1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học ở việt nam

79 256 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 786,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích để nhận diện được các đặc điểm của quản lý Nhà nước về hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học ở V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ i

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY 5

1.1 Lý luận chung về khoa học và công nghệ 5

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý và lực lượng tham gia hoạt động khoa học công nghệ tại các trường Đại học ở Việt Nam 12

1.2.1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động khoa học công nghệ 12

1.2.2 Lực lượng cán bộ khoa học trong các trường đại học 12

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY 23

2.1 Thực trạng 23

2.2 Đánh giá những thành tựu và yếu kém 23

2.3 Nghiên cứu mô hình quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại trường Đại học Công nghiệp Hà nội và Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà nội 45

2.3.1 Mô hình quản lý tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 45

2.3.2 Mô hình quản lý tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội 49

2.3.3 So sánh kết quả của hai mô hình quản lý trên 52

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 54

3.1 Bối cảnh mới: 54

3.2 Phương hướng 57

3.3 Giải pháp 61

3.3.1 Tăng cường quản lý hoạt động khoa học công nghệ bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin vào hệ thống quản lý 61

3.3.2 Tạo liên kết giữa các doanh nghiệp và các trường đại học để từ đó có thể tạo ra các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thực tế 62

Trang 4

3.3.3 Tuyên truyền sâu rộng cho sinh viên hiểu về hoạt động nghiên cứu hoạt

động khoa học công nghệ thông qua các buổi hội thảo chuyên đề 62

3.3.4 Tìm cách cải thiện đời sống cho các nhà khoa học đặc biệt là các giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng, học viện, viện nghiên cứu và các trường nghề 63

3.3.5 Đưa các môn về kỹ năng nghiên cứu khoa học với nội dung cập nhật vào giảng dạy ở mọi cấp bậc đào tạo ở trường Đại học 63

3.3.6 Nâng cao trình độ cho các giảng viên, các nhà khoa học thông qua việc cử đi đào tạo tại các nước có nền khoa học phát triển 64

3.3.7 Tạo cơ chế, tìm hướng đi cho các sản phẩm khoa học công nghệ được đưa vào ứng dụng trên thực tế 64

3.3.8 Công bố các công trình khoa học công nghệ mới của Việt lên các phương tiện thông tin đại chúng 65

3.3.9 Tái cấu trúc tổ chức hoạt động trường đại học: 65

3.3.10 Chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học: 66

3.3.11 Hợp tác chiến lược với các đại học nước ngoài: 66

3.3.12 Công bố nghiên cứu: 67

3.3.13 Quốc tế hoá tập san khoa học: 67

3.3.14 Thành lập nhóm nghiên cứu: 67

3.3.15 Cải thiện tốt hơn cơ sở dữ liệu và cơ sở hạ tầng phục vụ cho nghiên cứu: 68

3.3.16 Chính sách khen thưởng thỏa đáng: 68

3.3.17 Yêu cầu các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam dịch và đăng đều đặn các bài báo khoa học mới, có chất lượng cao, được dịch từ các tạp chí có uy tín 69

3.3.18 Thay đổi cơ chế tuyển chọn và bảo vệ đề tài nghiên cứu: 69

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Bảng 2.1– Bảng theo dõi số lưọng và kinh phí dành cho các đề tài NCKH trong 05 năm 47

Hình 2.1 Quản lý đề tài đăng ký Error! Bookmark not defined

Hình 2.2 Quản lý thuyết minh đề tài Error! Bookmark not defined

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Từ khi Việt Nam đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một loạt các thuật ngữ du nhập vào nước ta như: vi mô, vĩ mô, marketing, bảo hiểm, kiểm toán, môi trường … trong đó có thuật ngữ công nghệ

Ngày nay, các quốc gia đều thừa nhận khoa học và công nghệ là một trung những công cụ chiến lược để phát triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng và bền vững trong môi trường quốc tế ngày càng cạnh tranh quyết liệt

Ở Việt Nam, vai trò của công nghệ đã được khẳng định và được coi là một vấn đề then chốt trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nó còn được coi là nền tàng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tính đến nay thì nhà nước còn yêu cầu phải tăng cười tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước

Ở các quốc gia trên thế giới, nơi nghiên cứu khoa học công nghệ nhiều nhất là các viện nghiên cứu, các trường đại học Tại Việt Nam công tác nghiên cứu khoa học tại các trường Đại học đã và đang phục vụ cho nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, đáp ứng nhu cầu xã hội, thực hiện theo hướng kết hợp giảng dạy, học tập với ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn và nghiên cứu Bên cạnh những vấn đề đã đạt được thì hoạt động khoa học công nghệ còn có nhiều vấn đề cần được giải quyết, đặc biệt là vấn đề quản lý các hoạt động này như thế nào cho có hiệu quả Cần tìm ra các hướng giải quyết khó khăn trong hoạt động khoa học công nghệ đặc biệt là tại các trường đại học sau đó đưa ra các giải pháp giải quyết các vấn đề đó Từ những mục tiêu và yêu cầu như trên mà tôi lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học ở Việt Nam”

Trang 7

Để thực hiện được điều đó trong đề tài cần trả lời được một số các câu hỏi, yêu cầu, vấn đề như sau:

- Tại sao phải quản lý hoạt động khoa học công nghệ?

- Hoạt động khoa học và công nghệ ảnh hưởng gì tới sự phát triển kinh tế của các nước và đặc biệt là ở Việt Nam

- Các thành tựu mà hoạt động khoa học công nghệ đã đạt được hiện nay bên cạnh đó cần trình bày các yếu kém còn tồn tại

- Các chính sách của Đảng và nhà nước về lĩnh vực này ra sao? Đặc biệt là đối với các trường đại học thì nhà nước có quan điểm và định hướng như thế nào?

- Sử dụng một mô hình quản lý cụ thể của hai trường Đại học nào đó để phân tích từ đó xem xét mô hình quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại các trường Đại học hiện nay như thế nào? Có phù hợp không? Cần cải tiến và đưa ra các giải pháp gì nhằm nâng cao hiệu quả

2 Tình hình nghiên cứu:

Tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới vấn đề nghiên cứu khoa học cũng như quản lý hoạt động này luôn luôn được coi trọng hàng đâu Cũng chính vì lẽ đó mà hàng năm tại Việt nam luôn có những người, đơn vị, tổ chức quan tâm và đưa ra vấn đề này để thảo luận thu thập ý kiến sau đó trình bày thành các dự thảo để kiến nghị lên các tổ chức cao hơn nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả trong quản lý hoạt động khoa học công nghê

Tại các trường đại học ở Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên quan trọng hơn vì đây là nơi sản sinh và đào tạo ra các cán bộ nghiên cứu Tuy nhiên với những thông tin mà tôi thu thập được thì vấn đề này cũng rất ít người tập trung nghiên cứu đẩy mạnh Có thể kể đến một số trường đại học đã từng bước nghiên cứu về vấn đề này như Đại học Kinh tế - Quốc Gia Hà nội, Đại học Cần Thơ, Học viện chính trị quốc gia, Đại học Công nghiệp hà nội

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích để nhận diện được các đặc điểm của quản lý Nhà nước về hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học ở Việt Nam nhằm đưa ra các giải pháp, kiến nghị, các biện pháp khắc phục những yếu điểm đang tồn tại trong quản lý Nhà nước về hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước tới hoạt động này trong thời kỳ hội nhập, đổi mới

Luận văn đưa ra một số đóng góp chính như sau:

- Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản khoa học công nghệ, vai trò quản lý nhà nước tới hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học

- Điểm qua tình hình hoạt động cơ bản của hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học trong đó nhấn mạnh về tình hình quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại trường Đại học Công nghiệp Hà nội và Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà nội

- Điểm qua hoạt động quản lý nhà nước tới hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học

- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò quản lý của nhà nước tới hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hoạt động khoa học công nghệ nói chung và hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học tại Việt Nam còn nhiều vấn đề cần phải phân tích

và làm sáng tỏ nhưng trong khuôn khổ một bài tiểu luận, tác giả tập trung đi sâu phân tích vai trò Quản lý của Nhà nước tới hoạt động quản lý khoa học tại các trường đại học

Trang 9

Thời gian nghiên cứu: Phân tích và đánh giá vai trò quản lý nhà nước tới hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học từ năm 2006 đến năm 2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh để tập trung vào phân tích nội dung và công cụ quản lý của Nhà nước đối với hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học

6 Kết cấu của đề tài

Tác giả xin trân trọng giới thiệu đề tài tiểu luận với bố cục như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường đại học hiện nay

- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động khoa học tại các trường đại học hiện nay

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp quản lý hoạt động khoa học tại các trường đại học

Trong quá trình viết báo cáo chắc chắn sẽ có những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến để bổ sung hoàn thiện để tài liệu được chính xác và hữu ích hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY

1.1 Lý luận chung về khoa học và công nghệ

Trước tiên ta cần làm rõ quan niệm về khoa học và đặc biệt khoa học trong các trường đại học Theo các tài liệu cung cấp cho thấy khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, những lý thuyết mới … về các mặt tự nhiên của xã hội Những kiến thức mới, học thuyết mới phải tốt hơn và nó có thể thay đổi dần những cái cũ, không còn phù hợp Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội và tư duy Hệ thống tri thức được phân biệt thành hệ thống tri thức thực nghiệm và hệ thống tri thức khoa học Hệ thống tri thức thực nghiệm hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội nhưng hệ thống tri thức thực nghiệm chỉ phát triển đến một giới hạn hiểu biết nhất định, hệ thống này được coi là cơ sở của hệ thống tri thức khoa học Tri thức khoa học là nhưng hiểu biết tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học Tri thức khoa học

là dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các

sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên

Còn đối với công nghệ ta có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ và mục đích nghiên cứu Nhưng có thể nói chung nhất về công nghệ có thể được hiểu là tập hợp những hiểu biết để tạo ra các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào trong sản xuất và đời sống Ngày nay công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm Trong đó phần cứng được coi là các trang thiết bị và phần mềm được coi là bất kỳ quy trình sản xuất nào để đảm bảo tạo ra một sản phẩm dịch vụ Trước đây cách hiểu truyền thống về công nghệ đồng nhất kỹ thuật với thiết bị không lưu ý với

Trang 11

thực tế vận hành, tay nghề của người sản xuất, năng lực tổ chức hoạt động sản xuất vì vậy hiện nay thuật ngữ công nghệ thường được dùng cho thuật ngữ kỹ thuật, việc hiểu nội dung công nghệ như vậy đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như quốc

tế Khác với khoa học giải pháp kỹ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của nhà nước dưới hình thức

sở hữu trí tuệ, sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi kiểu dáng công nghệ, xuất xứ hàng hóa và do vậy nó là thứ hàng có thể mua bán Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kỹ thuật và sản xuất rất còn yếu, nhưng

đã phát triển đến trình độ cao như hiện nay thì tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sản xuất Khoa học và công nghệ, là kết quả của sự vận dụng những sự hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo, cải tiến các công cụ, phương tiện phục vụ cho sản xuất và các hoạt động khác

Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử Vào thế kỷ 17-18 khoa học công nghệ tiến hóa theo những con đường riêng, có những mặt công nghệ đi trước khoa học Vào thế kỷ

19 khoa học công nghệ bắt đầu có sự tiếp cận, mỗi khó khăn của công nghệ gợi

ý cho sự nghiên cứu của khoa học và ngược lại những phát minh khoa học tạo điều kiện cho các nghiên cứu, ứng dụng Sang thế kỷ 20-21 khoa học chuyển sang vị trí chủ đạo dẫn dắt sự nhảy vọt về công nghệ Ngược lại sự đổi mới của công nghệ tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học tiếp tục phát triển

Thuật ngữ khoa học và công nghệ là sự thể hiện, đồng hành gắn bó giữa lý luận, lý thuyết và thực tiễn, thực hành, giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tế

Trang 12

Đầu thế kỷ XX, loài người đã tích lũy được một kho tàng trí tuệ về khoa học và kỹ thuật đồ sộ Karl-Marx (1818 - 1883) đã từng có một luận điểm nổi tiếng: “tri thức xã hội phổ biến (được hiểu là khoa học) đã chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp” Tuy nhiên do điều kiện lịch sử lực lượng sản xuất phát triển không đồng đều, không dưới 80 - 90% dân số thế giới vẫn sống trong nghèo nàn lạc hậu

Khoa học và công nghệ giai đoạn mới hiện nay bắt đầu phát triển mạnh

từ những năm 40 thế kỷ trước và đặc trưng rõ nét nhất từ khi vệ tinh nhân tạo đầu tiên chinh phục không gian vũ trụ (1957) tiếp đó là con người bay vào vũ trụ, đặt chân lên mặt trăng, cũng như các công trình nghiên cứu vũ trụ khác đến nay hầu như là chuyện “hàng ngày” Được sự kích thích và sự hỗ trợ của công nghệ vũ trụ, các ngành công nghệ mới, có tầm cao mới liên tiếp ra đời, đặc biệt là công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ năng lượng tái tạo,… với những phát minh kỳ diệu như lade (1967), truyền hình qua vệ tinh nhân tạo (1964), tổng hợp gien (1973), mạch tổ hợp cho (1965), máy tính điện tử, máy tính điện tử sinh học dựa trên cấu tạo bộ óc con người (1994), bộ vi xử lý (1971), rệp điện tử, máy gia tốc, v.v…

Có thể nói từ nửa cuổi thế kỷ XX, con người đã mở rộng thêm tầm nhìn, thực sự nối thêm cánh để bay và làm việc trong không gian bao la, đã làm cho không gian thu hẹp khoảng cách, con người xích lại gần gũi nhau hơn, cuộc sống tốt đẹp, sôi nổi hơn, khối óc, sâu rộng hơn, hiểu biết thế giới khách quan khám phá quá khứ lịch sử cũng như dự đoán tương lai xác thực hơn (1) …

11

Tháng 4/1992 vệ tinh nhân tạo Cobe (người thám hiểm nền vũ trụ) truyền về trái đất hình ảnh vũ trụ khi mới hình thành sau vụ nổ Big Bang cách đây khoảng 15 tỷ năm Các nhà khoa học hy vọng trên các máy gia tốc năng lượng lớn có thể tái tạo lại sự ra đời của vũ trụ (Almanach những nền văn minh thế giới - NXB Văn hóa - Thông tin, 1997, trang 1932).

Trang 13

Đến cuối thế kỷ XX, có thể khẳng định rằng nền sản xuất xã hội đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ cả về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động tạo nên một sự phát triển nhảy vọt, một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại sang một thời đại kinh tế mới (thường gọi là thời đại kinh tế tri thức) quá

độ sang một nền văn minh mới (thường gọi là nền văn minh trí tuệ) mà nguyên nhân và động lực chính là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới (2) hình thành từ mấy chục năm qua

Nói kinh tế tri thức tức là nói nền “kinh tế trong đó sản sinh ra, phổ cập

và sử dụng tri thức đóng vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”(3)

Đặc điểm của kinh tế tri thức là vai trò ngày càng to lớn của những đổi mới liên tục về khoa học và công nghệ trong sản xuất và vai trò chủ đạo của thông tin và tri thức với tư cách là nguồn lực cơ bản tạo nên sự tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Các nhà nghiên cứu còn chỉ rõ, theo cấp độ tiến hóa của các nền văn minh nhân loại, có thể thấy quyền lực đang dịch chuyển từ sức mạnh của bạo lực, vũ khí, tiền bạc (thuộc hai nền văn minh nông nghiệp, công nghiệp, sang sức mạnh của tri thức, trí tuệ Trong nền văn minh mới này, quyền lực không còn phụ thuộc vào sức mạnh vật chất và của cải sẵn có trong tay mà chủ yếu phụ thuộc vào những nguồn tri thức nắm được Tài nguyên tri thức - trí tuệ cơ bản khác với tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động ở chỗ khi sử dụng hoặc trao đổi đã không mất đi mà còn được bảo tồn hoặc có bổ sung phong phú thêm, trái lại chi phí cho việc sử dụng, trao đổi, phổ biến hầu như không đáng kể Tri thức

2

Còn gọi là cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba, động lực chính là khoa học và công nghệ, hình thành từ giữa thế kỷ XX (cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần 1 (thế kỷ 18) bắt nguồn từ giai đoạn thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ giới Cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần 2 (thế kỷ 19) tiêu biểu là sản xuất điện năng và nền sản xuất đại cơ giới.

3

Sổ tay Báo cáo viên về Đại hội IX Đảng CSVN Trung tâm thông tin công tác tư tưởng/Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương - 2001

Trang 14

còn là thứ “của cải” mà bất cứ người nào, dân tộc nào, dù là yếu, nghèo nhất, nếu

có quyết tâm học hỏi cũng đều có thể giành được, chiếm đoạt được

Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ đã thực sự thúc đẩy sự gia tăng của cải vật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của con người

Khoa học và công nghệ đã trực tiếp tác động nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động, giảm chi phí, giá thành sản xuất, giảm rõ rệt tỷ lệ tiêu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo sản phẩm,… Nhiều sản phẩm mới ra đời phong phú, đa dạng, đa năng, mẫu mã đẹp, kích thước nhỏ nhẹ hơn Chu kỳ sản xuất cũng được rút ngắn đáng kể

Theo một số số liệu thống kê đáng tin cậy:

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 1990 so 1982 tăng 28,5% - khối lượng thương mại thế giới tăng 57,9% (IMF 10/1990)

+ Trong 5 năm đầu thế kỷ XXI, GDP của thế giới tăng 40,5% (44 nghìn

tỷ USSD/31,6 nghìn tỷ USD - Niên giám thống kê/ TCTK 2006)

+ Thế kỷ XVIII, một nước muốn công nghiệp hóa thường mất 100 năm Đầu thế kỷ XX, còn khoảng 30 năm Vào thập niên 70 - 80 rút xuống 20 năm Thập niên 90 chỉ còn trên dưới 10 năm

Quãng thời gian cần thiết để tăng gấp đôi GDP (Tổng sản phẩm quốc dân) theo đầu người đã được rút ngắn một cách ổn định Nếu như Anh mất 58 năm (kể từ 1780), Mỹ 47 năm (từ 1839), Nhật 34 năm (kể từ 1880) thì từ sau Đại chiến thứ hai, cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp lần thứ ba còn đẩy tốc độ này lên cao hơn như Brazin 18 năm, Indonesia 17 năm, Hàn Quốc

11 năm, Trung Quốc 10 năm(4).

Có thể hiểu, nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức … đạt

4

Almanach những nền văn minh thế giới 1997 (trang 1943)

Trang 15

được các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính

là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường

Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm thu được hiệu quả mà nếu để mỗi người hoạt động riêng lẻ thì không thể đạt được Như vậy một cách tổng quát có thể hiểu quản lý là tập hợp các hoạt động có hướng đích đến đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đã định Vậy tại sao phải quản lý hoạt động khoa học công nghệ?

Thứ nhất,không phải tất cả đổi mới về khoa học và công nghệ đều mang lại lợi ích cho xã hội Tất cả mọi khoa học và công nghệ đều có tính hai mặt của nó, bên mặt tích cực như nâng cao hiệu quả trong sản xuất, dịch vụ là khía cạnh tiêu cực như làm suy thoái tài nguyên, hủy hoại môi trường Ngoài

ra việc sử dụng khoa học và công nghệ sai mục đích, sử dụng quá mức cần thiết sẽ mang lại tại họa cho tự nhiên và xã hội Thực ra, những ảnh hướng xấu của khoa học và công nghệ không phải bản chất của khoa học và công nghệ mà do con người lạm dụng nó Vì vậy quản lý khoa học và công nghệ để chống lại sự làm dụng của khoa học và công nghệ

Thứ hai, theo tổng quan của Liên Hiệp Quốc năm 1984 thì: “sự cung cấp tiền bạc và khoa học, công nghệ cho các nước đang phát triển đã không mạng lại sự phát triển Nguyên nhân là các nước này thiếu năng lực trong quản lý hoạt động khoa học và công nghệ” Tháng 1/1985 chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã cùng Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương (APCTT) đã thực hiện chương tình “Tăng cường năng lực quản lý khoa học và công nghệ” Như vậy quản lý khoa học và công

Trang 16

nghệ là khâu yếu kém của các nước đang phát triển, không quản lý khoa học công nghệ tốt, không thể thành công trong việc phát triển đất nước dựa trên khoa học và công nghệ

Thứ ba, kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy Để phát triển đất nước, một số quốc gia chú trọng xây dựng nền kinh tế hiện đại, phát triển nhanh dựa trên cơ chế thị trường tự do, dẫn đến kinh tế phát triển song kía cạnh văn minh công bằng của xã hội bị xem nhẹ Một số quốc gia khác lại chú trọng vào xây dựng nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung nhằm mang lại lợi ích cho tất cả mọi người song ở các quốc gia này có biểu hiện sự trì trệ trong nền kinh tế Để kết hợp hai yếu tố hiện đại và văn minh trong quá trình công nghiệp hóa đồng thời có thể đi tắt tiếp cận nhanh quá trình công nghệ tiên tiến, cần quản lý tốt quá trình phát triển khoa học và công nghệ Vì vậy quản lý hoạt động khoa học công nghệ là công cụ để có thể thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ tư, ở phạm vi cơ sở, quản lý hoạt động khoa học công nghệ là quản

lý tiến bộ kỹ thuật ở cơ sở Quản lý khoa học công nghệ ở cơ sở thông qua các hoạt động như phân tích đầu vào, phân tích thị trường, phân tích khả thi

về khoa học, công nghệ, xã hội, pháp lỹ … làm cơ sở cho các quyết định của lãnh đạo trong việc đầu tư cơ sở vật chất, tìm kiếm, mở rộng thị trường, đổi mới khoa học và công nghệ Nhờ những hoạt động này, quản lý khoa học công nghệ là phương tiện để đáp ứng thỏa đáng lợi ích của cả người sản xuất

và người tiêu dùng

Xuất phát từ những phân tích trên về quản lý và sự cần thiết phải quản

lý hoạt động khoa học công nghệ Ta có thể đưa ra các khái niệm và quản lý khoa học công nghệ như sau:

Ở góc độ vĩ mô: Quản lý hoạt động khoa học công nghệ là một lĩnh vực

kiến thức liên quan đến thiết lập và thực hiện các chính sách về phát triển và

Trang 17

sử dụng khoa học công nghệ, về sự tác động của khoa học công nghệ đối với

xã hội, đối với các tổ chức, các cá nhân và tự nhiên, nhằm thúc đẩy đổi mới, tạo tăng trưởng kinh tế và tăng cường trách nhiệm trong sử dụng công nghệ đối với lợi ích nhân loại

Ở góc độ cơ sở: Quản lý khoa học và công nghệ là một bộ môn khoa

học liên ngành, kết hợp khoa học - công nghệ và các tri thức quản lý để hoạch định, triển khai và hoàn thiện năng lực công nghệ nhằm xây dựng và thực hiện các mục tiêu trước mắt và lâu dài của một tô chức

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý và lực lượng tham gia hoạt động khoa học công nghệ tại các trường Đại học ở Việt Nam

1.2.1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động khoa học công nghệ

Trong các cơ quan quản lý khoa học và công nghệ ở trên đã mô tả thì các cơ sở giáo dục và đào tạo rất được chú trọng Qua thực tế, chúng ta nhận thức được rằng, khoa học công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Trong công tác đào tạo đại học ở nước ta hiện nay, khoa học công nghệ được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội khoa học công nghệ có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học vì không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới phục vụ cho

sự phát triển của nhân loại Với tầm quan trọng như vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành TW khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: "Các trường đại học phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống"

Để khoa học, công nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu, những người làm công tác khoa học, nhất là giảng viên tại các trường đại học phải là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu và

Trang 18

ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội QĐ

số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (11/4/2012) về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011- 2020 chỉ rõ: "Phát triển khoa học công nghệ cùng với giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững Khoa học và công nghệ phải đóng vai trò chủ đạo để tạo bước phát triển đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"

Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta hiện nay, để khẳng định được vai trò của khoa học công nghệ, các trường đại học luôn hướng tới mục tiêu "Mỗi trường đại học là một viện nghiên cứu" Bởi vì, nghiên cứu khoa học có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học và đó là con đường hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển năng lực sư phạm của mỗi người làm công tác giảng dạy và giáo dục Trong những năm vừa qua, ngành giáo dục và nền khoa học công nghệ nước ta đã đạt được thành tích đáng kể là nhờ có những đóng góp không nhỏ từ hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong các trường đại học và cao đẳng nói chung

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện nền sản xuất xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính với năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp sang sử dụng lao động được đào tạo ngày càng nhiều hơn cho năng suất chất lượng và hiệu quả cao hơn dựa trên phương pháp sản xuất công nghiệp, vận dụng những thành tựu mới của khoa học - công nghệ tiên tiến Công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành sản xuất có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, giá trị gia tăng cao Có thể nói, thực chất và nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sáng tạo và ứng dụng tri

Trang 19

thức do giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ tạo ra vào phát triển kinh

tế - xã hội, tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước

Với tư cách là những thành tố cơ bản của nền văn hoá, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ có một vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển đất nước Nhận thức toàn diện và sâu sắc về vai trò, nhiệm vụ, nội dung, qui luật vận động của giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết, nhằm phát huy vai trò là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ ở nước ta hiện nay Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”(5)

Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh:

“Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục

và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”(6 )

Giáo dục ngày càng có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển nền sản xuất vật chất của xã hội Trong thời đại chuyển dịch mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kiểu cũ dựa vào bóc lột sức lao động và tàn phá môi trường tự nhiên là chính sang cuộc cách mạng khoa học kiểu mới hướng tới nâng cao năng suất lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, hàm lượng khoa học kết tinh trong các sản phẩm hàng hoá

5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.94-95.

6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.77.

Trang 20

ngày càng tăng Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội gắn liền với sản xuất hàng hoá và thị trường, gắn liền với phân công lao động và hợp tác quốc

tế, gắn liền với trình độ và năng lực sáng tạo, tiếp nhận và trao đổi công nghệ mới Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá trong lĩnh vực kinh tế - xã hội làm cho các quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển phải cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng mở rộng liên kết để tối ưu hoá sự cạnh tranh và hợp tác toàn cầu “Kinh tế tri thức” và “xã hội thông tin” đang dần dần hình thành trên cơ sở phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả các quốc gia với mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào

sự chuẩn bị của hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển khoa học – công nghệ Tài năng và trí tuệ, năng lực và bản lĩnh trong lao động sáng tạo của con người không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát mà phải trải qua một quá trình chuẩn bị và đào tạo công phu, bền bỉ, có hệ thống Vì vậy, giáo dục - đào tạo hiện nay được đánh giá không phải là yếu tố phi sản xuất, tách rời sản xuất mà là yếu tố bên trong, yếu tố cấu thành của nền sản xuất xã hội Không thể phát triển được lực lượng sản xuất nếu không đầu tư cho giáo dục - đào tạo và khoa học – công nghệ, đầu tư vào nhân tố con người, nhân tố quyết định của lực lượng sản xuất Không thể xây dựng được quan hệ sản xuất lành mạnh nếu không nâng cao giác ngộ lý tưởng chính trị, nâng cao trình độ học vấn, trình độ tổ chức và quản lý kinh tế - xã hội cho đội ngũ lao động và quản

lý lao động Vì vậy, đầu tư cho giáo dục - đào tạo và khoa học – công nghệ là đầu tư cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư ngắn nhất và tiết kiệm nhất

để hiện đại hóa nền sản xuất xã hội và hiện đại hóa dân tộc

Cuộc chạy đua phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới hiện nay thực chất là cuộc chạy đua về khoa học và công nghệ, chạy đua nâng cao chất lượng và hiệu quả lao động trên cơ sở hiện đại hoá nguồn nhân lực Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) đã xác định “Khoa học và công nghệ giữ vai

Trang 21

trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế ”(7)

Giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vực sản xuất vật chất, mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hoá tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa Giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ có tác dụng to lớn trong việc truyền bá hệ tư tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng lối sống, đạo đức và nhân cách mới của toàn bộ xã hội Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không phải chỉ là quá trình đổi mới về khoa học công nghệ, hiện đại hoá, thị trường hoá nền sản xuất xã hội mà còn là quá trình chuyển đổi về tâm lý, phong tục tập quán, lối sống thích ứng với nhịp độ

và tốc độ của xã hội công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế

Việc chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi yêu cầu rất cao về nguồn nhân lực có năng lực về thị trường, về kinh doanh, về đổi mới và sáng tạo khoa học

- công nghệ, sản phẩm mới Đồng thời đặt ra nhiều vấn đề mới trong phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học - công nghệ nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục, giải quyết vấn đề cạnh tranh trong giáo dục, thương mại hoá giáo dục, công bằng giáo dục, phúc lợi xã hội trong giáo dục và dịch vụ giáo dục cũng như sở hữu trí tuệ, thị trường khoa học – công nghệ, đào tạo và sử dụng nhân tài

Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII nêu rõ: "Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển xã hội, tăng

7

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Sđd, tr.78

Trang 22

trưởng kinh tế nhanh và bền vững"(8) Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh:

“Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế trí thức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế Sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp và tăng trưởng”(9) Như vậy, phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học – công nghệ phải được coi là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trong thời kỳ toàn cầu hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc Tốc độ phát minh khoa học ngày càng gia tăng Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt Truyền thông về khoa học - công nghệ diễn ra sôi động Nhiều tri thức và công nghệ mới ra đời đòi hỏi quá trình giáo dục phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, suốt đời để người lao động có thể thích nghi được với những biến đổi mới của khoa học - công nghệ Giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ phải được

"chuẩn hoá", "hiện đại hoá", và hội nhập quốc tế

Theo qui định của pháp luật, nội dung quản lý nhà nước về khoa học công nghệ ở nước ta gồm:

+ Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, nhiệm vụ khoa học công nghệ

+ Ban hành và tổ chức thực hiện các quy phạm về khoa học và công nghệ + Tổ chức bộ máy quản lý khoa học và công nghệ

+ Tổ chức, hướng dẫn đăng ký hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ Lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ

8 Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCHTWƯ khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.19

9 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XI, Sđd, tr.218.

Trang 23

+ Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

+ Quy định về việc đánh giá, nghiệm thu, ứng dụng và công bố kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chức vụ khoa học; giải thưởng khoa học và công nghệ và các hình thức ghi nhận công lao về khoa học và công nghệ của tổ chức và cá nhân

+ Tổ chức và quản lý công tác thẩm định khoa học và công nghệ

+ Tổ chức chỉ đạo công tác thống kê, thông tin khoa học và công nghệ + Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ về khoa học và công nghệ

+ Tổ chức, quản lý hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ

+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về khoa học và công nghệ; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, trong hoạt động khoa học và công nghệ; xử lý các vi phạm pháp luật về khoa học và công nghệ

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Hàng năm, Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về việc thực hiện các chính sách, biện pháp để phát triển khoa học và công nghệ, việc sử dụng ngân sách nhà nước đầu tư phát triển khoa học và công nghệ; kết quả của khoa học và công nghệ

Tại nước ta, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động khoa học công nghệ bao gồm:

- Các trung tâm quốc gia độc lập như: Trung tâm Khoa học tự nhiên

và Công nghệ Quốc gia; Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia

- Các trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ của các bộ,

ngành

Trang 24

- Các bộ phận nghiên cứu khoa học và công nghệ trong các cơ sở

giáo dục và đào tạo

- Các bộ phận nghiên cứu khoa học công nghệ ở các cơ sở sản xuất,

dịch vụ của cá doanh nghiệp, bệnh viện, các tổ chức xã hội, các đoàn thể và các tập thể, cá nhân các nhà khoa học

Trong thông tư số 22/2011/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 5 năm 2011 còn chỉ rõ về tổ chức quản lý hoạt động khoa học công nghệ theo các yêu cầu cụ thể sau:

1 Trường đại học thành lập phòng (ban) khoa học và công nghệ (gọi chung là phòng khoa học và công nghệ) thực hiện nhiệm vụ chuyên trách quản lý hoạt động khoa học và công nghệ

2 Các đơn vị, tổ chức trực tiếp thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ trong trường đại học bao gồm các khoa, bộ môn, viện, trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ và tổ chức phục vụ hoạt động khoa học và công nghệ

3 Các tổ chức, cá nhân thực hiện chỉ đạo, tư vấn hoạt động khoa học và công nghệ ở trường đại học bao gồm:

a) Hội đồng khoa học và đào tạo; hội đồng tư vấn của trường;

b) Hội đồng khoa của khoa; hội đồng tư vấn ngành; hội đồng tư vấn chuyên ngành;

c) Hiệu trưởng/giám đốc trường đại học/học viện (gọi chung là hiệu trưởng) Bên cạnh đó, trong thông tư của Bộ giáo dục và đào tạo cũng chỉ rõ nội dung quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học cụ thể như sau:

1 Ban hành và tổ chức thực hiện quy chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của trường theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học

và công nghệ và các bộ, ngành liên quan về hoạt động khoa học và công nghệ

Trang 25

2 Xây dựng định hướng phát triển khoa học và công nghệ của trường cho từng giai đoạn

3 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch khoa học và công nghệ 5 năm

và hằng năm

4 Huy động các nguồn tài chính khác nhau cho hoạt động khoa học và công nghệ, sử dụng nguồn tài chính theo quy định hiện hành

5 Khen thưởng, vinh danh và đề xuất khen thưởng, vinh danh các cán

bộ quản lý, giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ xuất sắc

6 Định kỳ thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ của trường; xét khen thưởng các đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và xử lý vi phạm theo quy định hiện hành

7 Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hằng năm, 5 năm và báo cáo đột xuất về kết quả hoạt động khoa học và công nghệ của trường với cơ quan quản

lý trực tiếp và Bộ Giáo dục và Đào tạo

Ta có thể thấy công nghệ có mặt ở mọi nơi, mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội Nhiệm vụ quản lý hoạt động khoa học công nghệ là nhiệm vụ của mọi cấp mọi ngành Vì vậy cần xác định rõ đối tượng, nội dung quản lý của từng cấp đặc biệt cần xây dựng các chính sách vĩ mô cho việc tăng cường năng lực nội sinh

để tiếp thu, đổi mới phát triển công nghệ, thẩm định giám định công nghệ

1.2.2 Lực lượng cán bộ khoa học trong các trường đại học

Trong suốt tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại, con người luôn là đối tượng nghiên cứu của khoa học Trong quan niệm của Mác, con người không chỉ là lực lượng “làm chủ tự nhiên một cách thực sự và có ý

Trang 26

nghĩa”, là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội Hơn thế nữa, con người mà hơn nữa nó là lực lượng “làm chủ đời sống xã hội của chính mình”, đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử, là lực lượng sáng tạo

ra lịch sử của chính mình, lịch sử của xã hội loài người, “tự mình sáng tạo ra lịch sử của chính mình một cách hoàn toàn tự giác” Từ quan niệm đó, Mác khẳng định: sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội, trước hết có ý nghĩa là

“sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân” Bởi vậy, theo Mác, ý nghĩa lịch sử, mục đích cao cả của sự phát triển

xã hội là sự phát triển con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá của con người, giải phóng con người

Điều đó cho thấy, trong quan niệm của Mác, thực chất của tiến trình lịch sử xã hội loài người là vì con người, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn cho con người

Con người vừa là trung tâm của mọi sự phát triển, vừa là mục đích, động lực của sự phát triển Phát triển con người là sự gia tăng giá trị cho con người về cả tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng lẫn thể chất Phát triển nguồn lực con người nhằm gia tang các giá trị ấy cho con người, làm cho con người trở thành những người lao động có cả năng lực phẩm chất cần thiết, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

Khi nguồn lực con người được coi là yếu tố quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia, thì phát triển giáo dục – đào tạo là phương tiện chủ yếu để quyết định đến chất lượng con người, nền tảng của chiến lược con người Với tư cách là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, giáo dục đào tạo chuẩn bị con người cho sự phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực, cho lợi ích hiện tại và cho lợi ích tương lai của đất nước

Trang 27

Cùng với việc nhận thức đúng vị trí, vai trò của giáo dục đào tạo, chúng

ta cần tiếp tục đổi mới hệ thống giáo dục đào tạo ở tất cả các bậc học đổi mới

từ nội dung chương trình đến phương pháp đào tạo theo hương “chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường tư duy, sáng tạo, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm” Mục tiêu của giáo dục đào tạo không chỉ là nâng cao dân trí, không chỉ là dạy nghề

mà còn phải tạo ra được nền tảng học vấn cần thiết cho mọi công dân, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đồng thời phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo nhân tài, xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quản lý và kinh doanh Mục tiêu cuối cùng, cao nhất của giáo dục đào tạo là dạy người Do vậy, gắn dạy chữ, dạy nghề với dạy người phải trở thành tư tưởng xuyên suốt, chỉ đạo mọi hoạt động, mọi lĩnh vực liên quan đến giáo dục đào tạo

Trong các cơ sở giáo dục đào tạo thì chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định quan trọng Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, có trách nhiệm đang là một yêu cầu bức thiết được đặt ra Phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo phải gắn với xã hội hóa giáo dục đào tạo có nghĩa là huy động toàn bộ xã hội làm đào tạo, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước Đây là một chiến lược, là điều kiện lâu dài để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo

có hiệu quả và bền vững

Cuối cùng việc đầu tư cho giáo dục cũng phải được tính toán cân nhắc Tăng cường đầu tư cho giáo dục là quốc sách đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp trồng người đang đòi hỏi phải đổi mới cơ chế chính sách nhằm huy động mọi nguồn lực trong xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục Đầu tư cho giáo dục không chỉ là đầu tư cho con người như là một phương tiện phát triển

xã hội, mà còn là đầu tư cho chính mục tiêu phát triển con người của xã hội

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY

2.1 Thực trạng

Sau 25 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã được được nhiều thành tựu quan trọng, đã hình thành được một hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng hoá với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học Mạng lưới các trường phổ thông được xây dựng rộng khắp trên toàn quốc Các trường, lớp trung tâm dạy nghề phát triển dưới nhiều hình thức, các lớp dạy nghề ngắn hạn phát triển mạnh Các trường đại học và cao đẳng được thành lập ở hầu hết các khu dân cư lớn của cả nước, các vùng, các địa phương Mạng lưới cơ sở giáo dục được mở rộng đến hầu hết các xã, phường, thị trấn trong toàn quốc Cả nước đã hoàn thành công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010, một số nơi đang thực hiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông Cơ sở vật chất kỹ thuật các trường được nâng cấp, cải thiện Số trường lớp được xây dựng mới theo chuẩn quốc gia ngày càng tăng Đào tạo sau đại học được hình thành và phát triển vững chắc đang dần dần đảm đương trách nhiệm đào tạo cán bộ khoa học trình độ cao ở trong nước

Hệ thống giáo dục đã bước đầu được đa dạng hoá cả về loại hình, phương thức và nguồn lực, từng bước hội nhập với xu thế chung của giáo dục thế giới Từ một hệ thống giáo dục chỉ có các trường công lập và chủ yếu là loại hình chính quy đến nay đã có các trường ngoài công lập, có nhiều loại hình không chính quy, có các trường mở, có phương thức đào tạo từ xa, phương thức liên kết đào tạo với nước ngoài

Trang 29

Quy mô phát triển giáo dục trước hết thể hiện ở số lượng người học Cùng với số lượng người học, quy mô giáo dục còn được đánh giá qua mạng lưới trường học theo địa bàn dân cư, số lượng nhà giáo, trang thiết bị dạy học Phát triển quy mô trong giáo dục ở nước ta vừa tăng số lượng người học vừa đảm bảo cân đối về cơ cấu người học theo địa bàn dân cư, hoàn cảnh xã hội, làm cho tỷ lệ người học trong dân cư toàn cộng đồng cũng như trong từng nhóm người ngày càng cao, làm cho giáo dục đến với mọi người, làm cho cả

xã hội trở thành một xã hội học tập

Hệ thống giáo dục quốc dân đã tạo điều kiện cho đại bộ phận nhân dân trong độ tuổi đi học đạt trình độ xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở,tiến tới phổ cập trung học phổ thông, tạo cơ hội và những điều kiện cơ bản để một bộ phận nhân dân được học ở các cấp bậc học cao hơn theo nhu cầu và khả năng, chú ý các khu vực đặc biệt khó khăn (vùng cao, vùng sâu, vùng xa), đối tượng là người dân tộc thiểu số, người nghèo và đối tượng chính sách xã hội Cả nước đã hoàn thành công tác xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở Gần 98% dân cư từ 15 tuổi trở lên biết chữ; số năm đi học trung bình đạt 8,5 Về cơ bản nước ta đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục cơ sở Công bằng xã hội trong giáo dục được cải thiện, đặc biệt đối với trẻ em gái, người dân tộc thiểu số và con em các gia đình nghèo, các đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội ngày càng được chú trọng Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa đã có những chuyển biến tích cực, tiếp tục phát triển mạnh mẽ nhờ các chính sách giáo dục cho người dân tộc được ban hành và thực thi có hiệu quả

Các lực lượng xã hội tham gia ngày càng tích cực vào việc huy động trẻ đến trường, xây dựng cơ sở vật chất của trường học, đóng góp kinh phí cho giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau Nhận thức của nhân dân về sự

Trang 30

nghiệp giáo dục có những chuyển biến tích cực Các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể đã quan tâm hơn đến sự nghiệp giáo dục, có biện pháp huy động các lực lượng xã hội tham gia phát triển giáo dục - đào tạo Nhận thức

về ý nghĩa của việc kết hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội không ngừng được nâng cao

Các loại hình trường lớp đã được đa dạng hoá, đã có thêm các loại hình trường lớp dân lập, tư thục Các chương trình giáo dục từ xa qua các phương tiện thông tin đại chúng từng bước được tăng cường Đối với các trường công, Nhà nước đã ban hành và từng bước hoàn thiện chế độ thu học phí và các khoản đóng góp khác, tạo thêm nguồn lực tài chính cho các trường này Hệ thống trường lớp ngoài công lập tiếp tục được mở rộng, đã tạo điều kiện giảm bớt sức ép đối với các trường công và tạo cơ hội cho các lực lượng xã hội cùng với nhà nước tham gia vào sự nghiệp giáo dục Các loại hình trường ngoài công lập phát triển, học sinh ngoài công lập chiếm tỷ lệ đáng kể

Các nguồn lực đầu tư cho giáo dục được đa dạng hoá với hình thức huy động linh hoạt, phù hợp với khả năng kinh tế và điều kiện của từng địa phương, từng giai đoạn và cá nhân

Trong những năm qua, kết hợp nhiều nguồn vốn, ngành Giáo dục và các địa phương đã cố gắng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá một bước cơ sở vật chất kỹ thuật của các nhà trường ở các cấp bậc học, tạo điều kiện để bảo đảm nâng cao chất lượng dạy và học

Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định sự nghiệp và chất lượng giáo dục Trong những năm gần đây, điều kiện giáo dục và đời sống giáo viên được cải thiện, những đổi mới trong chính sách đối với giáo sinh đã thu hút ngày càng nhiều học sinh giỏi vào các trường sư phạm, mức sống vật chất và

Trang 31

tinh thần của nhân dân được nâng lên là những yếu tố tác động tích cực đến chất lượng đội ngũ nhà giáo

Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đã được nâng dần, từ gần 11% năm 1996 lên 20% tổng chi ngân sách Nhà nước vào năm 2010 Đây là sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục Nhiều địa phương, bên cạnh ngân sách trung ương, còn có thêm từ ngân sách địa phương đầu tư cho giáo dục và đã có nhiều cố gắng cải tiến việc phân bổ, điều hành ngân sách; đồng thời huy động nguồn lực của nhân dân để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường, bảo đảm chất lượng dạy và học Đóng góp của nhân dân cho giáo dục là một khoản đầu tư đáng kể, đáp ứng khoảng 30- 40 % chi phí hàng năm của ngành Giáo dục Các nguồn vốn ODA và hỗ trợ không hoàn lại từ nước ngoài cũng đã được bổ sung cho phát triển giáo dục

Như trên ta có thể thấy một trong những cơ sở phát triển khoa học công nghệ đó chính là tại các trường đại học, viện nghiên cứu Hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học đã và đang phục vụ cho nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, đáp ứng nhu cầu của xã hội, thực hiện theo hướng kết hợp giảng dạy, học tập với ứng dụng những tri thức khoa học vào thực tiễn và nghiên cứu Ta có thể thấy mục tiêu chính của hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học là tạo ra tri thức, công nghệ, giải pháp, sản phẩm mới; góp phần hình thành và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên, nghiên cứu viên, người học; nâng cao chất lượng đào tạo điều này đã chỉ rõ trong thông tư số 22/2011/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Ngoài ra trong thông tư này còn chỉ rõ mục tiêu bên cạnh đó là ứng dụng tri thức, công nghệ mới và tạo ra phương thức, giải pháp mới phục vụ cho việc phát triển giáo dục và đào tạo; kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, tạo cơ sở thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ Mục tiêu tiếp theo là góp phần phát hiện

Trang 32

và bồi dưỡng nhân tài; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, góp phần và phát triển kho tàng tri thức, công nghệ của nhân loại

Những phân tích trong nước và quốc tế cho thấy số lượng ấn phẩm khoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn, khiến cho những ai quan tâm đều cảm thấy lo lắng Thực trạng thấp kém không chỉ so với các nước tiên tiến trên thế giới có nền tảng khoa học phát triển lâu năm mà ngay cả khi so với các nước trong khu vực Đông Nam Á

Theo thống kê của Viện thông tin khoa học (ISI), trong 15 năm từ 1996-2011, Việt Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng một phần năm của Thái Lan (69.637), một phần sáu của Malaysia (75.530), và một phần mười của Singapore (126.881) Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần Singapore, ba lần Malaysia và gần gấp rưỡi Thái lan

Việt Nam hiện nay có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, 24.000 tiến

sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ mà số ấn phẩm khoa học của cả nước trong vòng 15 năm qua chưa bằng 1/5 số công bố của trường ĐH Tokyo (69,806 ấn phẩm)

và một nửa của trường ĐH quốc gia Singapore (28,070 ấn phẩm)

Không chỉ khiêm tốn về số lượng, chỉ số ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam cũng thấp nhất so với những nước trong khu vực vừa được đề cập Thứ hạng khiêm tốn này cũng nhất quán với số bằng sáng chế được đăng ký ở Mỹ và chỉ số sáng tạo do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO xếp hạng

Thật ra, nước ta có nhiều công trình nghiên cứu xứng đáng chia sẻ với cộng đồng khoa học thế giới, nhưng rất tiếc, cho đến nay các công trình đó vẫn loanh quanh trong các báo cáo nghiệm thu, đóng gói không chia sẻ, hoặc

Trang 33

công bố trên những tạp chí trong nước chưa được quốc tế công nhận và hệ quả là làm thiệt thòi cho khoa học nước nhà

Nhiều tác giả đã đưa ra một số nguyên nhân để giải thích cho tình trạng trên như: phân phối ngân sách cho nghiên cứu chưa thỏa đáng, rào cản về ngôn ngữ tiếng Anh, nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của công bố quốc tế, thiếu kinh nghiệm và chưa có thói quen (văn hóa) công bố, thiếu chính sách đãi ngộ, khuyến khích nhà khoa học công bố quốc tế, rất ít những tập san khoa học trong nước bằng tiếng Anh, chưa xác lập những chuẩn mực đánh giá hiệu quả khoa học phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế ở đó công bố quốc

tế được sử dụng làm thước đo khách quan

Theo con số thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo đến năm 2013 được công bố trên hệ thống Website chính thức trên cả nước có 207 trường đại học với tổng số cán bộ giảng viên là 61,674 trong đó có 8,869 tiến sỹ (14,3%), 28,987 thạc sỹ (47%) đảm nhiệm đào tạo nhiều chuyên ngành ở 03 cấp đào tạo bao gồm Đại học, Thạc sĩ và Tiến sĩ Có thể thấy, với con số này thì khả

Tại các trường Đại học hiện này mọi văn bản pháp quy, mọi thủ tục qui trình đều thực hiện đúng theo yêu cầu trong thông tư số 22/2011/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Bộ giáo dục và đào tạo đưa ra Hàng năm Phòng Khoa học Công nghệ đưa ra các thông báo về việc đăng ký nghiên cứu khoa học của các sinh viên, các giảng viên Dựa trên số lượng đề tài đăng ký phòng Khoa học công nghệ tư vấn cho hiệu trưởng thành lập hội đồng khoa học xét duyệt các đề tài Việc xét duyệt các đề tài được thực hiện tuần tự từ đơn đăng ký với phần mô tả sơ qua về đề tài nghiên cứu khoa học, sau đó các nhóm đề tài thực hiện thuyết trình để chứng minh khả năng hiệu quả cũng như các vấn đề cần giải quyết trong đề tài, kèm theo nguồn kinh phí thực hiện đề tài Trong buổi thuyết trình hội đồng khoa học sẽ xem xét và thảo luận về tính

Trang 34

khả thi, tính ứng dụng của đề tài từ đó đưa ra quyết định đề tài đó có được phê duyệt hay không Nếu được phê duyệt, phòng Khoa học công nghệ dự thảo hợp đồng nghiên cứu khoa học và yêu cầu các đơn vị đăng ký đề tài ký kết với nhà trường theo tiến độ và thời gian đã đăng ký theo đề tài

Hình 2.1 Quản lý đề tài đăng ký

Phòng Khoa học công nghệ quản lý tiến độ thực hiện đề tài của các nhóm được ký hợp đồng nghiên cứu khoa học với nhà trường thông qua báo cao định kỳ của các đề tài, thông thường cứ 3 tháng 1 lần các nhóm đề tài tham gia phải nộp về phòng khoa học công nghệ tiến độ thực hiện đề tài và đưa ra các ý kiến đề xuất nhằm tạo điều kiện nhất cho việc thực hiện đề tài đúng theo tiến độ Dựa trên tiến độ báo cáo của các nhóm đề tài và các đề xuất phòng Khoa học công nghệ lập kế hoạch nghiệm thu đề tài Phòng Khoa học công nghệ lập hội đồng nghiệm thu đề tài và xin ý kiến chỉ đạo của nhà trường trước khi thông báo thời gian và địa điểm thực hiện nghiệm thu đề tài Sau quá trình thực hiện nghiệm thu phòng Khoa học công nghệ công bố các

đề tài đã được nghiệm thu thông qua các kênh thông tin như báo điện tử, báo khoa học của nhà trường và lưu các văn bản liên quan Bên cạnh đó nếu các nhóm xây dựng đề tài vượt quá thời gian đăng ký có thể gia hạn thực hiện đề tài đồng thời phải nêu rõ lý do và xác định thời gian nghiệm thu tối đa là 12 tháng theo các yêu cầu mà nhóm xây dựng đăng ký Đối với các đề tài không

Trang 35

thể hoàn thiện thì phòng Khoa học công nghệ sẽ hủy hợp đồng khoa học công nghệ đồng thời báo cáo Hiệu trưởng để có hình thức kỷ luật

Hình 2.2 Quản lý thuyết minh đề tài

Năm 2006, Việt Nam chi ngân sách đầu tư cho khoa học và công nghệ

là 428 triệu USD, chiếm khoảng 0,17% GDP Tỉ lệ này cao hơn so với mức

độ đầu tư của Indonesia (0,05% GDP) và Philippines (0,12% GDP) nhưng thấp hơn so với Thái Lan (0,3% GDP), Malaysia (0,5% GDP) và Singapore (2,2% GDP) Đến năm 2012, Việt Nam đã tăng chi lên 653 triệu USD (tương đương 13.000 tỷ VND), chiếm khoảng 0,27% GDP (Nguyễn Văn Tuấn & Phạm Thị Ly, 2011) Ở tầm vĩ mô, nhiều nghiên cứu cho thấy tổng số chi tiêu cho NCKH và số cán bộ khoa học có tương quan mật thiết với sự tăng trưởng GDP của một quốc gia Bên cạnh đó, các tổ chức khoa học nổi tiếng trên thế giới hay các học giả thường sử dụng thước đo số ấn phẩm khoa học trên các tập san có bình duyệt (peer reviewed journal) để đánh giá khả năng khoa học của một quốc gia Tại Việt Nam, do nhiều nguyên nhân khác nhau, NCKH vẫn chưa tương xứng với sự đầu tư đó Trong thời gian từ 1996 đến 2005, tổng số bài báo khoa học có địa chỉ từ Việt Nam là 3.456 bài Trong số này, chỉ có 1.192 bài (34%) xuất phát từ các trường đại học Phần còn lại là từ các viện và trung tâm nghiên cứu Có thể nói rằng phần lớn NCKH ở Việt Nam không xuất phát từ trường đại học, đây được xem là điểm yếu của các trường

Trang 36

đại học trong việc đóng góp vào sáng tạo tri thức "Một điều rất nghịch lý ở Việt Nam là các nghiên cứu về khoa học xã hội hiện diện trên các tạp chí trong nước rất nhiều nhưng lại xuất hiện rất ít trên các tạp chí khoa học quốc tế" Tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, vai trò nghiên cứu của trường đại học là vô cùng quan trọng Một trường đại học thiếu nghiên cứu hay yếu kém trong nghiên cứu thì khó có thể trở thành một đại học thực thụ hay một trung tâm học thuật quốc tế Hiện nay, Việt Nam chưa có đại học nào nằm trong danh sách đại học hàng đầu thế giới Trong khi, riêng khối ASEAN, 11 trường thuộc 5 nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines

và Singapore có tên trong danh sách "Top 400" Vậy trường đại học Việt Nam đang gặp phải những khó khăn, trở ngại hay thách thức gì trong NCKH

Theo quyết định 64 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giảng viên mỗi năm phải đảm bảo 600 giờ giảng dạy, 500 giờ NCKH; PGS và giảng viên chính là

900 giờ giảng dạy, 600 giờ NCKH; GS và giảng viên cao cấp là 900 giờ giảng dạy, 700 giờ NCKH NCKH được xem là nhiệm vụ bắt buộc và là một tiêu chí đánh giá lao động của giảng viên Tuy nhiên, công việc này của giảng viên hiện đang rất ít được chú trọng, chưa thật sự phát triển mạnh mẽ, chưa diễn ra đồng đều và gần như chỉ tập trung vào một số ít giảng viên Có nhiều

lý do để có thể giải thích cho việc này là: kinh phí NCKH được cấp không theo những tiêu chí rõ ràng minh bạch, năng lực nghiên cứu của giảng viên và nghiên cứu viên còn nhiều hạn chế, lương bổng thấp cũng khiến giảng viên không chú tâm nghiên cứu Theo báo cáo của 34 trường đại học cho Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong giai đoạn từ 2006 đến

2009, các trường chỉ có 248 đề tài cấp nhà nước; 1.823 đề tài cấp bộ; 5.505 đề tài cấp trường Nghĩa là trong một năm, trung bình một trường chỉ thực hiện được khoảng 2 đề tài cấp nhà nước, 17 đề tài cấp bộ và 54 đề tài cấp trường Chỉ xét riêng Đại học Kinh tế Tp.HCM, từ 2008 đến 2012, toàn trường có 92

Trang 37

đề tài cấp bộ, 44 đề tài ký kết địa phương (Tỉnh/ Thành phố) và 107 đề tài cấp trường Tính trung bình 49 đề tài mỗi năm, tương đương với 10 giảng viên hoàn thành 1 đề tài khoa học hàng năm "Trong số khoảng 600 giảng viên cơ hữu của trường mỗi năm có khoảng hai phần ba giảng viên tham gia hoạt động NCKH và đáp ứng định mức thời gian theo quy định" (Ung Thị Minh

Lệ, 2012) Song song đó, Đại học Quốc gia Tp.HCM với thế mạnh của sáu trường đại học thành viên , hai viện và nhiều đơn vị trực thuộc, từ 2007 đến

2012, đã thực hiện 114 đề tài cấp nhà nước, 167 đề tài cấp địa phương và 789

đề tài cấp trường

Ngoài số lượng đề tài nghiên cứu ở các trường đại học Việt Nam còn rất thấp so với các nước trong khu vực, thậm chí có lĩnh vực tổng số đề tài nghiên cứu của cả nước không bằng số lượng đề tài nghiên cứu trong cùng lĩnh vực của một trường đại học nước ngoài thì việc khan hiếm bài báo khoa học quốc tế là điều khó tránh, trong khi đó bài báo được đăng tải trên tạp chí khoa học quốc tế có uy tín có thể nói là kết quả cao nhất trong các hoạt động NCKH của giảng viên Tuy nhiên, phần lớn các trường đại học Việt Nam lại không có vinh dự này Đại Học Quốc gia TP.HCM được xem là một trong những đại học mạnh về NCKH thế nhưng, trong năm 2011, cả trường có 773 bài được đăng trên các tạp chí và kỷ yếu, trong đó chỉ có 173 bài được đăng trên các tạp chí quốc tế với 142 bài thuộc danh sách ISI (Viện Thông tin Khoa học), chưa có bài nào về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nằm trong danh sách ISI Đại Học Kinh tế TP.HCM cũng có trung bình khoảng 89 bài báo được đăng trên các tạp chí trong nước và kỷ yếu và 6 bài báo được đăng trên tạp chí khoa học quốc tế trong giai đoạn từ 2008 đến 2012 (tổng hợp từ Phòng QLKH và HTQT – ĐHKT Tp.HCM) Đây là con số tương đối ít so với

số lượng giảng viên của trường, trung bình 0,2 bài/ giảng viên/ năm, nghĩa là tương đương với việc trung bình khoảng 5 năm, mỗi giảng viên có một bài

Trang 38

trên tạp chí hay tham dự hội thảo Nhìn chung, nguyên nhân của việc này xuất phát cả từ nguyên nhân chủ quan như chất lượng nguồn nhân lực không cao, thiếu chính sách đãi ngộ, khuyến khích nhà khoa học công bố quốc tế, rất ít những tập san khoa học trong nước bằng tiếng Anh, chưa xác lập những chuẩn mực đánh giá hiệu quả khoa học phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, các chủ đề nghiên cứu ở Việt Nam không nhiều cái mới so với thế giới, kỹ năng viết báo của nhiều nhà khoa học trong nước (những người được đào tạo trong nước) còn hạn chế do chưa đủ kiến thức và phải viết bằng tiếng Anh và nguyên nhân khách quan như vị thế Việt Nam còn rất thấp so với thế giới trên bản đồ khoa hoc, các bài báo gửi từ địa chỉ Việt Nam khó đăng hơn nhiều so với từ địa chỉ nước ngoài bởi xuất phát từ thực tế là kết quả khoa học Việt Nam không đạt độ tin cậy cao đối với cộng đồng thế giới

Một thực trạng khác dẫn đến những thách thức lớn đối với sự phát triển của khoa học và công nghệ là sự tách rời giữa các trường đại học và các viện nghiên cứu Hiện nay có đến 71 viện nghiên cứu được phép đào tạo bậc thạc

sĩ và cấp bằng tiến sĩ trực thuộc chính phủ và các bộ ngành khác nhau nhưng lại không có dính dáng gì với các trường đại học Gần đây, nhà nước kêu gọi

sự gắn kết hơn nữa giữa các trường đại học và viện nghiên cứu nhưng do chưa có hành lang pháp lý phù hợp cũng như chưa có cơ chế khuyến khích nên việc hợp tác này cũng chỉ mới dừng lại ở việc trao đổi cán bộ thỉnh giảng Theo GS Martin Hayden, lãnh đạo nhóm tư vấn quốc tế cho Bộ GD-ĐT Việt Nam, tác động của việc thiếu mối gắn kết mạnh mẽ giữa giảng dạy với nghiên cứu dẫn đến kết quả hoạt động NCKH của Việt Nam nghèo nàn so với các nước trong vùng

Tuy nhiên, theo thông tư 47/2014/TT-BGDĐT ban hành ngày 31/12/2014 thì số giờ định mức cho giảng viên trong một năm học là 270 giờ

Trang 39

chuẩn trong đó, giờ chuẩn trực tiếp trên lớp chiếm tối thiểu 50% định mức quy định

Tuy nhiên, trên thực tế, nền giáo dục đại học ở nước ta hiện nay đang thể hiện sự bất cập giữa nghiên cứu và giảng dạy trong đội ngũ giảng viên: tại hầu hết các trường đại học, dường như giảng viên đặt nặng hơn đối với việc giảng dạy và coi nhẹ hoạt động nghiên cứu Đây chính là điểm hạn chế của chúng ta và nếu không có giải pháp đúng đắn thì những mục tiêu đặt ra đều khó có thể trở thành hiện thực, nhất là việc “phấn đấu đến năm 2020 nước ta

cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, mà chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2020 của Đảng đã đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 (tháng 1/2011)

Công bằng mà nói, trong những năm vừa qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng đã có những đóng góp đáng kể vào thành tích chung của ngành giáo dục và nền khoa học nước nhà Nhiều sáng kiến, phát minh được áp dụng vào thực tế, nhiều kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào các lĩnh vực đã tạo ra hiệu quả nhất định trong đời sống kinh tế- xã hội… Song, với sự phát triển nhanh chóng của đất nước như hiện nay thì có thể đánh giá một cách thẳng thắn: đội ngũ cán bộ khoa học nói chung, lực lượng giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu ( cả về số lượng và chất lượng)

để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội Ở các trường đại học, cao đẳng trực thuộc Hà Nội tình trạng này cũng không khả quan hơn Mặc dù hiện nay toàn Hà nội có 1.357 giáo sư và phó giáo sư, 2.947 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; 5.826 thạc sĩ, 9.908 cử nhân, kỹ sư và tương đương, với số lượng đề tài, dự án các cấp được thực hiện hàng năm là khá lớn: trong 2 năm (2008- 2009), toàn Khối đã triển khai và nghiệm thu 70 đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, hơn 2.000 đề tài cấp Bộ và tương đương, nhiều công trình khoa học và những cải

Ngày đăng: 24/11/2015, 10:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Luật Khoa học công nghệ số 21/2000/QH10 ban hành ngày 09/06/2000 6. Quyết định số 1244/QĐ-TTg – Quyết định về việc phê duyệt phươnghướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011- 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học công nghệ số 21/2000/QH10
Năm: 2000
9. Căn cứ Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành “Điều lệ trường đại học”Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường đại học
1. Giáo trình quản lý công nghệ - NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
2. Giáo trình quản lý nhà nước về khoa học – công nghệ và tài nguyên – môi trường – NXB Khoa học và kỹ thuật Khác
3. Thông tư số 12/2010/TT-BGDĐT – Thông tư ban hành quy định quản lý đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ của Bộ giáo dục và đào tạo Khác
4. Công văn số 2299/ BGDĐT-KHCNMT – Thông báo về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch Khoa học và công nghệ 5 năm 2011-2015 Khác
7. Bản thống kê giáo dục từ 1999 đến 2011 của Bộ giáo dục và đào tạo Khác
8. Thông tư 22/2011/TT-BGDĐT – Thông tư ban hành quy định về hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học Khác
10. www.moet.gov.vn 11. www.most.gov.vn 12. www.webometrics.info Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Quản lý đề tài đăng ký - Quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học ở việt nam
Hình 2.1 Quản lý đề tài đăng ký (Trang 34)
Hình 2.2 Quản lý thuyết minh đề tài - Quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học ở việt nam
Hình 2.2 Quản lý thuyết minh đề tài (Trang 35)
Bảng 2.1– Bảng theo dõi số lưọng và kinh phí dành cho các đề tài NCKH - Quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học ở việt nam
Bảng 2.1 – Bảng theo dõi số lưọng và kinh phí dành cho các đề tài NCKH (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w