cứu “Quản lý quá trình dạy và học theo học chế tín chỉ trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay” là một việc làm cần thiết và hữu ích, góp phần triển khai thành công phươn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-o0o -
NGUYỄN MAI HƯƠNG
QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC THEO
HỌC CHẾ TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào của các tác giả khác
Tác giả luận án
Nguyễn Mai Hương
Trang 3
Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TSKH Lâm Quang Thiệp và PGS.TS Đặng Xuân Hải, những người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án Tôi xin gửi lời biết ơn chân thành tới toàn thể tập thể giảng viên, cán bộ, viên chức Trường Đại học Giáo dục, mà người đứng đầu là Hiệu trưởng nhà trường - GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu sinh
Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ của Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để tôi được học tập và hoàn thành luận án Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học, các cán
bộ quản lý, cán bộ giảng dạy và các em sinh viên của một số trường đại học
đã giúp đỡ tôi trong việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và thực nghiệm kết quả của đề tài
Tôi xin tri ân sự động viên, khích lệ và ủng hộ nhiệt tình của gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp trong thời gian thực hiện luận án
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2011
Tác giả luận án
Nguyễn Mai Hương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ……… … i
Lời cảm ơn ……… ii
Mục lục ……… iii
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt ……… vi
Danh mục các bảng ……… vii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị ……… viii
MỞ ĐẦU ……… … 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở BẬC ĐẠI HỌC ……… 9
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý đào tạo theo HCTC ……… 9
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới ……… 9
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam ……… 10
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài nghiên cứu ……… 15
1.2.1 Các khái niệm liên quan đến quản lý đào tạo đại học ……… 15
1.2.2 Các khái niệm liên quan đến HCTC ……… 20
1.3 Đặc điểm và yêu cầu của dạy và học theo HCTC ……… 23
1.3.1 So sánh quá trình dạy và học theo niên chế kết hợp học phần với QTDH theo tín chỉ ở bậc đại học ……… 24
1.3.2 Các đặc điểm của HCTC ảnh hưởng đến QTDH ……… 24
1.3.3 Ưu điểm của HCTC và việc phát huy các ưu điểm đó khi tổ chức triển khai dạy và học theo tín chỉ ……… 27
1.3.4 Một vài nhược điểm cần lưu ý khi triển khai QTDH theo HCTC … 30
1.4 Quản lý QTDH theo HCTC ……… 31
1.4.1 Đặc điểm của quản lý QTDH theo HCTC ……… 31
1.4.2 Quản lý các thành tố của QTDH theo HCTC ……… 33
1.4.3 Một số điều kiện cần lưu ý khi quản lý QTDH theo HCTC ………… 46
1.4.4 Vận dụng lý luận về quản lý sự thay đổi trong nhà trường khi quản lý QTDH theo HCTC ……… 47
Kết luận chương 1 ……… 51
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC …… 53
2.1 Kinh nghiệm quản lý QTDH theo HCTC của một số nước trên thế giới ……… 53
2.1.1 Quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học ở Mỹ ……… 53
2.1.2 Quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học Châu Âu …… 58
2.1.3 Quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học Châu Á ……… 60
2.1.4 Sự khác nhau về kỹ thuật thiết kế tín chỉ ở các nước ……… 62
2.2 Vài nét về tiến trình chuyển đổi sang đào tạo theo HCTC ở VN … 63
Trang 52.2.1 Lịch sử đào tạo theo HCTC trong các trường ĐH ở VN … 63
2.2.2 Một số chủ trương chuyển đổi sang đào tạo theo HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay ……… 66
2.3 Phương pháp nghiên cứu thực trạng quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam ……… 67
2.3.1 Mục tiêu của việc nghiên cứu thực trạng ……… 67
2.3.2 Nội dung nghiên cứu thực trạng ……… 67
2.3.3 Phương pháp khảo sát thực trạng ……… 68
2.3.4 Phương pháp đánh giá thực trạng ……… 71
2.4 Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay ………… ……… 71
2.4.1 Thực trạng nhận thức về QTDH theo HCTC ……… 71
2.4.2 Thực trạng chỉ đạo triển khai chương trình đào tạo theo HCTC …… 73
2.4.3 Thực trạng quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung dạy và học theo học chế tín chỉ ……….……….… 76
2.4.4 Thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy và học theo HCTC … 77
2.4.5 Thực trạng chỉ đạo triển khai các hình thức tổ chức dạy và học theo học chế tín chỉ ……… 83
2.4.6 Thực trạng quản lý việc xây dựng và sử dụng đề cương môn học … 87
2.4.7 Thực trạng quản lý công tác kiểm tra - đánh giá theo HCTC …….… 89
2.4.8 Thực trạng quản lý các điều kiện triển khai QTDH theo HCTC ….… 90 2.4.9 Thực trạng các xung đột thường gặp khi chuyển đổi sang QTDH theo
học chế tín chỉ ……… ……… 98
2.5 Đánh giá thực trạng và những kết luận từ nghiên cứu thực trạng 100
2.5.1 Một số kết quả đạt được trong quá trình triển khai dạy và học theo học chế tín chỉ ……… 100
2.5.2 Một số bất cập trong quá trình triển khai dạy và học theo HCTC …… 101
2.5.3 Nguyên nhân của các bất cập khi triển khai QTDH theo HCTC…… 102
Kết luận chương 2 ……… 103
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ……… 105
3.1 Nguyên tắc căn bản để xây dựng các biện pháp quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam ……… 105
3.1.1 Đảm bảo các nguyên tắc chung ……… 105
3.1.2 Xây dựng các biện pháp quản lý phù hợp với đặc điểm của QTDH theo HCTC trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học hiện nay ……… 106
3.2 Các biện pháp quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam ……….……… 106
Trang 63.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về QTDH theo HCTC cho các đối
tượng liên quan ……… ……… 107
3.2.2 Biện pháp 2: Đảm bảo các điều kiện triển khai QTDH theo HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay ……… 110
3.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng lộ trình chuyển đổi sang QTDH theo HCTC phù hợp với điều kiện của nhà trường giai đoạn hiện nay ……… 118
3.2.4 Biện pháp 4: Triển khai đồng bộ các chức năng quản lý trong quản lý các thành tố của QTDH theo HCTC ……… 123
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường năng lực học tập của sinh viên đáp ứng yêu cầu của dạy và học theo HCTC ……… ………… 145
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý QTDH theo HCTC ……… 149
3.4 Khảo sát về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp …… 150
3.4.1 Khảo sát về mức độ cần thiết của các biện pháp ……… 150
3.4.2 Khảo sát về mức độ khả thi của các biện pháp ……… 151
3.4.3 Sự tương quan giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp ……… ……… 152
3.4.4 Hướng thực hiện các biện pháp ……… 153
3.5 Thực nghiệm biện pháp 154
3.5.1 Mục đích, đối tượng và phạm vi thực nghiệm ……… 154
3.5.2 Lập kế hoạch thực nghiệm ……… 154
3.5.3 Tổ chức và chỉ đạo thực nghiệm ……… 155
3.5.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm ……….… 155
Kết luận chương 3 ……… 162
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……… 164
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ ……… 168
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 169
PHỤ LỤC ……… 178
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CNTT : Công nghệ thông tin
CSVC : Cơ sở vật chất CVHT : Cố vấn học tập
GD - ĐT : Giáo dục - Đào tạo GDĐH : Giáo dục đại học
KT - ĐG : Kiểm tra - đánh giá
KT - XH : Kinh tế xã hội
NT : Nhà trường
PP : Phương pháp PPDH : Phương pháp dạy học PPNCKH : Phương pháp nghiên cứu khoa học
QLDH : Quản lý dạy học QLĐT : Quản lý đào tạo QLNT : Quản lý nhà trường QLGD : Quản lý giáo dục QTDH : Quá trình dạy và học QTKD : Quản trị kinh doanh
SV : Sinh viên
TC : Tín chỉ
Tp HCM : Thành phố Hồ Chí Minh TTLĐ : Thị trường lao động
TW : Trung ương XHCN : Xã hội chủ nghĩa
% : Tỷ lệ phần trăm
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổ chức một giờ tín chỉ ……… …… …… 21
Bảng 1.2 So sánh niên chế kết hợp học phần với học chế tín chỉ 24
Bảng 1.3 Các hình thức tổ chức dạy và học ……… ……… 42
Bảng 2.1 Phân bổ phiếu khảo sát cán bộ quản lý và giảng viên theo trường ……… ……… … 69
Bảng 2.2 Phân bổ phiếu khảo sát sinh viên theo trường … ……… … 69
Bảng 2.3 Mức độ triển khai các hình thức tổ chức dạy và học …… 86
Bảng 2.4 Hiệu quả triển khai các hình thức tổ chức dạy và học … 87
Bảng 2.5 Các xung đột trong quản lý QTDH theo HCTC … …… … 99
Bảng 3.1 Ma trận triển khai các chức năng quản lý trong quá trình dạy và học theo học chế tín chỉ ……… … 124
Bảng 3.2 Thiết kế các hình thức tổ chức dạy và học theo HCTC 136
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết của các biện pháp …… 150
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát mức độ khả thi của các biện pháp … 151
Bảng 3.5 Sự tương quan về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp ……… …… 152
Bảng 3.6 Bảng phân bố tần số ni của số sinh viên đạt điểm tổng kết môn học ở nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm 158
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TT Tên hình vẽ Trang
Hình 1.1 Mô hình tổng thể quản lý quá trình đào tạo ……… 16 Hình 1.2 Quá trình dạy và học tiếp cận chuẩn quốc tế ……… 18 Hình 2.1 Công việc chính hiện nay của đối tượng khảo sát ……… 68 Hình 2.2 Phân bổ đối tượng khảo sát là sinh viên theo năm học ………… 68 Hình 3.1 Xây dựng lộ trình chuyển đổi ……… 119 Hình 3.2 Thiết kế nội dung chi tiết môn học ……… 127 Hình 3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý QTDH theo HCTC … 149
Hình 3.4 So sánh về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ đòi hỏi các trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên phát huy được năng lực học tập một cách chủ động và hiệu quả nhất, vào năm 1872, Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun
mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách linh hoạt Đây có thể coi là điểm mốc
khai sinh học chế tín chỉ
Đến đầu thế kỷ 20, HCTC đã nhận được sự hưởng ứng rộng khắp trong các trường đại học ở Bắc Mỹ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống đào tạo này trong toàn bộ hoặc bộ phận các trường đại học của mình như: Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Senegal, Nigeria, … Tại Châu Á, một số nước như Trung Quốc, Thái Lan đã đưa vào luật GDĐH quy định bắt buộc các trường phải triển khai hệ thống tín chỉ học tập trong các trường đại học
Vào năm 1999, các nước trong liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian GDĐH Châu Âu (European Higher Education Area)
thống nhất vào năm 2010 Một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng hệ thống tín chỉ trong GDĐH để tạo thuận lợi cho việc cơ động hoá, liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vực châu Âu và trên thế giới
1.2 HCTC với triết lý giáo dục là: Tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho
người học; Người học là trung tâm của mọi hoạt động trong nhà trường Phương
thức đào tạo này được tổ chức, quản lý sao cho thuận lợi nhất cho người học, chương trình đào tạo được thiết kế mềm dẻo, linh hoạt để GDĐH dễ dàng đáp ứng các nhu cầu luôn biến động của thị trường nhân lực
Quan điểm cơ bản của HCTC được thể hiện cụ thể là:
- Chương trình đào tạo được thiết kế theo môđun, với nhiều môn học tự chọn tạo điều kiện cho người học có nhiều khả năng lựa chọn chương trình học
- Người học có thể chọn tiến trình học tập cho mình thay vì học theo một tiến trình định sẵn cho từng khóa học theo niên chế
Trang 11- Người học thuận lợi hơn khi chuyển trường, chuyển ngành, học thêm ngành khác, học liên thông do được công nhận khối lượng kiến thức đã tích lũy
Có thể thấy rằng, triết lý giáo dục của HCTC hoàn toàn phù hợp với các định hướng phát triển của GDĐH trong thời gian tới
1.3 Ở Việt Nam, trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của xã hội và hướng
tới quá trình hội nhập với GDĐH trên thế giới, triển khai đào tạo theo HCTC là một
xu thế phát triển tất yếu của GDĐH
Tuy nhiên, đối với các trường đại học Việt Nam, HCTC vẫn còn khá mới mẻ Một số trường tiên phong trong việc chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế kết hợp học phần sang HCTC đã gặp nhiều khó khăn, lúng túng do việc triển khai còn mang tính tự phát, cục bộ Trong thực tế, chưa trường nào thực hiện triệt để QTDH theo HCTC với đầy đủ các đặc điểm của học chế này
1.4 Nhằm tăng tính liên thông của hệ thống GDĐH trong nước, phát triển GDĐH đại chúng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và hội nhập với thế giới, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã đưa ra chủ trương mở rộng áp dụng HCTC trong hệ thống GDĐH nước ta Đào tạo theo HCTC được đánh giá là một trong những bước đi quan trọng trong lộ trình đổi mới GDĐH Việt Nam giai đoạn hiện nay
Với những lý do về Lịch sử và xu thế phát triển của HCTC trên thế giới, Triết
lý giáo dục của HCTC, Tình hình triển khai HCTC ở Việt Nam cũng như Tính cấp thiết của vấn đề như đã đề cập trên đây, GDĐH Việt Nam đang đứng trước một yêu
cầu cấp bách, đó là phải triển khai thành công phương thức đào tạo theo HCTC trong các trường đại học
Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ niên chế kết hợp học phần sang HCTC không đơn giản đối với những người trực tiếp thực hiện như các nhà quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên và đối với toàn xã hội Thực tế triển khai trong giai đoạn quá
độ này ở các trường đại học của Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt các vấn đề liên quan đến đổi mới QTDH
Nhận thức rõ những điều nêu trên, nhằm thực hiện được các chủ trương của Đảng
và Nhà nước về việc áp dụng HCTC trong các trường đại học, việc chọn vấn đề nghiên
Trang 12cứu “Quản lý quá trình dạy và học theo học chế tín chỉ trong các trường đại học
ở Việt Nam giai đoạn hiện nay” là một việc làm cần thiết và hữu ích, góp phần
triển khai thành công phương thức đào tạo theo tín chỉ, đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý QTDH đáp ứng các yêu cầu của HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay nhằm triển khai thành công phương thức đào tạo theo HCTC thay thế cho phương thức đào tạo niên chế kết hợp học phần Từ đó, góp phần thực hiện chủ trương đổi mới GDĐH và hội nhập với xu thế đào tạo đại học trên thế giới
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
QTDH theo HCTC trong các trường đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động quản lý QTDH theo HCTC trong các trường ĐH ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung vào giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
Trang 134.2 Giả thuyết khoa học
Học chế tín chỉ là một phương thức đào tạo có những đặc điểm riêng phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và yêu cầu học tập đa dạng của sinh viên
Triển khai HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay đang gặp một số rào cản và có những khó khăn, bất cập
Nếu vận dụng đồng bộ và triệt để các biện pháp quản lý QTDH thích ứng với các đặc điểm của HCTC ở bậc đại học mà luận án đề xuất thì sẽ giúp tháo gỡ được các rào cản và tăng thêm động lực, góp phần thực hiện thành công học chế tín chỉ trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận về quản lý QTDH theo HCTC ở bậc đại học
- Khảo sát thực tiễn quản lý QTDH theo HCTC ở một số trường đại học của Việt Nam giai đoạn hiện nay Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý QTDH theo HCTC ở một
số quốc gia đã triển khai thành công hệ thống học tập này
- Trên cở sở lý luận và thực tiễn, đề xuất hệ thống các biện pháp quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học nhằm thực hiện đúng quan điểm đề ra cho phương thức đào tạo này trong điều kiện của Việt Nam
- Tổ chức khảo sát và thực nghiệm kết quả nghiên cứu của đề tài
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Phạm vi khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu QTDH theo HCTC trong một số trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
6.2 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu và khảo sát
- Nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm quản lý QTDH theo HCTC ở một số trường đại học trên thế giới
- Khảo sát thực trạng quản lý QTDH theo HCTC ở một số trường đại học ở Việt Nam: ĐH Quốc Gia Hà Nội, ĐH Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh, ĐH Xây dựng, ĐH Giao thông vận tải, ĐH Dân lập Công nghệ và Quản trị kinh doanh, ĐH Thái Nguyên, ĐH Đà Nẵng, ĐH Huế, ĐH Vinh
Trang 146.3 Phạm vi về thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu QTDH theo HCTC trong khoảng thời gian kể từ khi nước ta bắt đầu hình thành phương thức đào tạo theo tín chỉ cho đến nay Khảo sát thực trạng trong 4 năm học gần đây (từ 2005 đến 2009) ở một số trường đại học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận cơ bản để tiến hành nghiên cứu
7.1.1 Tiếp cận hệ thống
QTDH theo HCTC là một tập hợp các thành tố có quan hệ tương tác nhằm
thực hiện một mục tiêu xác định của QTDH Luận án sử dụng cách tiếp cận phân
tích hệ thống có cấu trúc và xem xét các mối quan hệ trong hệ thống các thành tố của QTDH theo HCTC
7.1.2 Tiếp cận lịch sử/ logic
Luận án tiến hành nghiên cứu thực trạng quản lý QTDH theo HCTC trong những điều kiện lịch sử của hệ thống GDĐH Việt Nam với truyền thống đào tạo theo niên chế Đồng thời tìm ra những mặt hạn chế và nguyên nhân, thành tựu và triển vọng của thực trạng trên cơ sở những qui luật mang tính logic của quá trình phát triển Vận dụng cách tiếp cận lịch sử/ logic sẽ giúp cho việc xác định các luận
cứ thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hóa các nguồn tài liệu, văn bản trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho đề tài nghiên cứu
Trang 15Nhiều tư liệu, kỷ yếu của các hội thảo khoa học, chuyên đề về đào tạo theo HCTC được nghiên cứu, phân tích nghiêm túc Đây là nguồn tài liệu phong phú,
cập nhật và tập hợp được nhiều ý kiến của các chuyên gia trong nước và quốc tế
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
• Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được thiết kế với các loại câu hỏi đa dạng và trật tự logic hợp lý nhằm mục đích khai thác cao nhất, trung thực nhất ý kiến của từng cá nhân, đối tượng được hỏi về các thông tin cần khảo sát trong luận án
• Phương pháp phỏng vấn sâu
Trên cơ sở điều tra, phỏng vấn các mẫu đã chọn, tác giả đã đánh giá, nhận định sơ
bộ các nội dung liên quan đến quản lý QTDH theo HCTC Để quá trình thu thập thông tin được chính xác hơn, tác giả đã thực hiện 21 cuộc phỏng vấn sâu với đối tượng là các cán bộ giảng dạy, các nhà quản lý của các trường ĐH và các chuyên gia giáo dục - những người am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài thông qua các buổi họp chuyên môn, các hội thảo có chủ đề liên quan đến các vấn đề của luận án
7.2.3 Nhóm phương pháp kiểm chứng và thực nghiệm kết quả nghiên cứu
Tác giả đã trao đổi và xin ý kiến các cán bộ quản lý và giảng viên bằng phiếu hỏi về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý QTDH theo HCTC trong một số trường đại học giai đoạn hiện nay mà luận án đề xuất
Đồng thời luận án đã tổ chức thực nghiệm để kiểm chứng một biện pháp quản
lý cụ thể
7.3 Các phương pháp xử lý thông tin
Các thông tin định tính và định lượng cần được xử lý để xây dựng các luận cứ, khái quát hóa thực trạng Có hai phương hướng xử lý thông tin:
- Đối với các thông tin định lượng: Các dữ liệu thu thập được xử lý bằng chương trình SPSS (Statistic Package for Social Studies) và chương trình thống kê toán học trên Excel nhằm xác định xu hướng diễn biến, qui luật của tập số liệu
- Đối với các thông tin định tính: Xử lý logic bằng việc đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ logic của các sự kiện
Trang 16Từ kết quả xử lý thông tin, luận án đưa ra các phân tích, đánh giá, bình luận và tổng kết chính xác các vấn đề nghiên cứu
8 Luận điểm cần bảo vệ
Trên cơ sở vấn đề nghiên cứu, luận án chứng minh những luận điểm khoa học sau:
Luận điểm 1: Quản lý QTDH theo HCTC phải tôn trọng những đặc thù riêng của
học chế này, đó là: Chú trọng mục tiêu cá nhân hóa hoạt động học tập của sinh viên; Tạo thuận lợi cho sinh viên chủ động tích lũy kiến thức trong quá trình đào tạo do chương trình được cấu trúc mềm dẻo, linh hoạt; Triển khai phương thức tổ chức dạy học thông qua đề cương chi tiết môn học được phê duyệt; Tiến hành đánh giá kết quả học tập thường xuyên, theo tiến trình
Luận điểm 2: HCTC là một thành tựu lớn của thế giới về quy trình đào tạo đại học,
phù hợp với sự chuyển đổi kinh tế của nước ta Chuyển đổi sang HCTC là một xu thế tất yếu trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay, tuy nhiên cần phải xác định lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường
Luận điểm 3: Những bất cập về nhận thức, điều kiện triển khai, lộ trình thực hiện,
cách thức quản lý đang cản trở tiến trình chuyển đổi sang HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Luận điểm 4: Hệ thống các biện pháp quản lý QTDH theo HCTC được xây dựng
thích ứng với đặc điểm của HCTC, phù hợp với điều kiện cụ thể của các trường đại học Việt Nam, trên cơ sở vận dụng lý luận quản lý sự thay đổi sẽ góp phần tháo gỡ các rào cản, tạo động lực cho việc triển khai thành công HCTC
Trang 179.2 Về thực tiễn
- Khảo sát và đánh giá được thực trạng quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
- Xác định được các rào cản, các bất cập khi triển khai QTDH theo HCTC hiện nay
và phân tích được các nguyên nhân của các bất cập trong thực trạng
- Xây dựng hệ thống các biện pháp quản lý QTDH thích ứng với các đặc điểm của HCTC và có khả năng ứng dụng trong thực tiễn nhằm giúp các trường đại học ở Việt Nam triển khai các yếu tố tích cực của HCTC một cách có hiệu quả, tiến tới chuyển đổi thành công sang phương thức đào tạo theo HCTC
10 Cấu trúc của luận án
10.1 Mở đầu
Phần này trình bày lý do chọn đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu Ngoài ra, cũng đề cập đến ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài và các phương pháp nghiên cứu
10.2 Nội dung nghiên cứu
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý QTDH theo HCTC ở bậc đại học
Chương 2: Cơ sở thực tiễn về quản lý QTDH theo HCTC trong các trường đại học Chương 3: Xây dựng các biện pháp quản lý QTDH theo HCTC trong các
trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC
THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở BẬC ĐẠI HỌC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
HCTC đã được áp dụng ở Mỹ từ thế kỷ 19 và được triển khai rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Cùng với sự phát triển của phương thức đào tạo này, rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, nhiều cuốn sách về hệ thống tín chỉ học tập
và cách thức quản lý đào tạo theo hệ thống này đã được xuất bản Các nhà nghiên cứu giáo dục ở Mỹ - cái nôi của HCTC là những người đầu tiên nghiên cứu về hệ thống học tập này và cách thức quản lý nó
- Tác giả C James Quann của ĐH Quốc Gia Washington đã định nghĩa các khái
niệm Tín chỉ, Giờ tín chỉ, Chuyển đổi giờ tín chỉ… trong tài liệu “The Academic Credit System” (Về hệ thống tín chỉ học tập) [6] Các định nghĩa này của Quann
được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về tín chỉ của các tác giả Việt Nam hiện nay Trong quá trình triển khai HCTC, việc có những định nghĩa chuẩn xác là rất quan trọng để tạo nên sự thống nhất về các khái niệm trong toàn hệ thống
- Trong tài liệu “The Credibility of the Credit Hour: The History, Use and Shortcomings of the Credits System” [119], tác giả Heffernan James đã trình bày
tổng quan về hệ thống tín chỉ với những khái niệm, quá trình triển khai đào tạo, các
ưu nhược điểm của hệ thống, những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho sự chuyển đổi thành công và khả năng áp dụng hệ thống tín chỉ trong các nước đang phát triển, một số bài học rút ra từ kinh nghiệm của Mỹ và thế giới về hệ thống tín chỉ Công trình này đã phân tích khả năng áp dụng hệ thống tín chỉ học tập mà các nước đang phát triển có thể xem xét điều kiện triển khai nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của các trường ĐH James cho rằng khi triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ, các nước đang phát triển không nên chấp nhận mô hình của Mỹ một cách dập khuôn mà cần xem xét các yếu tố để xây dựng những kế hoạch thực hiện riêng gắn với điều kiện, hoàn cảnh và văn hoá Một số yếu tố quan trọng để chuyển đổi thành
Trang 19công QTDH theo hệ thống tín chỉ cũng được tác giả đề cập Trước hết, đó là sự ủng
hộ, đồng thuận của xã hội, chính phủ và các thành viên có liên quan trực tiếp đến quá trình đào tạo, sau đó là sự phù hợp các yêu cầu đối với các thành tố của QTDH (Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; Đội ngũ giảng viên; Kiểm tra - đánh giá;…)
- Tác giả Arthur Levin đã nghiên cứu về quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ và
văn bằng trong cuốn “The credit and degree” (Tín chỉ và văn bằng) Ông khẳng
định rằng có thể tham khảo mô hình Mỹ về đào tạo theo tín chỉ:“Trừ trường hợp
ngoại lệ, hiện nay mọi chương trình ĐH dẫn đến văn bằng ở Mỹ được dựa trên hệ thống tín chỉ…” [6, tr.79]
Sau khi hình thành và phát triển ở Mỹ, hệ thống tín chỉ đã lan rộng ra nhiều nước khác trên thế giới Trong đó phải kể đến các nước ở châu Âu với hơn 40 trường ĐH triển khai hệ thống học tập này Từ đó, các nhà khoa học giáo dục của châu lục này cũng đã vào cuộc với các nghiên cứu về hệ thống tín chỉ và các điều kiện triển khai
- Hai nhà khoa học nổi tiếng là Robert Allen & Geoff Layer đã có công trình nghiên
cứu: “Credit - Based Systems as Vehicles for Change in Universities and Colleges” (Hệ thống tín chỉ là phương tiện thay đổi trong các trường ĐH và cao
đẳng) [123] Các tác giả khẳng định sự phát triển của GDĐH đại chúng là một thách
thức đối với các nhà quản lý và nhu cầu tất yếu phải có sự thay đổi trong hệ thống GDĐH
Hiện nay, quá trình dạy học theo hệ thống tín chỉ của rất nhiều trường ĐH ở
Mỹ, Anh, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaisia, Nigeria, Uganda, Trung Quốc, Thái Lan đã đi vào nề nếp Tuy nhiên, các nhà khoa học giáo dục vẫn không ngừng nghiên cứu về hệ thống học tập này nhằm ngày càng cải thiện chất lượng giáo dục cũng như cách thức quản lý để phát huy các mặt tích cực của quá trình đào tạo và phù hợp với sự phát triển của xã hội
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, triển khai đào tạo theo HCTC trong các trường ĐH là một vấn đề
đã được đề cập cách đây trên 20 năm nhưng gặp rất nhiều lúng túng trong cả khâu
Trang 20quản lý và triển khai Ngay từ năm 1988, theo chủ trương của Bộ GD & ĐT, một số trường ĐH đã áp dụng học chế mềm dẻo: kết hợp niên chế với học phần (Đơn vị học trình) Trong giai đoạn 1993-1998 các tác giả ở Vụ ĐH mà đứng đầu nhóm nghiên cứu là các nhà khoa học Lâm Quang Thiệp (Vụ trưởng Vụ ĐH) và Lê Viết Khuyến (Vụ phó Vụ ĐH) đã có nhiều bài nghiên cứu về quản lý đào tạo khi chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ Gần đây, vấn đề này đã được nêu trong các văn bản, quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT và ngày càng thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu giáo dục, các cấp lãnh đạo nhà trường, đội ngũ GV, SV và các tổ chức xã hội sử dụng sản phẩm giáo dục Nhiều vấn đề về quản lý đào tạo theo HCTC và quá trình chuyển đổi sang học chế này đã được các nhà KHGD nghiên cứu
* Về tài liệu, phải kể đến cuốn sách rất có giá trị là “Về hệ thống tín chỉ học tập” của Vụ ĐH - Bộ GD & ĐT, xuất bản năm 1994 Công trình này tuyển dịch bốn
tài liệu của nước ngoài về hệ thống tín chỉ với những kiến thức rất cơ bản kèm theo nhiều tài liệu tham khảo được giới thiệu đã thực sự cần thiết với các trường ĐH ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ học chế niên chế sang HCTC và các kinh nghiệm quản lý đào tạo theo tín chỉ của một số nước
* Cùng với việc biên soạn và phát hành các tài liệu trên, Bộ GD&ĐT và một
số trường ĐH đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo với các ý kiến đóng góp của các chuyên gia giáo dục bàn về vấn đề này
Nhiều hội thảo tập trung bàn về các vấn đề lý luận và các quan điểm mới trong việc thiết kế chương trình đào tạo theo tín chỉ của kỷ nguyên công nghệ; Vai trò của Internet trong giảng dạy và học tập [63, 64]
Một số hội thảo đi sâu vào phân tích các yếu tố quan trọng để thực hiện thành công HCTC; Phân tích cơ hội và thách thức của hệ thống chuyển đổi từ niên chế sang HCTC; Nhận diện các xung đột hệ thống khi triển khai HCTC trong điều kiện của Việt Nam và cách thức khắc phục chúng…; Nghiên cứu các phương pháp sư phạm đặc thù và các hình thức tổ chức dạy học hiệu quả trong HCTC [33 - 35] Trong các diễn đàn khoa học này, nhiều nhà khoa học đã có các tham luận khá được chú ý Những kinh nghiệm triển khai đào tạo theo HCTC của một số nước trên thế
Trang 21giới cũng được một số tác giả tổng kết Hai tác giả Eli Mazur & Phạm Thị Ly đề cập đến vai trò của hệ thống tín chỉ của Mỹ trong GDĐH Việt Nam và kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ Tác giả Nguyễn Kim Dzung đưa ra một số kinh nghiệm của thế giới trong việc xây dựng và phát triển hệ thống tín chỉ học tập Hai mô hình phổ biến là: Hệ thống Tín chỉ của Hoa Kỳ và Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ của Châu Âu cũng được tác giả phân tích với các chức năng và ưu điểm của chúng cũng như đặc thù triển khai và cách thức quản lý, vận hành Một số tác giả đã nghiên cứu và khái quát các đặc điểm về hệ thống tín chỉ và cách thức tổ chức đào tạo ĐH theo phương thức này trong các nước của Liên minh châu Âu và châu Á như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc
Đặc biệt, một số thực tiễn và bài học kinh nghiệm của các trường đã và đang chuyển sang HCTC cũng được các nhà quản lý và GV chia sẻ trong hội thảo như Trường ĐH Bách khoa Tp Hồ Chí Minh, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn
- ĐH Quốc gia Hà Nội, Trường ĐH Đà Lạt, ĐH Phương Đông, ĐH Cần Thơ Ban liên lạc các trường đại học, cao đẳng Việt Nam liên tục tổ chức hội thảo
khoa học về “Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhận thức và kinh nghiệm triển khai tại các trường đại học, cao đẳng Việt Nam” và “Đổi mới phương pháp dạy và học trong đào tạo theo HCTC và Xây dựng hệ thống thông tin quản lý đào tạo” vào
năm 2006, 2007 với sự tham gia của nhiều nhà khoa học trong các viện nghiên cứu, trường ĐH ở Hà Nội, Nghệ An, Nha Trang, Đà lạt, Tp HCM, Bình Dương, Cửu Long…[3, 4]
Các hội thảo này thu hút sự tham gia của nhiều nhà quản lý và giảng viên với nhiều bài tham luận, báo cáo có giá trị thực tiễn cao Đây là diễn đàn khoa học để đội ngũ quản lý nhà trường và giảng viên trao đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao nhận thức về một phương thức học tập mới
* Để có những qui định chung, làm cơ sở để các trường ĐH chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo HCTC, Bộ GD & ĐT đã nghiên cứu và đưa ra các qui chế
về phương thức đào tạo này
- Ngày 26/6/2006, Bộ GD&ĐT đã ban hành qui chế 25/2006/QĐ-BGD&ĐT để hướng dẫn quản lý đào tạo trong giai đoạn chuyển đổi dần sang HCTC [10] Qui
Trang 22chế này có những điểm khác biệt so với qui chế 04/1999/QĐ-BGD&ĐT về: Thời gian đào tạo; Điều kiện được học tiếp, tạm ngừng, bị buộc thôi học và học vượt; Đánh giá học phần; Điều kiện thi tốt nghiệp…[7] Các điều chỉnh này theo hướng chuyển đổi từng bước quá trình đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo HCTC
- Qui chế 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007 về đào tạo ĐH và cao đẳng hệ chính qui theo hệ thống tín chỉ [11] Qui chế này đã đưa ra những qui định về đào tạo theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: Tổ chức đào tạo; Kiểm tra và thi học phần; Xét
và công nhận tốt nghiệp
* ĐH Quốc gia Hà Nội đã thường xuyên tổ chức hội thảo về đào tạo theo HCTC [32] Lộ trình cụ thể của trường để triển khai phương thức đào tạo này được chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Áp dụng ngay các yếu tố tích cực của HCTC; Từng bước chuyển đổi
chương trình đào tạo; Biên soạn chương trình chi tiết các môn học; Hướng dẫn sử dụng PPDH, phương pháp KT- ĐG theo HCTC; Phát triển và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của học chế này Thời gian thực hiện từ năm 2006
Giai đoạn 2: Tổ chức đào tạo hoàn toàn theo HCTC cho tất cả các trường, các khoa
thuộc ĐHQG Hà Nội sau khi các công việc của giai đoạn 1 tương đối hoàn thành
* Một số nhà khoa học giáo dục của Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về HCTC
- Nghiên cứu về GDĐH nói chung và HCTC nói riêng, các ưu nhược điểm, điều kiện triển khai đào tạo theo HCTC ở nước ta, việc áp dụng hệ thống tín chỉ trong các trường ĐH ở Việt Nam đã được tác giả Lâm Quang Thiệp đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu, bài viết [96, 97]
- Tác giả Nguyễn Đức Chính đã xây dựng được qui trình KT - ĐG kết quả học tập theo yêu cầu của HCTC Tác giả cũng nghiên cứu những điểm cần chú ý khi triển khai một QTDH nói chung và HCTC nói riêng như khâu phân tích nhu cầu người học và khâu đánh giá cải tiến của các nhà quản lý và của giảng viên [21]
- Những nghiên cứu về Qui trình triển khai đào tạo theo HCTC, Cơ cấu lại chương trình đào tạo để chuyển phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào
Trang 23tạo theo tín chỉ ở các trường ĐH hiện nay ở Việt Nam…đã được tác giả Lê Doãn Đãi trình bày trong báo cáo về HCTC của Ban đào tạo, ĐH Quốc Gia Hà Nội [31]
- Việc tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình định sẵn và theo HCTC đã được tác giả Lê Thạc Cán nghiên cứu rất chi tiết [31]
- Những nghiên cứu tường tận về hệ thống tín chỉ ở Mỹ và phân tích những tác động của mô hình đào tạo này tới hệ thống GDĐH của Việt Nam hiện nay đã được tác giả Nguyễn Hữu Việt Hưng, người từng giảng dạy và hợp tác nghiên cứu tại các trường ĐH có thứ hạng của Mỹ trình bày [54]
- Tác giả Lê Viết Khuyến đã có những công trình nghiên cứu về quá trình triển khai HCTC Các yêu cầu triển khai và mức độ phù hợp của từng yêu cầu đó đối với thực trạng giáo dục của Việt Nam hiện nay được tác giả phân tích, đánh giá để từ đó đề xuất các bước khả thi khi triển khai HCTC trong các trường ĐH nước ta [59,60]
* Ngoài ra, có nhiều bài báo về đào tạo theo HCTC ở các góc độ khác nhau được đăng trên các tạp chí thuộc chuyên ngành giáo dục, trên mạng internet…
- Có thể liệt kê nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đào tạo theo tín chỉ như: Các bài của tác giả Vũ Quốc Phóng - Trường ĐH Ohio, Mỹ trên VietNamNet [85]; Nhiều bài viết và bài dịch về những vấn đề liên quan đến phương thức đào tạo theo
tín chỉ của Phạm Thị Ly được đăng tải trên trang web [136] và trong “Tuyển tập các
bài nghiên cứu về Giáo dục quốc tế” [84]
- Các vấn đề liên quan đến HCTC như: Đặc điểm và điều kiện triển khai; Tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của giảng viên và của sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ; Vận dụng lý thuyết Quản lý sự thay đổi để chuyển đổi sang đào tạo theo HCTC trong các trường ĐH giai đoạn hiện nay được tác giả Đặng Xuân Hải đề cập trong nhiều bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành [47- 49]
Những công trình nghiên cứu nêu trên đều chú ý đến vấn đề quản lý đào tạo theo tín chỉ và định hướng chỉ đạo triển khai QTDH và quản lý QTDH theo HCTC
Tóm lại, khi tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về HCTC nói chung và dạy học phù
hợp với yêu cầu của HCTC cũng như các yêu cầu về điều kiện để triển khai thành công học chế đó, chúng tôi nhận thấy rằng ở Việt Nam hiện nay không có nhiều các cuốn sách nghiên cứu cơ sở lý luận về phương thức đào tạo theo tín chỉ và cách
Trang 24thức quản lý quá trình đào tạo này Hệ thống tín chỉ của một số nước và các bài học kinh nghiệm chủ yếu được các tác giả trong nước tìm hiểu và phân tích riêng lẻ hoặc biên dịch từ tài liệu nước ngoài
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài nghiên cứu
1.2.1 Các khái niệm liên quan đến quản lý đào tạo đại học
1.2.1.1 Quản lý và chức năng quản lý
Nghiên cứu các tài liệu, giáo trình về lĩnh vực quản lý có thể nhận thấy khái
niệm Quản lý được diễn đạt rất đa dạng dưới các góc độ khác nhau [16-19], song
theo tác giả, có thể hiểu:
- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình hoạt động XH Hoạt động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho tổ chức tồn tại, vận hành và phát triển
- Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong một tổ chức thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Có thể nhận diện khái niệm quản lý bao gồm các yếu tố [43, 44]: Chủ thể
quản lý, Khách thể quản lý, Công cụ quản lý và Biện pháp quản lý
* Quản lý có bốn chức năng cơ bản, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu xác định [15, 57]
- Chức năng lập kế hoạch: Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu cần thiết
cho sự phát triển của tổ chức và quyết định phương thức đạt các mục tiêu đó
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa
các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, đồng thời phân công điều phối các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đề ra
- Chức năng chỉ đạo/lãnh đạo: Chỉ đạo/Lãnh đạo là quá trình nhà quản lý dùng ảnh
hưởng của mình tác động đến các thành viên trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là quá trình thiết lập và thực hiện các cơ chế thích
hợp, theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế để đảm bảo đạt được mục tiêu của tổ chức
Trang 251.2.1.2 Quản lý đào tạo đại học
Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh
hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [104, tr.298]
Đào tạo đại học là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, có năng lực tư duy,
có khả năng sáng tạo Trong hoạt động đào tạo đại học cần triển khai đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, xây dựng danh mục ngành nghề đào tạo, hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng đào tạo đại học, tiến tới hội nhập với cộng đồng GDĐH của các nước trong khu vực và trên thế giới [100]
Quản lý đào tạo đại học phải quán triệt và gắn liền với bốn chức năng quản
lý như đã nêu trên nhưng cần lưu ý thích đáng tới đối tượng quản lý là “quá trình đào tạo bậc đại học” Người quản lý cần nắm vững mô hình tổng thể quá trình đào tạo được thể hiện qua sơ đồ dưới đây [13, tr.324]:
Hình 1.1 Mô hình tổng thể quản lý quá trình đào tạo
- Nghiên cứu triển khai quá trình dạy học
- Hoạt động kiểm tra đánh giá
Người tốt nghiệp với:
- Kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp, thói quen, kinh nghiệm
- Hiểu biết xã hội
- Ngoại ngữ
- Kỹ năng sử dụng máy tính
- Tình hình việc làm sau tốt nghiệp
- Thích ứng nghề nghiệp
- Năng suất lao động
- Khả năng thu nhập
- Phát triển nghề nghiệp
- Tự tạo việc lµm
Đánh giá/
Lựa chọn
- Lựa chọn phương thức, hình thức, phương pháp
§T
- §¸nh gi¸
kÕt qu¶ học tập
- KT/ ĐG quá trình
và chương trình
- Cấp văn bằng, chứng chỉ
Thông tin phản hồi
GV,SV
Trang 26Muốn quản lý đạt hiệu quả, người quản lý cần lưu ý thông tin quản lý đào tạo đóng vai trò rất quan trọng, nó được coi như "mạch máu" của hoạt động quản lý đào tạo Như vậy, quản lý đào tạo ĐH là quản lý các yếu tố chủ đạo: Mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo ĐH; Lực lượng đào tạo đại diện là GV triển khai nhiệm
vụ dạy ở bậc ĐH; Đối tượng đào tạo đại diện là SV; Hình thức tổ chức đào tạo đa dạng; Điều kiện môi trường đào tạo mang tính hướng nghiệp và lập nghiệp; Quy chế đào tạo; Bộ máy tổ chức đào tạo Trong quá trình đào tạo, các yếu tố nêu trên luôn vận động, tương tác với nhau, làm nảy sinh những tình huống có vấn đề và đòi hỏi cần được giải quyết kịp thời Vì vậy, quản lý đào tạo chính là quá trình xử lý
tình huống có vấn đề (mâu thuẫn, xung đột, gay cấn) trong quá trình đào tạo để nhà
trường phát triển, đạt tới chất lượng tổng thể bền vững
1.2.1.3 Quản lý quá trình dạy và học
a) Quá trình dạy và học
QTDH tồn tại như “một hệ thống toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt
động học Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác” [86, tr.52]
Theo tiếp cận hệ thống, ngoài hai thành tố trung tâm là GV và SV, QTDH còn cấu thành bởi các thành tố khác, đó là: Mục tiêu, nội dung, chương trình dạy và học; Phương pháp dạy và học; Các hình thức tổ chức dạy và học; Phương thức KT-ĐG; Điều kiện cơ sở vật chất; Môi trường giáo dục… Một QTDH gồm 3 giai đoạn (chuẩn bị, thực thi, đánh giá cải tiến) với các thành tố liên kết với nhau theo một chu trình và tác động qua lại với nhau
b) Quản lý quá trình dạy và học nói chung
Quản lý QTDH là quản lý một quá trình xã hội, quản lý một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc Quản lý
QTDH là “hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ
thể quản lý, nhằm làm cho quá trình dạy học vận hành theo các quy luật của nó, thực hiện được những yêu cầu của nền giáo dục xã hội trong việc đào tạo con người theo tiêu chuẩn của thời đại, tập trung vào hoạt động dạy và học và giáo dục
đa hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến mục tiêu” [99, tr.4]
Trang 27Tư duy quản lý QTDH có thể được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.2 QTDH tiếp cận chuẩn quốc tế
(Nguồn: Tài liệu tập huấn kỹ năng nghề nghiệp cho giáo viên [103])
Triển khai các hình thức tổ chức
dạy học
Kiểm tra đánh giá thường xuyên
Phân tích nhu cầu
Xác định mục đích, mục tiêu dạy và học; Lập kế hoạch dạy
và học; Chuẩn bị tài liệu, phương pháp, phương tiện, công cụ, kiểm tra - đánh giá
Lựa chọn, sắp xếp mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học
PP dạy
PP học
Mục tiêu bài dạy
Trang 28Quản lý QTDH phải bắt đầu quản lý từ giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thực thi đến giai đoạn đánh giá cải tiến [21]
Quản lý giai đoạn chuẩn bị, trước hết là chỉ đạo khâu Phân tích nhu cầu nhằm
xác định vị trí môn học trong chương trình đào tạo, nắm bắt được đối tượng SV và các điều kiện vật chất - kỹ thuật hỗ trợ việc dạy và học môn học Đây là những
thông tin quan trọng làm cơ sở để quản lý việc Xác định mục tiêu môn học, bài học
và xây dựng kế hoạch dạy và học Kế hoạch dạy và học được quản lý chi tiết tới
từng bài học với các chuẩn bị về hình thức tổ chức dạy và học, PPDH, phương tiện, công cụ, tài liệu dạy và học và các hình thức KT-ĐG phù hợp
Quản lý quá trình triển khai, thực thi kế hoạch dạy và học với việc lựa chọn
và sắp xếp các nội dung dạy và học; Tổ chức các hình thức dạy và học hợp lý; Triển khai các phương pháp dạy và học hiệu quả và lựa chọn hình thức kiểm tra đánh giá nhằm thực hiện được mục tiêu dạy học đề ra Trong quá trình thực thi cần quản lý các điều kiện để bảo đảm một môi trường dạy và học tối ưu
Cuối cùng là phải quản lý được việc đánh giá cải tiến kết quả dạy và học
thông qua việc xem xét việc thực hiện các nhiệm vụ dạy và học và đánh giá kết quả học tập của người học
• Mục tiêu quản lý quá trình dạy và học
Mục tiêu chung của quản lý QTDH là chất lượng dạy học toàn diện cho SV với các tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hoá, thể chất… được quy định trong mục tiêu giáo dục Một cách chung nhất, mục tiêu quản lý QTDH là:
- Bảo đảm thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ, thời gian quy định
- Bảo đảm QTDH đạt chất lượng, hiệu quả cao từ đó đảm bảo rằng sản phẩm của QTDH đạt được mục tiêu dự kiến và đáp ứng yêu cầu
Tuy nhiên mục tiêu cụ thể của việc quản lý QTDH cũng có thể thực hiện thông qua việc triển khai các chức năng quản lý tương ứng với các khâu của quá trình này
• Nội dung quản lý quá trình dạy và học
Về nguyên tắc, quản lý QTDH ở bất kỳ quy trình đào tạo nào cũng phải quản
lý “đầu vào”, quản lý “quá trình” và quản lý “đầu ra” [70] Nguyên tắc này cũng
Trang 29được biến thể dưới dạng sơ đồ ở hình 1.2 nêu trên Trong đó, quan trọng nhất là quản lý hoạt động dạy và hoạt động học Bên cạnh đó, quản lý QTDH cần quan tâm các yếu tố cấu thành như sau:
- Quản lý chương trình dạy học (Mục tiêu - Nội dung - Phương thức đào tạo)
- Quản lý hoạt động dạy và học của GV và SV thông qua việc quản lý PPDH, quản
lý các hình thức tổ chức dạy và học, quản lý công tác KT-ĐG
- Quản lý các điều kiện, môi trường dạy học, điều kiện đảm bảo cho chất lượng ĐT
- Quản lý mức độ đạt được các mục tiêu dạy học và đánh giá cải tiến
1.2.2 Các khái niệm liên quan đến học chế tín chỉ
1.2.2.1 Khái niệm tín chỉ
Trong các từ điển bách khoa, các tài liệu về GDĐH có thể tìm thấy nhiều quan niệm về tín chỉ Hiện nay có khoảng hơn 60 định nghĩa khác nhau về tín chỉ [107] Luận án đề cập đến hai cách diễn đạt về khái niệm tín chỉ như sau:
- Theo từ điển Giáo dục học:“Tín chỉ là đơn vị nội dung trong chương trình
môn học bao gồm một khối lượng kiến thức và kĩ năng tương đối gắn kết với nhau
về chủ điểm cần được sinh viên hoàn thành trong một khoảng thời gian xác định tương ứng (khoảng 15 tiết) và được kiểm tra đánh giá kết quả Mỗi môn học được chia thành nhiều học phần có tối thiểu từ 2 tín chỉ trở lên Sinh viên phải học và có điểm kiểm tra tất cả các tín chỉ quy định mới được coi là hoàn thành chương trình
bộ môn Cách tổ chức dạy học theo từng tín chỉ của học phần trong mỗi môn học tạo thuận lợi cho sinh viên phát huy hết năng lực học tập của mình vì được tự do lựa chọn và cơ động thực hiện những tín chỉ phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh của riêng mình” [50, tr.393]
- Theo học giả James Quann,“Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ
phần thời gian bắt buộc của một sinh viên bình thường để học một giáo trình cụ thể Thời gian toàn phần bao gồm 3 thành tố: 1) thời gian lên lớp; 2) thời gian ở phòng thí nghiệm, studio, thực tập hoặc các phần việc khác đã được qui định ở thời khóa biểu; 3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài Giờ học của một học kỳ 2 quí hay của học kỳ 1 quí được ấn định theo
tỷ lệ sau đây của các giờ thành phần được dành hàng tuần cho việc học môn đó:
Trang 301) các môn học lý thuyết - một giờ tiếp xúc hàng tuần cho một giờ tín chỉ (bao hàm
2 giờ chuẩn bị ở nhà); 2) các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm - ít nhất là 2 giờ tiếp xúc hàng tuần cho một giờ tín chỉ (bao hàm 1 giờ chuẩn bị ở nhà); 3) tự nghiên cứu - ít nhất 3 giờ làm việc hàng tuần cho một giờ tín chỉ” [6, tr 37].
Sau khi tìm hiểu các định nghĩa về tín chỉ và căn cứ vào thực tiễn quá trình đào tạo hiện nay trong các trường ĐH, chúng tôi nhất trí với cách hiểu về tín chỉ
như sau:“Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian học tập của một
người học trung bình để học một môn học cụ thể, bao gồm: 1) thời gian lên lớp; 2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu; 3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn
đề, viết hoặc chuẩn bị bài…; Đối với các môn học lý thuyết, 1 tín chỉ là 1 giờ học trên lớp (+ 2 chuẩn bị ở nhà) trong một tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; Đối với các môn học thực hành, ít nhất là 2 giờ lên lớp (+ 1 giờ chuẩn bị ở nhà) trong một tuần; Đối với việc tự nghiên cứu, ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần”
Như vậy, 1 giờ tín chỉ được thực hiện như sau:
Bảng 1.1 Tổ chức một giờ tín chỉ (theo định mức của Mỹ)
Hình thức tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ
Giờ tín chỉ Lý thuyết
Thực hành, thí nghiệm, xemina
Tự học
Tổng Chuẩn bị
Tự nghiên cứu
*:tiết
Tổ chức một giờ tín chỉ được cụ thể hóa trong điều 3 quy chế
43/2007/QĐ-BGDĐT:“Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín
chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30-40 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc
Trang 31đồ án, khóa luận tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình thì 1,5 ĐVHT được quy đổi thành 1 TC 1 tiết học được tính bằng
50 phút” [11]
1.2.2.2 Khái niệm đào tạo theo tín chỉ
Đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo cho phép sinh viên đạt được văn bằng hoặc chứng chỉ sau khi đã tích luỹ đủ hệ thống môn học (được đo bằng số tín chỉ) theo trình tự quy định của chương trình đào tạo đối với các văn bằng, chứng chỉ
đó [47] Đào tạo theo tín chỉ chuyển quyền quyết định mục đích đào tạo cụ thể cũng như lựa chọn các môn học và cả kế hoạch học tập từ nhà trường cho SV trong điều kiện quy định công khai số lượng và cấu trúc các môn học dẫn đến văn bằng
Khi phương thức đào tạo được thể chế hoá với các quy định gắn với chế độ học tập theo quy trình tích luỹ nội dung đào tạo tiến tới văn bằng và triển khai triệt
để các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo theo tín chỉ thường được gọi là HCTC
Hệ thống tín chỉ là hệ thống đào tạo chủ yếu liên quan tới phương thức tổ chức hoạt động đào tạo và quá trình học tập để lấy văn bằng theo HCTC của một cơ sở đào tạo
Hệ thống tín chỉ giúp cho hệ thống chuyển đổi tín chỉ và thực hiện tư tưởng liên thông thuận lợi, tạo điều kiện cho việc công nhận lẫn nhau giữa các cơ sở đào tạo của hệ thống GDĐH Tuy nhiên, đào tạo liên thông và chuyển đổi tín chỉ phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và chủ trương của các cấp quản lý nhà nước
1.2.2.3 Sự hình thành và phát triển của hệ thống tín chỉ
Hệ thống tín chỉ ra đời đầu tiên ở Hoa kỳ Theo nhà nghiên cứu giáo dục Jesica M.Shedd (2003) [107, tr.20], hệ thống đào tạo này được ra đời ở Mỹ do ba nguyên nhân chính
Thứ nhất: do nhu cầu các trường ĐH cần phải căn cứ vào kết quả học tập của
học sinh THPT để tuyển chọn được những SV có chuẩn mực nhất định, đáp ứng yêu cầu của nhà trường Tuy nhiên, chương trình học của các trường THPT có sự khác biệt rõ rệt nên cần phải có một quy chuẩn trong đánh giá các SV khi nhập học
Trang 32vào trường ĐH Lúc này, hệ thống tín chỉ được thiết kế là công cụ để lưu lại một cách tường minh năng lực học tập của học sinh phổ thông [124, tr 222]
Thứ hai: do nhu cầu cải cách giáo dục của chính các trường đại học Mỹ lúc
bấy giờ Trước năm 1870, chương trình đào tạo trong các trường đại học với đặc
điểm "đóng" gồm những môn học cố định và bắt buộc khiến nó không thể đáp ứng
nguyện vọng của SV cũng như những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế Nhận ra sự bất cập này, một số trường đại học đã thay đổi chương trình đào tạo cứng nhắc trên
bằng những chương trình đào tạo "mở" bao gồm những môn học đáp ứng với nhu
cầu xã hội và có độ linh hoạt nhất định để người học có thể lựa chọn Lúc này, triết
lý học tập của John Dewey [29] cho rằng SV là trung tâm của quá trình đào tạo và quan điểm về sự chủ động, sáng tạo của sinh viên thông qua hoạt động học tập phù hợp với lợi ích cá nhân ngày càng được xã hội thừa nhận Vào năm học 1870 -1871, cuốn niên lịch giảng dạy của Viện Đại học Harvard đã đưa ra danh mục các môn học, mỗi môn có một mã số riêng và SV có thể lựa chọn môn học cho mình
Thứ ba: do những tổ chức và cá nhân sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo
như chính phủ, các cơ quan, doanh nghiệp và các nhà tài trợ yêu cầu nhà trường phải cung cấp cho họ một cách chính xác, rõ ràng khối lượng học tập, năng lực chuyên môn cũng như kỹ năng nghề nghiệp và hiệu quả của quá trình đào tạo của từng sinh viên khi tốt nghiệp để làm cơ sở tuyển dụng
Như vậy, có thể khẳng định rằng hệ thống tín chỉ là sản phẩm trí tuệ của người
Mỹ Nó được hình thành và phát triển phù hợp với bối cảnh lịch sử về cả góc độ triết lý và góc độ thực tiễn Hệ thống này đáp ứng được xu thế phát triển tất yếu của nền GDĐH về năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của SV và trở thành một
phương thức đào tạo chính thức tại nhiều nước trên thế giới
1.3 Đặc điểm và yêu cầu của dạy và học theo học chế tín chỉ
Bản chất của đào tạo theo HCTC là “Quá trình cá nhân hóa việc học tập trong
điều kiện GDĐH cho số đông người” [96] Do đó HCTC có nhiều đặc điểm khác
biệt so với học chế niên chế kết hợp học phần Các cán bộ quản lý trong các trường
ĐH nói chung và các cán bộ quản lý đào tạo nói riêng cần nhận thức sâu sắc các đặc điểm của học chế này để có thể quản lý QTDH đạt kết quả mong muốn
Trang 331.3.1 So sánh quá trình dạy và học theo niên chế kết hợp học phần với quá trình dạy và học theo tín chỉ ở bậc đại học
Phân tích các thành tố của QTDH theo học chế niên chế kết hợp với học phần
và HCTC, tuy không có ranh giới rõ rệt nhưng có thể nhận ra một số điểm khác biệt được thể hiện trong bảng 1.2
Bảng 1.2 So sánh niên chế kết hợp học phần với HCTC
Khối lượng kiến thức tích lũy
Theo môn học gắn với đơn vị đo là tiết học và
đơn vị học trình
Theo môđun gắn với đơn vị đo là tín chỉ, đa dạng hoá hình thức tích luỹ
Phương thức tổ chức quá trình giảng dạy
- Đồng loạt và đơn vị học vụ là năm học
- Lớp học tổ chức theo 1 chương trình và quy
trình chung áp dụng nhất loạt cho mọi người học
- Dạy học coi trọng hoạt động trên lớp học
- Coi trọng đánh giá cuối cùng
- Theo kế hoạch và tiến độ của từng SV với đơn vị học vụ là học kỳ
- Người học được lựa chọn chương trình và quy trình học phù hợp với nguyện vọng, khả năng và điều kiện của mình
- Dạy học coi trọng hoạt động tự học có hướng dẫn
- Coi trọng đánh giá quá trình Bảng so sánh này gợi cho các cán bộ quản lý đào tạo nói chung và QL dạy và học nói riêng có quan điểm quản lý phù hợp với đặc điểm mới của QTDH theo HCTC
1.3.2 Các đặc điểm của học chế tín chỉ ảnh hưởng đến quá trình dạy và học
1.3.2.1 Cách tính khối lượng kiến thức tích lũy theo học chế tín chỉ
Quá trình học tập theo HCTC là sự tổ chức tích luỹ kiến thức theo môn học, học phần (môđun) và chúng được đo bằng đơn vị tín chỉ
Môn học là khối kiến thức tương đối trọn vẹn và thời lượng dành cho môn học
có thể dài hoặc ngắn tùy thuộc vào nội dung của môn học đó Trong trường hợp các môn học dài thì có thể cấu trúc lại thành các học phần (môđun) đủ ngắn để thuận
Trang 34tiện cho việc tích lũy Khi học phần được gán số lượng tín chỉ tương đối đồng nhất chúng trở thành môđun để lắp ghép và liên thông Một học phần khoảng 3-4 tín chỉ (1 tín chỉ = 15 tiết (giờ) lên lớp + 30 tiết (giờ) chuẩn bị cá nhân ngoài lớp), vì vậy phải chỉ đạo chuyển đổi chương trình đào tạo phù hợp với đặc điểm này
Tuy nhiên, trong số môđun tích luỹ ứng với khối lượng tín chỉ nêu trên có nguyên tắc lựa chọn vừa bắt buộc vừa tuỳ ý Ở một số nước, số môn học bắt buộc chiếm khoảng 80% và số môn học lựa chọn khoảng 20% (trong đó có môn học lựa chọn “tuỳ ý”) Vì vậy, số môn học cần có trong chương trình đào tạo phải đủ lớn
mới thực hiện được đặc điểm này
Chương trình dẫn đến một văn bằng phải được công bố cho sinh viên từ đầu khóa học Mỗi SV tự chọn cho mình các môn học và tiến trình học phù hợp với điều kiện bản thân, đảm bảo tích lũy được số tín chỉ qui định cho ngành học của mình để được nhận bằng tốt nghiệp Trong cùng một trình độ học, các tín chỉ có giá trị như nhau (về khối lượng học tập và độ khó tương đối của môn học) Mỗi khi sinh viên hoàn thành kết quả học tập theo yêu cầu, họ sẽ được cấp các tín chỉ (xác nhận giá trị tín chỉ) cho khối lượng kiến thức đó [39]
Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa niên chế và HCTC có ảnh hưởng đến QTDH theo HCTC
1.3.2.2 Cách tổ chức tích lũy khối lượng kiến thức theo HCTC
Lớp học tổ chức theo môn học/học phần SV đăng ký học các môn học/học phần vào đầu mỗi học kỳ sao cho phù hợp với năng lực, hoàn cảnh của mình và đảm bảo quy định chung (môn học chưa học, thuộc chuyên ngành đang học, thỏa mãn điều kiện tiên quyết, không trùng lịch học…) nhằm đạt được kiến thức theo một chuyên môn chính với quy định các môn học tối thiểu phải tích luỹ cho việc đạt một văn bằng nào đó Lớp học được hình thành bởi số các sinh viên chọn học môn
học đó tại thời điểm đó, tổ chức lớp học như vậy gọi là lớp môn học Lớp môn học
không cố định mà thay đổi theo từng học kỳ
Đây là một sự thay đổi lớn so với học chế niên chế vì theo học chế niên chế, sinh
viên khi nhập học được xếp vào các lớp học cố định - lớp khoá học, kéo dài suốt cả khóa
học cho đến khi tốt nghiệp, SV không có quyền lựa chọn tiến độ của mình
Trang 35Xếp năm học cho sinh viên:
Sau mỗi học kỳ, khối lượng tín chỉ tích lũy được dùng như là các điểm quy chiếu để các trường ĐH định ra cấp độ học tập của SV và xếp họ tương ứng với các năm học Một chương trình ĐH gồm 120 - 140 tín chỉ có thể được xếp như sau: Trình độ năm thứ nhất: Tích lũy được < 30 tín chỉ;
Trình độ năm thứ hai: Tích lũy được từ 30 tín chỉ đến < 60 tín chỉ;
Trình độ năm thứ ba: Tích lũy được từ 60 tín chỉ đến < 90 tín chỉ;
Trình độ năm thứ tư: Tích lũy được từ 90 tín chỉ trở lên
Đặc điểm này đã tạo điều kiện cho sinh viên chủ động tiến trình học tập của mình để dẫn đến văn bằng tốt nghiệp bằng con đường hợp lý nhất Chẳng hạn sau hai năm học, có những sinh viên tích lũy được 50 tín chỉ - xếp vào trình độ năm thứ hai, nhưng cũng có những sinh viên tích cực học tập đã tích lũy được 90 tín chỉ và được xếp vào trình độ năm thứ tư
Như vậy, cách tính khối lượng kiến thức tích lũy và cách tổ chức tích lũy kiến
thức là hai đặc điểm đặc trưng nhất của HCTC ảnh hưởng đến QTDH theo học chế
này, thể hiện một triết lý giáo dục Lấy việc học làm chính Ngoài ra, học chế này
còn có các đặc điểm khác như: Đặc điểm về chương trình ĐT mềm dẻo; SV có thể lựa chọn môn học, giảng viên và tiến trình học phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình…
1.3.2.3 Yêu cầu của việc tổ chức dạy và học theo HCTC
Tổ chức các học kỳ liên tục trong một năm, thường tổ chức thêm học kỳ hè tạo điều kiện cho sinh viên tận dụng tối đa thời gian học
Qui định khối lượng kiến thức phải tích luỹ theo từng loại văn bằng và xếp năm học cho sinh viên theo khối lượng kiến thức đã tích lũy
Không coi thi tốt nghiệp và bảo vệ khoá luận tốt nghiệp như là điều kiện bắt buộc khi tốt nghiệp chương trình ĐH
Quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức theo học phần Học phần nào đã tích lũy được thì không cần thiết phải thi lại Sinh viên cuối khóa có thể làm khóa luận, đồ án
tốt nghiệp (được xem như một học phần với một số tín chỉ qui định) hoặc thi một số học phần chuyên môn (có nội dung kiến thức tổng hợp, nâng cao, cập nhật …)
Trang 36 Chỉ có một văn bằng chính quy với hai loại hình đào tạo tập trung và không tập
trung vì quy trình tích luỹ kiến thức không phụ thuộc vào hình thức đào tạo
HCTC đánh giá kết quả học của SV qua khối lượng tín chỉ tích lũy được theo yêu cầu của chương trình mà không phân biệt hình thức học Do đó không có văn bằng riêng cho mỗi loại hình đào tạo Điều này đòi hỏi khâu KT-ĐG phải thực hiện nghiêm túc, chính xác để đo lường đúng khối lượng kiến thức của SV, giúp cho việc cấp văn bằng tốt nghiệp đảm bảo chất lượng Luật GD 2005 đã xác định chỉ có một loại văn bằng cho cả hệ chính qui và hệ vừa học vừa làm [88] Nếu triển khai triệt
để HCTC thì quy định này dễ dàng hiện thực hoá
Những đặc điểm nêu trên đặt lên vai người quản lý đào tạo những thách thức nhất định trong việc tổ chức QTDH đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học
1.3.3 Ưu điểm của HCTC và việc phát huy các ưu điểm đó khi tổ chức triển khai dạy và học theo tín chỉ
Có thể nêu lên một số ưu điểm của HCTC cần được phát huy trong quá trình triển khai như sau:
Tính linh hoạt
HCTC thể hiện tính linh hoạt đặc biệt trong thực tiễn khi áp dụng tại nhiều
loại trường khác nhau trong các môi trường dạy học khác nhau Bản chất của “hệ
thống các môn học tự chọn” đảm bảo tính linh hoạt của HCTC qua hơn một thế kỷ
nay, nó tiếp tục tồn tại và không thể phủ nhận trong hệ thống giáo dục của tương lai
Với các trường đại học, HCTC góp phần thực hiện được triết lí “lấy người
học làm trung tâm” khi triển khai quá trình đào tạo
HCTC thích hợp với nền GDĐH đại chúng, mang lại hiệu quả đào tạo cao QTDH này cho phép các trường tổ chức giảng dạy những môn học chung, đặc biệt là những giờ lý thuyết cho SV nhiều khoa, nhiều trường Do đó, GV có thể dạy được một
số đông SV, đồng thời một số đông SV được học với các GV giỏi và trong điều kiện CSVC tốt Khi đó, cũng có thể tổ chức những kỳ thi kết thúc học phần chung
Khi triển khai QTDH theo HCTC, các trường cần:
- Bổ sung, cơ cấu chương trình dạy học, ngành học khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động
Trang 37- Khối lượng và phương pháp giảng dạy, học tập của giảng viên và sinh viên cần được điều chỉnh cho phù hợp với tư tưởng của đào tạo theo tín chỉ Giảm số giờ lên lớp không phải là cắt giảm khối lượng kiến thức môn học Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, khối lượng giảng dạy và PPDH cần phải tích cực đổi mới theo hướng tận dụng các giờ lên lớp để hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho việc tự học và giải đáp mọi thắc mắc của người học, giúp đỡ họ giải quyết khó khăn khi tiến hành tự tích luỹ nội dung dạy học theo yêu cầu của môn học
- Cải tiến phương thức kiểm tra để đánh giá kết quả học tập theo hướng đánh giá tiến trình kết hợp với đánh giá tổng kết
- Tận dụng những lợi ích về liên thông trong đào tạo theo HCTC HCTC cung cấp cho các trường ĐH một ngôn ngữ chung trong việc công nhận kết quả học tập hướng tới quá trình hội nhập và quốc tế hoá trong GDĐH; Tăng cường tính liên thông giữa các bậc đào tạo, ngành đào tạo và giữa các hệ đào tạo Điều này làm cho
hệ thống GDĐH tăng tính mềm dẻo và hội nhập trong phát triển
- Nâng cao mối liên hệ, liên kết để tạo liên thông giữa các trường khác nhau trong cùng một khối ngành; Phát triển các chương trình hợp tác giữa các khoa trong cùng một trường hay giữa các trường với nhau: trao đổi giảng viên, sinh viên, các đề tài nghiên cứu, sử dụng tối ưu giáo chức có trình độ và tận dụng triệt để nguồn cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
- Tăng cường tính hấp dẫn đối với sinh viên do triết lý giáo dục của HCTC hướng tới vai trò trung tâm của người học, lấy nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích của người học làm trung tâm của hoạt động nhà trường
- Một lợi thế của quá trình đào tạo này cần được các trường khai thác đó là việc sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình đào tạo, hiện có khá nhiều phần mềm quản
lý đào tạo theo tín chỉ để tăng độ linh hoạt, tính chính xác để triển khai quá trình đào tạo theo tín chỉ
Với sinh viên, QTDH theo HCTC tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người học trong việc chủ động tích lũy kiến thức
HCTC mang lại cho SV nhiều lợi thế và đảm bảo triết lý của GDĐH trong giai đoạn hiện nay là tôn trọng sinh viên, phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của sinh viên Để làm được điều này các trường cần:
Trang 38- Cơ cấu khoá học được thể hiện tường minh trong sổ tay hướng dẫn SV và trong đề
cương của từng môn học Sau khi đăng ký khóa học, mỗi SV được mở một “tài
khoản” (“thùng đựng tín chỉ” - “credit basket”) Tài khoản này sẽ được lấp dần
bằng các tín chỉ của các môn học theo yêu cầu của toàn khóa Kết thúc khóa học, khi đã tích lũy được một số lượng tín chỉ nhất định, SV sẽ nhận được bằng tốt nghiệp cùng với bảng điểm ghi đầy đủ số môn học và số tín chỉ của từng môn đã tích lũy được, ngoài ra còn các giấy chứng nhận đã tham gia các công trình nghiên cứu hay các dự án
- Chương trình học linh hoạt và mềm dẻo bao gồm một hệ thống các môn học thuộc khối kiến thức chung, các môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, các môn học thuộc khối kiến thức cận chuyên ngành Mỗi khối kiến thức đều có các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn Do đó, SV có thể chủ động lựa chọn các môn học phù hợp nhất với mình về thể lực, năng lực, thời gian và nghề nghiệp trong tương lai Từ đó thiết kế kế hoạch học tập cho mình một cách hiệu quả nhất
- Phát huy tối đa năng lực cá nhân của SV Theo phương thức đào tạo truyền thống, chương trình tập trung vào việc truyền thụ một khối lượng lớn kiến thức cho SV mà chưa quan tâm thích đáng việc phát huy khả năng tự học, tự tìm tòi và phát triển tri thức của họ Trong HCTC, hoạt động tự học, tự nghiên cứu của SV được coi trọng
và được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình đào tạo Từ đó, tính chủ động sáng tạo của người học được phát huy một cách đáng kể
- Tăng cường khả năng chuyển đổi, liên thông giữa các trình độ đào tạo, ngành nghề đào tạo, giữa các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước Khi mở rộng sự liên thông, nhiều trường ĐH công nhận kết quả học tập của nhau Điều này giúp cho SV dễ dàng di chuyển từ trường ĐH này sang trường ĐH khác mà vẫn tiếp tục được quá trình học tập của mình
- Tiết kiệm thời gian và chi phí học tập do kết quả học tập của SV được tính theo từng học phần chứ không theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị buộc phải quay lại học từ đầu
- HCTC ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức và kỹ năng để dẫn đến văn bằng của SV Do vậy họ có thể hoàn thành các tín chỉ và nhận bằng tốt nghiệp trước hoặc sau thời hạn theo quy định sao cho phù hợp với điều kiện của bản thân
Trang 39Như vậy, phương thức đào tạo theo tín chỉ có nhiều ưu điểm đối với các
trường ĐH, GV, SV và các nhà quản lý giáo dục Trong phương thức đào tạo này, khối lượng và thời gian làm việc của GV, khả năng học tập của SV đều được định lượng một cách tường minh Đó là cơ sở để các trường ĐH tính toán ngân sách chi tiêu, nguồn nhân lực, vật lực của nhà trường khi có số lượng sinh viên đăng ký học
1.3.4 Một vài nhược điểm cần lưu ý khi triển khai QTDH theo HCTC
Những luồng quan điểm chưa tán thành với phương thức đào tạo theo tín chỉ tập trung vào vấn đề được cho là nhược điểm của học chế này, đó là:
Tính khó quản lý
Luồng quan điểm này vẫn công nhận hệ thống các khái niệm tín chỉ, phạm vi đánh giá của tín chỉ: khối lượng giảng dạy, khối lượng học tập, mức độ tích lũy kiến thức, cơ sở cân đối chi phí như đã đề cập ở phần trên Tuy nhiên, quan điểm này cho rằng hệ thống khó quản lý do sự đa dạng của đối tượng sinh viên, linh hoạt của chương trình dạy học Các hoạt động tự học khó có thể được đánh giá theo một chuẩn mực nhất quán do không thể đo lường được thời lượng giờ tự học
Mặt khác, học chế này có thể gây khó khăn cho người quản lý đào tạo khi sự nhập học và ra trường không đồng loạt làm cho công việc của họ khó “kế hoạch hóa” nếu không có sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin
Sự cắt vụn kiến thức
Phần lớn các mônđun trong HCTC được quy định tương đối nhỏ, khoảng 2-4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức thật sự đầy đủ theo một trình tự diễn biến liên tục, gây ấn tượng kiến thức bị cắt vụn Thực ra khó khăn này gây ra bởi nhà trường chưa có điều kiện chuẩn hoá môn học - môđun và nếu coi việc triển khai các môđun là triển khai “một khoa học” sẽ tích hợp các môn học thành môđun đủ lớn thì quan điểm này sẽ được khai thông Tuy nhiên để giải quyết vấn đề này đòi hỏi sự chỉ đạo của các nhà quản lý trong việc cấu trúc lại chương trình đào tạo theo đúng tư tưởng môđun hoá [96]
Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên
Việc tổ chức các lớp học phần không ổn định, chỉ kéo dài trong một kỳ, khi sang học kỳ mới lại hình thành các lớp học phần mới Mỗi sinh viên có thể tham gia
Trang 40nhiều lớp học phần khác nhau Do vậy, khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp học theo niên chế, việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của sinh viên gặp
những khó khăn Quan điểm phê phán HCTC đã cho rằng “HCTC khuyến khích chủ
nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng” Vấn đề này đòi hỏi nhà quản lý
phải chỉ đạo các tổ chức đoàn thể thay đổi cách tổ chức sinh hoạt đoàn, hội của sinh viên khi triển khai QTDH theo tín chỉ
Như vậy, các đặc điểm của HCTC cũng như các ưu điểm và nhược điểm của
phương thức đào tạo này đặt ra những yêu cầu nhất định đối với QTDH Những người tham gia quản lý đào tạo cần nghiên cứu, nhận thức và lưu ý trong khi chỉ đạo triển khai nhằm thực hiện đúng các đặc điểm, phát huy những yếu tố tích cực, khắc phục những yếu tố không tích cực của QTDH theo HCTC
1.4 Quản lý quá trình dạy và học theo học chế tín chỉ
Do có những đặc điểm của HCTC như nêu trên, kết hợp với tiếp cận dạy học lấy người học làm trung tâm - một yêu cầu bắt buộc phải triển khai trong dạy và học theo HCTC, luận án sẽ làm rõ những đặc điểm chung và đặc biệt quan tâm đến yếu
tố đặc thù trong lý luận về quản lý QTDH theo HCTC
1.4.1 Đặc điểm của quản lý quá trình dạy và học theo học chế tín chỉ
Quản lý QTDH dù trong phương thức đào tạo nào cũng phải bám sát các giai
đoạn của quá trình này, đó là: Quản lý giai đoạn chuẩn bị bao gồm việc xác định
mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương thức tổ chức dạy học và việc dự kiến các hoạt động của thầy và trò trên lớp cũng như dự kiến các phương thức kiểm tra - đánh giá
kết quả của người học ; Quản lý giai đoạn triển khai trên thực tế những điều đã
chuẩn bị đó là hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò nhằm chiếm lĩnh
được nội dung dạy học, thực hiện mục tiêu dạy học đã đề ra Kiểm tra mức độ thực
hiện các nội dung kế hoạch và mục tiêu đã đề ra cho QTDH Tuy nhiên, quản lý
QTDH theo HCTC có những đặc điểm cần quan tâm khi ra các quyết định quản lý như sau:
* Thứ nhất, phải chỉ đạo việc thực hiện đúng các đặc điểm của giờ tín chỉ:
- Một giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết (50 phút) giảng viên giảng lý thuyết và 2 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở nhà