Sân khấu với những hình ảnh bi hài bằng thủ pháp kết hợp ước lệ và tả thực cuộc đua xe rợn người đã gửi thông điệp về an toàn giao thông - văn hóa giao thông đến với tất cả mọi người, hi
Trang 1Những con tàu thô sơ, nhỏ bé, chở nặng
vũ khí đã bí mật, bất ngờ, mưu trí, sáng
tạo, dũng cảm vượt qua mọi sóng to, gió
lớn, bão táp của biển cả, vượt qua sự ngăn chặn,
bao vây, lùng sục của lực lượng hải quân, không
quân hùng hậu với hệ thống quan sát, cảnh giới
từ xa và vũ khí hiện đại của Mỹ, ngụy để đi
đến các chiến trường Mỗi chuyến đi là mỗi lần
quyết tử, một cuộc đấu trí căng thẳng, vừa bình
tĩnh mưu trí, quả cảm đánh lừa địch để đến đích
an toàn, vừa sẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hy
sinh, nhiều khi phải phá hủy cả con tàu để bảo vệ
bí mật đường vận chuyển Địch ngăn chặn tuyến
này, bến này, ta mở ra tuyến khác, bến khác Địch
phát hiện ra cách thức vận chuyển này, ta tìm ra
phương thức vận chuyển khác Hàng trăm lượt
tầu đã ra khơi, về đích; hàng ngàn tấn vũ khí, khí
tài, hàng hóa, thuốc chữa bệnh, hàng chục ngàn
cán bộ chiến sỹ đã từ hậu phương lớn được đưa
vào tiền tuyến lớn, đáp ứng kịp thời cho các chiến
trường Nam bộ, Nam Trung bộ, Khu 5, góp phần
cùng quân và dân ta đánh thắng mọi chiến lược
chiến tranh của kẻ địch, đưa cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta đến
thắng lợi hoàn toàn
Năm tháng sẽ qua đi, nhưng Đường Hồ Chí
Minh trên biển mãi mãi là niềm tự hào của quân
đội ta, nhân dân ta, là biểu tượng sáng ngời của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của trí thông
minh, lòng dũng cảm, ý chí sắt đá, quyết tâm
giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước của
dân tộc ta
Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện quyết
tâm, ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do",
khát vọng cháy bỏng dù có phải đốt cháy dãy
Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập,
tự do, thống nhất của dân tộc ta, không một khó
khăn, trở ngại nào, không một kẻ thù nào có thể
ngăn cản được Đó cũng là biểu hiện sáng ngời
của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân
ta, đặc biệt là của cán bộ, chiến sỹ Đoàn 759, Đoàn
125, Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng, ròng
rã 14 năm đã bền bỉ, mưu trí dũng cảm, sẵn sàng
Tổ quốc mãi mãi ghi công, đời đời ghi nhớ những
hy sinh cao cả của các đồng chí và biết bao đồng bào, chiến sỹ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự
do, thống nhất đất nước
Đường Hồ Chí Minh trên biển còn là biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết quân - dân thắm thiết, sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa những con tàu không số với nhân dân những vùng bến, bãi nơi có con tàu đến Sự chở che, chăm sóc nuôi dưỡng với tình cảm yêu thương sâu sắc của nhân dân các địa phương với cán bộ, chiến sỹ tàu không số, tiếp thêm nghị lực, sức mạnh cho các chiến sĩ trong cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, ác liệt…Kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển, tự hào về những chiến công oanh liệt, truyền thống vẻ vang của nhân dân ta, quân đội ta, chúng ta quyết gìn giữ và phát huy mạnh mẽ truyền thống đó trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới Hào khí của dân tộc, vận hội mới của đất nước thôi thúc chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nỗ lực phấn đấu, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với những công lao to lớn, khát vọng cháy bỏng và sự hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước, viết tiếp trang sử vàng vẻ vang, hào hùng của dân tộc
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đặt vịng hoa và thắp hương tưởng niệm tại Tượng đài K15 ở Đồ Sơn, nơi con tàu đầu tiên của đồn tàu khơng số xuất hành chở vũ khí vào chiến trường miền Nam
Đường Hồ Chí Minh trên biển
mãi mãi là niềm tự hào
CHỦ TỊCH NƯỚC
TRƯƠNG TẤN SANG
Trang 2Tạp chí xuất bản 02 kỳ/tháng
Kỳ chính ra ngày 25 hàng tháng
Kỳ chuyên đề Văn hóa - Kinh tế ra ngày 15
Giấy phép hoạt động báo chí số 397/GP-BVHTT;
Văn phòng Ban chuyên đề
Số 6 - lô 12 B Trung Yên - Trung Hòa - Hà Nội
ĐT/Fax: 04.37831962
Cơ quan đại diện tại TP.HCM
288B, An Dương Vương, Quận 5, TP.HCM
NB Nguyễn Hoàng Mai
Giám đốc cơ quan đại diện tại TP.HCM
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm hỏi
đồng bào dân tộc Jrai ở xã Ia Phí, Chư Păh, Gia Lai
4 Chủ tịch Quốc hội với đồng bào
Tây Nguyên
PHƯƠNG ANH
6 Chương trình nghệ thuật vì cuộc sống
NGỌC ANH
10 Thơ Việt và nhân cách Việt
NGUYỄN KHOA ĐIỀM
40 Nhà viết kịch của những tìm tòi và
cách tân táo bạo
56 Cựu chiến binh đoàn tàu không số và
thiên đường trên biển
TRƯƠNG HOÀNG
60 Đặc sắc đám cưới người Pà Thẻn ở Hà
Giang
NGUYỄN ĐẮC THỤ
62 Hiệu quả từ hội thi Tìm hiểu Luật An
toàn giao thông cho học sinh
LÊ BÁ LIỄU
64 Đại hội Sân khấu Thế giới ITI lần thứ 33
“Nâng cao năng lực nghệ thuật trình diễn”
LÊ TIẾN THỌ
66 Bắc đẩu bội tinh cho người phụ nữ của
chiến tranh và hòa bình
HOÀI HƯƠNG
69 Người Mỹ cũng thích nghe hát Xẩm
MAI TUYẾT HOA
Trang 3C ontents
NOVEMBER - 2011
4 Chairman of the National Assembly with
fellow-citizens in Tay Nguyen
14 Vietnamese play from tradition to modern
NGUYEN DINH NGHI
18 Secret of a Hanoi writer
26 La Hoi - The Lu: A lucky encounter in “Spring
and The Young”
NGUYEN VAN THANH
42 Let ‘s paint like we do not paint!
LE DAI CHUC
46 The unaffected looking at bright side and
dark side of traffic culture in the life
48 Crying woman ‘s heart
LE THI BICH HONG
52 A magnanimous song of my country
NGUYEN DAC THU
62 Effect of Festival of competition to study
about secure traffic law for pupils
LE BA LIEU
64 Festival of World Stage ITI in the 33rd time:
To raise ability to playing art
Trang 4Tại Đăk Lăk, Chủ tịch Quốc hội đã đến thăm
buôn Đung, xã Ea Khal, huyện Ea H’Leo,
nơi chủ yếu là đồng bào dân tộc Ê Đê sinh
sống Liên tục nhiều năm gần đây, bà con buôn
Đung đã đoàn kết cùng nhau xây dựng cuộc sống,
mở rộng diện tích trồng cà phê, cao su nên cuộc
sống ngày càng ổn định và phát triển Đường làng
ngõ xóm được trải nhựa, bê tông hóa hoàn toàn
Tại nhà sinh hoạt cộng đồng buôn Đung, Chủ tịch
Nguyễn Sinh Hùng đã gặp gỡ, nói chuyện thân
mật với bà con, thăm hỏi ân cần về sản xuất và đời
sống Từ thực tế ở buôn Đung, xã Ea Khal, Chủ
tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị chính
quyền huyện EaH’leo và tỉnh Đắk Lắk rút kinh
nghiệm để nhân ra diện rộng Trước mắt, phải
có kế hoạch cụ thể để khai thác tốt các mục tiêu, chương trình, dự án trên địa bàn đã có Chủ tịch căn dặn bà con phát huy tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ và quan tâm, động viên con cháu cố gắng học tập để có tri thức xây dựng cuộc sống, quê hương ngày càng ấm no, hạnh phúc Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã tặng ảnh Bác Hồ cho UBND xã Ea Khal, tặng 2 chiếc tivi cho 2 buôn Đung A, Đung
B và quà cho 9 gia đình chính sách; tặng quà gia đình già làng Y Tơm Êban ở buôn Đung A.Tại Gia Lai, Chủ tịch Quốc hội đã thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, hộ nghèo dân tộc Bahnar tại xã Adơk, huyện Đăk Đoa, tiếp xúc cử tri đồng bào dân tộc Jrai tại xã Ia Phí, huyện Chư Păh (Gia Lai) Chủ tịch Quốc hội đã tới thăm nơi ăn, ở của bà con, động viên đồng bào tích cực học văn hoá, học nghề để có nhiều sự lựa chọn nghề nghiệp, mở rộng sản xuất Hài lòng vì bà con Jrai xã Ia Phí đoàn kết xây dựng đời sống mới, chất lượng cuộc sống được cải thiện, Chủ tịch Quốc hội cho rằng, mặc dù đã có những kết quả ban đầu nhưng Ia Phí vẫn còn nhiều hộ nghèo, trình độ văn hoá còn thấp so với mặt bằng chung Chủ tịch Quốc hội đề nghị chính quyền địa phương huyện Chư Păh, các doanh nghiệp có sử dụng lao động trên địa bàn quan tâm nhiều hơn nữa đến việc đầu
tư mở trường, lớp cho nhân dân, người lao động nâng cao trình độ, cải tiến năng suất, chất lượng sản phẩm
Chủ tịch Quốc hội
với đồng bào
Tây Nguyên
PHƯƠNG ANH
Trung tuần tháng 10 vừa qua, Chủ tịch Quốc
hội Nguyễn Sinh Hùng đã thăm, kiểm tra tình hình
thực hiện chính sách dân tộc, chính sách xóa đói
giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng
thời tiếp xúc cử tri đồng bào dân tộc tại hai tỉnh
Đăk Lăk và Gia Lai Chuyến công tác của Chủ tịch
Nguyễn Sinh Hùng đã để lại ấn tượng khó quên về
sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước với đồng
bào các dân tộc Tây Nguyên.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm và làm việc tại tỉnh Gia Lai
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đến thăm già làng Y Tơm Êban
ở buơn Đung A
Trang 5Làm việc với lãnh đạo chủ chốt hai tỉnh Đăk
Lăk và Gia Lai, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh
Hùng nêu rõ, để phát triển, Tây Nguyên cần khai
thác tiềm năng, thế mạnh của vùng, đặc biệt là
nguồn lao động trẻ, dồi dào Muốn làm được điều
này, biện pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường
đầu tư cho giáo dục, đào tạo tay nghề, văn hoá,
nâng cao dân trí để cải thiện chất lượng lao động
Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao nỗ lực của cấp
uỷ, chính quyền các tỉnh Tây Nguyên nói chung
đã duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội cao,
xoá đói giảm nghèo có hiệu quả và giữ vững an
ninh quốc phòng
Nhấn mạnh đến những khó khăn, trở ngại ảnh
hưởng đến công tác xóa đói giảm nghèo đối với
đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, Chủ tịch
Nguyễn Sinh Hùng cho rằng trình độ học vấn còn
bất cập, công tác đào tạo nghề, nâng cao trình độ
cho đồng bào còn thiếu và yếu là nguyên nhân
chính cản trở việc thực hiện giải pháp thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế-xã hội trên vùng Tây Nguyên
Bên cạnh đó, tỷ lệ đói nghèo trong đồng bào
còn cao, đầu tư cơ sở hạ tầng yếu kém; đời sống
vật chất và tinh thần của đồng bào hạn chế, an
ninh trật tự còn tiềm ẩn phức tạp; tỷ lệ Đảng
viên trong đồng bào dân tộc thiểu số thấp cũng
là những vấn đề cụ thể được Chủ tịch Quốc hội
đề nghị các ban, ngành liên quan và địa phương
phân tích, làm rõ và xây dựng giải pháp tháo gỡ
Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, Tây
Nguyên sẽ là điểm đầu tư hấp dẫn nếu có cơ chế,
chính sách tốt và quy hoạch tốt Để phát triển
kinh tế – xã hội của vùng Tây Nguyên, lãnh đạo
các địa phương ở đây cần phân tích, đánh giá sâu
sắc những thuận lợi, khó khăn của địa phương,
của khu vực; thường xuyên cập nhật tình hình
để tìm ra những giải pháp phù hợp, chủ động đề
xuất với Trung ương các giải pháp chính sách để phát huy được nội lực, đồng thời khai thác được ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và khu vực Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng ghi nhận các kiến nghị của tỉnh Cùng với việc nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện các chính sách dân tộc hiện hành, có thể Quốc hội sẽ ban hành một Nghị quyết về chính sách dân tộc để thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tin rằng, quán triệt sâu sắc chỉ đạo của Bộ Chính trị, khẩn trương hoàn thiện các quy hoạch phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, quy hoạch đất, đẩy mạnh công tác giáo dục đào tạo, xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc vươn lên làm giàu trên chính quê hương mình, nhất định Đăk Lăk, Gia Lai và toàn vùng Tây Nguyên sẽ trở thành cụm kinh tế phát triển quan trọng của đất nước
Chuyến vi hành của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đến với Đăk Lăk, Gia Lai đã tạo nên sự phấn khởi và niềm tin lớn trong cán bộ chiến sĩ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng với thiếu nhi huyện Đắk Đoa, Gia Lai Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng với thanh niên dân tộc Ê Đê, Đăk Lăk
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tặng ảnh Bác Hồ cho xã Ea Khal
Trang 6Đêm diễn nghệ thuật đặc sắc “Văn hóa
giao thông” có sự hiện diện của đồng chí
Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính
trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban
An toàn Giao thông Quốc gia, đồng chí Phan
Diễn, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực
Ban Bí thư TW Đảng, đồng chí Đinh La Thăng,
Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận
tải, Phó Chủ tịch Ủy ban An toàn Giao thông
Quốc gia, đồng chí Thân Văn Thanh, Chánh Văn
phòng Ủy ban ATGTQG, cùng đông đảo các nhà
khoa học, văn nghệ sĩ và công chúng Thủ đô
Chưa bao giờ Nhà hát Hồng Hà chật kín như
hôm nay
Mở đầu chương trình, GS Hoàng Chương, Chủ nhiệm Dự án văn hoá giao thông đã báo cáo cho các vị lãnh đạo Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia và khán giả biết trong hai năm qua (2010 - 2011) Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hoá dân tộc VN đã tổ chức các hoạt động hội thảo về Văn hóa Giao thông tại nhiều tỉnh, thành phố, các chương trình sáng tác và biểu diễn nghệ thuật về Văn hóa giao thông nhằm góp phần làm cho văn hoá giao thông thâm nhập sâu vào đời sống cộng đồng, tạo nên ý thức tự giác chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông, góp phần tạo
ra nếp sống văn hoá văn minh cao trong tham gia giao thông của cộng đồng
Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc (trái) - Ủy viên Bộ Chính trị, Phĩ Thủ tướng Chính phủ và Giáo sư Hồng Chương - Tổng Giám đốc Trung tâm NCBT&PHVHDT tại buổi biểu diễn nghệ thuật
Trang 7Chương trình nghệ thuật tối 17/10/2010 gồm
5 tiết mục ca nhạc và 3 bi hài kịch ngắn về đề tài
văn hóa giao thông Ca khúc “Nỗi đau vấn nạn
giao thông” của nhạc sĩ Phạm Việt Long do ca
sĩ Hiền Anh thể hiện gây ấn tượng sâu sắc bởi
qua giai điệu da diết, nói lên được nỗi đau của
những người có người thân bị tai nạn giao thông,
kêu gọi mọi người hãy vì sự bình an của cuộc
sống mà tôn trọng luật lệ giao thông Ca khúc
“Đèn đỏ thì dừng, đèn xanh mới đi” của PGS.TS
Nguyễn Lân Cường do bé Linh Chi (8 tuổi) thể
hiện với giọng hát trong sáng đầy sức cuốn hút đã gửi gắm tiếng nói của trẻ thơ nhắc nhở một cách ngộ nghĩnh người lớn hãy đi đúng luật lệ, nếu không sẽ không được phiếu bé ngoan Hai bài hát xẩm “Văn hóa giao thông là đời” sáng tác của Nguyễn Thế Kỷ và “Em cười văn hoá giao thông” của Trần Tấn Ngô do hai nhạc sĩ Mai Tuyết Hoa và Quang Long thể hiện với những thanh âm bổng trầm trong tiếng đàn nhị réo rắt đã tạo được những xúc động đặc biệt đối với khán giả
Đồng chí Đinh La Thăng (giữa) - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thơng Vận tải và Giáo sư Hồng Chương - Tổng
Giám đốc Trung tâm NCBT&PHVHDT tặng hoa cho các nghệ sĩ
Trang 8Chùm bi hài kịch gồm 3 vở kịch ngắn “Khúc
quân hành ngày ấy”, “Cái giá phải trả”, “Đồng
lòng mới xong” do các nghệ sĩ Nhà hát Tuổi trẻ
trình diễn dưới sự chỉ đạo của NSND Lê Hùng
là những chuyện đời cười ra nước mắt khi con
người cố tình vi phạm luật lệ giao thông, tự gây
nên những thảm cảnh cho gia đình và bản thân
mình
Với tiểu phẩm “Khúc quân hành ngày ấy”,
sân khấu mở ra với quang cảnh một buổi sinh
hoạt của tổ hưu trí phường Các cụ tổ hưu bỗng
xôn xao khi bắt được một cậu “choai choai”
phóng nhanh, vượt ẩu gây ra tai nạn dẫn đến
chết người Mọi người đã nghĩ ra nhiều cách để
“phạt” cậu thanh niên Kịch tính đẩy lên cao trào
khi có người nhận ra cậu chính là con trai của
ông Chủ tịch quận Vậy là từ thân phận tội phạm,
cậu thanh niên đã được các cụ tổ hưu quan tâm,
thăm hỏi ân cần, chu đáo, vì nếu không trụ sở
của tổ hưu sẽ bị thu hồi Thái độ bướng bỉnh,
ương ngạnh, không biết ăn năn, hối cải của cậu
thanh niên đó chỉ được thức tỉnh khi cha mẹ cậu
Tốp ca nam nữ “Con đường Việt Nam “
Trang 9xuất hiện và cho biết người bị tai nạn chính là em
họ cậu Một cử chỉ đúng mực của vị quận trưởng
được người xem đồng tình khi ông quyết định từ
chức vì không làm tròn trách nhiệm giáo dục con
cái mình Và luật pháp không dung thứ người có
tội, trong sự ăn năn muộn mằn, cậu thanh niên
nọ đã phải cúi đầu nhận tội trong âm thanh của
bản hùng ca của các cụ tổ hưu Hài kịch “Cái giá
phải trả” lại là câu chuyện đau lòng xoay quanh
nạn đinh tặc Trong khi cô con gái trong tà áo dài
duyên dáng đọc lại bài thơ “Tiếng chổi tre” ca ngợi
những người làm đẹp cho đường phố chuẩn bị
cho cuộc thi “Người đẹp giao thông” thì chỉ vì lợi
nhuận trước mắt, ông bố đã thuê người rải đinh
dọc đường cao tốc để “găm” lốp xe của bao người
và nhận dịch vụ sửa xe lưu động với giá “cắt cổ”
Gieo gió ắt gặt bão, người bố cũng không thể ngờ
nạn nhân của nạn “đinh tặc” do ông và đồng bọn
gây ra lại chính là cô con gái cưng vừa đạt giải
“Người đẹp giao thông” đã bị tai nạn giao thông
do đinh găm vào lốp khi đang đi xe máy về báo
tin vui cùng gia đình Kịch ngắn “Đồng lòng mới
xong” là câu chuyện về nạn đua xe của lớp trẻ
hiện nay với những hệ lụy khôn lường là bài học
cảnh tỉnh về cách giáo dục con cái trong các gia đình và xã hội Sân khấu với những hình ảnh bi hài bằng thủ pháp kết hợp ước lệ và tả thực cuộc đua xe rợn người đã gửi thông điệp về an toàn giao thông - văn hóa giao thông đến với tất cả mọi người, hi vọng mọi người khi tham gia giao thông phải có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, góp phần làm giảm tỉ lệ tai nạn giao thông, xây dựng nét đẹp của con người tham gia giao thông và từ đó, cùng các hoạt động khác tạo nên một xã hội tốt đẹp
Hiện nay, sự lộn xộn, ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn, tai nạn giao thông có chiều hướng gia tăng gây thiệt hại to lớn về người và của đã tạo nên nhiều bức xúc, phản ứng mạnh mẽ trong xã hội Khắc phục tình trạng này, việc tuyên truyền văn hóa giao thông trong cộng đồng thông qua các phương tiện nghệ thuật có ý nghĩa rất quan trọng Chương trình Nghệ thuật “Văn hóa giao thông” đã mang tới cho khán giả những nhận thức đúng đắn, cảm xúc sâu sắc, những tiếng cười thoải mái mà đầy tính giáo dục về an toàn giao thông Đây thực sự là chương trình nghệ thuật vì cuộc sống, rất thiết thực trong cộng đồng hôm nay
Kịch ngắn“Đồng lịng mới xong”
Trang 10Thơ V iệt
và nhân cách Việt
NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Tại Hội thảo Thơ miền Trung tổ chức tại Thanh Hóa vừa qua, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã có tham luận “Lạm bàn về thơ Việt hôm nay” VHVN xin trân trọng giới thiệu bài tham luận rất được hoan nghênh trên với tựa đề do tòa soạn đặt
1 Các nhà sử học hiện đại thường coi lịch sử dân tộc là lịch sử của lòng yêu
nước và xem đó là “sợi chỉ đỏ” của hành trình dân tộc Trong chừng mực nhất định, quan niệm đó không khỏi đơn giản hóa lịch sử, đã và sẽ đẻ ra nhiều hậu quả chưa lường được
Đành rằng chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc có ý nghĩa to lớn trong dựng nước và giữ nước Tuy nhiên trong hàng ngàn, hàng vạn năm không có chiến tranh, trận mạc, lúc đó lòng yêu nước trở thành “viên ngọc quý, được cất giữ trong rương trong hòm”, thì cái mà người Việt vẫn dựa vào để tồn tại vững vàng qua mỗi ngày lại là nhân cách Việt Đó là tất cả những giá trị giúp con người tồn tại như một nhân cách xứng đáng, trong khuôn khổ cộng đồng Việt, tạm gọi là nhân cách Việt Theo tôi, nghĩa vụ của sử học, văn hóa học, văn học là làm sáng tỏ nhân cách Việt qua hàng ngàn năm lịch sử và văn hiến nước nhà, như chúng ta từng giải mã chủ nghĩa yêu nước dân tộc Theo nghĩa đó, có thể xem truyện Trạng Quỳnh là biểu tượng về nhân cách Việt, hơn là tinh thần phản phong và chống ngoại xâm như ta thường giải thích Và “Hịch tướng sĩ văn” của Trần Hưng Đạo là lời nhắc nhở, cổ vũ cho nhân cách Việt của một nhà quân sự đồng thời là một nhà chính trị tài ba đã làm bật lên sức mạnh người Việt Chính sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước và nhân cách Việt ở đời Trần đã đem lại cho quân dân ta sĩ khí có một không hai, đầy dũng mãnh mà mưu lược, gan góc mà lạc quan, lúc hiểm nguy vẫn ung dung bền chí Không có thời nào nhiều tấm gương đẹp về nhân cách như thời đó
Trang 11Nhớ lại những năm 30 của thế kỷ trước, ta mất tự do độc lập, đó là nỗi đau
lớn của mỗi người Việt Tuy nhiên lật lại hàng chục tờ báo ngày đó chúng ta
không thấy người Việt có vấn đề nhân cách, đạo đức, lối sống gay gắt như bây
giờ hoặc nếu có thì cũng bị phê phán không thương tiếc Phải chăng với nhân
cách cứng mạnh đó cộng thêm lòng yêu nước được phát động mà dân ta quật
khởi đập tan ách thực dân và bộ máy phong kiến vào năm 1945? Ngày đó, có
biết bao bậc sĩ phu, những nhà nho yêu nước, những người cộng sản, những trí
thức lỗi lạc, những nhà văn, những nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo đã làm việc hết
mình vì phẩm chất và nhân cách Việt để có một dân tộc đầy sức mạnh, “rũ bùn
đứng dậy sáng lòa”? Tôi nghĩ đời nào cũng vậy, giáo dục lòng yêu nước và xây
dựng nhân cách Việt là vấn đề có ý nghĩa sống còn của dân tộc ta
2 Ngày nay, nhân cách là vấn đề lớn của thời đại Do thuận lợi của thời thế,
một người bây giờ có thể hiểu biết rất nhiều, nhưng anh ta vẫn có thể không đủ
nhân cách để làm điều tốt đẹp, nhiều khi còn làm điều xấu Vì vậy mệnh lệnh
của thời đại là mệnh lệnh về nhân cách Cái đập mắt mỗi người Việt Nam khi
ra đường hôm nay là những vấn đề nhân cách Nỗi lo âu của mỗi bà mẹ là sợ
con hư Nỗi sợ của người già là không tìm được sự cảm thông giữa các thế hệ
Nỗi sợ của nhà giáo dục là sợ học trò nói hỗn Những cơ sở chăm lo cho nhân
cách con người đều suy yếu, xuống cấp: trường học, sách báo, nhà hát, vườn
trẻ, các hội đoàn… Nỗi lo đè lên mọi người Bảo vệ dân tộc trước hết là bảo vệ
con người Việt Nam trên biên giới của nhân cách và mất nhân cách Quả thật,
những con người mạnh, một dân tộc mạnh chính là tư tưởng sâu rễ bền gốc của
Đức Trần Hưng Đạo
3 Thơ ca phải lên tiếng, phải đến với vấn đề nhân cách cá nhân, phẩm cách
của dân tộc và phải tự mình trở thành nhân cách Thơ Đường lớn không phải
vì nó là đứa con của một thời đại thịnh trị, mà chính vì ở những đại diện lớn
nhất của nó đã dám viết: “Cửa son rượu thịt ôi/Ngoài đường xương chết rét”
(Đỗ Phủ) Đó là nền thi ca của những nhân cách và tài năng lớn Đó là nền thi
ca giàu phẩm hạnh
Tôi tin thơ hiện đại Việt Nam nhất định sẽ vươn tới một sự kết tinh mới, bền
vững trong sứ mệnh phát huy nhân cách Việt
Huế, tháng 9.2011
Trang 12Cái động từ kinh hãi đầy tính chất hình sự
này, bây giờ được nghe luôn, thấy luôn
Nghe trên đài, thấy trên báo, mãi cũng
thành quen Nhưng ngồi nghĩ đến thân phận con
người trong cuộc thì vẫn cứ hãi hùng Nhà cửa
đang ở, vườn tược đang giồng giọt Tre ấm bụi
chuối đang buồng thì có lệnh phải dọn đi Giải
phóng mặt bằng
- Ơ hay, giải phóng ai? Ai được giải phóng?
- Giải phóng cái mặt bằng đất đai cho nó biến
sạch nhà cửa vườn tược để cho người nước ngoài
người ta thuê, mà công nghiệp hoá mà hiện đại
hoá, chứ còn gì nữa Hỏi vớ vẩn Vờ vịt
Ừ, cũng là vớ vẩn, bây giờ ai mà còn không
biết nghĩa của bốn chữ giải phóng mặt bằng
Nhưng cũng chả vớ vẩn Cái người hỏi (bị coi là
vớ vẩn) ấy đã từng tự châm lửa đốt nhà mình, tự
phá tường đập cửa làm tiêu thổ kháng chiến hồi
chống Pháp xâm lược, tự mang bàn ghế đồ đạc
ra đường ngăn xe cơ giới giặc, hoặc lót đường
cho xe cho pháo ta đi qua các đoạn đường bị bom
Mỹ phá hoại thuở nào “Nhà tan cửa nát cùng ừ
Đánh tan giặc Mỹ cực chừ sướng sau” Họ đã tự
nhủ như vậy và đã làm được như vậy Đảng kêu
gọi, Chính phủ kêu gọi hy sinh của cải, hy sinh
Họ đâu có từ chối Chuyển đi căn nhà nhường đất làm bãi pháo Không ai mè nheo, đòi hỏi gì Chuyển cả làng, cả bản đi để mở một con đường, bắc một cây cầu, hay tạo một lòng hồ thuỷ điện nhiều làng đã ra đi, ngậm ngùi chia biệt vĩnh viễn với mảnh đất in dấu chân của ông bà cha mẹ và kỷ niệm thơ ấu của chính mình Buồn nhớ, nhưng tất cả đã bảo nhau dọn đi suôn sẻ
Nhưng giờ đây, họ dọn đi, giao lại đất, đất được bán cho một công ty nào đó Công ty ấy lập thành lô thành khoảnh, xây thành nhà thành phố, lại bán đi, lấy lãi Lãi nhiều lắm Những chủ nhân thật sự của đất đai ấy (Tôi nói thật sự vì họ chính là người dùng cả cuộc đời mình làm cho đất đai đó phì nhiêu) bây giờ trôi giạt nơi đâu Mất tư liệu sản xuất, họ sống ra sao Các ông chủ đầu
tư bất động sản kia có biết không? Họ không cần biết Mà sao lại bắt họ phải biết Đây là kinh tế thị trường Họ trao tiền đền bù rồi thì họ được quyền sử dụng đất Lỗ lãi họ chịu Ông chủ cũ nhận tiền rồi là ông hết lý Đấy là cái lý ráo hoảnh của chuyện buôn bán Cái lý ấy, nhiều lúc khắc nghiệt lắm, nhưng đã theo thì phải chịu Nhưng những người chủ cũ không chịu vì trong mua bán họ đâu
Trang 13Thế là sinh tranh chấp Tranh chấp giữa anh nghèo,
rất nghèo vì không còn gì để sống với những anh giàu,
mà giàu thì sang, có thể mua được cả thế lẫn lực Nhà
nước xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản, đứng về phía ai để phân xử, phán xét?
Các đoàn điều tra về hiện tình chiếm hữu sử dụng
đất đai đang triển khai trên nhiều địa phương cho thấy
mối mâu thuẫn trong lĩnh vực này thật sự sâu và rộng
Những phóng sự điều tra qua các vụ xảy ra ở Phú Quốc,
Đồ Sơn, An Khánh, ở các nông trường quốc doanh cũ,
nhiều nơi lắm, kể cả ở Hà Nội, không xa chỗ Bác Hồ
nằm đăng trên báo in, phát trên báo nói, báo hình
phần nào cho chúng ta thấy rõ hơn diện mạo của tình
hình đó cả mức độ lẫn quy mô
Nguyên nhân đầu tiên là sự lạm dụng quyền lực
nhà nước, thể hiện qua hai chữ cưỡng chế Lúc này,
người có quyền vận dụng cơ chế Xã hội chủ nghĩa, lợi
ích cá thể phải tuân thủ lợi ích tập thể Đến khi người
dân mất đất, thành thất nghiệp, thì những người có
quyền ấy lại vận dụng cơ chế thị trường, mua đứt bán
đoạn
Việc đã đến lúc phải giải quyết vì đây là nguy cơ
lớn nhất gây mất ổn định xã hội Đầu tiên xin hạn chế
tiến tới loại bỏ biện pháp cưỡng chế trong các quan hệ
dân sự Phải thương lượng Tất cả các quốc gia trên
thế giới đều có lúc phải làm cái việc gọi là giải phóng
mặt bằng Họ đều thương lượng Trong thương lượng
nhiều lúc các cơ quan công quyền, cần được việc, phải
để người dân phần lợi Tôi có người bạn mở một hiệu
thuốc ở Paris, toà thị trưởng cần nắn dãy phố, vướng
vào căn hiệu của chị, chị ấy được đền bù với giá cao
hơn nhiều nếu đem bán căn hiệu ấy lúc bình thường
Viết thư cho tôi, chị ấy viết: nó làm đường thì cũng
bằng tiền đóng thuế của mình, đây là lúc mình bắt nó
phải nhè ra, cũng sướng Bà con ta không ai muốn cái
sướng được bắt bí của chị ấy Bà con chỉ muốn công
bằng Việc nào đi việc nấy Phải hy sinh cho non sông
đất nước thì vui vẻ hy sinh, như đã từng làm từ mấy
chục năm trước Nhưng là quan hệ kinh tế thị trường
thì phải theo quy luật chung Không thể để người mua
tự đặt giá rồi bắt người ta bán Không bán thì cưỡng
chế
Xin những nhà lập pháp, những nhà hành pháp
đứng về phía bà con áo ngắn, những người đã theo
Đảng và Chính phủ nằm gai nếm mật gần một thế kỷ
qua để làm cách mạng dân tộc dân chủ, mà chặn đứng
lại lối hành xử có tính tước đoạt đối với quyền làm chủ
chính đáng tư liệu sản xuất của người lao động Trước
hết bỏ biện pháp cưỡng chế trong quan hệ dân sự trao
đổi mua bán đất đai Chỉ cưỡng chế với người phạm
tội do lấn chiếm công thổ, hoặc là phạm nhân bị toà
xử phải tịch biên gia sản, phải đền bù, phải trả nợ
Trang 14Ngày khai sinh của sân khấu kịch Việt Nam -
20.10.1921, là một ngày đáng ghi nhớ, vì sự
xuất hiện của thể loại sân khấu này không phải
là một sự kiện đơn lẻ, mà đã mở đầu cho một chuỗi sự
kiện rất trọng đại đối với lịch sử văn học nghệ thuật Việt
Nam Tiếp theo sự xuất hiện của kịch, năm 1925 quyển
tiểu thuyết Việt Nam kiểu mới đầu tiên ra đời, và năm
1932 khẳng định sự thành công của “Thơ mới” trong
một cuộc đấu tranh kịch liệt chưa từng có giữa cái “mới”
và cái “cũ” trên phương diện văn hóa Từ đây kịch, tiểu
thuyết, “thơ mới” hợp thành ba cái chân kiềng của một
nền văn học thuộc một phạm trù mới, khác hẳn nền
văn học truyền thống.
Văn học Việt Nam sau bao nhiêu thế kỷ thuộc về
một nền văn học có tính chất vùng miền (Đông Nam
Á), bằng ba thể loại mới này đã chính thức gia nhập
vào bước đi chung của văn học thế giới hiện đại Đây là
sự thay đổi lớn lao nhất trong lịch sử văn học Việt Nam,
thay đổi căn bản về mọi mặt: quan niệm văn học nghệ
thuật, bản chất, thành phần, hệ thống thể loại, và cả
quan niệm về cái hay, cái đẹp.
Cũng từ đây trên đất nước Việt Nam song song tồn
tại hai nền sân khấu: truyền thống, mà sau này quen
gọi là KỊCH HÁT, để phân biệt với KỊCH NÓI hiện đại
theo kiểu Châu Âu.
Kịch nói đã xuất hiện ở Việt Nam với một tư thế
ngoại lai và áp đặt Đó là một sản phẩm Pháp, truyền
Pháp hiện diện ở nước này bằng vũ lực Những thanh niên Tây học đã tiếp nhận kịch bản Pháp từ các trường trung học Pháp Việt mà chương trình học văn học bắt buộc gồm chủ yếu là kịch cổ điển Pháp Mặc dù vậy sân khấu kịch nói vẫn hình thành nhanh chóng và phát triển, bởi vì sự xuất hiện của nó đáp ứng một nhu cầu nội tại sâu xa : Sân khấu là bộ mặt văn hóa của một đất nước Ở đó tổng hợp cả thi ca, văn học, âm nhạc, ca múa, mỹ thuật Trên sân khấu, đời sống tinh thần, tâm lý, phong tục tập quán và trí tuệ của một dân tộc được biểu hiện cụ thể, sinh động nhất vì hiện hình ngay trên hình thể và trong tâm hồn của bản thân con người diễn viên - đây là ưu thế tuyệt đối của nghệ thuật biểu diễn sân khấu mà khó có nghệ thuật nào sánh được.
MỘT ĐẤT NƯỚC CÓ VĂN HÓA KHÔNG THỂ NÀO THIẾU SÂN KHẤU
Nhưng ở đầu thế kỷ 20, sân khấu Tuồng, Chèo truyền thống đã suy tàn, theo những biến động sâu sắc của xã hội Việt Nam, trong tâm lý bị áp đảo về văn hóa sau khi đã bị áp đảo về quốc sự chính trị Mặt khác, những luật lệ nghiêm ngặt của một nghệ thuật đã định hình, được qui phạm chặt chẽ ở hình thái cách điệu ước lệ của quá khứ, không còn đáp ứng được đòi hỏi phải bám sát và trực tiếp thể hiện đời sống đang biến động dữ dội đương thời Những cố gắng sửa chữa nhược điểm này đã mang lại ít kết quả, và những cải
KỊCH NÓI VIỆT NAM
ĐẾN HIỆN ĐẠI TỪ TRUYỀN THỐNG
NSND NGUYỄN ĐÌNH NGHI
NSND Nguyễn Đình Nghi đã xa chúng ta tròn 10
năm Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà đạo
diễn được coi là nhà văn hóa lớn của sân khấu Việt
Nam thế kỷ 20 và nhân dịp ông được đề cử Giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, VHVN
xin giới thiệu bài viết thể hiện một phương hướng
lớn trong sự nghiệp nghệ thuật bất hủ của ông: Việt
hóa nghệ thuật kịch nói trên cơ sở sân khấu kịch
hát truyền thống
Trang 15minh” chẳng những không thể cứu vãn đời sống sân
khấu cổ, lại càng không thể khôi phục hào quang đã tắt
của nghệ thuật truyền thống Vẻ đẹp chân chính của
Tuồng, Chèo dần dần bị lãng quên.
CẦN PHẢI CÓ MỘT LOẠI HÌNH SÂN KHẤU KHÁC
Thể loại kịch mới ra đời đáp ứng nhu cầu ấy Vì
vậy, tuy lúc đầu sự tiếp thu có tính chất thụ động, bị áp
đặt, nhưng đã sớm trở thành tự nguyện, chủ động, và
sân khấu kịch đã nhanh chóng tạo ra được công chúng
của nó.
Ra đời trong một hoàn cảnh như vậy, rất dễ hiểu
vì sao trong một thời gian rất dài, đặc biệt là sau khi
hình thành, sân khấu kịch luôn luôn có xu hướng thoát
ly khỏi truyền thống Kịch do những người tri thức Việt
Nam được giáo dưỡng theo văn hóa Pháp xây dựng
theo mẫu Pháp Họ không thể tìm thấy một chút quan
hệ nào giữa Tuồng, Chèo và Kịch - một nghệ thuật dù
còn non nớt, mới mẻ, nhưng đang tự coi và được công
chúng đô thị coi là “văn minh, hợp thời”, và hoàn toàn
khác biệt truyền thống Tất nhiên Kịch không thể tiếp
thu gì ở sân khấu cổ truyền Việt Nam Và trong nhiều
thế kỷ nó không thể tránh khỏi bắt chước cái mẫu Âu
châu đã sinh ra nó.
Tuy nhiên, lại cũng chính lớp trí thức văn nghệ sĩ
ấy đã sáng lập ra nền tiểu thuyết mới, thơ mới Dù chịu
ảnh hưởng Pháp sâu sắc khi ra đời, nhưng chỉ sau một
thời gian ngắn thơ mới đã là thơ Việt Nam chân chính,
đã sáng tạo ra những kiệt tác, đã lay động sâu sắc tâm
hồn độc giả Việt Nam không chỉ bởi nội dung mới mẻ,
nồng nhiệt, sâu sắc, mà cả về hình thức nghệ thuật rất
Việt Nam của nó.
Như một sự sắp xếp của lịch sử, Thế Lữ - người đi
đầu xây dựng nền thơ mới Việt Nam lại là một trong
những người đi đầu xây dựng nền kịch Việt Nam Cùng
với ông, các “kịch sĩ” đương thời nổi tiếng nhất đều là
những nghệ sĩ Việt Nam hàng đầu Nhưng nhân cách
nghệ sĩ ấy không thể cam tâm với sự bắt chước Một
điều tâm huyết luôn luôn thôi thúc họ cần phải xây
dựng một sân khấu kịch Việt Nam.
Nhưng xây dựng kịch Việt Nam như thế nào? Suốt
mấy thập kỷ, đây là một câu hỏi không có giải đáp
Sân khấu là một nghệ thuật tổng hợp, đòi hỏi một cơ
sở xã hội, những điều kiện tinh thần và vật chất, mà xã
hội thuộc địa Việt Nam cho đến năm 1945 không đáp
ứng Do thiếu hẳn một môi trường cần thiết, sân khấu
kịch mấy thập kỷ sau khi hình thành vẫn còn dừng lại
ở trình độ nghiệp dư do đó vẫn không thể ra khỏi giai
đoạn bắt chước.
Mặc dù hoàn cảnh không thuận lợi, Kịch nói vẫn
tồn tại Và trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thời
kỳ kháng chiến chống Pháp nó đã lớn lên thành một
phong trào quần chúng cực kỳ mạnh mẽ.
Thời gian này cũng là lúc các giá trị văn hóa truyền
thống dân tộc được đánh giá lại với một niềm tin và lòng tự hào rất cao đối với tính cách và bản sắc Việt Nam Từ năm 1950 vốn văn nghệ dân tộc được khai thác trên qui mô rộng lớn, trong đó Tuồng, Chèo được chú ý hơn cả Sau bao nhiêu thập kỷ bị vùi lấp, giờ đây vẻ đẹp truyền thống hồi sinh đã hiện ra chân chất, nhưng tinh tế, huy hoàng Thế hệ những nghệ sĩ thanh niên lúc ấy bàng hoàng trước nghệ thuật giàu có rực rỡ của kho báu truyền thống lần đầu phát hiện Còn với thế hệ những người làm sân khấu lớn tuổi, thì niềm mong mỏi, ước mơ về một nền kịch Việt Nam từ đây đã trở thành nỗi ám ảnh.
Lịch sử sân khấu Việt Nam thế kỷ 20 đã có mấy lần tiếp xúc với nước ngoài Lần tiếp xúc thứ nhất - với Pháp là chủ yếu - đã đưa tới sự hình thành sân khấu kịch Lần tiếp xúc thứ hai, từ 1955, chủ động, có mục đích, có định hướng, nhằm vào Đông Âu, tiêu biểu là Liên Xô (cũ) với học thuyết sân khấu Stanislapski, đã giúp sân khấu từ phong trào quần chúng rộng lớn trở thành chuyên nghiệp.
Tuy nhiên cũng phải tính đến tình thế gò bó của kịch Việt Nam thời kỳ này trong sự độc tôn sân khấu Liên Xô, và sự cách biệt bởi điều kiện chiến tranh khỏi nền sân khấu Tây Âu rộng lớn, phong phú, đầy biến động Thời gian này lại trùng hợp với giai đoạn cực thịnh phục hồi các vở diễn Tuồng, Chèo cổ Những người làm kịch có dịp chuyên chú tìm hiểu sân khấu truyền thống cả về lý luận cả về thực tiễn Và một sự so sánh
Trang 16hiển nhiên đã nảy sinh : bên cạnh những hình tượng
truyền thống rực rỡ, đầy sức quyến rũ như Súy Vân, Thị
Màu, lão Tạ, Hồ Nguyệt Cô…thì những hình tượng kịch
nói xuất hiện cùng thời quả thật là mờ nhạt.
Cuối những năm 60, nhiều người làm kịch Việt Nam
đã cảm thấy rất rõ rệt sự hạn hẹp gò bó dẫn tới nhàm
chán của loại kịch tả thực đơn giản mà họ vẫn theo đuổi
bấy lâu Và mặc dù bị ngăn cách với thế giới, mặc dù
không được tìm xem, tìm học tận mắt, thì từ lâu tin tức
về một sân khấu Châu Âu đương thời rất sôi động cũng
vang vọng tới Việt Nam, gây hứng thú lớn bởi sự hướng
về tính ước lệ, tính sân khấu, tính trình diễn, bởi sự mở
rộng không gian sân khấu…, tất cả những điều này đều
rất gần gũi đặc điểm truyền thống Việt Nam và là thế
mạnh của sân khấu cổ.
Một ý tưởng hình thành: có thể học tập truyền
thống để phá vỡ thế gò bó lâu nay Có thể tìm cách xây
dựng kịch Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm Âu châu kết
hợp với sự tiếp thu bài học truyền thống, với điều kiện
không phá vỡ đặc điểm thể loại của kịch.
Đồng thời, một mục tiêu được xác định: tìm về
truyền thống không phải chỉ vì truyền thống, không
phải chỉ để cho “có tính chất dân tộc” Những vở diễn
kiểu mới phải phá vỡ được thế hạn hẹp gò bó, phải có
khả năng biểu hiện, truyền đạt mạnh mẽ hơn, phải tìm
được cách nói hơn hẳn hiện trạng sân khấu kịch lúc
này Nếu học theo truyền thống mà thua kém học theo
nguyên mẫu Âu châu, thì sự tìm tòi là vô nghĩa.
Vấn đề mà người làm kịch bắt gặp đầu tiên khi tìm
cách phá vỡ thế gò bó, là vấn đề không gian sân khấu
(và theo nó là thời gian).
Đây chính là vấn đề mấu chốt mà bất cứ sân khấu
nào cũng phải giải quyết trước hết Bởi vì ở đây biểu lộ
một mâu thuẫn cơ bản: cuộc đời mênh mông vô hạn, mà
kích thước sàn diễn và thời gian trình diễn rất hữu hạn.
Phương Tây giải quyết vấn đề này bằng phép biên
kịch Kịch bản phải chịu sự qui định của dung tích vật
chất của sàn diễn và thời gian vật lý của buổi diễn Từ
đó có luật tam duy nhất cổ điển: dồn nén, tập trung kịch
tính và xung đột, cắt lấy những mảnh đậm đặc nhất của
cuộc đời nhân vật, đặt vào một không gian hẹp và thời
gian ngắn Dù nói chung luật tam duy nhất với những
nguyên tắc quá chặt chẽ không mấy khi được tuân theo
đầy đủ, nhưng tinh thần của nó là sự dồn nén thì có tác
dụng rất lâu dài Cần phải dồn nén như vậy cho vừa với
kích thước tự nhiên của sàn diễn và thời gian trình diễn,
vì cuộc đời được tái hiện ở hình thái tự nhiên.
Phương Đông có cách giải quyết khác hẳn: đã
không thể mở rộng vô hạn độ sàn diễn, thì biến đổi ý
nghĩa sàn diễn Nó không còn ý nghĩa mấy chục thước
vuông, nó mang ý nghĩa ước lệ, giả định Từ đầu này tới
đầu kia sàn diễn có thể là gang tấc, cũng có thể là ngàn
dặm Thời gian sân khấu tương ứng với không gian cũng
Nói tóm lại, phạm vi đời sống mà sân khấu ở hình thái tự nhiên biểu hiện bị kích thước sàn diễn và thời gian trình diễn qui định Phạm vi ấy thường không vượt quá mấy chục thước vuông và vài ba tiếng đồng hồ Đồng thời sàn diễn cũng không có khả năng biểu hiện hoàn cảnh nào khác với hình thái tự nhiên của nó, chẳng hạn sàn gỗ không thể miêu tả sông nước Sân khấu ở hình thái giả định không chịu sự gò bó của sàn diễn và thời gian trình diễn Trên sân khấu có thể là bất cứ địa điểm nào, thời gian câu chuyện có thể là một đời người.
CÓ THỂ KẾT LUẬN: THỰC CHẤT SỰ KHÁC NHAU LÀ HÌNH THÁI MIÊU TẢ
Ứng dụng những nguyên tắc cổ truyền về không gian, thời gian sân khấu và những bài học về hình thái giả định, với sự cộng tác của họa sĩ sân khấu, nhiều đạo diễn kịch Việt Nam bằng những sáng tạo thành công đã chứng minh rằng: có thể biểu hiện trên sân khấu những hoàn cảnh mà sân khấu tả thực trước
1970 không bao giờ tưởng tượng nổi Trên cái sàn diễn gần như trống trơn, dựa vào nghệ thuật biểu diễn của diễn viên, có thể miêu tả một chuyến xe điện, một con thuyền lênh đênh ngoài biển, một trận đánh trải ra trên chiến trường rộng lớn, một đoàn hải thuyền vật lộn với phong ba bão táp, một ca phẫu thuật… Không gian sân khấu không còn tĩnh như trước mà trở thành động, những địa điểm rất khác nhau có thể nối tiếp nhau biến hiện nhanh chóng mà không đòi hỏi phương tiện kỹ thuật phức tạp.
Những tìm tòi sáng tạo về không gian sân khấu kể trên đã được thực hiện không phải bằng cách bắt chước những động tác mang tính cách điệu của Tuồng, Chèo
Đi theo tinh thần của ước lệ truyền thống, nhưng không máy móc áp dụng thủ pháp, có thể nói một tính chất giả định mới đã được tạo ra: tính chất giả định kịch nói Chỉ riêng những thành tựu trên đây cũng đã làm thay đổi diện mạo nhiều vở diễn của hai thập kỷ 70, 80, góp phần phá vỡ tình trạng các vở diễn cứ hao hao giống nhau những năm trước Quan trọng hơn, những thành công ấy đã thuyết phục, gợi ý, kích thích tác giả tìm những cách biên kịch đa dạng, rộng mở, năng động hơn Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà sự tìm tòi, sáng tạo đã bắt đầu từ phương diện không gian sân khấu, dù sự bắt đầu ấy không phải bao giờ cũng tự giác Dường như đây là một hiện tượng có tính qui luật Nhớ lại: E.Zola và Antoine khi chống lại sân khấu ước lệ của Pháp ở thời kỳ già cỗi xưa kia cũng đã bắt đầu bằng những cách tân về trang trí sân khấu E.Zola đưa ra một luận điểm nổi tiếng của sân khấu tự nhiên chủ nghĩa: ông đã thay chức năng trang trí của sân khấu ước lệ
“trang trí địa điểm trình diễn (lieu de représentation)”
Trang 17(milieu du personnage)” và đòi hỏi trang trí phải tạo ra
cảnh thật như hoàn cảnh vật chất trong đó diễn viên
sống thật cuộc đời nhân vật.
Khảo sát hiện tượng trên đây, có thể nhận ra một
điều lý thú: trong khi đấu tranh chống lại sự gò bó của
sân khấu tả thực, các đạo diễn Việt Nam cũng bắt đầu
bằng sự lật lại quan niệm của E.Zola - cũng tức là lật lại
quan niệm về các chức năng trang trí mà sân khấu tả
thực Việt Nam từng theo đuổi - để từ yêu cầu “sân khấu
là địa điểm của hành động, là môi trường của nhân vật”
chuyển thành “sân khấu - sàn diễn - là giả định” theo
tinh thần sân khấu truyền thống Việt Nam.
Quan niệm về không gian sân khấu (và cùng với
nó là thời gian) là một vấn đề hết sức mấu chốt, nó
biểu lộ phương pháp tiếp cận hiện thực của người nghệ
sĩ, cách tiếp cận khác nhau sẽ tạo ra những sân khấu
khác nhau.
Hình thái ước lệ, giả định cho phép mở rộng về hạn
độ không gian (và thời gian sân khấu) Nhưng không
chỉ có thế Ưu thế lớn nhất của hình thái giả định là
mở rộng thế giới của nhân vật, giải thoát nhân vật khỏi
biên cảnh của thế giới hành động mà Stanislapxki đã
xác lập.
Stanislapxki là đại biểu kiệt xuất của một nghệ thuật
biểu diễn dựa trên một nền kịch bản miêu tả con người
ở hình thái tự nhiên Sân khấu Stanislapxki miêu tả rất
sâu sắc con người trong thế giới hành động Và cũng chỉ
miêu tả nó trong thế giới hành động Tuy nhiên dù con
người chủ yếu là sống trong thế giới hành động, nhưng
đâu phải chỉ sống trong thế giới hành động Còn thế
giới tư duy, thế giới mơ tưởng, thế giới ảo vọng, thế giới
tiềm thức, thậm chí cả thế giới bản năng Hình thức giả
định mở đường cho sân khấu đi vào khai thác, thể hiện
cả một cõi bao la bí ẩn kỳ diệu, phi hành động, vô hình
vô ảnh, thậm chí vô thức của tâm linh, nó có khả năng
gợi mở to lớn cho tác giả kịch bản Kịch Việt Nam khi tìm
về truyền thống chính là tìm cách tiếp thu và khai thác
ưu thế này của hình thái giả định Và những thành công
đáng kể nhất trong suốt ba thập kỷ qua là kết quả của
sự ứng dụng nguyên tắc lớn này của sân khấu truyền
thống.
Một vấn đề lớn khác thuộc về nghệ thuật diễn viên:
trên sân khấu người diễn viên có hay không có khả
năng và sự cần thiết sống chân thật một nhân vật hư
cấu Câu trả lời của Tuồng, Chèo là: có thể và cần
thiết, dù cho nhân vật được miêu tả ở hình thức giả
định, và trong những điều kiện sân khấu giả định Sống
nhân vật không phải là độc quyền của hình thái tả thực
Nhưng, không cực đoan như ở những trường phái Âu
châu, đây là một câu trả lời uyển chuyển Tuồng, Chèo
chấp nhận cả hai trạng thái đối nghịch mà Âu châu gọi
bằng hòa cảm và gián cách Diễn viên có thể nhập
thần, mà cũng có thể xuất Có lẽ câu trả lời này đã giúp
diễn là một chuỗi xen lẫn, kế tiếp nhau của thể nghiệm và biểu hiện, nhập và xuất, tỉnh và say, ý thức và vô thức, diễn trò và sự sống.
Từ tính uyển chuyển này, có thể nhận thấy thêm một đặc điểm khác vô cùng quan trọng: sân khấu truyền thống là ước lệ, cách điệu, giả định, nhưng không từ chối tả thực Đi ngựa rất cách điệu, nhưng nhân vật có thể hộc máu thật Tả bữa tiệc, có uống rượu, và đòi hỏi bình rượu, chén rượu thật, nhưng không tả ăn Lớp Thị Màu lên chùa rất cách điệu, nhưng lớp việc làng rất gần tả thực…Một khả năng bất ngờ được mở ra: có thể vượt ra khỏi sự cương tỏa của “tính hệ thống”, của yêu cầu “thống nhất phong cách” để chấp nhận trên cùng một sàn diễn nhiều hình thái miêu tả Không chỉ là tả thực, cũng không chỉ là giả định Đây thật là phương trời rộng lớn cho sự tìm tòi sáng tạo phóng khoáng của sân khấu kịch trong gần ba thập kỷ qua Nó gợi ra đáp án cho vấn đề nan giải : làm sao học tập truyền thống mà không phá hủy đặc điểm thể loại của kịch Nhiều vở diễn kịch nói đã hòa hợp được trên cùng một sàn diễn cả hai hình thái tả thực và giả định.
Người diễn viên sống chân thực, sâu sắc trong trang trí và xử lý ước lệ của đạo diễn trở thành hiện tượng bình thường Đã được chứng minh: có thể ứng dụng những nguyên tắc truyền thống mà vẫn là kịch nói Trong 30 năm qua, chưa thấy có sự sao chép truyền thống, cũng chưa có vở diễn nào là sự lẫn lộn kịch nói - kịch hát.
Thông thường sự thay đổi bộ mặt của một nền sân khấu luôn bắt đầu từ kịch bản.
Ở Việt Nam tình hình có khác.
Cho đến cuối những năm 80, hầu hết kịch bản kịch nói đều viết theo lối tả thực Châu Âu Việc tiếp thu những thôi thúc, gợi ý từ nhiều phía để nảy sinh nhu cầu tìm đến một kiểu sân khấu kịch nói hướng về tính giả định truyền thống đã xảy ra chủ yếu không ở khu vực tác giả, mà bắt đầu ở khu vực đạo diễn Họ không thể chờ đợi những kịch bản kiểu mới ra đời, họ phải thử thách ngay với những kịch bản tả thực hiện có.
Kết quả rất khả quan Những sáng tạo của nhiều đạo diễn theo hướng này đã tạo ra một dòng những vở diễn kịch nói kế tiếp nhau xuất hiện, và những vở diễn thành công nhất từ đầu thập kỷ 70 đến giữa những năm
80 đều dựa vào kịch bản tả thực Tất nhiên, người đạo diễn phải can thiệp vào kịch bản và làm công việc của người biên tập.
Có đủ cơ sở để tin rằng tương lai của một sự phối hợp hài hòa, đầy đủ, xuất phát từ những kịch bản kiểu mới để tạo ra những vở diễn kiểu mới đang trở thành hiện thực.
Và con đường tìm về truyền thống, tuy không phải là duy nhất, nhưng chắc hẳn là một con đường thuận lợi cho nỗ lực tạo ra sự phát triển cao hơn của sân khấu
Trang 18Tôi đến thăm Tô Hoài nhiều lần, nhưng
chả có lần nào được ngồi riêng với tác giả Dế mèn… Cái lần gặp ông trên phố Đoàn Nhữ Hài, rồi mấy lần sau nữa ông đều bận Ngay hôm tại C3 Nghĩa Đô bữa ấy khi nhà ông đang có Phạm Xuân Nguyên và Alec, phu quân của nhà văn trẻ Đỗ Hoàng Diệu Ông lắm khách Lần nào đến với ông tôi cũng gần như thất vọng vì bị những cuộc viếng thăm của các đoàn khách cắt ngang
MỘT CUỘC ĐỜI “CỎ DẠI” SANG TRỌNG
Thuở nhỏ tên ông là Nguyễn Sen Lớn lên đi viết báo làm văn lấy bút danh Tô Hoài là ghép sông Tô một con sông cổ chảy qua làng Nghĩa Đô với phủ Hoài Đức mà thành Tô Hoài đã có một tuổi trẻ lam lũ khốn khó như bao người dân làng Nghĩa Đô quê ông Học vừa hết tiểu học, đã phải vào đời đi làm nhiều nghề để kiếm sống: thợ dệt, dạy học tư, bán hàng thuê, kế toán hiệu buôn…Tô Hoài kể: “Tôi không được như một số nhà văn nhà thơ khác được học văn hóa cơ bản Hầu hết cuộc đời Tô Hoài là tự học, vừa đi học vừa đi làm Thủa thiếu niên chỉ học đến tiểu học rồi
đi bán giày ba ta ở Hàng Khay Đi bán hàng thuê, tôi chịu khó đọc, đặc biệt tự học tiếng Pháp bằng cách mang tác phẩm của những tác giả tôi thích như Mopatxang, Đôđê vừa đọc vừa dịch hàng nghìn trang, nhờ đó mà tôi có vốn tiếng Pháp tự đọc được các cuốn sách Rồi bước vào làng báo từ một sự tình cờ Tháng tháng bán giầy được sáu đồng Tôi muốn vào thư việân đọc sách nhưng ngặt nỗi không có bằng Thành chung Tôi đến báo Hà Nội Tân văn do ông Vũ Ngọc Phan làm chủ bút để xin giấy vào thư viện Thấy tôi ít tuổi mà đã là tác giả nhiều truyện như Nước lên, Sáng giăng suông nên Vũ Ngọc Phan bảo tôi đến nhà ông đọc sách Ông Phan quý tôi nên đã trả tiền nhuận bút cho các truyện in của tôi
Bíẩn
TÂN LINH
Dường như trong hơn một trăm cuốn sách của ông, Tô Hoài viết cái gì cũng hay Sách của ông có cuốn được dịch nhiều vào bậc nhất thế giới, được xếp hàng kỷ lục Nhưng bây giờ, hơn 90 tuổi, ông vẫn đang hì hục viết Đặc biệt, ông viết về Hà Nội tự nhiên mà sâu sắc lạ lùng với Chuyện cũ Hà Nội, rồi thì “Cát bụi chân ai”, “Mười năm”.…Cùng với Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, ông là một trong những nhà văn viết về Hà Nội nhiều nhất và hay nhất Với tôi, cuộc đời và văn nghiệp Tô Hoài là cả một khối bí ẩn khó cắt nghĩa hết
một nhà văn Hà Nội
Trang 19Thời ấy thường nếu tác giả không được mời viết thì dù
bài đăng vẫn không được trả nhuận bút Tôi được trả
mỗi truyện ngắn 5 đồng, trong khi lương tháng làm thuê
cũng chỉ được 6 đồng.Thế là tôi đi viết văn Lúc đầu tôi
xác định nghề văn cũng như nghề đánh máy, nghề lao
động chân tay chứ chẳng có gì cao quý đặc biệt Chỉ
phải cái phải khổ công rèn giũa cây bút và phải có chút
năng khiếu… Năng khiếu nhiều khi chỉ là một phần thôi,
còn vấn đề tự rèn luyện là trên hết… Lúc này Nhà xuất
bản Tân Dân muốn xuất bản một số sách cho thiếu nhi
Ông Vũ Ngọc Phan giới thiệu tôi cho Vũ Đình Long và
ông Long “đặt hàng” tôi viết Tôi bèn viết truyện “Con
dế mèn” chỉ độ ba mươi trang đem đưa nhà xuất bản
và không ngờ được in ngay Ông Vũ Đình Long trả tôi
những hai mươi đồng và cổ vũ tôi: “Sách ông bán chạy
lắm, ông viết nữa đi” Thế là tôi mừng quá và lao vào
viết tiếp “Dế mèn phiêu lưu ký” dài gấp đôi, dĩ nhiên số
tiền ông Long trả cũng gấp đôi Từ năm 1940 đến 1945
tôi viết khoảng hai mươi cuốn đưa in Có tiền nhuận
bút, tôi đi khắp nơi sang cả Lào, Cămpuchia… cóp nhặt
vốn sống và viết Sau cách mạng tôi làm phóng viên
báo Cứu quốc Rồi được làm tờ Cứu quốc Việt Bắc viết
tiếng Tày in ở chợ Rã cạnh núi Phia Bjoc phát hành chủ
yếu ở Cao - Bắc - Lạng Báo ấy do tôi làm chủ nhiệm,
anh Nam Cao làm thư ký Toà soạn ” Tô Hoài nói ông
đã lớn lên giữa cuộc đời như một ngọn “cỏ dại”, hồn
nhiên và nhiều bầm dập, cứ thế sống mà vươn lên
Điều bí ẩn chính là Tô Hoài đã nuôi lớn tài năng bằng
chính cuộc đời cỏ dại của mình
VÀ TRONG TRẺO VĂN CHƯƠNG
Là tác giả của một tác phẩm được coi là kiệt tác
văn học thiếu nhi là “Dế mèn phiêu lưu ký”, rồi sau đó
là một kiệt tác về cuộc sống và con người vùng núi
rừng Tây Bắc, tập “Truyện Tây Bắc”, nhưng Tô Hoài
vẫn bảo rằng tất cả những gì ông viết đều gợi mở từ
cảm hứng về một Hà Nội nhiều thăng trầm Đến giờ, ở
tuổi 91, nhà văn đã song hành cùng mảnh đất này gần
như suốt toàn bộ thế kỷ 20 và cả 11 năm đầu của thiên
niên kỷ mới Sau giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996,
năm 2010, ông đã được vinh danh với Giải thưởng Lớn -
Vì tình yêu Hà Nội do báo TT&VH phối hợp với Quỹ Bùi
Xuân Phái tổ chức, và năm 2011 này, ông được trao
danh hiệu Công dân Thủ đô ưu tú Năm 1957, Hội Nhà
văn VN thành lập Tô Hoài đã là Tổng thư ký, rồi ở trong
Ban chấp hành ngót ba mươi năm trước khi về làm Chủ
tịch Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội…
Phần nhiều nhà văn lớn tuổi thì viết cũ, trong khi đó
Tô Hoài càng viết càng hay, càng có cách nhìn, cách
viết mới Làm sao mà cầm bút trong bảy chục năm mà
ngòi viết ấy không cùn đi thì thật bí ẩn Bao nhiêu người
viết về sau nhìn lại, viết lại có khi nổi giận với quá khứ,
hay chán nản việc đời hoặc già cả mà chểnh mảng viết
lách Tô Hoài từ trước đã chẳng thế, bây giờ dù đã qua
“cửu thập” vẫn thản nhiên viết, thản nhiên trò chuyện
với cuộc đời, lòng trong như nước…Đôi khi đem những
chuyện cũ chuyện mới nói lại cùng ông, xem thái độ
phản ứng của ông thế nào, vẫn một câu: “Chẳng đáng gì” Vâng! “Chẳng đáng gì”, âu là một cách nhìn cuộc đời bao dung hay là một cách “ngộ” Có lẽ trải nghiệm nhiều mà nhà văn đã “ngộ” ra nhiều việc đời, lẽ đời… Trong cõi vô thường này, có lẽ chằng có gì ghê gớm lắm Chẳng có gì đáng phải lớn tiếng, đáng phải ầm ĩ cả Cái thản nhiên nơi ông đã làm cho ông sống thọ, mà viết chẳng khi nào cạn dòng cảm xúc Phải chăng cái lòng yêu cuộc sống, vốn nhiều biến động - đã tạo cho ông một tâm thế bình thường, thích nghi và vì thế không quá lý tưởng hoá cuộc đời, rồi đến lúc cuối đời ngẫm ngợi giận hờn với đời mà bỏ bút như nhiều người Tô Hoài vẫn viết Chiều chiều ông vẫn viết, vẫn cái giọng văn hóm mà sâu… Cái tài viết hồi ký của ông có thể nâng lên hàng bậc thầy về cách kể chuyện Thực quá, đến nỗi cứ ngỡ hư cấu Thực đến trần trụi mà vẫn làm say hồn người, gợi nhiều ngẫm ngợi về những cái đã qua
CHUYỆN VỀ BÀI THƠ DUY NHẤT:
BÀI CA TRÊN NÚI
Lúc tôi hỏi về bộ phim “Vợ chồng A Phủ”, hình như Tô Hoài bừng tỉnh khi ông kể ông từng đi Tây Bắc ở lại trên ấy năm sáu năm Rồi lại đi Việt Bắc với cả Nguyên Ngọc Và Tô Hoài kể chuyện ông viết lời cho bản nhạc phim “Bài ca trên núi” của Nguyễn Văn Thương gắn với bộ phim “Vợ chồng A Phủ” Dạo ấy đoàn phim đi thực tế ở Sơn La, về nơi xuất xứ câu chuyện phim Lần ấy nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương có người nhà vào vai phim A Phủ, nên nhận lời viết nhạc phim Chuyến đi Tây Bắc ấy Nguyễn Văn Thương gợi ý Tô Hoài viết lời cho bái hát Tô Hoài không làm thơ nhưng câu chuyện của người Mông trên núi cứ ám ảnh ông đến khi ngồi trên xe ông buột miệng đọc: “Đầu trời có sao chiều sao sớm/đầu núi kia có hai người/Trời chỉ có sao sớm sao chiều/Núi chỉ có hai người/Hai người yêu nhau… Dù đi cùng trời/dù đi khắp núi/Trời chỉ có sao sớm sao chiều… Hỏi rừng chiều có tiếng khèn ai đó/Khèn hát lên những lời mong chờ/Đường đi về rừng đường đi xuống núi/ Trời chỉ có sao sớm sao chiều/Núi chỉ có hai người/Hai người yêu nhau…” Vâng! Không làm thơ nhưng lời bài hát ấy với giai điệu dân ca Mông tuyệt hay Và ca từ ấy đã là một bài thơ tình hoàn chỉnh, một bài thơ tình tuyệt bút Bộ phim “Vợ chồng A Phủ” đã hơn 50 tuổi Tô Hoài đã có một phần đời gắn với núi cao và chính phần đời ấy góp phần quan trọng vào chân dung một nhà văn đi nhiều viết nhiều vào bậc nhất ở Việt Nam…
Điếu kỳ lạ và bí ẩn là cây đại thu văn chương Việt Tô Hoài vẫn còn ăm ắp cảm xúc và còn muốn viết nhiều nữa Hạnh phúc của nhà văn Hà Nội này là ông còn rất nhiều điều ấp ủ, nhất là về Hà Nội, dù số tác phẩm với hơn 150 đầu sách, trong đó nhiều cuốn tái bản đạt hàng kỷ lục Ngồi bên ông, ngắm ông trong cái ghế bành kia, tôi bật cười nhớ chuyện nhà văn Hà Minh Đức ví Tô Hoài: “Anh như một con mèo đẹp dáng dấp nhẹ nhàng ngồi thu mình sưởi nắng và khi cần thì lao nhanh về phía trước hoà nhập vào giữa dòng đời…”.
Trang 20Năm tôi lên mười tuổi, còn học trường làng Qua
các anh chị học lớp trên, tôi đã biết đến tên tuổi
nhà thơ Nông Quốc Chấn Một người con ưu tú
của dân tộc Tày Bắc Cạn với bài thơ “Tiếng ca người
Việt Bắc” Đấy là tác phẩm văn học đầu tiên của một
nhà thơ người dân tộc thiểu số được đưa vào giảng dạy
trong nhà trường phổ thông Bài thơ đầy tinh thần hào
sảng, viết sau ngày các dân tộc Việt Bắc được hoàn
toàn giải phóng Những người mà một thời bị bọn ăn thịt
sống coi là “Thổ mừ”! Là “mọi rợ”! Nay họ đã được giải
phóng và làm chủ bản thân mình Làm chủ quê hương,
đất nước Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ từng dấu phẩy
dấu chấm, và hơi thở nồng nàn của bài thơ.
Sau ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 , thống
nhất Tổ quốc, lần đầu tiên tôi được gặp nhà thơ Nông
Quốc Chấn Lúc này ông đang là Thứ trưởng Bộ Văn
hóa kiêm Hiệu trưởng trường Đại học Văn hóa Hà Nội,
kiêm Hiệu trưởng trường Viết văn Nguyễn Du Ông
cũng mới biết tôi là một học viên người Tày duy nhất
của trường
Có một hôm, trong giờ giải lao, ông ôm vai tôi Hai
thày trò cùng đi tản bộ trên sân trường Ông hỏi chuyện
tôi bằng tiếng Tày Tôi kể về đời tư, về quê hương bản
quán, về các sáng tác từ trước đến nay Ông chăm chú
lắng nghe tôi chầm chậm kể Và ông dặn dò khuyên nhủ
rất nhiều về tình người, về lòng tự tôn dân tộc, về tiếng
nói và chữ viết, về văn hóa của người Tày Nùng Ông
nói như đang thổi hồng ngọn lửa tình yêu dân tộc hòa
vào trong tình yêu đất nước Tôi có cảm giác đó hơi ấm
Bất chợt ông hỏi:
- Y Phương có bao giờ sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ Tôi đỏ bừng mặt ngỡ ngàng, và ngượng Tôi thật thà:
- Thưa thầy, em…chưa…
Ông nhìn tôi Một cái nhìn độ lượng của người anh người chú Ông lại tiếp tục kéo tôi đi quanh sân trường Tôi biết ông đang buồn Một nỗi buồn sâu thẳm về vốn văn hóa dân tộc đang tự nhiên bị mai một dần Con em các dân tộc thiểu số ngày nay không mấy mặn mà với truyền thống văn hóa, với tiếng nói mẹ đẻ Vì lý do gì? Thế hệ chúng tôi đâu có được học tiếng Tày Nùng Dù là Nôm Tày cũng phải có giáo trình, có thầy dạy Tiếng Tày Nùng ngày nay được phiên âm từ chữ Latinh Hệ chữ đó đâu phải chữ viết của người Tày
Trong mấy năm học ở trường, ngoài giờ lên lớp của các giáo sư, các nhà khoa học hàng đầu, ông là người trực tiếp phụ đạo, kèm cặp tôi suốt mấy năm học Thỉnh thoảng ông lại rủ tôi về chơi với gia đình Nơi vợ và các con ông đang sinh sống ( hồi ấy là khu tập thể Kim Liên) Mỗi lần đọc các sáng tác của tôi, ông đăm chiêu trên từng con chữ Đâu rồi nhỉ vẻ đẹp của tiếng nói, của nhạc điệu, của sự tinh tế của tiếng Tày Tại sao nay có nhiều nhà văn người Tày lại sáng tác văn học bằng tiếng Việt? Trong các buổi xê- mi- na, ông đều nhường cho các thầy nói về thơ tôi Còn ông chỉ lặng lẽ Năm cuối cùng, cả lớp đi nhà sáng tác Đại Lải làm tác phẩm tốt nghiệp Thầy trò tôi có dịp cùng ăn cùng ở gần tháng ròng.
- Lần này Y Phương nên làm tác phẩm tốt nghiệp bằng tiếng Tày Không ai viết thay, nói thay cho dân tộc của mình được Ông nói như thốt lên từ trái tim tình yêu dân tộc vô bờ bến
Ngày thứ nhất, đóng kín cửa, tôi ngồi lì trong phòng Đầu óc tôi trống rỗng Nhìn lên trần nhà lại nhìn ra ngoài vườn Chỉ thấy cái thế giới này của ai chứ không phải của mình Đến bữa ra nhà ăn, ông lại tìm cách ngồi chung mâm với tôi Ông lựa miếng thịt ngon nhất, khúc cá thơm ngon gắp vào bát tôi.
Ngày thứ hai, cửa đóng then cài Tôi lục tìm vốn liếng tiếng Tày Nùng mà mình có, nhưng không mảy may cảm xúc Tập giấy trắng kẻ ngang để trên bàn, không có chữ nào được tôi viết lên Tập giấy trắng như người tình phập phồng nằm chờ đợi Nó vừa như lạnh lùng vừa nóng giẫy Đến bữa, ông lại tìm tôi Ông dúi cho tôi quả chuối ngọt.
Từ trái sang, các nhà thơ: Nơng Quốc Chấn, Chế Lan Viên,
Tế Hanh, Hồng Trung Thơng.
NÔNG QUỐC CHẤN
Góp cho trời xanh một tấm lòng
Y PHƯƠNG
Trang 21Ngày thứ năm…
Thế rồi những dòng chữ Latinh phiên âm tiếng Tày
lần đầu tiên của tôi cũng thập thò xuất hiện Chúng
như trai tân lần đầu tiên được gặp gái E thẹn, nhưng
thích thú Sợ hãi nhưng đầy hấp dẫn Câu trước gọi
câu sau Tôi viết liền một mạch như lên đồng như ma
ám Chữ ngoáy tít mù không kịp nghỉ Chữ rắc lên đen
kín cả hai tập giấy học trò Tôi kể lại tuổi thơ của mình,
cảnh tung còn hát lượn, trai gái dẫn nhau ra chân núi
tự tình Tôi kể về cái làng nhọc nhằn đá sỏi nơi sinh ra
tôi Kể về các bà già ngồi không, há miệng khoe trầu
Kể về các cậu bé trần truồng tắm suối Con suối nhỏ
Khưa Riềng như một người bạn mùa hè Người bạn ấy
mãi mãi không lớn lên được bao giờ Quê hương là đứa
trẻ sống ngàn năm tuổi Kể về ông lão chăn vịt suốt
đời chỉ nghiện mỗi kẹo lạc Với ông, kẹo lạc còn có thể
thay thuốc uống mỗi khi trúng gió…Thế rồi biên giới có
chiến sự Cả làng tôi kéo nhau lên núi Họ tìm chỗ ở
cho bà già con mọn Cánh đàn ông, thanh niên cầm
súng ra chiến hào…Tác phẩm chỉ viết trong một tuần
Trong những ngày này tôi cố tình lảng tránh ông Hình
như ông đoán biết Ông thận trọng giữ gìn khoảng cách
giữa hai thày trò Ông hiểu tôi đang “đẻ” và im lặng hồi
hộp quan sát
Hôm tổng kết trại, có lẽ ông là người sung sướng
nhất Bởi hầu hết những sáng tác của các học viên đều
được hoàn thành một cách chóng vánh, chỉn chu Người
thì tiểu thuyết Người thì tập truyện ngắn, tập thơ Riêng
tôi “Trường ca tiếng Tày” gần một ngàn câu đã hoàn
chỉnh Đêm lửa trại, tôi ung dung đọc cho mọi người
nghe Cả lớp im lặng Họ cùng thưởng thức nhạc điệu
của tiếng Tày Tôi hưng phấn lên bổng xuống trầm
Ngoài nhà thơ Nông Quốc Chấn, không một ai hiểu tôi
đang đọc hay hát Khuôn mặt ông giãn nở Cặp mắt ông
rạng rỡ nhìn tôi
Tác phẩm tốt nghiệp của tôi về sau được hội đồng
chấm thi cho điểm khá cao Và một điều không may
đã xảy ra với tôi Ngay sau khi “hát” tác phẩm trường
ca tiếng Tày trên nhà sáng tác Đại Lải, tôi bị đau nhức
khắp người Suốt đêm tôi bị sốt cao, trằn trọc mãi mà
không ngủ được Cả ngày không một hạt cơm vào
bụng Tự nhiên khi tôi đứng lên thì cả hai đầu gối lại
khụy xuống Cả người tôi đổ rụp như một cây chuối bị
chặt gốc Thấy bệnh tình của tôi ngày càng trầm trọng
Hai chân của tôi bị liệt hoàn toàn Nửa thân dưới không
còn cảm giác Các bộ phận bài tiết cứ tự nhiên hoạt
động Ông lo lắng ra mặt và đi gặp bác sĩ trưởng khoa
Thần kinh, bác sĩ giám trực tiếp điều trị Ông lên thẳng
ban giám đốc bệnh viện Lấy tư cách là nhà thơ lớn của
dân tộc, là Thứ trưởng Bộ Văn hóa, kiêm Hiệu trưởng
một trường đại học Ông trình bày về trường hợp bệnh
tình của tôi Và ông khẩn khoản đề nghị bệnh viện hãy
cứu bằng được bệnh nhân này Ba tháng sau tôi được
xuất viện, nhúc nhắc đi lại được gần bình thường, và dự
kì thi tốt nghiệp như mọi người khác.
Giờ đây ông đã lên đường đi về miền cực lạc Không ngờ rằng bữa cơm sum họp cuối năm ở nhà thầy lại là lần chót Khi đó tôi cùng nhà văn Hữu Tiến về Hà Nội công tác, có mang theo bánh khảo, mâm trúc làm quà Thầy gọi mọi người quây quần ngồi bên mâm trúc Mùi vị của thức ăn quyện cùng hương thơm của cây trúc sào Cao Bằng, làm ông hào hứng rót rượu sâm banh, bắt buộc ai cũng phải uống Chưa bao giờ tôi thấy ông vui như hôm ấy Cả nhà ai cũng nói tiếng Tày Cười cũng ra tiếng Tày Tiếng Tày như làm rung cả hàng cây hai bên đường của dãy phố cụt Yên Bái Giờ đây ông đã lên đường về miền xanh thẳm Nhưng nụ cười hiền hậu, ánh mắt bao dung trên gương mặt ông thì còn mãi Còn mãi trong trí nhớ nhiều thế hệ học trò, của anh em bè bạn Mất đi một con người giàu lòng nhân ái, một tài năng như ông, đau hơn đứt tay xổ ruột Hôm nay tôi thắp một nén nhang cho thầy, rót một tuần trà cho thầy, xin thầy tha thứ cho người học trò nông nổi đã nhiều lần làm thầy phiền lòng Thắp một nén nhang cho thầy, khói nhấc bổng dâng thơ lên trời xanh Góp thêm một tiếng thơ tình yêu của người Tày Việt Bắc Đó là nhà thơ lớn dân tộc Tày - Nông Quốc Chấn.
Nhà thơ dân tộc Tày Y Phương tưởng nhớ đến thầy nhà thơ Nơng Quốc Chấn Ảnh: Đồn Đức Thành.
Trang 22Đó là một câu thơ của Chim Trắng có lẽ
được viết trước lúc anh chuẩn bị cho riêng
mình một chuyến đi xa Tới bây giờ, tôi
vẫn có cảm giác lửng lơ thế nào, hụt hẫng thế
nào khi anh Chim Trắng mất Bởi trong khi anh
biết trước và đã chuẩn bị rất chu đáo rất kỹ lưỡng
cho chuyến đi cuối cùng của mình, thì chúng
tôi lại không biết Tôi vẫn nhớ, đúng ngày Rằm
tháng Bảy xá tội vong nhân, vợ chồng chị Ý Nhi
ra Quảng Ngãi, ghé nhà tôi chơi, chị Nhi cho biết
anh Chim Trắng hình như bị bệnh gan khá nặng,
nhưng hỏi thì anh không nói Ngay sau đó, tôi gọi
điện cho Chim Trắng, anh bắt máy và nói là có
chuyện men gan cao, uống thuốc không giảm bớt
Tôi có biết chút ít về bệnh men gan cao, nên nói
với anh là bệnh này chữa được, không đáng ngại
lắm Tôi đâu biết, ngay lúc đó, anh giấu tôi, thực
ra anh bị bệnh gan nhưng nặng hơn rất nhiều, và
anh biết, bệnh này không chữa được Sau khi anh
mất, tôi mới biết chuyện Chim Trắng đã từ chối
bệnh viện, từ chối chữa trị, tới mức người con dâu
của anh phải quì xuống khóc xin anh hãy thương
lấy các con mà vào bệnh viện cấp cứu Vào bệnh
viện, bác sĩ tính trói chân tay anh để truyền máu
hay truyền thuốc gì đó, Chim Trắng đã gạt đi:
“Tôi là người tự do, đừng trói buộc tôi!” Nói xong, anh chìm vào cơn hôn mê cuối cùng Cho tới lúc mất, Chim Trắng vẫn đúng là anh, không một ly đổi khác
Ngày bé, thần tượng của tôi là nhân vật Ruồi Trâu mà tôi được xem phim, và sau này lớn lên được đọc trong tiểu thuyết cùng tên của E.Lilian Voynich Tính cách mạnh mẽ đến mức cực đoan, tình yêu mãnh liệt với lý tưởng và với người con gái tên Giêma, cuộc đời đầy sóng gió can trường của Ruồi Trâu, và lối sống khắc kỷ kỳ lạ của nhân vật này đã ám ảnh cả tuổi thơ tôi Bẵng đi bao nhiêu năm, thực ra tôi đã gần như quên thần tượng tuổi thơ của mình, thì sau khi Chim Trắng mất, tự nhiên tôi cứ nghĩ anh giống một ai đó, một nhân vật nào đó mà tôi đã từng yêu kính Và tôi đã nhớ
ra, nhân vật mà tôi thấy có những nét tương đồng với Chim Trắng chính là Arthur(Ác-tơ) có biệt danh là Ruồi Trâu
Chim Trắng có vẻ ngoài cứng rắn hơi lạnh lùng, nhưng tôi biết, anh là người bên trong rất nồng nhiệt Có một ngọn lửa nào đó luôn bùng cháy âm thầm trong con người đặc biệt khắc kỷ này, một người luôn quan tâm tới bạn bè tới người khác nhưng luôn dấu mình và nhận về mình những khoảng lặng Dường như, có một nét nào đó trong tiểu sử của Chim Trắng gần với tiểu sử của Ruồi Trâu, dù không tới mức khắc nghiệt như Ruồi Trâu, nhưng cũng đã khiến anh phải mang trong lòng một nỗi đau suốt đời Đọc thơ anh, cứ thấy anh nhắc rất nhiều về bên ngoại, từ những hàng cau quê ngoại tới những kỷ niệm về mẹ mình, tôi đã không kịp hiểu, mà chỉ nghĩ là nhà thơ thì ai cũng hướng về phía mẹ mình nhiều hơn thôi Sau này, được biết tên thật của anh là Hồ Văn Ba mà họ Hồ là họ mẹ, tôi mới cảm thấy lờ mờ một nỗi buồn nào đó mà anh không bao giờ kể ra
Chim Trắng là người làm thơ không muốn lặp lại mình và có một nội lực lớn, một nội cảm đầy và nhạy Vì thế, anh đã đổi mới được thơ mình, đã vượt lên chính mình, và đã thành một nhà thơ
VƯỜN NHÀ TA
IM LẶNG QUÁ
THANH THẢO
Nhà thơ Chim Trắng
Trang 23quê Nam Bộ có những cách tân Đó là một điều
đặc biệt Nhưng dù đổi mới tới đâu, thì thơ Chim
Trắng vẫn hết sức tình cảm, nhạy cảm và dễ tổn
thương Có cảm giác, khi làm thơ, anh là một đứa
trẻ đôi khi cô độc, đôi khi tủi thân, và nhiều khi
khát khao những tình cảm bình thường Nếu với
một con người, trạng thái ấy mang lại nỗi buồn
thậm chí nỗi đau, thì trong thơ, nó lại là một điểm
mạnh Thơ chính là số phận người làm thơ, không
thể khác
Để viết bài này, tôi đã chép tay lại những
câu thơ Chim Trắng mà mình yêu thích trong tập
bản thảo cuối cùng của anh, dự tính sẽ đưa vào
bài viết Nhưng rồi khi viết bài, tôi lại chợt muốn
cứ để những câu thơ anh được yên tĩnh trong tập
thơ, những câu thơ mà tôi cảm thấy không hề yên
tĩnh Bạn đọc có thể đọc và tùy chọn những câu
thơ của Chim Trắng trong tập thơ này mà mình
thấy hợp với mình Bởi thơ Chim Trắng không giáo
huấn ai, không dắt dẫn ai, thậm chí rất kiệm lời
khi giãi bày, thơ ấy cô đơn như con chim sẻ cuối
cùng trong bầy chim sẻ đậu nơi vườn nhà anh và
sắp vụt bay
Nhưng tôi vẫn xin trích một câu thơ của anh:
“Tôi khai quang nỗi buồn và cái chết”, có lẽ cũng
là một trong những câu thơ cuối cùng của đời anh
Bến Tre là quê hương Chim Trắng Từ ngày
được cùng đi với anh về thăm quê và thăm nhà
văn già Trang Thế Hy mà tôi rất yêu quí, Bến Tre
bỗng thân thiết như đó là quê hương tôi Nhất là
khi hỏi ra, hơn 80% người Bến Tre có gốc gác từ
Quảng Ngãi, thì tôi càng hiểu hơn vì sao mình
yêu mảnh đất xứ dừa này Trong nhiều năm, Chim
Trắng như chiếc cầu nối giữa tôi với Bến Tre và lão
nhà văn Trang Thế Hy Vì thế, khi anh mất, một
điều khiến tôi xót xa, là từ nay biết ai dẫn cho tôi
về Bến Tre?
Nhớ lần cuối cùng được đi cùng Chim Trắng
về Bến Tre hồi đầu năm 2011, tôi đã dồn mọi lo
lắng về sức khỏe cho “cây sậy Trang Thế Hy”(chữ
của Chim Trắng) Làm sao tôi biết, ngay lúc đó,
Chim Trắng đã tự biết thời gian của mình không
còn nhiều nữa Vậy mà anh vẫn tỏ ra hết sức bình
thản, vẫn vui cười hồn nhiên như không
Ruồi Trâu của tôi!
“Vẫn là ta
chú ruồi sung sướng
sống xứng đáng
chết
chẳng vấn vương”
(Thơ của Arthur biệt danh Ruồi Trâu)
Quảng Ngãi 13/10/2011
Nguyễn Ngọc Tư đứng sau lưng nhà thơ Chim Trắng tại Đại hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 ở Hà Nội Ảnh: Trần Hồng Nhân.
Trang 24Dịu dàng hoa
Dịu dàng hoa, nhỏ nhẹ hoa
Dẫu trong chốc lát cũng là lời ru
Đã ru tôi khúc biệt mù
Lời ru lời của gió vù thổi qua
Cách nào hiểu được mình ta?
Hát ru người lại hóa ra ru mình!
Một đêm làm kẻ xa nhà
Những ngày buồn thả chơi rongLắc lư võng nhớ về sông quê nhàNhìn chân nhớ thuở đi xa
Ngửa bàn tay nhớ cành hoa ven đườngGiật mình nhớ đất đai rung
Khói nhang cho nhớ não nùng thịt da
Một đêm làm kẻ xa nhàMột ta rừng thức một ta nhớ trànMuốn làm một kẻ tha hương
Đi đâu ư? Những ngã đường đã quaBuồn vui một góc quê nhà
Tha hương cho nhớ đâu là quê hương
Bài ca nhỏ
Thân yêu ơi, thân yêu đừng khóc nữa
Người chẳng còn là lá rụng ở quanh tôi
Người chẳng còn là mùa thu trong trước mặt
Không tình yêu chẳng nước mắt làm gì!
Rượu chẳng còn reo vui trong đáy cốc
Cỏ đâu còn hát nhỏ dưới chân ta
Câu thơ cũ đã phai màu bạc phếch
Người chẳng còn là đá tảng ở trong ta
Thân yêu ơi nếu em còn khóc được
Xin một lần khóc lại cái thời xưa
Thời bom nổ trên đầu, chông đơm mặt đất
Ta hát bên ngoài, rượu múa trong ly
Đã biển
Thôi cạn rồiTàu đã biểnTrắng xa khơi
Sông không cạnNước vẫn đầyCon tàu run rẫyKhói và sóng khơi xa
Không có con tàu nào cảMắt em chưa hoang mấy phía bên đời
Tôi vẫn hiểuDẫu mãi đứng nhìn một miền trắng xóa
Không thể quên điều gì
Trang 25Đi vòng tròn
1 Tôi quay những vòng tròn chóng mặtMười năm, hai mươi năm, hai lăm nămTích tắc Thời gian tích tắc
Tích tắc Tôi quay và tôi bỗng gặpNhững gì tưởng mãi chia xaNhững bông hoa quen thuộc, cánh đồng quen thuộc, hố bom quen thuộc
Những cánh rừng kỳ bí bướm và hoaVoi bầy - mển tát
Nụ cười chưa kịp mở ra
2 Tôi quay những vòng tròn chóng mặtNgười đàn bà yêu tôi cũng bỏ tôi đi(Lửa cháy ở phía Tây Tổ quốc
Xếp hàng đôi, hàng ba mua gạo, bột mì )Quay Tình yêu quay chóng mặt
Tiền quay chóng mặtPhản phúc quay chóng mặtCơm độn cao lương-cơm gà Thượng Hải
Rượu WhiskyĂn màyĂn cắpCòng số 8 ngày xưa, còng số 8 bây giờGặp gỡ những cườm tay quen thuộcTôi quay - một gã say nhừ
Bước thấp, bước cao và tôi sững lại
3 Em đừng mong tôi đốt cháy những cánh rừngBóp nát những cánh bướm màu rực rỡ
Mười năm, hai mươi năm, quay những vòng chóng mặtThách thức những câu thơ lơ láo, bên lề
Bây giờ tôi mới khócKhóc được rồi !
4 Câu thơ này anh viết cho emNín đi em nước mắt cạn rồiKhóc làm chi cho kiệtLúc đau chi?
Nói sảng
Lên núi lần này không thấy núi
Lá không rừng lá cũng thật thà xanh
Mây quấn bên tôi mà tôi nghĩ quẩn
Nắng đang sương khói cứ xa gần
Hóp một chút thôi rồi gục chết
Bạn tôi thấu đáo ngã lăn cười
Ai đắp cho tôi ngàn mảnh vỡ
Từ một vì sao lạc xuống lòng tôi?
Tôi biết tôi say lỡ lời nói vậy
Sao đâu sao rụng giữa ban ngày
Còn chiếc lá kia nằm giãy giụa
Quá cực lòng lăn nhẹ xuống môi tôi
Lên núi tập ngồi trơ như đá
Gió không hương mưa nắng không hồn
Cúi xuống ngực hôn lên từng lá biếc
Chạm phải môi mình chiếc lá khô cong
Tôi biết tôi say mà nói sảng
Ngủ một giấc rồi cứ tỉnh như không
Tôi có gì đâu mà mất cả
Dọc đường đời tôi xí được nỗi buồn trong
Điều ước
Trái đất mãi quay vòng nước mắt
Dẫu hoa bên đường xẻ đá nở lung linh
Ước gì được trở về nơi cũ
Một lần thôi mãi mãi-phôi-mình
Thôi đã lỡ một lần oa oa tiếng khóc
Cứ sống đi như mọi lẽ trên đời
Muốn óng ánh tự mình óng ánh
Đốt sợi tơ tơ chẳng hóa nên tầm
Ừ thì sống như trái tim vẫn đập
Yêu thương là lẽ của riêng mình
Không xin hết đêm thâu không cầu lửa tắt
Cháy tan rồi rực rỡ dưới tro than
Trang 26Nhạc sĩ La Hối, tên thật là La Doãn Chánh,
sinh năm 1920 tại Hội An La Hối gốc
người Quảng Đông nhưng dòng tộc ông
đến định cư tại phố Hội đã 17, 18 đời Từ nhỏ,
La Hối thông minh, học giỏi và tỏ ra có năng
khiếu đặc biệt về âm nhạc Năm 14 tuổi, ông đã
chơi được các nhạc cụ mandolin, ghita, accordeon,
piano và tự sáng tác các khúc nhạc tươi vui về
tuổi học trò để diễn tấu Những năm 1936 -1938,
La Hối vào Saigon để học tiếp văn hóa và trau
dồi thêm kiến thức âm nhạc Năm 1939, về lại
quê hương, La Hối dạy nhạc và cùng với nhạc sĩ
Vương Gia Khương, tác giả bài “Cờ Việt Minh”,
thành lập Hội Âm Nhạc Hội An (Société
phil-harmonique de Faifoo) mà ông là hội trưởng, tập
trung vào hội những thanh niên yêu thích âm
nhạc để dìu dắt họ về hòa âm, sáng tác và biểu
diễn âm nhạc Nhiều học trò của La Hối sau này
đã trở thành những nhạc sĩ khá nổi tiếng như Lê
Trọng Nguyễn, Lan Đài, Dương Minh Ninh, Hồ
Vân Thiết, La Xuân, Hoàng Tú Mỹ, Trương Đình
Quang
Theo thiếu tướng nhà văn Nguyễn Chí Trung,
từ những năm 1939 - 1940 trong phong trào chống
phát xít Nhật xâm lược Trung Quốc, Đông Dương
và Đông Nam Á, La Hối đã tham gia và nhanh
chóng trở thành thủ lĩnh một nhóm thanh niên
Hoa Kiều chống phát xít Nhật và là cơ sở của
viên Cộng sản Việt Nam Ngô Tam Tư, Huỳnh Đắc Hương lãnh đạo Khi đó, Ban nhạc thuộc Hội Âm nhạc Hội An của La Hối bắt đầu diễn tấu các hành khúc cách mạng của Việt Nam, Trung Hoa, Nga để gieo lửa cách mạng vào công chúng Vào khoảng tháng 7 năm 1939, nhóm thanh niên Hoa kiều kháng Nhật của La Hối tổ chức triển lãm tội ác của phát xít Nhật và công cuộc kháng Nhật của nhân dân Trung Hoa tại chùa Quảng Triệu, đọc các bài thơ Song Thất, Quyết đề kháng, Ly rượu thọ, Đông Kinh nhuộm máu của Tố Hữu gây chấn động cả Hội An La Hối và các đồng chí của ông còn tổ chức nhiều hoạt động phá hoại các nơi quân Nhật đồn trú, phá kho lương thực, đầu độc ngựa của Nhật tại Hội An và các vùng lân cận Trong thời gian từ 1939 đến 1944, ngoài các bản nhạc và ca khúc rất được thanh niên quê hương
ưa thích về mùa xuân và tuổi trẻ, La Hối đã viết một số hành khúc hùng tráng cổ động tinh thần yêu nước, ý chí chống phát xít xâm lược Tiêu biểu là ca khúc Gió thiêng liêng ông viết năm 1944: Lời đất nước gieo niềm tin/Gió lên kia rồi/Gió thiêng liêng bừng chí thanh niên/Lời đất nước giục lòng ta… Bản nhạc Xuân và Tuổi trẻ cũng được nhạc
sĩ La Hối viết trong giai đoạn này Theo một vài cựu đồng chí của La Hối thì người nhạc sĩ cách mạng Hội An đã dùng phần dạo đầu (intro) của nhạc phẩm này làm ám hiệu liên lạc cho tổ chức
La Hối - Thế Lữ
trong “Xuân và Tuổi trẻ”
NHẬT ÁNH
“Xuân và tuổi trẻ” có lẽ là khúc nhạc xuân được hát nhiều nhất trong hơn 60 năm qua trên đất nước ta, kể từ khi nó được nhà thơ Thế Lữ đặt lời Việt rồi được ông cùng các nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Văn Chung dàn dựng trên sân khấu Đoàn Ca Vũ Nhạc Kịch Anh Vũ biểu diễn ra mắt tại nhà hát Phan Hương trên đường Minh Hương, thị xã Hội An, đầu năm 1946 Không nhiều người biết tác giả của khúc nhạc xuân bất hủ này, nhạc sĩ La Hối, là một nghệ sĩ - chiến sĩ cách mạng can trường, người đã hy sinh vì đại nghĩa của dân tộc ngay giữa tuổi 25…
Nhạc sĩ La Hối
Nhà thơ Thế Lữ
Trang 27Từ năm 1944, hoạt động của La Hối bị bại lộ,
hiến binh Nhật ráo riết truy nã ông Tháng 5.1945,
ông và 9 đồng chí trong tổ chức bị phát xít Nhật
bắt giữ Sau nhiều ngày giam cầm và tra tấn vô
cùng dã man nhưng không hề khai thác được gì,
ngày 19 tháng 4 năm Ất Dậu (tức ngày 30 tháng 05
năm 1945), bọn Nhật đem hành hình 10 người con
thân yêu đó của Hội An, tại chân núi Phước Tường
(gần sân bay Đà Nẵng) La Hối và bạn bè thì đã bị
vùi chung trong một hố chôn người bí mật
Nhà văn Nguyễn Chí Trung cho biết: khi quân
Tưởng Giới Thạch vào Đà Nẵng tước khí giới
quân Nhật, nhân dân Hội An đã yêu cầu quân
Tưởng buộc quân Nhật chỉ chiếc hố chôn La Hối
và 9 người bạn của ông Gia đình La Hối nhận ra
thi thể ông nhờ chiếc áo carô ông mặc hôm bị bắt
Bà con Hoa - Việt Hội An đã đem di hài La Hối và
9 đồng chí của ông về an táng ở trước chùa Chúc
Thánh, trong ngôi mộ dài, chia làm 10 khoang
Khoang thứ hai từ trái sang là khoang mộ La Hối
La Hối từ giã cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc
một cách đột ngột khi còn quá trẻ và liền sau đó
là chiến tranh ly loạn, nên những gì liên quan đến
ông, nhất là các sáng tác của ông, hậu thế biết
được rất ít Bạn bè và học trò nhớ rằng cho tới
trước lúc hy sinh, La Hối đã sáng tác rất nhiều
nhạc đàn và ca khúc nhưng hầu hết các tác phẩm
của La Hối đều được ông gửi cho người con gái
ông yêu lưu giữ Đó là một thiếu nữ Hội An xinh
đẹp, làm nghề dạy đàn piano Sau khi La Hối hy
sinh, mọi người không còn thấy thiếu nữ này ở
Hội An và cô lưu lạc về đâu, còn sống hay đã
mất, cũng không ai được biết Gia đình nhạc sĩ chỉ
lưu giữ được vài sáng tác của ông May mắn sao
trong đó có bản nhạc Xuân và tuổi trẻ
Thực ra, Xuân và tuổi trẻ không phải là cái
tên La Hối đặt cho nhạc phẩm của mình Đó là cái
tên do nhà thơ Thế Lữ đặt khi viết lời Việt cho nó
Đây nguyên là một bản nhạc không lời, có đầu đề
Pháp ngữ là Printemps et la Jeunesse được La Hối
sáng tác đầu năm 1944 Sau đó, một người bạn
gốc Hoa, thi sĩ Diệp Truyền Hoa, đã đặt lời Hoa
với tiêu đề Thanh niên dữ xuân thiên để phổ biến
trong cộng đồng Hoa kiều ở Hội An
Đầu năm 1946, Đoàn Ca Vũ Nhạc Kịch Anh
Vũ từ thủ đô Hà Nội thực hiện chuyến lưu diễn
xuyên Việt đến các tỉnh miền Trung Sau khi trình
diễn tại Huế, đoàn vào thẳng Hội An Đoàn do
ông Võ Đức Diên làm trưởng đoàn với các thành
viên trứ danh như nhà thơ Thế Lữ và vợ, nghệ sĩ
Song Kim, các nhạc sĩ Văn Chung, Bùi Công Kỳ,
Nghe tiếng La Hối đã lâu, khi đến Hội An, Thế Lữ và các nhạc sĩ đồng hành muốn tìm gặp tài năng âm nhạc của Hội An thì được biết La Hối không còn nữa Đoàn Anh Vũ đến thắp hương viếng La Hối, được gia đình La Hối đưa tặng một số bản nhạc của La Hối trong đó có nhạc phẩm
Le Printemps et la Jeunesse Ngay lập tức, Thế Lữ và các nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Văn Chung, Bùi Công Kỳ đã cảm nhận được đây là một tuyệt phẩm âm nhạc của người quá cố Xúc động trước tấm gương người nhạc sĩ - liệt sĩ đã hiến dâng tài năng và tuổi trẻ cho đất nước và tác phẩm đầy sức sống của ông, Thế Lữ xin phép gia đình nhạc
sĩ đặt lời ca tiếng Việt và dàn dựng nhạc phẩm của La Hối trên sân khấu Đoàn Anh Vũ
Chỉ trong một đêm thức trắng, hóa thân vào thế giới âm thanh rạo rực, thổn thức, say đắm tình yêu, niềm vui sống hồn nhiên trong sáng của tuổi trẻ trong nhạc phẩm của La Hối, Thế Lữ đã viết xong lời Việt cho bản nhạc, ca từ hoà hợp kỳ lạ với từng nốt nhạc, với giai điệu và tiết tấu của nhạc phẩm:
Ngày thắm tươi bên đời xuân mới Lòng đắm say bao nguồn vui sống Xuân về với ngàn hoa tươi sáng
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng…
Xuân thắm tươi, én tung bay cao tít trời Vui sướng đi, cao tiếng ca mừng vui reo Đừng để lòng thổn thức tình mê đắm
Ta trẻ vui, ta trẻ vui đời xuân thắm tươiLời Việt kỳ tài của ông “Vua Thơ Mới” Thế Lữ đã chính thức biến bản nhạc không lời Le Print-emps et la Jeunesse của La Hối đã trở thành ca khúc Xuân và tuổi trẻ Với phần hoà âm của nhạc
sĩ Nguyễn Xuân Khoát, phần vũ điệu do nhạc sĩ Văn Chung biên soạn, cùng với tài năng đạo diễn của nhà thơ Thế Lữ, Xuân và tuổi trẻ đã được dựng thành một màn ca vũ hấp dẫn ra mắt trên sân khấu Đoàn Anh Vũ tại Nhà hát Phan Hương, Hội An đầu năm 1946
Kể từ đó Xuân và Tuổi trẻ đã truyền nhanh từ Hội An, Đà Nẵng ra Huế, tới Hà Nội, vào vùng tự
do Nam Ngãi Bình Phú, vào Phan Thiết, Sài Gòn, đến chiến khu Việt Bắc Và cho đến nay, sau hơn
60 năm, Xuân và Tuổi trẻ, ca khúc khai sinh từ cuộc hạnh ngộ của nhạc sĩ La Hối và nhà thơ Thế Lữ, vẫn luôn trẻ trung, tươi mới, vẫn được coi là
ca khúc xuân hay nhất, được hát nhiều nhất, mỗi
Trang 28Hãy nghe một người Hà Nội nói về chút
hương vị làm từ nếp , thanh tao, dung dị
nhà quê:
“Cốm là thức quà riêng biệt của đất trời, là
sức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh,
mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị
và thanh khiết của đồng quê nội cỏ Việt Nam
Phải nên kính trọng cái lộc của trời, cái khéo léo
của người và sự cố sức tiềm tàng và nhẫn nại của
Thần Lúa.” (Thạch Lam - Quà Hà Nội) Mới hay
hương nếp được nâng niu trân trọng biết dường
nào, dù chỉ là chút quà quê nho nhỏ
Theo sách “Vân Đài loại ngữ” của cụ Lê Quý
Đôn, nhà bác học kiệt xuất thế kỷ 18, thì ngay thời
đó nước ta đã có gần 30 loại lúa nếp khác nhau
Nếp nương, nếp nước, nếp chiêm, nếp mùa, nếp
hương, nếp cái, nếp quýt, nếp cẩm, nếp sáp, nếp
lốc, nếp mây, nếp than Trong đó được tôn vinh
hàng đầu là nếp cái Hoa Vàng
Cuối thu, trời se se lạnh, tôi lững thửng xuôi
về làng Vòng, chỉ cách trung tâm Hà Nội dăm cây
số nhằm hướng Dịch Vọng Bốn thôn Vòng Tiền,
Vòng Hậu, Vòng Sở, Vòng Trung gộp lại nên làng
Vòng, thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội Nhưng Cốm ngon nổi tiếng làng Vòng thì chỉ ở hai thôn Sở và Hậu mà thôi Trước đây mấy thôn này có tới vài trăm gia đình làm cốm, nhưng nay số theo nghề không còn mấy Chỉ mới chừng năm sáu năm lại đây mà làng xưa nay mất dần nét làng Vào làng lòng vòng theo những con đường dang dở, những ngôi nhà chóp nhọn ba bốn tầng che lấp những hàng cau, vườn chuối quen thuộc
Biết chúng tôi là khách phương xa, lũ trẻ ngó nghiêng rồi như đồng thanh mấy câu nghe ngồ ngộ như đồng dao đời mới
Lúa nếp là lúa nếp nonLúa lên lớp lớp, lòng nàng lâng lângLúa nếp là lúa nếp làng
Cốm ngon Hà Nội thường vào hai vụ chiêm và mùa Nhưng khi nói tới cốm người ta nghĩ tới cốm thu, độ tháng chín tháng mười hàng năm Khi lúa non gặt về, truốt lấy hạt, chọn những hạt mẩy đem rang trên chảo gang lớn Bếp núc ngỡ chỉ có phụ nữ, nhưng đảo cốm thì phải cần đến đôi cánh tay mạnh mẽ của đàn ông Cốm nhỏ lửa, đảo liên tục từ dưới lên Thóc rang xong cho vào cối giã Mỗi mẻ
Mùa Thu
HƯƠNG CỐM
NHƯ NGUYỄN
Trang 29giã rồi sàng sẩy ít nhất cũng phải sáu bảy lần, cho
kỳ sạch, không lẫn một tí trấu nào mới gọi là vừa ý
Có 3 loại cốm ngon Cốm lá me, có lẽ hạt mỏng như
lá me chăng Nhưng đó là cốm ngon nhất, thường
chỉ dành cho gia chủ, để biếu những bậc danh giá,
trưởng lão trong làng Cốm rót, là loại cốm non,
thường dính vào nhau, dẻo ngọt dịu Cũng chính
vì cốm ngon nên không ít lò cốm làm rởm Họ cho
ít nước vào cối rồi giã cho đến khi từng nắm cốm
dính bết vào nhau giống như cốm rót Nhưng người
sành cốm thì không dễ bị lừa, bởi cốm rởm thường
nhạt bờn bợt, màu hạt cốm lại tái dại khó thương
lắm Ấy là cách nói của mấy bà làng Vòng mà tôi
gặp ngay đầu ngõ Cốm đầu nia cũng được liệt vào
top ngon Khi cốm đã giã xong, còn một việc nừa là
nhuộm màu Tại làng Vòng các bà, các chị dùng lá
mạ non tạo màu cho cốm Sau khi cốm đã lên màu
xanh mịn, trên mình phơn phớt bụi cám, toát ra một
mùi thơm bùi, mẻ cốm ấy mới coi là được Bây giờ
cần đến trăm bàn tay cô gái hong khô lạt hồng, gói
cốm vào lá sen, vừa để cốm khỏi khô, lại giữ lâu
bền màu xanh như màu ngọc bích, vừa hoà vào
hương sen cho ta một cảm giác dìu dịu, trân trọng
món quà quê thơm thảo
Đã một thời ngỡ như không còn cốm Làng
Vòng có lẽ đã lùi xa vào dĩ vãng, còn chăng chỉ
trong những hoài niệm xưa Hà Nội, trong đôi câu
ca dao đồng quê ruộng nước Đao binh, giặc giã
lương thảo vơi cạn, nghĩ gì đến quà bánh nhâm
nhi Giờ đây trở về với cuộc sống thanh bình,
hương cốm lại theo vào các ngõ nhỏ từ những ô
ruộng ngoại vi để giữ lại cho Hà Nội một hương
vị thu xôn xao dọc theo từng lối hè phố nhỏ
Gia đình bà Thơm nhiều đời làm cốm Giờ bà
đã già lắm rồi Bà chậm rãi tỏ bày
- Làm cốm vất vả Phải chịu thương chịu khó
Thức dậy từ canh ba, ra đồng khi chưa tỏ mặt
người để cắt lúa Đem về sân là cho tuốt lấy hạt
mẩy Rồi rang, rồi sàng sẩy, công phu lắm Mỗi
ngày không làm nổi mươi cân cốm Mấy bà già
gọi yêu cốm là “chị chàng đỏng đảnh” Bởi vì
chậm tay giã một chút là cốm cứng lại, còn mạnh
tay giã thì cốm nát Lửa lò bao giờ cũng chỉ riu
riu Chiều chuộng hết mực mới hòng có được một
đôi mẻ ưng ý
Mà kể cũng lạ Dọc châu thổ sông Hồng, riêng
gì làng Vòng có cốm Cốm Mễ (Mễ Trì), cốm Lũ
(Hà Đông), cốm Kim Giang, cốm Thanh Hương
nhưng chỉ riêng cốm làng Vòng mới thực sự nổi
tiếng Người ta đồn làng Vòng có bí quyết chi
đây Cũng từ cây nếp Nhe, nếp Cái Hoa Vàng mà
nên cốm Gia đình cụ Hải thì nói:
- Chỉ quen con mắt, chỉ dẻo ở bàn tay cả thôi Làng Mễ nào có xa xôi gì Người Mễ vẫn sang làng Vòng làm công nhiều đời nhưng cốm Vòng, cốm Mễ không thể lẫn lộn Ngay trong hai thôn Hậu, Sở đây, cốm mỗi nhà một vị, không ai giống
ai Người sành cốm từ Hà Nội đến Vòng, cũng chỉ nhăm nhăm vào một đôi nhà mà thôi Vất vả đã vậy, nhưng được chẳng là bao Là nghề của làng, nên phải giữ Nhưng cũng may là ngày nay cốm không chỉ quanh quẩn quanh mấy lối hè Hà Nội, mà nhiều vùng, cả tận Sài Gòn, Lục Tỉnh cũng tìm về Vòng dịp cốm rộ Nghe đâu cốm còn đi sang tận Tây, Tàu, Pari, Hoa Kỳ gì nữa cơ Vui đáo để.Phải đó, bà lão làng Vòng ơi Cốm làng Vòng có thể không còn mấy như xưa, nhưng danh tiếng làng Vòng thì còn lưu giữ mãi trong lòng người Hà Nội đi xa Tôi đã từng gặp khá nhiều người Việt cư trú ở Đức, ở Mỹ, ở Canada và đặc biệt là
ở Pháp Vừa về tới Hà Nội là nhớ cốm Vòng Khi mùa Thu tới, xuôi theo những con phố nho nhỏ dẫn ra ngoại thành, tìm lại chút hương vị xưa, cốm Vòng Khi giã từ những ngày sống trên xứ sở cha ông mình để ra sân bay, không một người Hà Nội nào không mang theo một ít cốm gói trong mấy lá sen, bọc trong túi ni long để làm quà cho gia đình, bạn bè chút hương vị trong từng hạt cốm quê nhà Vậy là hạt nếp làng Vòng, “chị chàng đỏng đảnh“ có dịp chu du thiên hạ rồi đấy
Người Hà Nội nhâm nhi hạt cốm cùng quả chuối trứng cuốc, thứ quả đặc sắc riêng của mùa thu Màu cốm xanh dịu, vị chuối thơm, ngọt đậm hoà vào nhau mới thực sự tạo nên hương vị đặc sắc của cốm Bóc một quả chuối tiêu trứng quốc, chấm vào gói cốm lá sen, chậm rãi nhâm nhi rồi chiêu một ngụm nhỏ chén chè Thái hương sen vậy là ta đã đưa cả hương sắc mùa thu vào mình, cảm hết cái thơm, cái ngọt cái dịu mà đất trời đã ban tặng cho cư dân miền quê cây nếp
Trang 30CÓ NÊN DÈ BỈU ÂM NHẠC VÀ CA KHÚC ĐẠI CHÚNG?
Việc các cơ quan truyền thông, đặc biệt là truyền hình với cách quảng bá của mình cho các chương trình như “Bài hát Việt”, “Sao Mai điểm hẹn”, “Con đường âm nhạc”… làm cho khán giá dễ lầm tưởng rằng nhạc nhẹ, nhạc đại chúng là tất cả nền âm nhạc VN hiện nay rõ ràng là cần nghiêm túc điều chính Bản thân quá trình phát triển của âm nhạc đại chúng cũng còn nhiều điều gây dị ứng với khán giả: các sáng tác tập trung quá nhiều khai thác đề tài tình yêu mà bỏ quên trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân, còn vay mượn nước ngoài quá nhiều, quá chú trọng khai thác sự sôi động mà coi nhẹ chất tâm tình, ca từ dễ dãi và mòn sáo, phong cách biểu diễn và phục trang của không ít
ca sĩ dễ gây phản cảm…
Tuy vậy không thể phủ nhận sự phát triển của nhạc nhẹ, nhạc đại chúng ở nước ta trong thời gian vừa qua cơ bản là bình thường, lành mạnh và ngày càng phong phú chuyên nghiệp, thu hút được đông đảo công chúng Sau những Trần Tiến, Nguyễn Cường, Thanh Tùng, Phú Quang, Bảo Phúc… đội ngũ viết ca khúc và phối khí nhạc đại chúng kế tiếp cũng thật trẻ trung tài năng với những Ngọc Châu, Anh Quân, Huy Tuấn, Lê Minh Sơn, Việt Anh, Đức Trí, Quốc Bảo, Đỗ Bảo, Nguyễn Vĩnh Tiến… Sau sự khởi đầu thành công của Ái Vân, Lệ Quyên, Nhã Phương, Bảo Yến hơn hai mươi năm trước, đội ngũ ca sĩ nhạc nhẹ hôm nay thật hùng hậu với những tên tuổi được hết sức mến mộ như Thanh Lam, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Phương Thanh, Mỹ Tâm, Lam Trường, Quang Dũng, Đan Trường, Hồ Quỳnh Hương, Tùng Dương, Đàm Vĩnh Hưng… Ngoài đề tài tình yêu, những năm gần đây, sáng tác và biểu diễn trong nhạc nhẹ rất đáng biểu dương khi tìm đến với nhiều đề tài cách mạng, xã hội, nhất là việc hướng về khai thác loại âm nhạc mang âm hưởng dân gian dân tộc của Lê Minh Sơn, Nguyễn Vĩnh Tiến, nhóm Mặt trời đỏ…Bên cạnh đó, công nghệ tổ chức biểu diễn cũng phát triển khá nhanh trên con
Để có một
đời sống âm nhạc
thật sự hài hòa cân xứng
NGUYỄN THẾ KHOA
Âm nhạc đại chúng lên ngôi và chiếm lĩnh
tuyệt đối thị trường, khí nhạc và âm nhạc hàn
lâm phương Tây thoi thóp, âm nhạc truyền
thống dân tộc đang cố gắng tìm lại chỗ đứng
của mình nhưng chưa được nâng đỡ xứng đáng
Đó là toàn cảnh thực trạng đời sống âm nhạc
Việt Nam hiện nay mà ai cũng có thể nhận
thấy Làm thế nào tạo được sự cân xứng,
hài hòa trong đời sống âm nhạc vẫn là những
câu hỏi lớn đang cần những lời giải đúng đắn
thuyết phục.
Ca sĩ nhạc nhẹ Thanh Lam luơn được người nghe mến mộ
Trang 31đường chuyên nghiệp hóa với mong muốn bắt kịp
đà phát triển của công nghệ tổ chức biểu diễn khu
vực và thế giới
Sự phát triển của nhạc nhẹ, nhạc đại chúng
trong thời gian vừa qua có thể coi là nét son trong
đời sống âm nhạc VN, nó cần phải được đánh giá
khách quan, công bằng và cần được cổ vũ để phát
triển đúng hướng, có tác dụng thiết thực trong
việc xây dựng đời sống tinh thần của con người
VN hôm nay
Không thể chỉ vì một vài ca sĩ hát gào thét
mà coi “gào”, “điên” là căn bệnh phổ biến để hạ
thấp âm nhạc đại chúng VN Cũng không thể dè
bĩu các ca khúc nhạc nhẹ VN đều là ca khúc quần
chúng, không chuyên nghiệp, chỉ vì không có tổng
phổ phần đệm piano như một nhạc sĩ trường quy
lớn tiếng dè bĩu nhiều lần Ông nhạc sĩ hợm hĩnh
tự coi mình là hàn lâm để rẻ rúng nhạc nhẹ này
thực ra lại rất ấu trĩ khi đem tiêu chuẩn cổ điển để
ụp lên nhạc nhẹ và cả gan nói bừa rằng sáng tác
của các ban nhạc trẻ nổi tiếng thế giới như ABBA,
BEATTLE đều có phần tổng phổ piano trong khi
người có kiến thức i tờ về nhạc nhẹ cũng có thể
biết rằng trong nhạc nhẹ không hề có yêu cầu bắt
buộc đó và phần phối khí cho nhạc nhẹ không
bao giờ chi tiết, cứng nhắc như trong nhạc cổ điển
mà dành nhiều tự do cho nghệ sĩ ứng tấu
Chúng ta chưa có được một nền khí nhạc hàn
lâm như mong muốn nhưng không thể vì thế mà
phủ nhận những thành tựu rõ ràng của âm nhạc
và ca khúc đại chúng VN, một trong những thành
tựu của công cuộc đổi mới đất nước trong thời
gian qua trên lĩnh vực âm nhạc
GIẢI PHÁP NÀO CHO PHÁT TRIỂN KHÍ NHẠC?
Không có gì lạ khi không chỉ khí nhạc mà các
loại nhạc hàn lâm khác như ca khúc nghệ thuật
theo chuẩn của Hội Nhạc sĩ VN, thanh xướng kịch,
nhạc vũ kịch…đều khó thu hút đông đảo khán
giả Tuy vậy, không phải tất cả đều là màu xám,
bế tắc Bên cạnh hai đơn vị biểu diễn lâu năm như
Dàn nhạc giao hưởng VN và nhà hát Nhạc vũ kịch
VN đã hình thành thêm hai đơn vị khác là Dàn
nhạc giao hưởng Học viện âm nhạc Quốc gia và
Nhà hát Giao hưởng nhạc vũ kịch TPHCM Điều
đó chứng tỏ nhu cầu về nhạc hàn lâm trong cuộc
sống hôm nay Việc nhạc sĩ Quốc Trung thực hiện
thành công một số chương trình biểu diễn và album
World Music cũng là một hướng đi đầy triển vọng
Thực ra, cho đến nay, nước ta vẫn là một trong số
ít nước châu Á mà nhà nước có chính sách đầu tư
khá cởi mở phát triển khí nhạc hàn lâm phương
Tây bởi trân trọng thích đáng việc phổ biến tinh hoa văn hóa thế giới để làm giàu văn hóa dân tộc Tuy vậy, việc phát triển thể loại âm nhạc này không thể chỉ trông đợi vào sự đầu tư của nhà nước mà đòi hỏi sự tự vận động của những người hoạt động trong thể loại âm nhạc này Hội Nhạc
sĩ VN cũng rất cần chú ý dành kinh phí thích đáng trong khoảng tài trợ trao giải thưởng hàng năm của hội cho việc xuất bản và dàn dựng phổ biến các tác phẩm ca khúc nghệ thuật và khí nhạc được tặng thưởng Đây là kiến nghị chính đáng từ nhiều năm nay của các hội viên và nằm trong tầm tay giải quyết của Hội Nhạc sĩ VN Tại sao hội không thể phối hợp với bốn đơn vị biểu diễn âm nhạc hàn lâm chuyên nghiệp ở Hà Nội và TPHCM tổ chức biểu diễn hàng năm giới thiệu các tác phẩm được trao tặng giải thưởng của hội để giải quyết một thực trạng đáng buồn nhiều năm nay là các tác phẩm khí nhạc được đầu tư sáng tác rồi trao
giải thưởng hàng chục triệu đồng chỉ người sáng tác và người chấm giải biết với nhau còn các đồng nghiệp khác và công chúng thì hoàn toàn mù tịt Trong hàng tỷ đồng được nhà nước dành cho việc khen thưởng, Hội có thể dành vài trăm triệu đồng để làm việc rất cần thiết này Quan niệm phải coi khí nhạc hàn lâm phương Tây như gương mặt quốc gia của âm nhạc VN để so sánh với thế giới xem ra quá khiên cưỡng và mong muốn tìm cho khí nhạc hàn lâm lượng khán thính giả đông đảo thì quả là vô phương nhưng phát triển và gìn giữ nó trong chừng mực nhất định và tìm cách đưa nó đến với những khán giả yêu mến thì hoàn toàn hiện thực Tuy vậy, việc này thì không thể trông cậy vào ai được ngoài bản thân chính những người hoạt động khí nhạc hàn lâm
Giải pháp nào để phát triển khí nhạc?
Trang 32VỊ TRÍ NÀO CHO ÂM NHẠC
TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC?
Có thể nói âm nhạc truyền thống nước ta là
một nền âm nhạc phong phú độc đáo trên cả
phương diện dân gian, bác học, thanh nhạc, khí
nhạc mà những biểu hiện nổi bật là âm nhạc
Chèo, Tuồng, Quan họ, Ca trù, Đờn ca tài tử
Nam bộ, Nhã nhạc cung đình Huế, Cồng chiêng
Tây Nguyên, âm nhạc các dân tộc thiểu số Tây
Bắc, Việt Bắc… Không phải các giao hưởng, nhạc
kịch, sonat, concerto, tam tấu, tứ tấu theo kiểu
âm nhạc phương tây mà chính các loại hình âm
nhạc truyền thống này mới làm nên gương mặt
quốc gia đích thực của âm nhạc VN
Sau khi Nhã nhạc cung đình Huế, Cồng chiêng
Tây Nguyên, Ca trù và Quan họ được công nhận
là di sản phi vật thể và truyền khẩu nhân loại,
Hát Xoan và Ca nhạc tài tử Nam bộ đang được
tiếp tục đề nghị công nhận danh hiệu vinh dự
này Có thể thấy, âm nhạc truyền thống Việt Nam
ngày càng được chú ý và đánh giá cao trên phạm
vi thế giới
Về nguyên tắc, âm nhạc truyền thống dân tộc
phải được coi là.“Quốc nhạc Việt Nam”, phải có
vị trí hàng đầu trong sự quan tâm về mọi mặt của
lãnh đạo và công chúng Nền âm nhạc Việt Nam
hôm nay phải được xây dựng trên cái trục âm
nhạc truyền thống, trong sự bảo tồn, phát huy,
hiện đại hóa, quốc tế hóa các giá trị tinh hoa âm
nhạc cổ truyền và dân tộc hóa các tinh hoa âm nhạc thế giới
Tuy vậy, trên thực tế đời sống âm nhạc hiện nay, âm nhạc truyền thống dân tộc đang giữ một
vị trí quá khiêm tốn Về mặt đào tạo, nó chỉ là một khoa nhỏ trong các Nhạc viện Trên truyền thông nhất là truyền hình, nó có vẻ là một đối tượng chiếu cố Trên sàn diễn, nó chỉ là một yếu tố màu sắc Khách du lịch quốc tế tỏ ra rất hào hứng khi tiếp xúc với nó nhưng người dân trong nước, đặc biệt là thế hệ trẻ, vẫn chưa mấy mặn mà với “Quốc nhạc” của mình…
Để thực sự trở lại vị trí xứng đáng của mình, âm nhạc truyền thống dân tộc cần được chủ động chiếm lĩnh lĩnh vực nhạc nhẹ, lĩnh vực có khán giả đông đảo nhất trong nước, phát triển mạnh mẽ nghệ thuật khí nhạc truyền thống phục vụ đời sống, các sinh hoạt âm nhạc có khả năng phục hồi trong biểu diễn phục vụ công chúng thường xuyên như quan họ, ca trù, ca nhạc tài tử, nhạc lễ, nhạc hiếu Cần xây dựng một học viện âm nhạc truyền thống dân tộc tương đương với Học viện âm nhạc quốc gia hiện nay như Trung Quốc, Ấn Độ đã làm Cuối cùng là cần xây dựng một chiến lược truyền thông lâu dài và có hiệu quả thiết thực Tóm lại là xây dựng một môi trường rộng lớn để nâng đỡ xứng đáng âm nhạc truyền thống dân tộc tìm lại chỗ đứng đã mất của mình trên thực tế
Vị trí nào cho âm nhạc truyền thống?
Trang 331 Ngày bé mẹ cứ ầu ơ ru hời: Cái cò cái vạc
cái nông/Ba cái cùng béo vặt lông cái nào/
Vặt lông con cốc cho tao/Ta nấu ta nướng ta
xào ta ăn
Nghe mãi, nghe mãi thành thuộc từ thuở nằm
nôi, lớn lên nhớ nằm lòng
Sau đó mấy câu ca dao đến lượt tôi ru em tôi
Thời gian trôi, tôi lớn lên có vợ có con Đến lượt
“cái cò cái vạc cái nông” lại lần nữa đem tặng vào
giấc ngủ các con tôi…
Tôi đọc và thuộc như cháo, đọc như một thói
quen chơi chạy vòng tròn, như ăn bát cháo hoa
thấy mát mẻ đồng quê mà không bao giờ tìm cảm
nhận về khí vị của cháo Nào có bao giờ nghĩ đến
chuyện đi tìm cái lý trong câu ca dao đâu
2 Một hôm nằm ngẫm lại từng câu bỗng phát
hiện ra cái vô lí: Ba con cò - vạc - nông đều béo,
được tính đến sẽ chọn một con vặt lông đánh
chén Ba đối tượng này thì đối tượng nào sẽ bị
đưa lên thớt?
Bất ngờ, và bất ngờ lớn nhất ở câu cuối: Vặt
lông con “cốc” cho tao! Ôi trời, cốc không hề xuất
hiện trong dự án làm thịt nhưng cuối cùng lại là
kẻ hiến tế
Tôi giật mình, giữ trong lòng nỗi băn khoăn
Một lần về quê hỏi thì nghe mẹ bảo: Là ca dao nó
nói thế, ai biết là cái gì Mẹ cũng nghe từ bé thế
thì nhớ thế thôi…
Ờ, đều là loài kiếm ăn mặt nước nhưng câu
ca dao lại phân loại khác nhau: cò - vạc - nông
được gọi là cái, cái là mẹ, là bề thế Còn nông là
con, là nhỏ bé và phụ thuộc Ba “cái” bỗng nhiên
thoát cảnh vặt lông, còn “con” không được nhắc
tới trong sự lựa chọn bỗng được lôi tuột ra để xử
Chuyện đời thật rắc rối Vẫn chưa tìm ra ý nghĩa
của cái cảnh tréo ngoe này
3 Đang ngẫm ngợi câu chuyện cò vạc thì nhà
tôi gọi lớn: Bố nó ơi, xem báo này: Cái tít “Đội
quân chủ lực đang ở thế yếu nhất là gì vậy? Câu
hỏi của nhà tôi như cốt ghi nhớ để tìm kiếm tiếp
Bất chợt bung ra trong kí ức tôi về một bài hát
thời xa xăm:“Nông dân là quân chủ lực đội quân hùng hậu, không có nông dân thì kháng chiến ta không thể thành công…Nông dân đủ nhân vật lực khả năng tiền tài, giai cấp nông dân nhờ có công nhân còn tiến không ngừng…”
Tôi nhớ ra rồi Đúng rồi “Nông dân là quân chủ lực”, bài hát tập thể sau hòa bình lập lại 1955, cùng với bài “Kết đoàn”
Tôi kêu to: Đây rồi… đây rồi, con cốc đây rồi…
Nhà nông đúng là con cốc đây rồi Được mùa thì bị ép giá, đất thì nhường cho sân gôn, đất bị cướp giao cho dự án “Cái cò cái vạc cái nông” là các ông chủ dự án ai lại đem vặt lông!…
Đâu có ngờ thân phận nhà nông được dự báo dưới câu ca dao tự bao giờ dưới bộ cánh con cốc
Hu hu!
20/9/2011
Con cốc đây rồi!
ĐÔNG NGÀN
Trang 34Tham dự hội thảo có nhà thơ Nguyễn Khoa
Điềm - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí
thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên
giáo TW, đồng chí Nguyễn Đức Kiên, nguyên Ủy
viên TW Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, nhạc sĩ
Vũ Mão, nguyên Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Ủy
ban Đối ngoại của Quốc hội, GS.TS Trần Văn Khê,
nhà báo Phan Quang, nguyên Chủ tịch Hội Nhà
báo Việt Nam, nhà văn Đỗ Kim Cuông, Phó Chủ
tịch Thường trực Liên hiệp các hội Văn học Nghệ
thuật VN, NSND Lê Tiến Thọ và NSƯT Lê Chức, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghệ
sĩ Sân khấu Việt Nam, NSƯT Vương Duy Biên, Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, cùng đông đảo các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu, văn nghệ
sĩ ở Trung ương và Hà Nội tham dự Đặc biệt, hội thảo có sự hiện diện của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương, con gái út của danh nhân văn hóa Ưng Bình Thúc Giạ Thị
Tưởng nhớ và tôn vinh cuộc đời và sự nghiệp của Ưng Bình Thúc Giạ Thị - một vương tôn, nhà văn hóa, một con người đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp văn học nghệ thuật nước nhà, tại hội thảo, các đại biểu được nghe lại một số bài thơ đặc sắc của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị và xem lại trích đoạn vở tuồng “Lộ Địch” đặc sắc do Ưng Bình Thúc Giạ Thị biên soạn, được các nghệ sĩ Nhà hát Tuồng Việt Nam và Nhà hát Cải lương Việt Nam thể hiện
Báo cáo đề dẫn của giáo sư Hoàng Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc VN, Chủ trì hội thảo cho biết, Ưng Bình Thúc Giạ Thị sinh ngày 9-3-1877 và mất ngày 4-4-1961, ông là cháu nội của Tuy Lý Vương Miên Trinh - con vua Minh Mạng Thân sinh của Ưng Bình là Tiểu Thảo Hường Thiết với hàm Hiệp tá Đại Học sĩ, có nhiều sáng tác giá trị như: Tứ Tự Ca (Viết về lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng; Liên Hiệp Nghiêm Thị Tập (chữ Hán); Về một bản đồ nước Việt (về đời Hồng Bàng đến 1900) Thân mẫu của Ưng Bình là Nguyễn Thị Huệ Bà thông thạo chữ Hán, có nhiều bài thơ Nôm được truyền tụng như “Nhớ Quê”, “Thượng Cầm Hạ Thú” (mỗi câu thơ đều có tên cầm và thú xuất gia Con gái út của Ưng Bình là Công nương
ƯNG BÌNH THÚC GIẠ THỊ
GIỮA LÒNG HÀ NỘI
NGỌC ANH
Nhân kỉ niệm 134 năm ngày sinh và 50 năm ngày mất của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, nhà thơ,
nhà soạn tuồng nổi tiếng, danh nhân văn hóa của cố đô Huế, thân sinh của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ
Khương, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc VN cùng Tạp chí Văn
Hiến Việt Nam tổ chức hội thảo và tưởng niệm về con người và sự nghiệp văn học nghệ thuật
của Ưng Bình Thúc Giạ Thị tại trụ sở Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật VN, ngôi nhà lịch
sử 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội.
Trang 35Tôn Nữ Hỷ Khương, một nữ sĩ tên tuổi đã có
nhiều tập thơ được xuất bản và nhiều bài thơ hay,
trong đó có bài nổi tiếng như “Còn gặp nhau” mà
nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Mai Chí Thọ rất tâm
đắc, và bài thơ này cũng đã được in trên nhiều tờ
lịch tết và khắc trên bia đá
Ưng Bình Thúc Giạ Thị không chỉ là một nhà
nho thâm sâu giáo lý phương Đông, là một nhà
tri thức có vốn Pháp ngữ giỏi; ông còn là một nhà
thơ danh tiếng của dân tộc, bởi cả một khối lượng
thơ Hán và thơ Nôm đồ sộ hàng ngàn bài, bởi cả
một gia tài phú lục, ca dao mà nhiều câu, nhiều
bài sáng tác của ông đã được dân gian hóa bằng
câu hò điệu hát dân ca xứ Huế Trong đó có câu
“Hò mái nhì” nổi tiếng, xứng đáng là một tuyệt
tác mà từ trước đến nay nhiều người ngỡ tưởng
tác phẩm đó có từ trong dân gian, nhưng tác giả
lại chính là cụ Ưng Bình:
Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm?
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non!
Sự nghiệp sáng tác các làn điệu hò, ca Huế,
cùng với các tác phẩm đã xuất bản như Tình Thúc
Giạ, Bán buồn mua vui, Đời Thúc Giạ, Tiếng hát
sông Hương, Thơ ca tuyển và các tác phẩm tuồng
Lộ Địch (bi hùng kịch), Tào lao (hài kịch) của Ưng
Bình Thúc Giạ Thị đã trở thành di sản quý báu không chỉ của gia tộc, của quê hương mà còn là của đất nước
Dù đang bệnh nặng, phải nằm bệnh việân nhưng cảm phục trước tấm lòng và tài năng của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, GS Vũ Khiêu đã gửi tới hội thảo bài tham luận với những ý tứ xúc động:
“Cụ là một nhà thơ lớn của Việt Nam nhưng còn nhiều người, nhất là ở Hà Nội và miền Bắc chưa được biết tới, đến các nhà nghiên cứu văn học cũng chưa quan tâm Đọc tuyển tập thơ của cụ tôi vô cùng xúc động và càng đọc càng thấy mấy trăm bài thơ của Cụ đều là những bài hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức, là mẫu mực của thơ Đường luật Cụ là người tiếp nối truyền thống của Siêu, Quát, Tùng, Tuy, tiếp thu tinh hoa của các nhà thơ ở cả ba miền Trung - Nam - Bắc”
Không chỉ là tác giả của hàng nghìn bài thơ chữ Hán và chữ Việt, cùng những câu thơ rất đẹp về Huế, vương tôn Ưng Bình Thúc Giạ Thị còn là nhà soạn tuồng tài ba Đặc biệt vở Tuồng “Lộ Địch” của Ưng Bình Thúc Giạ Thị phỏng theo kịch
Le Cid của Pierre Corneille (Pháp) là vở tuồng đầu tiên soạn theo chuyện phương Tây Nếu tính từ đêm công diễn đầu tiên (1936) đến nay, “Lộ Địch” đã có tới ngàn buổi diễn, đạt kỷ lục trong sân khấu Việt Nam Vở diễn này không chỉ được phục hồi ở Bình Định mà cả ở TP Hồ Chí Minh
GS Hồng Chương (đứng bên phải) cùng các đại biểu chúc mừng thành cơng Hội thảo
Trang 36và thủ đô Hà Nội qua nhiều năm vẫn được khán
giả yêu thích Xúc động khi xem lại trích đoạn
tuồng “Lộ Địch”, GS Trần Văn Khê cho biết, ông
đã xem vở tuồng này rất nhiều lần và lần nào
cũng xúc động, không cầm được nước mắt Còn
đạo diễn, NSƯT Lê Chức nhận xét: “Từ một tác
phẩm kịch kinh điển của châu Âu, Hoàng thân
Ưng Bình Thúc Giạ Thị đã “soạn” một bữa tiệc
tinh thần bằng văn học và một sự biến hoá hợp
lý cho “thực khách” sân khấu Việt Nam Cụ đã
minh chứng một chân lý của văn hoá nhân loại là
“không biên giới” khi tác phẩm bất kỳ của bất cứ
quốc gia nào mà vẫn đặt ra và đi tới những vấn
đề cốt lõi của bản tính nhân văn cao cả ”
Các tham luận của nhạc sĩ Vũ Mão, nhà văn
Đoàn Minh Tuấn, NSND Đàm Liên, PGS Tất
Thắng, PGS.TS Trương Sỹ Hùng, nhà nghiên cứu
Vũ Ngọc Liễn… đã khẳng định tài năng và nhân
cách của Ưng Bình Thúc Giạ Thị và nhận định
cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị là nhà tri thức lớn, là
nhà thơ ghi dấu ấn đặc biệt của Việt Nam ở giai
đoạn nửa đầu thế kỷ 20 Tình phụ tử giữa nhà
thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị và nhà thơ Tôn Nữ
Hỷ Khương, con gái út của cụ cũng được các nhà
nghiên cứu nhắc đến nhiều Tiếp nối truyền thống
thi ca của người cha, nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương đã
trở thành người thừa kế xứng đáng về sự thông
minh, uyên bác trong học vấn và những mỹ cảm
về thơ ca vốn có của nhà thơ lớn Ưng Bình Thúc
Giạ Thị Tấm lòng, tình thơ, tình đời của hai cha con Ưng Bình thật đẹp, thật chân chất mà tâm hồn đã hòa vào dòng Hương Giang Tình thơ ấy, tình phụ tử ấy nảy nở thành tri âm Trong thơ Ưng Bình có Hỷ Khương và trong thơ con gái có bóng dáng người cha nặng lòng cùng non nước
Thay mặt gia đình, nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đã xúc động chia sẻ: “Tôi không thể nào quên tấm lòng của giáo sư Hoàng Chương, người đã hiểu và viết về thầy tôi rất nhiều, đã tận tâm tận lực lo chu toàn mọi vấn đề cho buổi hội thảo Tôi cũng xin được trân trọng tri ân quý vị đã có bài tham luận và tới dự buổi hội thảo này Tôi thực sự xúc động trước những tình cảm mà quý
vị đã dành cho thầy tôi Nhân đây cũng xin gửi lời cảm ơn Tạp chí Văn Hiến Việt Nam đã dành một số báo viết về thầy tôi nhân dịp kỉ niệm 134 năm ngày sinh và 50 năm ngày mất của người” Hội thảo cũng rất bất ngờ với sự hiện diện của một nhà nghiên cứu nước ngoài, vì rất ngưỡng mộ tài năng của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị và yêu thích bài “Hò mái nhì” đã xin được đọc lại bài thơ này chuyển thể bằng tiếng Anh nhưng vẫn giữ nguyên cấu tứ, ý đẹp của lời thơ
Trong một ngày mưa cuối thu, cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân văn hóa xứ Huế Ưng Bình Thúc Giạ Thị đã tỏa sáng lung linh giữa lòng thủ đô Hà Nội, trái tim của đất nước thân yêu
Các nghệ sĩ Nhà hát Tuồng
Việt Nam diễn trích đoạn
tuồng “Lộ Địch”