhà quản lý, số người của các cơ sở GDĐH (cả công và tư) là 147,chiếm tỷ lệ 83,5%; số người của các cơ quan QLNN và chủ quản là 29, chiếm tỷ lệ16,5% Trong số các tổ
Trang 165 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
- Luân an được mong đợi góp phần làm phong phú lý luận QLNN về GDĐHtheo hướng giám sát, đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học công,
về phương diện phân cấp , trao quyền và cơ câu thâm quyền ; về phương thức vaphạm vi tác động hiệu quả của nhà nước tới hoạt động cung cấp dịch vụ GDĐH; vềbản chất, tính thực tế và điều kiện của tư chu , tư chiu trach nhiêm; về sự phối hợpvới thị trường định hướng XHCN
- Bổ sung luận cứ khoa học hanh chinh về sự điều chỉnh của nhà nước trong quản lý GDĐH, sự tách bạch giữa ban hành và thực thi chính sách, xác lập mối quan
hệ phù hợp giữa nhà nước trong vai trò giám sát và trương đai hoc công trong vai tròcung cấp dịch vụ GDĐH một cách chủ động, xây dựng cơ chế đệm phù hợp
- Đóng góp vào phương pháp nghiên cứu giải pháp QLNN về GDĐH, thiếtlập môi trường thuận tiện, bình đẳng, khuyến khích sự sự tự chủ, tự chịu trách nhiệmđồng bộ về các mặt tự chủ của trương đai hoc trong điều kiện nền KTTT có sựQLNN thống nhất va đam bao sư lanh đao cua Đang
Trang 17- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính toàn diện có thể vận dụng vàothực tiễn, làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này về quản lý GDĐH Góp phần vaođổi mới cơ cấu , quá trình và phương thức quản lý của nhà nước ; xác định lại vaitrò, chức năng của các cơ quan có thẩm quyền quản lý GDĐH trong bôi canh mơi.
6 KÊT CÂU CUA LỤÂNAN
Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước vàKết luận, luân an có 3 chương: Chương 1 Những vấn đề ly luân của QLNN vềGDĐH va tư chu đai hoc ; Chương 2 Quyền tư chu, tư chiu trach nhiệm của trườngđại học và QLNN về GDĐH ơ Viêt Nam hiện nay; Chương 3 Những giai pháp đổimới QLNN bảo đảm sự tư chu, tự chịu trach nhiêm của trường đại học Luân ancung có trinh bay Danh muc công trinh cua tac gia , Tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 18TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Các nghiên cứu liên quan tới QLNN về GDĐH Việt Nam theo hướng bảođảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học xuât hiên nhiêu từ khi Nhà nướcchủ trương đổi mới GDĐH Lâm Quang Thiệp (2000), trong “Quyên tư chu -tráchnhiêm xa hôi va hê t hong đam bao chat lựcmg cho GDĐH Viêt Nam” , đã giới thiệumột số quan niệm về quyền này , cho rằng tăng quyền tự chủ là yêu cầu khách quannhưng không tach rơi việc nâng cao trách nhiệm xã hội bằng cách duy trì tốt kiêmtoán và hệ thống đảm bả o chat lương, và là nôi dung cơ ban cỉia phương thírc quan
lý GDĐH trong nền KTTT [29, tr.48-58], nhưng chưa đi sâu vào nội hàm quyền tựchủ cũng như những khía cạnh pháp lý đảm bảo khác Còn trong “GDĐH Viêt Nam
và tham khảo kinh nghiệm của G DĐH Hoa Ky” năm 2006, ông đã giới thiệu môhình GDĐH mà trong đó vai trò của nhà nước bị hạn chế trong khi của thị trườngđược đề cao, khác hẳn sự điều hành GDĐH ở Việt Nam thường là áp đặt trực tiếp;lập luận rằng GDDH Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của GDĐH Hoa Kỳ từ lâu, quanhiều con đường và hiện nay có thể áp dụng kinh nghiệm của Hoa Kỳ trực tiếp và tựnguyện [61, tr.13-33] Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề về quan điểm quản lý hệ thống
và cách vận dụng chưa được đề cập
Nguyễn Văn Đạo (1999), trong “Quyên tư chu va tư chiu trach nhiêm cỉiatrương đai hoc -“khoan 10” trong GDĐH ơ nươc ta hiên nay” , đã đề nghị thực hiệnchính sách khoán để phát huy khả năng tự chủ và tự chịu trách nhiệm [32] Đề xuấtnày dù cho thấy yêu cầu cấp thiết về tự chủ nhà trường nhưng có tính ứng phó hơn
là biện pháp lâu dài, đảm bảo sự chủ động một cách thật chất Lê Văn Giạng (2001),trong “Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục” , đã khái quát hainguyên tắc: tự trị và phân cấp trong quản lý hê thông đ ại học và khuyến cáo về cânđôi giữa tinh hê thông va tinh đa dang , mêm deo trong quá trình đôi mơi GDĐH ởnươc ta [35] Tuy nhiên, nội dung còn sơ lược, chưa quan tâm đến vai trò của thịtrường, chưa đưa ra chiến lược điều khiển nhà nước cụ thể nào
Trang 19Phạm Phụ (2005, 2006, 2007), trong “Vê khuôn măt mơi cua GDĐH ViêtNam” qua các bài viết: “Quyền tự chủ đại học và trách nhiệm xã hội” và “GDĐH và
cơ chế thị trường”, đã thảo luận một số vấn đề lý luận Trước hết, đó là xu thế tựquản và chịu trách nhiệm xã hội, quản lý theo cơ chế chịu trách nhiệm gắn với việcxác lập trách nhiệm của tất cả các bên liên quan chứ không chỉ là của nhà nước hayngười dạy, dựa vào chỉ số thực hiện để kiểm soát, đánh giá và minh bạch hóa; chấtlượng nền GDĐH như là hiệu quả và “năng suất” của cả nền GDĐH; cơ chế hộiđồng trường thì cần thiết để tách bạch quyền sử dụng và quyền sở hữu; đề xuấtnghiên cứu chính sách tài chính tích cực cho GDĐH [52] Thứ hai, đó là tự chủ đạihọc hàm ý mối quan hệ giữa Chính phủ và đại học, thẩm quyền can thiệp và nên canthiệp đến mức độ nào vào các vấn đề của trường đại học, trách nhiệm của trường đạihọc là đảm bảo chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực, điều kiện bảo đảmthực hiện trách nhiệm này [53] Thứ ba, đó là “thị trường GDĐH”, dịch vụ giáo dụcvẫn được gọi là hàng hoá và cần thị trường hoá GDĐH để làm cho các trường được
tổ chức và vận hành hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu KT-XH [54] Tuy nhiên,các vấn đề được nêu còn riêng lẽ, mang tính gợi ý, chưa đi sâu phân tích một cách hệthống từ gốc độ QLNN
Ngo Doan Dai (2004), trong “Van đ'ê quyền tư chu va trach nhiêm cỉia cactrương đai hoc trong đôi mơi GDĐH Viêt Nam” , đã lam ro phần nào trach nhiêmphải giải thích, phải chịu trách nhiệm của trường đại học [6, tr.16-24] Tuy nhiên,chưa đưa ra hình thức cũng như công cụ của trách nhiệm giải trình Trong “VietNam”, tác giả Doan Dai (2006), đã khái quát thực trạng cải cách GDĐH Việt Namđang đối mặt với nhiều thách thức, cho thấy sự xác lập địa vị pháp lý đặc biệt củacác đại học quốc gia, sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà cung cấp GDĐH ngoàicông lập, nhất là sự thay đổi trong quản lý và quản trị đại học theo hướng mở rộngphân cấp cả chiều dọc lẫn chiều ngang [100] Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nhà nước
và trường đại học công cũng như biện pháp QLNN bảo đảm sự tự chủ và tráchnhiệm được thực thi chưa được làm rõ
Trang 20Trong “Đoi mơi GDĐH Viêt Nam” , Trân Quôc Toan (2005) đã phác thảomục tiêu và nội dung khá toàn diện trong thập kỷ tới, đặt ra yêu cầu: đổi mới tư duyquản lý, thực hiện ba chức năng và năm nhiệm vụ chính trong cơ chế thị trường địnhhướng XHCN, tạo động lực bằng cách phân cấp quản lý phù hợp, xác định cơ sởGDĐH là tâm điểm đổi mới (cơ chế tự chủ là điểm quy tụ cụ thể lợi ích của các bênliên quan), thực hiện phương thírc quan ly vĩ mô phu hơp, huy đông sư tham gia củacộng đồng, kiểm tra và điều chỉnh chính sách phù hợp [43, tr.14-30] Tuy nhiên, tácgiả còn chưa xem xét sự tương tác của các yếu tố mang tính động lực và biện pháp
kỹ thuật hỗ trợ thực hiện cần thiết
Đao Trong Thi va Ngô Doan Đai (2005), trong “Cac trương đai hoc công lâp Viêt Nam trươc nhưng đoi hoi ngay cang tăng ảia sư phat triên KT -XH: Thời cơ và thách thức”, đã chỉ ra vai trò quan trọng cũng như thách thức mà trường công phải đôi măt, khả năng vân dung kinh nghiêm quôc tê đê tao điêu kiên cho cac trương phát triển, tăng cường đầu tư và đổi mới cơ chế quản lý [43, tr.43-53] Song, chưa tiếp cận trường công từ gốc độ địa vị pháp lý độc lập Giải pháp phát huy vai trò củacác trường công tập trung vào quản lý bên trong và phương diện học thuật hơn là sự đảm bảo mang tính vĩ mô định hướng cơ cấu ra quyết định mang tính chủ động
Vũ Ngọc Hải (2007), trong “Vê quyền tư chu va tinh trach nhiêm xa hôi ảia các trường đại học nước ta” , cho răng co sư lirng tung vê vân đê quan ly tâp trung
và phân cấp, nhấn mạnh tự chủ và trách nhiêm xa hôi la đông lưc chu yêu và la đon bay để ph át triển nhanh GDĐH ; chỉ ra giai phap cơ ban x()a bo cơ chê “xin -cho” [39] Tuy nhiên, bài viết chưa đi sâu phân định giữa sự quản lý của Nhà nước đảm bảo tự chủ từ gốc độ quản lý vĩ mô và từ gốc độ quản lý chủ sở hữu nhà nước
Cơ sơ ly luân va thưc tiên co tinh bao quat về “phân cấp QLNN” trong tác phẩm cùng tên của Vo Kim Sơn (2004a) đã cung cấp nôi dung phong phú về các hình thức và đẩy mạnh phân cấp trong hoạt động QLHCNN có liên quan trực tiếp đến vấn đề QLNN về GDĐH the o hương đam bao tư chu, tư chiu trach nhiêm, nhất
là ở phương diện xã hội hóa và phân định rõ hoạt động QLNN về giáo dục và quản
Trang 21lý các cơ sở giáo dục [57] Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập cụ thể mức độ xã hội hóa
và sự phân cấp phù hợp trong quản lý GDĐH
Môt sô tac gia khac cung cO đưa ra những ý tưởng và nôi dung hữu ích liênquan đến đề tài này Nguyễn Danh Nguyên (2009), trong “Thực thi cơ chế “tự chủ”cho các trường đại học công lập: Cơ sở để phát triển bền vững thời kỳ hội nhập” chỉ
ra rằng sự thay đổi môi trường đã làm thay đổi mối quan hệ của trường đại học, tạo
ra sức ép đối với các trường và tự chủ đại học là giải pháp khắc phục những tồn tạigiúp các trường công lập phát triển bền vững [51] Tuy nhiên, tác giả chỉ mới gợi ýcho lộ trình thực hiện tự chủ Lê Ngọc Đức (2009), trong “Bàn về quyền tự chủ vàtrách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐH”, đã chỉ ra rằng nền KTTT có định hướngXHCN đòi hỏi mọi tổ chức và quản lý GDĐH phải sản xuất ra nguồn nhân lực chấtlượng cao, GDĐH phải thể hiện trách nhiệm xã hội qua việc đảm bảo thoả mãn tiêuchí hiệu quả cao với nội hàm: chất lượng cao, hiệu suất cao, phù hợp và công bằng
xã hội; cũng đã nêu một số điều kiện và giải pháp từ gốc độ quản lý vĩ mô thực hiệnquyền tự chủ và trách nhiệm xã hội [34] Tuy nhiên, nội hàm yêu cầu QLNN thôngqua các văn bản dưới luật có tính khung và mở chỉ đề cập một cách khái quát
2 NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Các nghiên cứu ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài thì c()n it do GDĐH nước ta chỉ mới mở rông cửa với thế giới những năm gần đây Trước hết,
WB (1994), trong “HE : The lessons of experience” , đa điit kêt kinh nghiêm qua nghiên ciĩu GDĐH ơ cac nươc đang phat triền ma trong đo co Viêt Nam vê quan tri đai hoc ơ ca câp hê t hông va câp trương ; chỉ ra chìa khóa thành công cho các chương trinh cai cach GDĐH là xác đinh lai vai tro cỉia Chinh phu va tăng cương quyên tư chu va trach nhiêm cỉia cac trương đai hoc công [111] Nhưng đồng thời, cũng khuyến khích quá trình tư nhân hóa, sự mở cửa thị trường GDĐH và các cách tiếp cận quản lý ít có sự chi phối của nhà nước
Institute of International education Vietnam (2004) đã đưa ra birc tranhchung cua hê thông GDĐH Viêt Nam vơi vai tro nôi trôi của Bộ GD &ĐT trong
“HE in Vietnam”, chỉ ra dấu hiệu phi tập trung và khuyên cao viêc tăng cương đam
Trang 22chât lương [90] Tuy nhiên, không đưa ra giải pháp QLNN nào đảm bảo quyền tựchủ cấp trường
Hayden và Thiep (2006, 2007), trong “A 2020 vision for Vietnam” và
“Institutional autonomy for HE in Vietnam” , cho răng nghị sự đôi mơi GDĐH Viêt Nam gắn với đôi mơi quan ly va đam bao tư chu cho trương đai hoc công ; tư chu đai hoc chiu nhĩmg thach thírc va căng thăng không chi do sư miên cương đôi vOoi viêc tìĩ bo sư kiêm soat trưc tiếp ảia môt bô phân quan ly GDĐH ma c()n do sư nhânthírc chưa đầy đủ ham y thực sự cỉia tư chu , cả những đòi hỏi liên quan đến trách nhiệm xã hội cũng như cách thức quản lý hiệu quả trong hoàn cảnh mà nguồn vât lưc va nhân lưc tương ximg cho quan ly tư quan han chê [86], [87] Mặc dù chỉ ra được khiếm khuyết trong quản lý của Nhà nước dẫn tới sự thiếu tự chủ thực chất nhưng chưa đưa ra cách bù đắp sự khiếm khuyết, cách tháo gỡ co chế bộ chủ quản
Vallely (2005, 2008), trong “Đề cưong thảo luận: Xây dựng trường đại họchàng đầu tại Việt Nam”, “Giáo dục bậc đại học Việt Nam: Khủng hoảng và Phảnứng”, đã chỉ ra một số vấn đề về thực trạng GDĐH và khuyến cáo hình thành một cochế quản lý mới mà trong đó quyền tự chủ nhà trường và tự do học thuật được đềcao [68] Tuy nhiên, nội dung được nêu ra chỉ là ý tưởng nhằm gợi mở thảo luận,còn luận điểm, so với quan điểm phát triển GDĐH của nước ta, thì có nhiều khácbiệt
Trong “US Institutions find fertile ground in Vietnam’s expanding HE
market”, Ashwill (2006) khẳng định thị trường GDĐH Việt Nam là một “mảnh đất màu mở” và cảnh báo sự xuất hiện các trương đai hoc không được kiểm định của
Mỹ vào Việt Nam cũng như khuyến cáo Nhà nước cần quản lý chương trình để đảm bảo lợi ích cho người học [74] Nhưng không thảo luận biện pháp giúp trách nhiệm
xã hội của các nhà cung cấp GDĐH ngoại nhập được thực thi McCornac (2007), trong “Corruption in Vietnamese HE” , cảnh báo về hiện trạng tham nhũng trong GDĐH va khuyên cao thưc hiên cai cach trong quản lý hệ thống GDĐH [96] Tuy nhiên, các số liệu được đưa ra chưa mang tính chính thức
Trang 23Cao Huy Thuân (2008), trong “Trach nhiêm xa hcôi cua đai hoc”, đã bàn về hai quan điêm : “đai hoc hang hoa” va “chu trương song chung vơi khuynh hương của thời đại” qua lý giải các vấn đề: đai hoc la hang hoa hay công ich, nhiêm vu đao tạo nhân lực mong đợi và lợi ích công của trương đai hoc [67] Nhưng cần phải đượcthảo luận trong khung cảnh chính trị và kinh tế cụ thể.
Hauptman (2008), trong “Tài chính cho GDĐH xu hướng và vấn đề”, đãcung cấp bức tranh chung về chính sách tài chính GDĐH, phản ảnh những quanđiểm đang thay đổi trên thế giới và sự tác động sâu sắc đến phương hướng phát triểncủa quốc gia [85] Mặc dù tác giả có đề cập đến trường hợp của Việt Nam nhưngcũng chỉ gợi mở một số vấn đề then chốt cần giải quyết nhằm trả lời câu hỏi: “nênchăng Việt Nam đang cần một cuộc tái thiết tận gốc rễ hệ thống GDĐH”, như cáchđặt vấn đề
Ngoài ra, có môt sô nghiên ciĩu tuy không liên quan trưc tiêp đến đề tài nhưng có gia tri trong nghiên ciĩu quan ly GDĐH và tư chu đai hoc Clark (1983), trong “Quyền hanh”, đã khái quát cơ cấu thâm quyền trong hệ thống GDĐH và cho thấy xu hướng tập trung thẩm quyền ra quyết định quản lý cấp trường hay cho giới học thuật [19] Nhưng chưa làm rõ thẩm quyền quản lý bên trong và bên ngoài trường đại học, chưa đề cập đến thẩm quyền của các tổ chức trung gian tham gia quản lý GDĐH và sự phân cấp quản lý Mặc dù đây không phải là nghiên cứu riêng
vê Việt Nam , quyền lực được tiếp cận ở gốc độ phân lập mà không thống nhất , nhưng la cơ sở lý luận có ý nghĩa khi xem xét quyền tự chủ của trương đai hoc trongbối cảnh nước ta
Vught (1993), trong “Patterns of governnance in HE : Concepts & Trends”, Neave & Vught (1994), trong “Government and HE across three continents : The winds of change”, đã đút kết hai mô hình điều khiển hê thô ng đại học của nhà nước
mang tính bao quát là kiểm soát và giám sát; nhấn mạnh sự hội tụ và ưu thế của phương
thírc giám sát , nguyên ly tư quan va quan tri tôt [110], [99] Tuy nhiên,chưa nói đến quản lý GDĐH trong nền KTTT có định hướng Scott (1995), đượcWongsamarn (2003) trích dẫn trong “The relationship between the state & the
Trang 24autonomous university in HE administration” , đã cho thấy mức độ tư chU đai hoc ,xác định và thảo luận năm mô hình của mối quan hệ trường đại học và nhà nướ c:như là tô chưc nha nươc , được trao quyền và đảm bảo pháp lý , không quan hệ gầngũi, trong thi trương nôi bô và tư thuc [113]
Gornitzka & Maassen (2000), trong “Hybrid steering approaches withrespect to European HE”, đã phản ảnh vai trò nhà nước và những tác nhân xã hội cóliên quan qua bốn mô hình điều khiển nhà nước : Nhà nước toàn trị , Hơp nhât đanguyên, Mô hinh nha trương và Siêu thi nha nươc chi phôi tự chủ của trương đai học[83] Sanyal (2003), trong “Quan ly trương đai hoc trong GDĐH”, đã cung cấp bứctranh chung về quản lý các trương đai hoc trong bốn hê thông : Tư chu va tinh chịutrách nhiệm, Quá độ sang tự chủ, Tư chu găp kho khăn, Kê hoach va kiêm soat tâptrung [56] Tuy nhiên, các nội dung được đề cập chỉ tập trung so sánh cách thức điềukhiển có tính khái quát của nhà nước và giải quyết vấn đề quản lý bên trong củatrường đại học
Gan đây, Fielden (2008), trong “Global trends in university governance” , đã
hệ thống va khai quat xu hương toan câu trong quản tri đại học vê thê chê hóa đia vipháp lý các trường đại học công như thực thể độc lập tự chủ , giảm bớt sự kiểm soátnhà nước, trao quyên tư chu tai chinh cho cac trương , tăng cương cac biên phápđam bao trach nhiêm xa hôi, tăng cương quan ly cap trương thông qua xây dưng hôiđông trương v.v [81] Tuy nhiên, một số quan niệm và cách tiếp cận quản trị cònchưa phù hợp với bối cảnh của Việt Nam
Salmi (2009), trong “The growing accountability agenda in tertiaryeducation: Progress or mixed blessing?”, đã phân tích trách nhiệm xã hội của trườngđại học trước yêu cầu cạnh tranh của các bên liên quan và cách thức bảo đảm tráchnhiệm này, đồng thời khuyến cáo khả năng trách nhiệm xã hội có thể trở thành gánhnặng cho các trường [104] Tuy nhiên, chưa đưa ra một phương thức QLNN đủ rõràng nào nhằm đảm bảo trách nhiệm xã hội được thực thi
Nhìn chung, nghiên cứu trong nước rất hữu ích trong việc định hướng, cungcấp nội dung và phương thức QLNN nhằm tăng quyền tự chủ và nâng cao trách
Trang 25nhiệm xã hội của trương đai hoc Tuy nhiên, còn sơ lược, mang tính gợi mở hay đặt vấn đề mà chưa làm rõ đảm bảo pháp lý về tự chủ và trách nhiệm, cơ cấu tổ chức và thẩm quyền QLNN phù hợp, QLNN và quản lý cơ sở GDĐH hay chính sách tài chính tích cực; chưa thấy nghiên cứu nào đi sâu vao van đe QLNN bảo đảm tự chủ ,
tự chịu trách nhiệm mot cach tong the , đó là tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho mọi loại hình trường chủ động cung cấp dịch vụ GDĐH có trách nhiệm Các nghiên cứu ngoài nước cung cấp được một số vấn đề lý luận va kinh nghiêm có giá trị về quan ly vi mô, cách thức điều khiển trường đại học theo hướng đề cao tính tự quản và trách nhiệm xã hội Tuy nhiên, có khía cạnh khong phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và quan điểm trong nước Những công trình này cũng là tài liệu tham khảođược tác giả khai thác và sử dụng trong quá trình viết luận án
Trang 26Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ Tự CHỦ ĐẠI HỌC
1.1 Tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học
1.1.1 Quan niệm trường đại học và sự phân phối thẩm quyền
Trương đại học là một trong số ít tổ chức khá ổn định còn tồn tại cùng tổ chức nhà
nước từ thời Trung cổ Dưới sự dẫn dắt của nhà nước, thị trường hay phối hợp cảhai, nó thực hiện chức năng công cộng, cung cấp sản phẩm, dịch vụ đào tạo vànghiên cứu, với mục đích cơ bản là sáng tạo, phổ biến kiến thức và trao các học vịtrong nhiều lĩnh vực Trường đại học nói ở đây hàm ý các cơ sở đào tạo đại học nóichung, có thể là một đại học, trường đại học hay học viện
Các trường đại học cùng hai nhóm nhân tố khác là: i) các tổ chức trực tiếp cóliên quan đến việc tài trợ, quản lý hay hoạt động các trường, ví dụ như các cơ quannhà nước; ii) các quy định chính thức và không chính thức, cùng sự tương tác giữa
các nhân tố, tạo thành hệ thống GDĐH Trong hệ thống này các cơ quan QLNN là thực
thể vừa tác động vừa chịu sự tác động của các thực thể khác, thay mặt lợi ích chungcủa xã hội tạo môi trường thúc đẩy trường đại học tối đa hoá khả năng của nó Cáctrường thường do nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập Quan niệm về lợi íchcông thường buộc các trường công lập, so với trường tư, phải gánh vác nhiệm vụ vàchịu sự kiểm soát nhiều hơn, phải ổn định hơn trước biến động thị trường trong khi
tự chủ thì bị hạn chế hơn Các trường công lập có địa vị pháp lý đặc biệt trong mốiquan hệ với nhà nước, phải chịu sự giám sát và đánh giá hoạt động của nhà nước,không thể hưởng sự tự chủ không giới hạn, phải chú trọng đến việc cân bằng lợi íchcủa nhà nước và người dân hơn là vì lợi nhuận
Trường đại học, trực tiếp hay gián tiếp, mang lại lợi ích công về nhiều mặt Nó
góp phần cải thiện đời sống người dân và làm giàu xã hội , làm tăng năng suất laođộng và tăng trưởng kinh tế dài hạn Nó đào tạo nhân lực bậc cao then chốt cho cảkhu vực công và tư bên cạnh việc sản sinh tri thức mới nhờ các hoạt đông nghiên
Trang 27cứu, chuyển giao và phổ biến kiến thức Nó cũng cung cấp không gian cho sự thảoluận mở và tự do của các ý tưởng và giá trị, giúp định hình quốc gia và mở ra cácdiễn đàn thảo luận xã hội đa chiều, theo WB (1994) và The task force on HE andsociety (2000) [111, tr 37, 38], [108, tr 1,2] Ngoài ra, Fiske (1996) còn xem nó làphương tiện nâng cao ảnh hưởng chính trị, thực hiện các chương trình và mục tiêuquyền lực [82, tr v].
Vai trò to lớn của trường đại học đòi hỏi nó phải được quản lý, đầu tư, pháttriển toàn diện ở cấp độ quốc gia và thậm chí là quốc tế , trên cơ sở GDĐH đượcxem là một dịch vu công theo khuyến nghị của UNESCO (1998) [29, tr.168] Nhậnthức đầy đủ vai trò và vị trí của trường đại học giúp nhà nước và cộng đồng lựa chọn
và xây dựng chiến lược quản lý vĩ mô phù hợp
Nói chung, trường đại học mang lại lợi ích công và góp phần quan trọng vào
sự phát triển quốc gia Nhà nước có trách nhiệm tạo môi trường đảm bảo phát huytốt nhất vai trò của trường đại học
Khả năng hành động chủ động hay sáng kiến của một trường phụ thuộc vào:i) sự phân phối thẩm quyền ra quyết định và ii) cơ cấu ra quyết định trong hệ thốngGDĐH
Trước hết, về sự phân phối thẩm quyền Clark (1983) đã chia ra 6 cấp thẩm quyền ra
quyết định trong hệ thống GDĐH, từ đơn vị cơ sở nhỏ nhất là bộ môn; đến cấp khoa,trường trực thuộc; cấp trường đại học; cấp hành chính học thuật đa trường (ví dụnhư trường đại học liên bang); cấp tỉnh, bang hay vùng; và cấp chính phủ [19, tr.57].Cách phân phối này không là sự phân cấp quản lý hay sự phân định giữa quyền quản
lý vĩ mô và quyền quản lý sở hữu chủ hay chủ quản mà là sự phản ảnh thẩm quyền
ra quyết định được trao ở từng cấp tham gia quản lý GDĐH Tùy từng hệ thốngquản lý, người ta đưa ra khuôn khổ và các thủ tục để đảm bảo sự đan xen thẩmquyền nhằm đạt được các thoả thuận về ưu tiên, về phân chia trách nhiệm các cấp,theo Groof, Neave, Svec (1998) [84, tr 10]
Thực tế, nếu xét thẩm quyền ở ba cấp độ là Bộ máy hành chính chính phủ,
Bộ máy hành chính/Hội đồng quản trị của trường đại học và Bộ môn/ Khoa có thể
Trang 28C ẤP THẨM QUYỀN
C ÁCH P HÂN PHỐI THẨM QUYỀN
Châu Âu lục địa(Pháp, Ý, Bỉ,
Hoa
Kỳ Nhật Bản
Các nước XHCN trước đây (Liên Xô, Đông Âu cũ)
Trang 29lý trường đại học Ví dụ như khi nhu cầu đào tạo tăng mà nguồn đầu tư công giảmthì nó thường dẫn đến sự phi tập trung trong quản lý GDĐH.
Từ gốc độ cơ cấu ra quyết định trong hệ thống GDĐH, Vught (1993) khái quát hai kiểu cơ cấu: i) “từ dưới-lên” và ii) “từ trên-xuống” [110, tr.20] Với kiểu cơ cấu đầu, chính
sách nhà nước thường theo sau các quá trình thay đổi do cấp trường chủ động Cáctrường có quyền tự chủ cao còn cơ chế kiểm soát thì thường dựa vào thị trường cạnh
tranh hơn là thẩm quyền pháp lý của nhà nước Với kiểu cơ cấu thứ hai, nhà trường chỉ đơn
thuần thực hiện các sáng kiến chính sách của nhà nước Tuy nhiên, vai trò tuyệt đốicủa nhà nước thì cũng khó thực hiện trên thực tế bởi vì nhà nước cũng là một thànhphần của hệ thống GDĐH Các chính sách của nhà nước cũng chịu sự chi phối nhấtđịnh bởi các quy tắc, giá trị và lợi ích của những thành phần khác trong hệ thống
1.1.2 Tự chủ của trường đại học
Khái niệm tự chủ (autonomy) đã có từ thời Aristotle (384-322 trước công
nguyên) với nhận thức trường đại học sẽ phát triển tốt hơn nếu các nhà học thuật co
được tự chủ đay đu Hiểu đơn giản thì tự chủ hàm ý khả năng hành động của môt cá
nhân (như sinh viên, giảng viên và học giả) hay tô chức (như trường đại học ) mà không
phải xin phê chuan hay bị kiểm soát từ bên ngoài
Đối với một cá nhân , tự chủ hàm ý quyền tự do học thuật Đó là quyên tự quyết định
đối với viêc xuất bản và phát ngôn , thiết kế và chuyển giao các chương trình giảngdạy theo yêu cầu xã hội và thị trường, và đề tài nghiên cứu Hiểu rộng hơn, thì quyền
tự do học thuật bao hàm cả hai phương diện: trách nhiệm xã hội và quyền con người
Đối với một tổ chức, tự chủ hàm ý quyền của nhà trường được tự điều hành công việc của mình Nó được xem như điều kiện tiên quyết để một trường đại học thực hiện chức năng xã hội của mình Groof, Neave,
Svec (1998) cho rằng tự chủ tổ chức là điều kiện cho phép một trường đại học tựquản mà không có sự can thiệp từ bên ngoài [84, tr.76] Tuy nhiên, trên thực tế thì tựchủ có tính “điều kiện” bởi vì việc thực hiện nhiệm vụ của một trường được xác địnhphạm vi và phụ thuộc các
Trang 30M ỤC KHẢO SÁT
K IỂU TRẢ LỜI
T RUNG BÌNH
(M)
Đ Ộ LỆCH CHUẨN
công việc mang tính pháp lý của một TĐH
theo cách có trách nhiệm mà không phải
xin phép
Đ 3,02 0,80 29 48 19 4
2 Tự chịu trách nhiệm là sự ràng buộc đối
với TĐH về báo cáo và giải trình định kỳ
kết quả thực hiện mục tiêu với các bên liên
quan
3 Cơ chế tự chịu trách nhiệm song hành
với quyền tự chủ cần được đảm bảo bằng
Ghi chú: Kết quả khảo sát 132 nhà quản lý GDĐH Việt Nam; Kiểu trả lời, Đ:
Đồng ý; Tần suất trả lời (F), 4: Tích cực nhất, 1: Không tích cực
Tự chủ nhà trường được phân biệt giữ hai dạng thức: i) tự chủ thực chất (substantive
autonomy), quyền của trường đại học trong loại hình tổ chức của mình để quyết định
các chương trình và các mục tiêu của nó (cái học thuật); và ii) tự chủ thủ tục (procedural
autonomy), quyền của trường đại học trong loại hình tổ chức của mình để quyết địnhcách thức theo đuổi các mục tiêu và chương trình (cách học thuật) (Altbach, Berdahl,Gumport, 2005) [73, tr.5,6] Sự tự chủ thưc chất và tự chủ thủ tục tạo thuận lợi cho sự
tự do học thuật của trường đại học
Cách thức quản lý hay chiến lược điều khiển của nhà nước về GDĐH, kiểm soát
quá trình hay kiểm soát sản phẩm, ảnh hưởng tới sự tự chủ (thực chất và thủ
Trang 31Bán tự chủ Có thể là cơ quan của Bộ Giáo dục, một tập đoànsở hữu nhà nước hay một cơ quan do luật định Tân-tây-lan,
PhápBán độc lập Cơ quan do luật định, một tập đoàn từ thiện hay phi lợi nhuận chịu sự kiểm soát của Bộ Giáo dục Xin-ga-po
Độc lập
Cơ quan do luật định, tập đoàn từ thiện hay phi lợi nhuận không có sự tham gia và kiểm soát của nhà nước được kết nối với các chiến lược quốc gia và chỉ có liên quan tới tài trợ công
Úc,Anh
Nguồn: Fielden 2008 [81]
Tự chủ đại học thì khác nhau ở từng hệ thống GDĐH và từng trường đại học
Ashby và Anderson (1966), được Suthasri Wongsamarn (2003) trích dẫn, xác định sáu
dấu hiệu để nhận biết tự chủ của trường đại học Đó là, i) quản lý nhà trường: có quyền tự quyết định việc quản
lý nhà trường mà không chịu sự can thiệp phi học thuật; ii) kiểm soát tài chính: có quyền tự quyết định phân bổ các nguồn quỹ khi nhà trường xét thấy phù hợp; iii) công tác nhân sự: có
quyền tự quyết định đối
Trang 32với việc tuyển dụng nhân viên, và trong việc quyết định điều kiện làm việc; iv) tuyển
sinh: có quyền tự quyết định việc tuyển sinh viên; v) chương trình: có quyền tự quyết định
việc thiết kế và đưa vào sử dụng chương trình đào tạo; và vi) Đánh giá: có quyền tự
quyết định việc thiết lập các tiêu chuẩn và định ra các phương pháp đánh giá.[113]
Tuyên bố của Hiệp hội Đại học Châu Âu (2007) chỉ ra bốn nguyên lý tự chủ đại học Đó
là, i) tự chủ học thuật: quyết định về cấp bằng, chương trình đào tạo và các phương giảng dạy; quyết định về lĩnh vực, phạm vi, mục đích, và phương pháp nghiên cứu; ii) tự chủ
tài chính: tìm kiếm và phân bổ tài trợ, quyết định về học phí, tích lũy thêm; iii) tự chủ tổ chức: thiết lập cơ cấu tổ chức và quy chế, ký hợp đồng, quyết định ra quyết định các
đơn vị chức và các cá nhân iv) tự chủ nhân viên: trách nhiệm tuyển dụng, trả lương và
thăng tiến Ngoài ra còn đặt ra yêu cầu chung là nguyên lý tự chủ phải cung cấp các
sứ mạng tổ chức đa dạng.[79] Điều này cho thấy quyền tự chủ gắn với trọng trách xãhội, cho thấy mục tiêu xã hội của trường đại học rõ hơn
Thách thức của tự chủ đại học là: i) nhận thức, ii) tính tương đối và iii) rào
cản chính trị Trước tiên, sự nhận thức chưa đúng mức về tự chủ, xem nó là một điều kiện tuyệt
đối, làm cho nó có thể được đề cao hay bị e ngại quá mức
Tính tương đối và thay đổi của tự chủ là thách thức thứ hai Mỗi trường đại học à thực thể
pháp lý phải tuân thủ quy định pháp luật trong khi các quy định này có thể được thayđổi Khả năng tự quyết định của một trường chịu tác động bởi các yếu tố như chínhtrị hay sự thay đổi khi vận hành hệ thống Tự chủ là điều kiện để các trường đạt mụctiêu trong khi bản thân mục tiêu của một trường lại có thể thay đổi
Sau hết là các vấn đề mang tính chính trị Việc trao quyền tự chủ có thể gặp các rào cản
chính trị, do có sự chia rẽ mục tiêu GDĐH xuất phát từ lợi ích chính trị hay vì sự tự
vệ quốc gia, do có sự lo ngại khả năng sử dụng quyền tự chủ của trường đại học nênkhông thúc đẩy quá trình trao quyền hay do lo ngại việc trao quyền tự chủ sẽ bị coi
là cách thoái thác trách nhiệm
Trang 33Nói chung, tự chủ là khả năng hành động chủ động mang tính pháp lý về các mặt học thuật, tài chính, tổ chức và nhân viên của tổ chức trường đại học, là điều kiện cần để giúp các trường thực hiện tốt sứ mạng của mình, có tính tương đối và chịu ảnh hưởng bởi chiến lược điều khiển hệ thống GDĐH của nhà nước.
1.1.3 Tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm xã hội của trường đại học
Vai trò to lớn của trường đại học buộc nó gánh vác trách nhiệm Trong quản
lý công, khái niệm trách nhiệm hàm ý trách nhiệm giải trình, tính chịu trách nhiệmhay sự phù hợp giữa quyền và trách nhiệm và được dùng thay thế nhau Khái niệm
tự chịu trách nhiệm được hiểu theo cách tự mình (một trường đại học tự chủ) phải chịu
trách với những điều mình làm thì chưa bao quát được trách nhiệm cần có của mộttrường đại học Trách nhiệm cần có phải bao gồm cả trách nhiệm bị động và chủđộng, trách nhiệm pháp lý và đạo đức, trách nhiệm với nhiều bên liên quan mà nhànước là một trong số đó, đối với sự cung cấp dịch vụ GDĐH Do đó, trách nhiệm
đầy đủ hơn của trường đại học cần được bao quát như là trách nhiệm xã hội, trách nhiệm
giải thích hay giải trình (accountability) cho các nhóm lợi ích có liên quan(stakeholders) Theo Ngô Doãn Đãi (2004), tuyệt nhiên, đây không phải là “tự làm
tự chịu” [6, tr.21, 22]
Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ báo cáo mang tính đạo đức và quản lý vềnhững hoạt động và kết quả thu được, giải thích kết quả thực hiện, và thừa nhậntrách nhiệm đối với cả những kết quả không mong đợi của trường đại học cho cácbên liên quan The Task Force on HE & Society (2000) cũng cho rằng đó là sự ràngbuộc về việc giải thích định kỳ kết quả đạt được của nhà trường một cách minhbạch, kể cả những thành công lẫn thất bại [108, tr.61]
Trách nhiệm giải trình là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt đối với một tổchức đại học tự chủ Khi nói tới trách nhiệm giải trình thì có hai vấn đề đặt ra Đó là
i) trách nhiệm với ai và ii) trách nhiệm về nội dung gì Trước hết, một trường đại học liên quan
trực tiếp hay gián tiếp với nhiều bên: xã hội nói chung, các thành viên đại diện trong hội đồng trường; Chính phủ, chính quyền các cấp , đại diện cho lợi ích toàn xã hội, cấp kinh phí cho trương ; những khách hàng, các nhà sử dụng lao
Trang 34động, sinh viên và gia đình, những người muốn có kiến thức, kỹ năng làm việc tốt và
bằng cấp; cựu sinh viên, những nhà ũng hộ quan trọng của trường; giảng viên: nhân tố quan
trọng; và kiến thức, kỹ năng và thái độ của ngành học Đây là những đối tượng màcác nhà quản lý ở trường đại học phải giải trình Mức độ giải trình không mang tínhkhuôn mẫu nhưng cần lưu ý là sự đòi hỏi quá mức (không hợp lý) sẽ hạn chế sự tựchủ, trở thành “gánh nặng” và có nguy cơ làm các trường xa rời trách nhiệm xã hộicủa mình nhiều hơn
Kế đến, trách nhiệm xã hội thể hiện ít nhất qua một số nội dung dưới đây:
- Sự công bằng trong tiếp cận GDĐH,
- Chất lượng đào tạo và nghiên cứu,
- Sự tương xứng giữa trình độ đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động,
- Sự đóng góp cho phát triển kinh tế cũng như phổ biến các giá trị,
- Sự sử dụng hiệu quả nguồn lực công và
- Sự ổn định (khả năng tài chính để duy trì tiêu chuẩn cao), theo Salmi 2009[103, tr.6]
Chức năng công cộng và khả năng mang lại lợi ích công to lớn buộc trườngđại học phải chịu trách nhiệm xã hội và trách nhiệm này phải bảo đảm được thực thi.Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc đưa trách nhiệm xã hội vào cuộc sốngthông qua các công cụ thích hợp Kết quả khảo sát các nhà quản lý GDĐH Việt Namqua Bảng 1.2, Mục 2, cho thấy quan niệm về tự chịu trách nhiệm gắn với yêu cầugiải trình kết quả hoạt động của một trường được sự đồng thuận rất cao với 94% ýkiến (M=3,27; S.D.=0,58)
Nói chung, tự chịu trách nhiệm hay trách nhiệm xã hội của trường đại học cần được hiểu là trách nhiệm báo cáo hay giải thích kết quả hoạt động một cách ngay thẳng và trung thực cho các bên liên quan trong việc cung cấp dịch vụ GDĐH
và sử dụng nguồn lực.
1.1.4 Điều kiện va sir cân băng tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Sự tự chủ và tự chiu trach nhiêm của một trường đại học đòi hỏi tối thiểu ba điềukiện: i) môi trường định hướng tự chủ ; ii) sự cân bằng giữa quyền tự chủ va
Trang 35trách nhiệm xã hội; và iii) năng lực tự chủ và tự chịu trách nhiệm của một trường.Mỗi điều kiện có thể ảnh hưởng một cách độc lập hoặc trong sự kết hợp với điều
kiện khác Trước hết, môi trường định hướng tự chủ được xem là điều kiện bao quát nhất, đảm
bảo quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội đi vào cuộc sống Nó bao gồm môi trường
chính trị, pháp lý và cạnh tranh Môi trường chính trị và pháp lý là hệ thống quan điểm, chính
sách và pháp luật tạo ra được sự thuận tiện cho sự hoạt động chủ động và có tráchnhiệm của trường đại học Nó chính là cam kết chính trị đảm bảo sự phi tập trungmột cách thích hợp, sự nhất quán trong chính sách tăng quyền tự chủ, và nhất là
khuôn khổ pháp luật đảm bảo địa vị pháp lý độc lập của trường đại học Môi trường cạnh
tranh với các yếu tố, quy luật thị trường hay cơ chế quản lý phù hợp, thúc ép việc
cung cấp các sản phẩm, dịch vụ GDĐH tốt hơn cũng là điều kiện đảm bảo sự chủđộng và trách nhiệm xã hội mang ý nghĩa thực tế hơn Nguyên tắc cạnh tranh buộccác trường phải chủ động về mọi mặt trong đào tạo và nghiên cứu, phải thể hiện sự
sử dụng hiệu quả nguồn lực và bám sát được nhu cầu xã hội
Thứ hai, điều kiện về sự cân bằng giữa quyên tự chủ va trách nh iệm xã hội không chỉ cho thấy sự
song hành của hai mặt này, như “hai bánh của một cổ xe”, mà còn đòi hỏi sự tươnghợp giữa chúng Sự tương hợp thể hiện ở nguyên tắc quyền tự chủ càng cao thì tráchnhiệm xã hội phải càng lớn và được bảo đảm bằng các hình thức cụ thể, nhất là cáchình thức mang tính pháp lý Kết quả khảo sát các nhà quản lý GDĐH Việt Nam quaBảng 1.2, Mục 3, cho thấy sự nhất trí cao với hơn 97% ý kiến (M=3,41; S.D.=0,55)cho rằng cần có ràng buộc pháp lý đối với trách nhiệm xã hội Sự cân bằng đượcnhận thức như là “sự tác hợp” hơn là “sự đánh đổi” như thường thấy Các tac giaHọc viện Hành chính Quốc gia (2004) đã lưu ý rằng quyền hạn giúp phát huy tráchnhiệm trong khi sự không có trách nhiệm sẽ dẫn đến lạm quyền [42, tr.105, 106].Nhà nước giữ vai trò quan trọng đối với việc “cân bằng” tôt nhât, chư không tuyêtđôi, nhu cầu tự chủ và yêu cầu về trách nhiệm xã hội Điều này có nghĩa là trườngđại học được “nới rộng” không gian tự chủ nhưng đồng thời phải chịu sự giám sátnhà nước phức tạp hơn Để làm được điều này, nhà
Trang 36nước phải xác định rõ yêu cầu đối với các trường Trên cơ sở đó, thiết kế các yêucầu trách nhiệm phù hợp, đưa ra khuôn khổ trách nhiệm toàn diện để làm rõ cáchthức các trường đại học đóng góp vào hàng hóa công cộng và tại sao nó xứng đángđược hưởng sự tự chủ (Downey, 2008) [77]
Thứ ba, điều kiện về năng lực tự chủ và tự chịu trách nhiệm liên quan đến yếu tố bên trong
và là khả năng tự quyết định và chịu trách nhiệm của một trường Khả năng tự quyếtđịnh đòi hỏi các quyết định được đưa ra là tối ưu , bao quát được lợi ích của các bên liên quan Đồng thời, trong môi trường cạnh tranh nó cũng đoi hỏi các quyết định được đưa ra phải linh hoạt và kịp thời Nêu môt trường không co khả năng dự báo, quyêt đoan h ay kỹ năng ra quyết định nhanh thi kho long tư chu đươc
Việc xác định khả năng tự chủ của một trường là yêu cầu quan trọng vì nó là
cơ sở để xem xét trao quyền tự chủ Một trường thiếu năng lực tự chủ mà được traoquyền tự chủ thì nó chẳng những không tự quyết định được mà còn tự đe doạ tráchnhiệm xã hội của mình Vấn đề mấu chốt là xây dựng tiêu chí và phương thức đểđánh giá khả năng tự chủ Nó có thể là khuôn khổ tiêu chí và phương thức độc lậphay đan xen hoặc kết hợp với các hệ thống khác như kiểm định chất lượng, kiểmtoán, chỉ số cạnh tranh v.v
Thiết chế tổ chức hội đồng trường được xem như một đảm bảo cho sự quản
lý tự quản của một trường Nói cách khác, hội đồng trường là điều kiện cần có đểmột trường thực hiện quyền tự chủ và cân bằng trách nhiệm xã hội một cách kháchquan Hội đồng trường với các đại diện “chủ sở hữu cộng đồng” sẽ quản trị và giảitrình việc đạt được các mục tiêu và hạn chế nguy cơ bóp méo sự lựa chọn đối với tổchức có “giá trị KT-XH” cao như trường đại học (Phạm Phụ, 2004) [52, tr.105] Cácthành viên từ bên ngoài tham gia hội đồng trường giúp trường hiểu được các nhómlợi ích nhiều hơn và thể hiện trách nhiệm tốt hơn Các quyết định quan trọng có
nhiều chủ thể tham gia ít nhiều cũng sẽ tốt hơn Mặc dù hội đồng trường là tổ chức quản
trị nhà trường nhưng trách nhiệm của nó lại hướng rộng ra bên ngoài nhà trường, điều ít khi được nhận thức đầy
đủ
Trang 37Nói chung, tự chủ, tự chịu trách nhiệm có tính thực tế và tính điều kiện.
1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học
1.2.1 Khái niệm và bản chất quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học
về tổng thể, quản lý nhà nước là sự điều chỉnh (regulation) bằng quyền lựcnhà nước thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phương thức và mức độkhác nhau nhằm định hướng và phát triển KT-XH mà trong đó có GDĐH, duy trìtrật tự và kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu của người dân và nhà nước
Quản lý của nhà nước về GDĐH là việc nhà nước sử dụng quyền lực công để điều khiển
(steering) hoạt động GDĐH theo mục tiêu của mình Lê Văn Giạng (2001) xem đó
là việc quyết định các chủ trương quản lý; tổ chức bộ máy để thực hiện nhiệm vụ vàchủ trương quản lý; lựa chọn, sắp xếp cán bộ và bộ máy; giáo dục, bồi dưỡng và rachính sách khích lệ cán bộ ; kiểm tra và đánh giá kết quả việc quản lý [35, tr.324].Còn Trần Kiểm (2006) thì cho rằng đo là những tác động tự giác của chủ thể quản lýđến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mụctiêu phát triển GDĐH [46, tr.36]
Dưới gốc độ quản trị, QLNN gần với khái niệm quản trị bên ngoài công(public external governance), đó là cơ cấu và quá trình mà theo đó các hệ thống vàtrường đại học quản lý các hoạt động thường xuyên cũng như ra các chính sách dàihạn của mình, các chính phủ và chính quyền địa phương tham gia quản lý GDĐH.Theo Kaplin and Lee (2007), đó là quá trình ra quyết định và quá trình thực hiện haykhông thực hiện các quyết định [95, tr.18, 21] Hình thức quản trị GDĐH cấp độquốc gia thì rất đa dạng Trong khi đó, dưới gốc độ điều chỉnh thì QLNN là sự ảnhhưởng với mức độ khác nhau, từ can thiệp cho đến tạo thuận tiện đối với hoạt độngGDĐH, theo Neave và Vught (1994) [99]
Quản lý nhà nước về GDĐH được cấu thành từ ba yếu tố: i) chủ thể quản lý, là các
cơ quan có thẩm quyền, chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước nhưng có sự thayđổi gần đây theo hướng chính quyền trung ương tăng cường uỷ thác chức năng quản
lý cho các cấp và tổ chức khác; ii) khách thể quản lý, là hệ thống GDĐH và
Trang 38hoạt động; và iii) mục tiêu, là việc đảm bảo trật tự trong mọi hoạt động GDĐH nhằm
đào tạo nhân lực bậc cao cho xã hội
Quản lý nhà nước về GDĐH phản ánh tình hình xã hội, bản chất hệ thốngchính trị, sự quản trị quốc gia, mối quan hệ giữa nhà nước và nhà trường và cách
thức điều khiển GDĐH; có một số tính chất và đặc điểm chủ yếu dưới đây.
- Tính lệ thuộc vào chính trị: QLNN là để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụchính trị, tuân thủ các chủ trương và chính sách GDĐH của cơ quan hay tổ chứcchính trị
- Tính thường xuyên: Hoạt động QLNN được duy trì đều đặn, liên tục đểbảo vệ, giúp đỡ, cung cấp và quy định GDĐH
- Tính quyền lực nhà nước: Hoạt động QLNN thể hiện tính quyền lực
- Tính xã hội: Một mặt, QLNN luôn tôn trọng yếu tố xã hội và mở rộng dânchủ; còn một mặt, GDĐH phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với các quá trình KT-
XH GDĐH là sự nghiệp của nhà nước và xã hội, quá trình triển khai QLNN vềGDĐH có sự kết hợp giữa nhà nước và xã hội
- Tính pháp lý: QLNN phải tuân thủ quy định pháp luật và đảm bảo tôntrọng pháp luật
- Tính chuyên môn nghiệp vụ: QLNN đảm bảo chuẩn mực kiến thức và kỹnăng, đội ngũ học thuật phải đáp ứng yêu cầu về ngạch, bậc và chức danh
- Tính hiệu lực và hiệu quả: Quyết định QLNN đòi hỏi phải có tác dụng vàkết quả thực thi phải được đánh giá từ nhiều gốc độ như kinh tế, xã hội Chấtlượng, hiệu quả và trật tự kỷ cương là thước đo trình độ, năng lực, uy tín của tổ chứcquản lý GDĐH
- Chịu sự tác động của cơ chế thị trường và xu thế GDĐH thế giới: QLNNphải cân nhắc tín hiệu từ thị trường và cũng không thể đứng ngoài sự chuyển biếncủa GDĐH toàn cầu
Các công cụ chính sách điều khiển hệ thống GDĐH thường được sử dụng là
tài trợ, quy định, lập kế hoạch và đánh giá (VLk, Westerheijden & Wender, 2008) [109, tr.9].
Trang 391 Quản lý của nhà nước đảm bảo sự thống
nhất và phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế Đ 3,45 0,61 51 43 6 0
2 Quản lý của nhà nước dựa trên quy định
và giám sát thay cho kiểm soát chi tiết Đ 3,52 0,61 58 36 6 0
3 Nhà nước có thể ảnh hưởng tới trường
đại học thông qua pháp luật, chính sách, kế
Trang 404 Tăng cường cạnh tranh góp phần nâng
Ghi chú: Kết quả khảo sát 132 nhà quản lý GDĐH Việt Nam; Kiểu trả lời, Đ: Đồng
ý; Tần suất trả lời, 4: Tích cực nhất, 1: Không tích cực nhất
Bản chất của đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm là nhà nước hướng tới việctạo môi trường thuận lợi, bình đẳng để từng trường tự quyết định tương lai, tự lựachọn ưu tiên phát triển và chịu trách nhiệm đối với phần công việc của mình màkhông bị “cản trở”, ít nhất là từ nhà nước, nhà kinh doanh, hay tôn giáo Điều này đặt
ra một số yêu cầu sau đây Thứ nhất, một số thẩm quyền quản lý không thuộc chức năng quản lý vĩ mô sẽ dần được chuyển giao Thứ hai, xác định và thể chế hoá vai trò, chức năng các cấp quản lý Thứ ba, thực hiện tốt công tác giám sát Thứ tư, mở rộng dân chủ ở
cấp trường “Thực hiện mạnh mẽ phân cấp quản lý giáo dục; phát huy tính chủ động,
tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục nhất là các trường đại học, ”, theo kếtluận của Hội nghị TW 6 (khoá IX)
Trường đại học công được xác lập địa vị pháp lý tự chủ đầy đủ, được traoquyền để hành động nhằm phát huy tốt nhất vai trò xã hội và khả năng tự điều chỉnh.Nhà nước cũng tôn trọng và bảo vệ quyền tự chủ học thuật của cá nhân học thuật.Xác lập trách nhiệm pháp lý về báo cáo, giải trình với ít nhất là bốn nhóm đối tượng:i) nhà nước, ii) các nhà sử dụng lao động, iii) người học và iv) về chính ngành nghềđào tạo Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) chỉ rõ: “ phát huy quyền chủ động và tráchnhiệm của địa phương và nhà trường” Điều này không nhằm tạo ra sự khác biệt, đặcquyền hay tập trung (hoặc tạo đối trọng) quyền lực vào một cấp (hoặc giữa các cấp)nào đó mà là tạo ra cơ hội và tăng cường sự tham gia ở cấp trường
Kết quả khảo sát các nhà quản lý GDĐH với 93% ý kiến đồng tình qua Bảng1.4, Mục 3, cho thấy có nhận thức chung là nhà nước có thể tác động tới các trườngđại học thông qua pháp luật, chính sách, kế hoạch và giám sát việc thực thi tráchnhiệm xã hội
Quản lý nhà nước đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên cơ sở phối hợp với thị
trường có định hướng có nghĩa là tín hiệu thị trường được quan tâm Thị