1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hiến việt nam 2011 06 2

75 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 44,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là nhà thờ các tộc họ có nhiều người đi Hoàng Sa, Trường Sa, những ngôi mộ gió, những đình làng làm nơi thờ phụng và tế tự các hùng binh Hoàng Sa, Trường Sa đã hy sinh vì Tổ quốc từ h

Trang 1

Mầu ấu thơ của biển

Nhuộm bền trên áo xanh

Sau bao người đi trước

Cây thời gian nhích đốt

Âm thầm bao tâm tư

Nồng nã những cơn mưa

Mang hồn năm tháng cũ

Người trước bỗng hiện về

Qua mảnh sành mảnh sứ

Cầm thời gian lên soi

Đất đai mầu nguyên thủy

Cầm hạt cát lên soi

Dấu chân bao thế hệ

Cổ nhân cịn đâu đây

Như vừa ăn dở bữa

Giáo mác quắc đêm thần

Nhớ nhà ngồi khâu vá

Búi tĩc dõi chân trờiĐùm nhau qua đĩi khát

Be bờ rồi đắp đậpNước Việt ngồi khơi xaTiếng Việt giữa phong ba

Ấm lịng người giữa biểnBao lần quân cướp đếnNhếch nhác bao mầu cờTiếng Việt gọi hồn ViệtGiữ đất Việt ngồi khơiTiếng Việt là ngọn cờHội quân trong đêm tốiTiếng Việt để nhận nhauGiữa bao nhiêu rắc rối

Cổ nhân vẫn cịn đâyMáu chưa lành vết chém

Mồ hơi vẫn cịn đâyCịn mặn hơn biển mặn

Nợ cũ vẫn cịn đâyBiển cịn nham nhở sẹoDìu đảo ngoi trên sĩngNổi chìm bao kiếp ngườiQua tháng năm sứt mẻCho Tổ quốc trịn tênViệt Nam

Hai tiếng Mẹ

Lúâi sống

HỮU THỈNH

(Trích trường ca Biển)

Trang 2

Tạp chí xuất bản 03 kỳ/tháng

Kỳ chính ra ngày 25 hàng tháng

Kỳ chuyên đề Văn hóa - Kinh tế ra ngày 15

Chuyên san phương Nam ra ngày 5 hàng tháng

Giấy phép hoạt động báo chí số 397/GP-BVHTT

Văn phòng Ban chuyên đề

Số 6 - lô 12 B Trung Yên - Trung Hòa - Hà Nội

ĐT/Fax: 04.37831962

Cơ quan đại diện tại TP.HCM

288B, An Dương Vương, Quận 5, TP.HCM

NB Nguyễn Hoàng Mai

Giám đốc cơ quan đại diện tại TP.HCM

8 Một số nét văn hóa trong lịch sử chinh

phục vùng biển đảo của Việt Nam

DƯ VĂN TOÁN

12 Giáo dực trong xây dựng văn hóa biển

20 Hội thảo khoa học kỷ niệm 130 năm

ngày sinh Đạm Phương Nứ Sử - nhà văn hóa tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam

NGỌC ANH

24 Thăng Long tứ trấn và long mạch đất

kinh kỳ

PHƯƠNGTHẢO

28 Chùa Vĩnh Nghiêm và những điều ít kể

NGUYỄN VĂN HƯỞNG

30 Những thuận – nghịch trên đường học

thuật của học giả, nghệ sĩ Mịch Quang

33 Bài ca tự tình

LƯU TRỌNG LƯ

36 Ba biến khúc Văn Cao

NGUYỄN TRỌNG TẠO

40 Đặng Nhật Minh: Khi đã biết khước từ

thì ắt sẽ tìm được cái gì đó riêng cho mình

NGUYỄN LỆ CHI

44 Sẽ là một bản hùng ca lãng mạn

HOÀNG HỮU QUYẾT

46 Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha: Hữu xạ tự

nhiên hương với âm nhạc

NGỌC ANH

49 Khổ luyện trong nghệ thuật Tuồng qua

những tấm gương tiêu biểu

HOÀNG CHƯƠNG

52 Góp tâm huyết cho Đờn ca tài tử

NGUYỄN QUANG LONG

54 Bản sắc dân tộc của phim truyện Việt

Nam trong cơ chế thị trường

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH

62 Duy trì và phát triển mạnh mẽ quan hệ

đối tác chiến lược Việt - Nga

64 Tôi đã gặp Tổng thống Nga Dmitry

Medvedev

PHAN ANH

66 Khám phá Việt Nam ở bảo tàng nghệ

thuật Hoa Kỳ BA TỈNH

Trang 3

C ontents

JUNE - 2011

4 The statue of President Ho Chi Minh

YANNICH VU

6 Epitaphs of Tay Son revolutionary

martyrs in Kim Son pagoda - Hanoi

PROF.HOANG CHUONG

8 The network of traditional cultural values

in innovation and integaration

PROF - PH.D NGO DUC THINH

12.The ceremory of 95 year old longevity

and cemina of reseacher, author Mich Qu

ang PHUONG ANH

14.The excellent student of Uncle Ho in

national art

PROF HOANG CHUONG

16 A wise teacher and philosopher of

Vietnamese national art

PROF.VU KHIEU

20 Learn to author Mich Quang in studying

national art

MUSICIAN THAO GIANG

22 The anecdote of Dao Tan fixing classical

drama works by Nguyen Dieu VAN SU

24 A way of looking at character-dance in

traditional operetta by culture

NGUYEN THUY HUONG

26 Temples of village HUYNH KIM BUU

28 The itinerary of finding the grave of

Trinh doctoral candidate

NGUYEN THUY KHA

32 The way to play music by dilettanti of

farmer in the South

DANG HOANH LOAN

36 Dam Phuong – woman historian,

excellent cultural reseacher, pioneer in studying classical drama

PROF HOANG CHUONG

40 The custom of traditional marriage of

Thai people in Tuong Duong

DAU DUC TRUYEN

44 Produce a film or do money?

NGUYEN ANH TUAN

47 School stage runs to educate art meanly

NGOC ANH

50 Nguyen Van Hoc, his words penetrate

into the land

THANH VAN

52 To keep Da Nang with developed cities

in Asean and Asia

MAI HOA

62 The plateau is orginal

PH.D LE THI BICH HONG

66 Vietnam and the decate to act of road

traffic safely in 2011 - 2020 Ministry of Communications and

TRANSPORT - HO NGHIA DUNG

68 Smallholder culture of people to join in

traffic

PH.D NGUYEN DUY HUNG

Trang 4

Có đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của

Bác Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm

ngược Bác học viết báo Pháp trước, rồi

học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo

Việt Nam Còn học thì một là trong đời sống của

mình, hai là học ở giai cấp công nhân Lúc ở Pari,

tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng

không biết làm thế nào để nêu được Một đồng

chí ở tòa báo Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière)

cho Bác viết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin

chỉ năm ba dòng thôi, bà bảo Bác có tin tức gì, thì

cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho Từ đó, ngoài

những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin

rất ngắn Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa

cho báo, một bản thì giữ lại Lần đầu tiên thấy

tin đã được đăng thì rất sung sướng Mỗi lần đều

đem tin đã đăng trên báo so sánh với bài mình đã

viết, xem sai chỗ nào Về sau đồng chí ấy bảo Bác

cố viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng

nữa… Cứ như thế kéo dài đến 15, 20 dòng, rồi đến cả một cột dài Lúc đó đồng chí ấy lại bảo:

“Thôi, bây giờ phải viết rút ngắn lại, cũng những việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”.Các báo đăng bài của mình đều là báo phái

“tả”, đều nghèo, không trả cho mình đồng tiền nào Mình ngày thì đi làm, tối đi mít tinh, tuy khá vất vả, nhưng vẫn cố gắng viết để nêu tội ác của bọn thực dân Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được Tình cờ đọc một truyện ngắn của L.Tônxtôi thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn.Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe Viết xong đưa đến báo Nhân đạo và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ:

“Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ

Duyên nợ

của Bác với báo chí

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Tại Đại hội lần thứ III những người viết báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:

Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén (8/9/1962)

SÛÅ KIÏÅN BỊNH LUÊÅN

VIÏÅT NAM

Trang 5

đồng chí xem và sửa lại cho” Đồng chí ấy xem

xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài

chỗ thôi” Cách mấy hôm sau, thấy truyện của

mình được đăng báo thì sướng lắm Sướng hơn

nữa là nhà báo trả cho 50 phờrăng đồng có thể

sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia

mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách…

Kinh nghiệm học viết báo của Bác là như thế

Có một thời gian mình làm cả chủ bút, chủ

nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ

Paria (Người cùng khổ) Các đồng chí người thuộc

địa Á - Phi viết bài và quyên tiền, còn bao nhiêu

công việc mình đều bao hết Cách bán báo: bán

cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết

chữ Pháp nhưng họ vẫn thích mua vì họ biết báo

này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân

Pháp đọc cho họ nghe Một cách nữa là: ở Pari có

những chỗ bán báo lấy hoa hồng Vì là đồng chí

với nhau cả, các anh chị ấy bán hộ cho mình mà

không lấy hoa hồng, và họ bán được khá nhiều

Vì các số báo Pari vừa ra đều “được” Bộ Thuộc

địa Pháp mua gần hết Còn báo gửi đi các thuộc

địa thì mấy chuyến đều bị tịch thu và người đưa

báo thì bị bắt bỏ tù Về sau, nhờ anh em thủy thủ

Pháp bí mật chuyển hộ, thì không xảy ra việc gì

Nhưng rồi bọn thực dân cũng dò ra Sau cùng

phải dùng đồng hồ có chuông mà gửi Cách gửi

như vậy đắt lắm, nhưng báo đều đến được các

thuộc địa

Cách thứ tư: trong những cuộc mít tinh, mình

đưa báo ra phát, rồi nói: “Báo này nói cho các

đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như

thế nào Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí

nào có lòng giúp báo, thì chúng tôi cảm ơn”

Kết quả là: nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5

phờrăng, nhưng “biếu không” thì có khi được 10,

15 phờrăng Vì anh em công nhân có một, hai xu

hoặc một, hai phờrăng cũng cho cả

Khi đi qua Liên Xô, đồng chí L phóng viên

báo Tiếng còi bảo mình viết bài và dặn phải viết

rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng nào,

vv Và phải viết ngắn gọn Cách đó mấy năm,

mình trở lại Liên Xô Đồng chí L lại bảo mình

viết Nhưng L lại bảo: chớ viết khô khan quá

Phải viết cho văn chương Vì ngày trước khác,

người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật Còn

bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy

hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc

Khi đến Hoa Nam, mình lại tập viết báo Trung

Quốc Mỗi lần viết xong, mình sửa đi sửa lại mấy

lần rồi mới gửi đến Cứu vong nhật báo… Thấy

bài mình đã được đăng lại được đóng khung,

điều đó khuyến khích mình tiếp tục viết Nói tóm lại, mình phải học tập không ngừng và luôn luôn khiêm tốn

Đến ngày Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ra tờ báo Thanh niên thì mình lại học viết tiếng ta Lúc ấy, vấn đề khó khăn là làm thế nào để gửi báo về nước cho đến tay người đọc

Năm 1941, mình bí mật về nước Theo lời dạy của Lênin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng

ra một tờ báo ngay, và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no Làm báo thì phải có đá in Mấy đồng chí đi lấy trộm những tấm bia đá, rồi mài mấy ngày mới thành bản in In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là có một đồng chí phải hì hục tập viết chữ trái Mấy số báo đầu, ba, bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được gần 300 số Phải đặt bia đá “nhà in” ở ba chỗ khác nhau Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in, và báo vẫn

ra đúng kỳ Địch chịu không làm gì được

Vấn đề giấy cũng gay Lúc bấy giờ ai mua nhiều giấy địch cũng nghi, và theo dõi Các chị

em mỗi người đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo

In bản đá, muốn sửa chữa phải dùng a xít Mà

a xít thì mua đâu được? Có đồng chí đã nghĩ ra cách dùng chanh thay a xít Chị em lại giúp mua chanh để ủng hộ báo

Còn việc phát hành: Để báo ở các hang đá bí mật Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu.Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng

Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cũng thấm thía với họ Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo Đồng bào lại tìm mọi cách tuyên truyền cho lính dõng đọc báo để làm “binh vận”.Về nội dung viết, mà các cô, các chú gọi là

“đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một

“đề tài” là chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Duyên nợ của Bác với báo chí là như vậy đó…

(Trích bài nói ngày 16/9/1959 tại Đại hội lần thứ

II Hội Nhà báo VN Tựa do VHVN đặt)

Trang 6

6 VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

SÛÅ KIÏÅN BỊNH LUÊÅN

Nhà báo Nguyễn Đăng Lâm - Trưởng Phân

xã TTXVN tại Quảng Ngãi không thể nhớ

mình đã bao nhiêu lần ra huyện đảo Lý

Sơn để dự Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa - một

nghi lễ chỉ có ở Lý Sơn - để tri ân những người

trong Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa

năm xưa đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền biển

đảo Tổ quốc

Qua những chuyến đi ấy, anh ý thức được rằng, Lý Sơn này là một bảo tàng sống động về lịch sử chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không nơi nào có được

Đó là nhà thờ các tộc họ có nhiều người đi Hoàng Sa, Trường Sa, những ngôi mộ gió, những đình làng làm nơi thờ phụng và tế tự các hùng binh Hoàng Sa, Trường Sa đã hy sinh vì Tổ quốc từ hàng trăm năm trước…

Từ tư liệu thu thập được trong bảo tàng và những chuyến đi thực tế cùng những câu chuyện với ngư dân, loạt bài “Lý Sơn - Bảo tàng sống động về lịch sử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa” hình thành, tái hiện sinh động về những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể tại huyện đảo Lý Sơn gắn với lịch sử chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này

Nhà báo Nguyễn Đăng Lâm chia sẻ: “Vùng đảo này là ngư trường từ bao đời nay mà nhân dân ta vẫn gắn bó Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều tàu có công suất lớn tạo thành những tổ đội ra khơi bám biển Đó là ý thức, trách nhiệm trong bảo vệ vùng chủ quyền biển đảo của người dân Lý Sơn từ nhiều đời nay”

“Những ngư dân ngày đêm bám biển, như những chiến sỹ canh giữ đất trời ngoài trùng dương của Tổ quốc Họ như những cột mốc

“sống” khẳng định chủ quyền trường tồn vùng lãnh hải quốc gia Dù có nhiều trở ngại, nhưng với họ, vùng biển trời Tổ quốc cùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã trở thành một phần máu thịt khó có thể tách rời ”

Nhà báo Nguyễn Đăng Lâm

Trang 7

Đó là những dòng tâm huyết của nhóm tác

giả Hồ Minh Khánh và Bùi Thị Hương Giang của

Đài TNVN trong loạt bài “Mệnh lệnh vươn khơi”

Mới chính thức phát sóng từ năm 2010, chương

trình Biển đảo Việt Nam của Phòng Nông nghiệp

- Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1) được

đông đảo thính giả đón nhận

Điều đặc biệt là đội ngũ người làm chương

trình phần nhiều là các nữ nhà báo Vì thế, không

thể kể hết khó khăn, vất vả trong quá trình tác

nghiệp của họ Nhưng khó khăn đến nhường nào

cũng chẳng thể ngăn bước chân họ đến với biển,

đảo, đến với ngư dân

Nói về “Mệnh lệnh vươn khơi”, nữ nhà báo

Hồ Minh Khánh cho biết, trong tác phẩm của

mình, chị muốn thể hiện tình yêu biển, quyết tâm

bám biển của bà con ngư dân dù gặp nhiều khó

khăn, thậm chí nguy hiểm Bởi “Vươn khơi với

ngư dân rõ ràng không chỉ là “mệnh lệnh” cuộc

sống với mục đích mưu sinh mà còn là mệnh lệnh

trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng

của Tổ quốc

Nhà báo Hồ Minh Khánh cho biết thêm: “Ấn

tượng của tôi trên huyện đảo Lý Sơn là những

ngôi mộ gió Những ngôi mộ đó là minh chứng

cho những khó khăn gian khổ mà bà con ngư dân

phải trải qua, cũng là minh chứng về lịch sử hào

hùng Lý Sơn là huyện đảo có truyền thống của

cha ông cũng là để khẳng định chủ quyền của

Việt Nam ở Hoàng Sa”

Không phải ai cũng có may mắn được đi thực

tế nhiều như nhà báo Nguyễn Đăng Lâm hay nhà

báo Hồ Minh Khánh Với nhà báo Lưu Quỳ - Phó

Giám đốc Điện ảnh quân đội, khó khăn lớn nhất

đối với ông và đồng nghiệp khi thực hiện phim

tài liệu “Hoàng Sa trong lòng Tổ quốc” là không

được ra Hoàng Sa mà chủ yếu qua sưu tầm tư liệu

lịch sử, gặp gỡ nhân chứng lịch sử

Với mục đích muốn đem đến cho khán giả cái nhìn toàn diện về lịch sử chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa và Hoàng Sa, nhóm tác giả đã dành nhiều tâm sức tìm gặp những người từng làm nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa, các cán bộ khí tượng…

Nhà báo Lưu Quỳ kể lại: Dù đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng trong câu chuyện của họ vẫn thấy ánh lên niềm khát khao được trở lại Hoàng

Sa Để có đoạn phim tài liệu giá trị với thời lượng

20 phút, đoàn làm phim phải thực hiện trong 5 tháng, tiến hành quay ở nhiều địa điểm như: Lý Sơn, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Huế, Hà Nội

Nhà báo Lưu Quỳ vẫn tiếc nuối vì còn nhiều

tư liệu quý, nhưng do thời lượng có hạn chưa thể truyền tải hết đến người xem

Sẽ còn trở lại đề tài biển đảo và khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau là tâm niệm của ông và đồng nghiệp: “Là người viết bài cũng như làm phim, làm sao để mọi người hiểu được và khơi dậy được lòng tự hào dân tộc, khơi dậy được giá trị của hoà bình và bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ mà nhiều năm ông cha ta đã giữ và bây giờ mình không thể để mất Đó là điều mà người làm báo cần phải nói, là thông điệp để nhắc nhở mọi người làm thế nào để giữ được Hoàng Sa”

“Mệnh lệnh vươn khơi” từ chính trái tim mỗi ngư dân, đã trở thành “mệnh lệnh” thôi thúc người làm báo bằng tình yêu, niềm tin và trách nhiệm lớn lao cần phải đi và viết nhiều hơn nữa Hành trang mang theo chỉ là máy quay, máy ghi âm, máy ảnh và cây bút, nhưng với đam mê nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm vì Tổ quốc, vì nhân dân, các nhà báo vẫn đang tiếp tục hành trình đi về phía biển, viết tiếp những câu chuyện biển đảo để thế hệ hôm nay và mãi mãi về sau thêm tự hào và ý thức bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc mà cha ông ta không tiếc máu xương gìn giữ

Các nhà báo tác nghiệp trên quần đảo Trường Sa

Đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi

Trang 8

VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

8

SÛÅ KIÏÅN BỊNH LUÊÅN

Dự hội thảo có Phó Chủ tịch nước Nguyễn

Thị Doan, Ủy viên TƯ Đảng; các đồng chí

Hoàng Tuấn Anh, Ủy viên TƯ Đảng, Bộ

trưởng bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch; Hoàng

Thị Ái Nhiên, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ

nữ Việt Nam, Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các

Hội Văn học Nghệ thuật VN, Chủ tịch Hội Nhà

văn VN, Dương Trung Quốc, Phó Chủ tịch kiêm

Tổng thư ký Hội khoa học Lịch sử VN, Phan Trọng

Thưởng, Viện trưởng Viện Văn học VN, Hoàng

Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc VN, Hoàng Hữu Lượng, Cục trưởng Cục Báo chí, Bộ Thông tin Truyền thông… Về phía lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế có TS Nguyễn Ngọc Thiện, Ủy viên

TƯ Đảng, Chủ tịch HĐND tỉnh, Nguyễn Văn Cao, Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh cùng các đồng chí trong ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh, lãnh đạo TP Huế và các Sở, Ban, ngành của tỉnh Hội thảo có sự tham

HỘI THẢO KHOA HỌC KỶ NIỆM 130 NĂM NGÀY SINH ĐẠM PHƯƠNG NỮ SỬ

Nhà văn hóa tiêu biểu

trong lịch sử Việt Nam

NGỌC ANH (tường thuật)

Kỉ niệm 130 năm ngày sinh Đạm Phương nữ sử (3/6/1881 - 3/6/2011) và 85 năm thành lập

Nữ công học hội (15/6/1926 - 15/6/2011), UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Hội Khoa học

Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế, Viện Văn học Việt Nam cùng gia đình nữ sử Đạm Phương tổ chức hội

thảo khoa học tại thành phố Huế để tìm hiểu về cuộc đời, hành trạng và nhận diện đích thực về

sự nghiệp của bà.

Quang cảnh buổi Hội thảo

Trang 9

dự của các nhà nghiên cứu lão thành, các nhà khoa

học đầu ngành ở Hà Nội, TPHCM, các tỉnh Thanh

Hóa, Quảng Nam và đông đảo các nhà nghiên

cứu tại Huế Hội thảo còn có bà Nguyễn Khoa

Diệu Vân - con gái út của Nữ sử Đạm Phương,

người giáo viên cuối cùng của Nữ công học hội,

năm nay đã 94 tuổi từ TP Hồ Chí Minh dẫn đầu

đoàn hơn 20 người là con, cháu; nhà thơ Nguyễn

Khoa Điềm, cháu nội bà Đạm Phương cùng đông

đảo thân thuộc tại Huế và Hà Nội cùng đến dự

hội thảo

Báo cáo đề dẫn của PGSTS Đỗ Bang, Phó Chủ

tịch Hội Khoa học Lịch sử VN, Chủ tịch Hội Khoa

học Lịch sử ThừaThiên Huế cho biết:

Công Nữ Đồng Canh, sinh năm Tân Tỵ (1881),

tự là Quý Lương, bút danh Đạm Phương Nữ sử,

cha là Hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng Tuy

sinh ra trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp

đô hộ nhưng bà vẫn được thừa hưởng lối giáo dục

truyền thống công - dung - ngôn - hạnh của Hoàng

tộc Bà là một nhà báo, một nhà văn, một nhà

giáo dục, một nhà hoạt động xã hội xuất chúng,

một người am hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc, thông

thạo nhiều ngoại ngữ, từ bỏ tư tưởng xuất thân

phong kiến để đứng vào hàng ngũ những trí thức

tiến bộ của thời đại Bà còn là người sáng lập ra

Nữ công học hội Huế và trực tiếp làm Hội trưởng Đây là tổ chức phụ nữ phi chính phủ đầu tiên ở nước ta thời chính quyền thực dân Hội đã đề ra một số nội dung, chương trình để hướng dẫn, giáo dục phụ nữ và nhi đồng; đồng thời, tạo điều kiện cho chị em tham gia vào các hoạt động tập thể để từ đó tham gia các hoạt động xã hội; phạm vi hoạt động của Hội đã lan tỏa ra Hà Nội, vào đến Sài Gòn và các địa phương khác trong cả nước; là chỗ dựa cho học sinh trường Đồng Khánh, trường Quốc học bãi khóa chống thực dân, phong kiến… Nữ công học hội là niềm tự hào của nhân dân Thừa Thiên Huế và của phụ nữ Việt Nam Để ghi nhận những công lao của bà Đạm Phương nữ sử, tỉnh Thừa Thiên Huế đã đặt tên bà cho một con đường ở khu vực nội thành thuộc phường Tây Lộc, thành phố Huế

Bà Đạm Phương Nữ Sử có 6 người con, trong đó bốn người con trai là Nguyễn Khoa Tú, Nguyễn Khoa Vy, Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều), Nguyễn Khoa Châu đã cống hiến tuổi xuân và hi sinh cho sự nghiệp giành độc lập tự do và tiến bộ của dân tộc Là một tấm gương lớn, một nhân cách lớn nhưng cuộc đời và sự nghiệp của bà còn nhiều điều chưa được sáng tỏ Đã có một quá trình nghiên cứu về Đạm Phương nhưng chưa đúng tầm, chưa đủ tư liệu

Phĩ chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Hồng Tuấn Anh, GS Hồng Chương và các đại biểu cùng con cháu

Trang 10

VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

10

SÛÅ KIÏÅN BỊNH LUÊÅN

để đánh giá về bà Do đó, cuộc hội thảo này đã

góp phần thẩm định vai trò, vị trí của bà Đạm

Phương Nữ sử đối với Nữ công học hội, đối với

văn học nghệ thuật, với giáo dục và báo chí nước

nhà và khẳng định bà là một nữ trí thức ưu tú

của dân tộc trong lịch sử, có tầm nhìn xa, đi trước

thời đại, là người tiên phong dùng báo chí, văn

chương thức tỉnh ý thức cho nữ giới, giành trọn

tâm huyết, tài năng đấu tranh bênh vực nữ quyền

và giáo dục trẻ thơ - thế hệ tương lai của đất

nước, của dân tộc

Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tịch nước Nguyễn

Thị Doan chân thành cho biết, nếu không có cuộc hội

thảo này, bà không biết Đạm Phương nữ sử là ai

Phó Chủ tịch nước đánh giá cao ý nghĩa của hội thảo

này và đề nghị hội thảo cần làm sáng tỏ thêm những

đóng góp to lớn, nhiều mặt của bà Đạm Phương cho

đất nước và sự nghiệp cách mạng, đặc biệt là trong

sự nghiệp giải phóng phụ nữ, xây dựng con người

mới Phó Chủ tịch nước cũng mong UBND tỉnh Thừa

Thiên Huế, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, Hội Liên

hiệp Phụ nữ VN… và gia đình tiếp tục nghiên cứu,

đề xuất với Đảng và Nhà nước để công lao của Đạm

Phương nữ sử được công nhận, được lịch sử ghi

nhận để đỡ thiệt thòi cho bản thân bà, cho dòng

tộc cũng như có thể đề nghị truy tặng danh hiệu

“Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho bà” vì bà đã đóng

góp 4 người con là liệt sĩ trong sự nghiệp đấu

tranh giải phóng dân tộc Nói về Đạm Phương nữ sử, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh nhận định: “Ở bà đã hội tụ đầy đủ một bản lĩnh của một phụ nữ, một tấm lòng nhân ái, một khát vọng mãnh liệt vì sự tiến bộ của phụ nữ, hình ảnh cao đẹp của bà vẫn còn mãi với thời gian”

Do khuôn khổ thời gian hội thảo chỉ được thực hiện trong vòng 1 ngày với 42 bản báo cáo khoa học và các phát biểu ý kiến nên Ban tổ chức đã chia làm hai tiểu ban: tiểu ban Gia thế, Văn hóa, Giáo dục gồm 24 báo cáo khoa học và tiểu ban Văn học, Báo chí với 18 báo cáo Ban tổ chức đã giao cho các tiểu ban mời một số tác giả đại diện cho các nhóm nội dung trình bày kết quả nghiên cứu chính và những luận điểm mới Các

ý kiến tại hội thảo đã tập trung phân tích, đánh giá về gia thế, thời đại và sự nghiệp của bà Đạm Phương với tư cách là người hoạt động tích cực về các phương diện văn hóa - xã hội như đấu tranh nữ quyền, thành lập và điều hành Nữ công Học hội, nhà giáo dục học, nhà biên khảo Tuồng; đánh giá về tư tưởng canh tân yêu nước và nhập cuộc với trào lưu cách mạng; đánh giá về sự nghiệp báo chí và thơ văn của Đạm Phương… Về hoạt động đấu tranh nữ quyền và sự tiến bộ của phụ nữ, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Đạm Phương đã tìm thấy chìa khóa giải phóng phụ nữ trong giáo dục và thông qua giáo dục” Theo GS Nguyễn Đình Chú, Đạm Phương là chuyên gia viết về phụ nữ nhiều nhất, sâu sắc nhất và toàn diện nhất Về xây dựng con người mới, gia đình mới, xã hội mới, Đạm Phương đã hoạt động như một trí thức chân chính với lý tưởng xây dựng một đất nước tự cường, một dân tộc hưng vượng Chính cuộc sống của bà và gia đình bà là kịch bản về con người mới, gia đình mới trong bối cảnh thời cận đại Việt Nam Ở góc độ nghiên cứu về nghệ thuật Tuồng, với tác phẩm “Lược khảo về Tuồng hát An Nam” do Đạm Phương biên soạn từ năm 1923, đây là công trình nghiên cứu về tuồng đầu tiên của nước ta Trong tham luận duy nhất về Đạm Phương với nghệ thuật tuồng được trình bày tại hội thảo, GS Hoàng Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc Việt Nam, Chủ nhiệm Tạp chí Văn Hiến Việt Nam đánh giá: “Bà Đạm Phương đã cho người đọc thấy được nguồn gốc và đặc trưng của nghệ thuật tuồng hát bội, một nghệ thuật ra đời ở Việt Nam và mang bản sắc Việt Nam” Theo yêu cầu của Hội thảo, GS Hoàng Chương còn nói rõ thêm về “Hý trường tùy bút

Bàn thờ bài vị bà Đạm Phương Nữ Sử tại chùa Ba La Mật

Trang 11

của Đào Tấn Về thơ, từ, tiểu thuyết, TS Tôn Thất

Dụng cho rằng: “Nhìn từ góc nhìn của các cây bút

nữ trong văn học hiện đại Việt Nam bà là một

trong những người đi tiên phong trong sáng tác

và thử nghiệm thể loại tiểu thuyết” Từ kết quả

nghiên cứu sự nghiệp báo chí của Đạm Phương,

TS Hoàng Diệu Minh cũng góp tiếng nói thống

nhất: “Có thể nói bà là nữ ký giả Việt Nam đầu

tiên có bút lực tầm cỡ to lớn cũng như sức ảnh

hưởng sâu rộng trong thời kỳ mở đầu của nền

báo chí Việt Nam hiện đại” Vì dân, vì nước và vì

sự tiến bộ của xã hội là nguồn sức mạnh vô biên

giúp cho Đạm Phương bứt phá được phong cách

“mệ” để trở thành một nhân vật của công chúng

Qua nghiên cứu về hành trạng và sự nghiệp của

Đạm Phương trên nhiều phương diện, Hội thảo

đã đưa ra ý kiến thống nhất: Đạm Phương nữ sử

là nhà văn hóa rất tiêu biểu trong lịch sử cận đại

Việt Nam, là danh nhân văn hóa đặc sắc của đất

nước trong trào lưu canh tân yêu nước vào nửa

đầu thế kỷ XX và bà chính là người phụ nữ Việt

Nam tiêu biểu ở thế kỷ XX Hội thảo cũng đề xuất

công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn

hóa Đạm Phương và đưa ra ý kiến đề xuất với

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nói chung và Hội

Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng

có chương trình sinh hoạt chuyên đề giới thiệu về

cuộc đời hoạt động của bà, cũng như những sinh

hoạt truyền thống nhân các dịp kỉ niệm liên quan (như thi trình diễn nữ công gia chánh trong hội viên hoặc nữ sinh viên, học sinh; phát động xây dựng quỹ khuyến học Đạm Phương dành cho nữ sinh viên vượt khó trong học tập…)

Để có được cuộc hội thảo này là cả một quá trình chuẩn bị lâu dài, nghiêm túc về tư liệu của giới nghiên cứu trong đó có nhà nghiên cứu văn hóa đã quá cố Lê Thanh Hiền và hậu duệ của bà (Nguyễn Khoa Diệu Biên, Nguyễn Cửu Thọ), và gần đây là nỗ lực to lớn của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, người cháu nội ưu tú, đã công phu sưu tầm các tác phẩm của bà trong các thư viện và các cơ quan lưu trữ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh để tập hợp xuất bản Thay mặt gia đình, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cảm ơn sự tham dự của các

vị lãnh đạo Trung ương, của Tỉnh, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và xúc động bày tỏ: “Sự có mặt và ý kiến của quý vị làm sáng lại những trang viết của bà sau nhiều năm tháng và làm ấm lại tấm lòng những con cháu trong gia đình luôn luôn hoài vọng bóng dáng thân thiết của người…” Sau buổi hội thảo, những người tham dự đã tới chùa

Ba La Mật, TP Huế, một nhà rường tiêu biểu của xứ Huế, nơi thờ bài vị của Đạm Phương nữ sử để thắp hương tưởng nhớ bà và dự bữa cơm chay tại chùa cùng gia đình, thân tộc của bà trong không gian đậm hương vị của Huế đẹp và thơ

Trang 12

DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

Việt Nam là một quốc gia ven biển, nằm ở

khu vực trung tâm Đông Nam Á Với vị

trí địa lý nằm gần biển, Việt Nam có tiềm

năng phát triển một nền kinh tế toàn diện dựa

trên một phần vào công nghiệp khai thác biển và

giao thông biển

Trên thế giới, nhiều quốc gia ven biển và nhiều

thành phố ven biển đã trở thành những trung tâm

công nghiệp và thương mại, cảng quốc tế Đáng

lẽ Việt Nam chúng ta cũng phải có những thành

phố công thương nghiệp rất phát triển và sầm uất

nằm ven biển dọc theo bờ biển Việt Nam

Đa số các sách sử Việt Nam như “Việt Nam

Sử Lược”, “Việt Sử Toàn Thư”, “Đại Việt Sử Ký

Toàn Thư”… đều viết về lịch sử Việt Nam từ thời

thượng cổ, và bắt đầu lịch sử bằng thời Hồng

Bàng, thời điểm khoảng 3000 năm trước CN, tức

cách đây khoảng 5000 năm Qua những sách sử

đó, người Việt Nam chúng ta thường tự hào có

5000 năm lịch sử Nhưng chúng ta muốn biết

trước 5 nghìn năm đó, dân tộc Việt chúng ta từ đâu đến và chúng ta đã từng làm gì để xây dựng lên một đất nước Việt Nam từ thời Hồng Bàng cho đến ngày nay? Có phải dân tộc Việt Nam đã từng có một nền văn minh dựa trên việc trồng lúa nước và những hoạt động hàng hải trên biển hay không? Đó là những câu hỏi khó có câu trả lời chính xác và cần được đầu tư nghiên cứu, đánh giá bài bản

Gần đây cuốn sách “Địa đàng ở Phương Đông” của tác giả Oppenheimer đã đưa ra giả thuyết rằng nôi của nền văn minh Đông Nam Á chính là Biển Đông, bao gồm cả Vịnh Bắc Bộ và khu vực Biển Đông Việt Nam Nếu những giả thuyết trên có cơ sở đúng, thì Vịnh Bắc Bộ và Biển Đông không những chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, mà còn có thể chứa đựng cả những chứng cứ lịch sử về nguồn gốc dân tộc Việt nói riêng và nguồn gốc các dân tộc sống ở vùng Đông Nam Á nói chung Do vậy

MỘT SỐ NÉT VĂN HÓA TRONG LỊCH SỬ CHINH PHỤC

VÙNG BIỂN ĐẢO CỦA VIỆT NAM

Trang 13

chúng ta cần có những nghiên cứu thích hợp để

tìm về cội nguồn dân tộc Trong các nghiên cứu

đó, chúng ta cần có những nghiên cứu nghiêm túc

và có hệ thống về biển, lịch sử hàng hải và đóng

tàu của Việt Nam

Cho đến nay chúng ta đã được biết 1 số thông

tin quan trọng như: Vùng biển đặc quyền kinh

tế của Việt Nam rộng hơn một triệu km vuông,

lớn hơn gấp 3 lần so với lãnh thổ Trong đó bờ

biển dài hơn 3.260km từ Móng Cái đến Hà Tiên,

có hơn 3.000 hòn đảo mà nổi tiếng là quần đảo

Hoàng Sa và Trường Sa Nước ta có 148 huyện

thuộc các vùng biển, đảo và ven biển (102 huyện

ven biển, 34 quận, thị xã, thành phố ven biển trực

thuộc tỉnh và 12 huyện đảo) thuộc 28 tỉnh (25 tỉnh

và ba thành phố trực thuộc Trung ương); Diện tích

tự nhiên hơn 65.000 km2, chiếm khoảng 20% diện

tích cả nước, dân số vùng biển, đảo của nước ta

là 29,2 triệu người (theo Tổng cục thống kê, 2006),

bằng 34,6% dân số cả nước

Năm 2009 đã tìm thấy di chỉ Hòn Kê, Bàn mài

rãnh tại đảo Cô Tô, Quảng Ninh của cư dân Văn

hoá Hạ Long, có niên đại cách ngày nay khoảng

4.000 năm Tuy nhiên, di chỉ mới được tìm thấy

này đang bị xâm hại bởi một con đường mới chạy

ngang đè qua một phần di chỉ Trước đó, vào năm

1997, các nhà khoa học thuộc Viện Khảo cổ học

Việt Nam và cán bộ Bảo tàng Quảng Ninh đã tìm

thấy một dấu tích thuộc Sơ kỳ đồ đá mới trên đảo

Mã Cháu (Thuộc quần đảo Cô Tô) Các hiện vật

tìm thấy gồm các công cụ Ghè đẽo, được xác định

có niên đại cách ngày nay khoảng 20.000 năm

Các hiện vật tìm thấy hiện đang được trưng bày

tại nhà Lưu niệm Bác Hồ trên đảo Cô Tô

Tài liệu khảo cổ học cho biết đã có những

di tích người nguyên thuỷ sinh sống ở các miền

ven biển cách đây khoảng 6.000 - 3.000 năm, hình

thành các văn hóa Khảo cổ như văn hóa Hạ Long (Quảng Ninh), Cái Bèo (Hải Phòng), Đa Bút, Hoa Lộc (Thanh Hóa), văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ An), Thạch Lạc (Hà Tĩnh), Bàu Tró (Quảng Bình) Các nền văn hóa ven biển này có nhiều yếu tố gần gũi với văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn ở miền núi và thung lũng, có niên đại từ khoảng 12 – 8000 năm cách ngày nay

Dấu tích thức ăn của con người để lại là lớp vỏ ốc dày hàng mét trong các hang động miền núi, vỏ sò điệp tạo thành cồn dài hàng chục mét ven biển, trong đó còn có mộ táng, công cụ đá mài, mảnh gốm, bếp và than tro lẫn xương thú, xương cá… Động vật thủy sinh là nguồn thức ăn đạm động vật phổ biến của những lớp cư dân cổ Những nhóm cư dân miền núi và ven biển này là những cộng đồng cư dân sinh sống bằng nghề trồng trọt sơ khai và khai thác sản phẩm tự nhiên từ rừng núi, từ sông từ biển Phải chăng sự thật lịch sử này đã được huyền thoại hóa thành truyền thuyết khởi nguyên của người Việt "con rồng, cháu tiên", chia đôi con cháu nửa lên núi, nửa xuống biển khai phá mở mang Đất - Nước? Vào khoảng nửa sau thế kỉ thứ nhất trước công nguyên, hoạt động giao thông đường biển đã phát triển ở Việt Nam, tạo điều kiện cho việc

đi lại, tiếp xúc, trao đổi giữa các nhóm cư dân ven biển nước ta với khu vực hải đảo Đông Nam Á Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trên mặt trống đồng Đông Sơn có khắc hình chiếc thuyền lớn với hình người cùng những nghi lễ, đầy đủ lương thực, vũ khí chính là hình dáng của những con thuyền của tổ tiên ta vươn ra khai thác sông biển từ rất sớm Đảo Sulawesi, hòn đảo lớn thứ tư của Indonesia, còn được gọi là vương quốc của những mái nhà cao vút hình con thuyền mà cư dân ở đây, người Toraja gọi đó là những Tongkonan

Trang 14

VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

14

DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN

Những Tongkonan xếp thành hàng chạy dài thẳng

tắp trông giống như những chiếc thuyền buồm

kiêu hãnh đang neo đậu giữa một vùng sơn cước

Theo truyền thuyết của bộ tộc Toraja, tổ tiên họ

từng sống ở đồng bằng trong lục địa phía bắc từ

hàng ngàn năm trước, do những biến cố xã hội

cả cộng đồng Toraja đã giong buồm vượt biển đi

tìm đất mới Họ đã đến được vùng đất mà ngày

nay gọi là Makassar, phía nam đảo Sulawesi Họ

quyết định chọn nơi đó làm quê hương thứ hai,

và những mái nhà Tongkonan hình con thuyền

lớn vượt đại dương được dựng lên và luôn hướng

về hướng bắc như để con cháu không quên cội

nguồn, quê hương…

Ở phía Nam, văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung

và văn hóa Đồng Nai ở vùng cửa biển Cần Giờ

đã để lại nhiều dấu ấn của những đoàn thương

thuyền đến từ Ấn Độ, như đồ trang sức bằng ngọc,

bằng thủy tinh, bằng vàng… Dấu tích thương mại

Trung Hoa là những đồng tiền Ngũ Thù, gương

đồng, bình gốm thời Hán tìm thấy khá nhiều ở

một số di tích khảo cổ ven biển Quan hệ buôn

bán với Ấn Độ và Trung Quốc diễn ra ở vùng

ven biển từ rất sớm, khoảng 1,2 thế kỷ trước công

nguyên Đặc biệt đồ gốm trong mộ táng chum vò

của văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai rất

giống đồ gốm trong các di tích mộ táng ở

Philip-pine, mà các nhà khảo cổ cho rằng đó là bằng

chứng của sự trao đổi sản phẩm và kỹ thuật sản xuất giữa cư dân vùng ven biển và hải đảo Đến đầu công nguyên, các vương quốc cổ Phù Nam, Chămpa ở phía Nam hình thành và phát triển thành những vương quốc giàu mạnh nhờ khai thác thủy hải sản, lâm sản, nông nghiệp và nhất là nhờ có hệ thống cảng thị ven biển để buôn bán và làm dịch vụ cho con đường thương mại trên biển nối liền lục địa Ấn Độ đến lục địa Trung Hoa Ở phía Bắc, từ đầu thế kỉ 10 quốc gia Đại Việt dành được nền độc lập tự chủ Các triều đại Lý - Trần bắt đầu mở cảng Vân Đồn tiếp nhận thương thuyền nước ngoài Đến thời Lê, Dư địa chí của Nguyễn Trãi còn nhắc đến các cửa biển Càn Hải, Hội Thống (Nghệ An), Hồi Triều (Thanh Hoá) Từ thế kỉ 17, chính quyền Chúa Nguyễn đàng trong đã tiếp tục phát triển Đại Chiêm hải khẩu thành cảng thị Fai Fố - Hội An, xây dựng cảng Bến Nghé mở đường ra biển cho vùng Gia Định - Đồng Nai Trong thời Nguyễn nhiều đảo và quần đảo ven biển Đông đã được khám phá, khai thác tài nguyên và xác lập chủ quyền, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Về mặt sinh kế, tại Bắc bộ và Nam bộ, người Việt ra biển rất muộn lại vì các lý do khác Người Việt vốn là

cư dân nông nghiệp, vấn nạn của người nông dân Việt mãi cho tới những năm 90 của thế kỷ XX vẫn là lương thực Do đó trong tâm thức cũng như

Trang 15

trong thực tế, họ chỉ hướng về ruộng đồng Để có

thêm ruộng trồng cấy, người Việt - nhất là người

Việt tại Bắc bộ - khi tiếp xúc với biển đều ưu tiên

khuynh hướng “quai đê lấn biển” để có ruộng

làm nông nghiệp và họ đã “kéo dài văn hóa nông

nghiệp” ra bờ biển cả Theo hướng đó, người Việt

đã trồng sú vẹt, ngăn biển tiến, quai đê lấn biển,

khai hoang, thau chua rửa mặn tạo nên những

cánh đồng bát ngát, những xóm làng trù phú dọc

theo ven biển Người Việt tại Bắc bộ và Nam bộ

chỉ mới vươn ra biển đánh cá nước mặn trong thời

gian chưa bao lâu Một mặt do kỹ thuật, thuyền

bè, chài lưới kém không thể đánh cá ngoài biển

được chưa nói đến chuyện trước đây khi dân số

chưa đông, đồng bằng Nam bộ chưa ngập nước,

lắm tôm nhiều cá, chưa có thị trường, người nông

dân chỉ khai thác cá tự cấp tự túc cho nhu cầu

thường nhật thì đánh cá biển xa bờ chưa phải là

điều bức thiết? Bởi thế mà theo một số nhà dân

tộc học thì cho tới gần đây, người Việt ở Bắc bộ

vẫn chưa có thói quen ăn cá biển - khi chế biến cá

biển họ thường sử dụng các món gia vị làm cho

cá biển mất mùi khiến món ăn này có hương vị

giống với cá đồng Nhưng ở Trung bộ, nhất là

cực nam Trung bộ thì lại khác Do kiến tạo, các

luồng hải lưu trên biển đã dẫn dắt các luồng cá

lớn vào gần bờ, hơn thế về mặt địa hình, tại miền

Trung, núi ăn xuống sát biển, đất nông nghiệp

cằn cỗi và chật hẹp, sông ngòi ngắn, nước chảy

xiết, ít ao hồ, rất ít cá nước ngọt, nên khi thiên

di tới vùng đất này, người Việt đã có cách thức

lựa chọn khác: Sắm thuyền lưới vươn ra ngoài

biển cả đánh bắt cá để sinh tồn Nếu cho rằng

sở dĩ người Việt đưa ra sự lựa chọn này là do họ

tiếp thu được truyền thống biển của người Chăm,

thì đó cũng chỉ là một giả thuyết Trên thực tế,

trong toàn bộ cộng đồng người Chăm cư trú tại 2

tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận thì chỉ có 1 làng

làm nghề đánh cá biển mà nghề cá của họ cũng

không mấy được phát triển Do đó có thể lý giải

theo cách khác: Khi di chuyển vào miền Trung, ít

ruộng đồng để trồng cấy, ít ao hồ, không có cá

nước ngọt, mà tại vùng biển này lại lắm tôm, cá

vào sát bờ nên người Việt đã lựa chọn thích nghi

với biển cả nhằm kiếm sống lâu dài Vì vậy, tại

các tỉnh miền Trung nhất là khu vực Nam Trung

bộ, tính chất biển có thể nói là rất đậm đặc trong

văn hóa của người Việt Bởi thế mà trong cộng

đồng ngư dân sinh sống tại khu vực Trung bộ,

nhất là cực Nam Trung bộ đã hình thành được

một nếp sống văn hóa biển

Từ bao đời nay cộng đồng dân cư ven biển và

hải đảo đã tích lũy nhiều kỹ năng quản lý văn hóa xã hội, và khai thác kinh tế biển Để quản lý biển tốt hơn chúng ta cần có nghiên cứu nhiều hơn về xuất xứ địa lý văn hóa và quá trình lịch sử

cư trú của các công đồng dân cư ven biển

- Về tổng kết sự phát triển các vùng biển và hải đảo Việt Nam với các ranh giới hiện tại Chúng

ta đã phát triển và có 1 vùng biển và hải đảo rất rộng lớn, cần có phương pháp tuyên truyền và phổ biến đến tất cả nhân dân, đặc biệt thế hệ trẻ để giữ gìn lãnh thổ - lãnh hải của Quốc gia

- Cần mở ra dự án, đề tài nghiên cứu về địa văn hóa và lịch sử của các vùng biển Việt Nam, giúp công tác nghiên cứu khẳng định chủ quyền, phát triển kinh tế xã hội bền vững các vùng biển Việt Nam, các mối quan hệ với các vùng địa lý trên lục địa khác của Việt Nam và Thế giới

- Trong thời kì Biến đổi khí hậu, vấn đề truyền thống văn hóa và lịch sử biển đảo sẽ đóng vai trò cực kì quan trọng trong ứng phó với các thiên tai, phát triển hàng hải và đánh bắt hải sản của các cộng đồng dân cư ven biển và hải đảo

- Quản lý Nhà nước về biển và hải đảo có dựa vào kiến thức văn hóa lịch sử chinh phục biển đảo giúp đạt hiệu quả bền vững hơn

- Cần tôn vinh và ghi nhận cấp quốc gia những Danh nhân đóng góp, có công cho quá trình chinh phục biển, hải đảo

- Thành lập Bảo tàng biển tổng hợp quốc gia về lịch sử, văn hóa, nhân văn, hàng hải quân sự và tự nhiên ghi nhận vị thế quốc gia biển của Việt Nam trên thế giới

Trang 16

DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

GIÁO DỤC TRONG XÂY DỰNG

VĂN HÓA BIỂN

THANH THẢO

Người ta có thể viện dẫn những tộc

người thiểu số ở những chốn rừng

thiêng heo hút cách biệt với thế giới

văn minh, con em họ không có điều kiện

đến trường, “cái chữ” với họ nhiều khi trở

thành xa xỉ, nhưng họ vẫn bảo tồn được vốn

văn hoá bản địa qua các hoạt động thờ cúng

cũng như qua cách sống cách cảm cách nghĩ

về nhân sinh và vũ trụ của mình Đúng là

có chuyện đó thật Nhưng văn hoá, trong

cái đơn nhất (unit) đã hàm cái đồng nhất

(unity) thống nhất, hợp nhất, trong sự tách

biệt đã khao khát sự hoà đồng Và như thế,

nếu không có văn minh, văn hoá bản địa

sẽ có nguy cơ bị cô lập và tàn lụi Nhất là

trong thế giới ngày nay, khi văn minh là

anh em ruột của giáo dục, thì ta có thể nói

mà không sợ nhầm, là nếu ở đâu trẻ em chỉ

được hưởng một nền giáo dục thấp, ở đâu

trẻ em không được học hành tử tế, thì cũng

Trang 17

đừng mong ở đó bảo tồn và phát triển được văn

hoá bản địa của mình.Ngược lại, ở đâu con người

được hưởng một nền giáo dục phổ cập văn minh

và nhân bản, một nền giáo dục nhằm làm lộ sáng

những tiềm năng trí tuệ, phát huy khả năng sáng

tạo và hướng con người tới đời sống hài hoà giữa

lý trí và tình cảm, giữa tâm linh và đời thường,

giữa lao động và hưởng thụ, giữa cho và nhận,

thì ở đó con người có những điều kiện tốt nhất

để giữ gìn bản sắc văn hoá, sống văn hoá và làm

cho văn hoá bản địa trở nên sống động Chúng ta

đã có một nền văn hoá biển của người Việt vừa

độc đáo vừa có tiếp nhận nền văn hoá biển của

người Chăm và người Khơ-me cư trú trên dải đất

Việt Nam từ hàng nghìn năm trước Nhưng hiện

nay, có lẽ trong khi quá chú mục nghiên cứu và

khai thác những tinh hoa của văn hoá biển truyền

thống, nhiều lúc chúng ta đã vô tình quên đi môi

trường và dưỡng chất nuôi sống nền văn hoá ấy:

đó là môi trường giáo dục, là dưỡng chất giáo

dục Tôi đã có nhiều dịp về một số làng chài vùng

biển Quảng Ngãi, và cái đập vào mắt tôi đầu tiên

là: ở đó nhiều trẻ con quá! Trẻ con là tương lai

của đất nước, tương lai của một vùng đất, nhưng

tương lai ấy sẽ như thế nào thì không thể nghĩ một

cách đơn giản được Những gia đình ở vùng biển

thường sinh nhiều con Một trong những nhu cầu

tự thân đầu tiên ở một làng biển là nhu cầu nhân

lực đi biển Và nhân lực ấy phải là con trai, là

đàn ông Vì thế, phải sinh càng nhiều bé trai càng

tốt, và nếu chưa có con trai, thì phải đẻ tới chừng

nào có thì thôi! Từ xa xưa, cuộc sống biển giã đã

“đặt hàng” như vậy với những gia đình làng biển

Công cuộc mưu sinh gắn liền với biển luôn đầy

bấc trắc, và người dân biển chấp nhận điều đó

Nhưng cũng vì cuộc mưu sinh khắc nghiệt ấy mà

người dân biển rất khó có điều kiện cho con em

mình học hành tới nơi tới chốn, dù bây giờ thì

họ biết, ngay trong nghề đi biển, thì có học vẫn

hơn là ít hoặc không có học Kinh nghiệm đi biển,

kinh nghiệm đánh cá sẽ được nhân lên nếu người

đi biển vừa có kinh nghiệm vừa có kiến thức Với

học vấn, người đi biển còn biết cách tính toán để

không chỉ suốt đời làm “trai bạn”- tức làm thuê

mà còn vươn lên làm chủ, có tàu thuyền riêng và

đánh bắt xa bờ Giáo dục không chỉ mang lại cho

người thụ hưởng nó những lợi thế trong làm kinh

tế, mà còn trang bị cho họ những yếu tố cần thiết

để trở thành một người có văn hoá, một người

văn minh biết hưởng thụ và biết giữ gìn bảo vệ

những gì thuộc về văn hoá truyền thống và hiện

đại Nhưng ở đây phải cảnh báo ngay điều này:

giáo dục phổ cập ở những vùng biển Quảng Ngãi nói riêng và cả Việt Nam nói chung đang xuống cấp nghiêm trọng Tôi chỉ đơn cử một địa phương không xa thành phố Quảng Ngãi: đó là xã Nghĩa An-một xã biển vốn xưa là một cù lao, nay là bán đảo vì đã có cây cầu nhỏ nối với đất liền Xã biển này-nơi có nhiều ngư dân từng là nạn nhân của bão Chanchu-có một trường PTCS Theo báo cáo tổng kết niên học 2006-2007 do thầy hiệu trưởng trình bày thì trong số gần 1300 học sinh của trường, niên học vừa qua đã có 130 em bỏ học, “đạt” tỉ lệ 10% Một “tỉ lệ” đau lòng! Nhưng chưa hết: 90% các em còn theo học ở trường đạt một chất lượng học tập rất thấp Nếu có những trường PTTH ở miền núi thi tốt nghiệp trung học đỗ…0%, thì những trường vùng biển như thế này cũng chẳng hơn là mấy! Khi chưa tăng học phí mà tỉ lệ bỏ học đã như vậy, nếu tăng học phí tình hình sẽ còn thế nào ? Nhiều em bé ở Nghĩa

An mới học tới lớp 6 lớp 7 đã bỏ học Có thể vì nhà nghèo, có thể vì các em phải mưu sinh quá sớm, thậm chí phải đi biển khi chưa tròn 18 tuổi, nên tỉ lệ bỏ học mới cao như vậy Nhìn những ngôi nhà “nạn nhân bão Chanchu” mới mọc lên ở Nghĩa An từ tiền đóng góp của những tấm lòng nhân ái trong cả nước, rồi nhìn lại những đứa trẻ đội nắng đội mưa tới trường mong “kiếm ít chữ” trong một môi trường giáo dục chất lượng thấp, những người làm văn hoá sẽ nghĩ suy gì? Liệu có thể bảo tồn được văn hoá bản địa, có thể xây dựng và phát triển “văn hoá mới” trong một môi trường giáo dục như vậy? Lâu nay, những người nghiên cứu văn hoá ở ta thường tách văn hoá khỏi môi trường sống thực tế và trong hiện tại của nhân dân, chỉ chú mục vào một số lễ hội truyền thống, cố gắng “tái tạo” một số lễ hội này, và yên tâm rằng văn hoá bản địa, như văn hoá biển chẳng hạn, đang tồn tại Trong khi thực tế, “văn hoá biển” hiện lên hàng ngày ở những làng chài lại là “văn hoá” nhậu nhẹt, cờ bạc, lô đề, cho vay và vay nặng lãi-một sự bần cùng hoá thật sự về văn hoá Khi giáo dục xuống cấp, thì làm sao giữ gìn “tôn tạo” được văn hoá? Làm sao người dân sống có văn hoá , khi họ chỉ được hưởng một nền giáo dục chất lượng thấp với giá cao? Và khi họ từ chối “mua chữ” với rất nhiều lý do, ấy là khi văn hoá đang “đội nón ra đi” ở những vùng biển những làng chài Cùng với sự cạn kiệt tài nguyên biển do khai thác một cách “ít học” và “thiếu văn hoá”, thì “sa mạc hoá” trong giáo dục dẫn tới “sa mạc hoá” trong văn hoá và lối sống văn hoá ở nhiều vùng biển là nguy cơ có thật

Trang 18

DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN

18 VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

Phđa sau

nhûäng ngûúâi àậ ngậ xuưëng vị Trûúâng Sa

Trang 19

MẸ TRƯỜNG SA

Tôi trở lại Đà Nẵng vào một

ngày mùa đông, phố xá còn ẩm ướt

và gió rét căm căm Hướng mắt về

phía ngoài khơi kia là Hoàng Sa,

và câu chuyện Trường Sa lại cháy

lên, như ngọn lửa ấm lòng nhưng

cũng mang đầy trăn trở

Ngồi đối diện với mẹ Hồ Thị

Lai, đôi mắt trũng sâu của mẹ làm

sống mũi tôi cay cay, mẹ đang

khóc khi kể về liệt sĩ Trương Quốc

Hùng - người con trai dũng cảm

của mẹ, anh nhập ngũ khi tuổi

mới đôi mươi

Ở tuổi 21, người ta vừa mới

bắt đầu cuộc đời đã phải vội vàng

kết thúc nó Nhưng mẹ bảo: chết

vì lý tưởng thì không có gì hối tiếc, mẹ chỉ có một

điều hãy còn thương mãi, đó là khi xưa ở nhà gạo

còn không đủ nấu cháo, bây giờ sung túc hơn thì

lại không thể nấu cơm cho con mình được nữa

Tuổi tác không làm trí nhớ mẹ mờ đi Biết bao

nhiêu kí ức, từ những câu chuyện cũ thuở mẹ

còn thiếu nữ, cho tới những chuyện kể của nửa

thế kỷ sau - tất cả vẫn được mẹ nâng niu, cất giữ

Đó có lẽ là "két sắt vô hạn" ngay trong chính tâm

khảm của mẹ Đúc kết sau gần một đời người, mẹ

chưa phải ân hận với bất cứ điều gì đã làm Chợt

nhớ tới phương châm sống của nhân vật Pavel

trong tác phẩm "Thép đã tôi thế đấy" mà một thời thế hệ thanh niên Việt Nam đã thuộc nằm lòng: "Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa, ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí" - Với phẩm chất ấy, tôi xin được gọi mẹ là mẹ Việt Nam anh hùng

Khi đau thương là tột cùng, người ta hoặc sẽ chấp nhận nó, hoặc lãng quên nó cho tâm tình vơi theo cát bụi Trong khi gia đình liệt sỹ Trương Quốc Hùng chọn cách thứ hai thì gia đình liệt sỹ Lê Văn Xanh đã giữ lại tất cả những kỉ vật của anh: từ những lá thư, những trang nhật ký, những bộ quần áo đến cả chứng minh nhân dân

Nghỉ Tết, anh trở về quê hương Hòa Cường đoàn tụ gia đình Bao tâm tư nỗi niềm người lính, anh được dịp trút bầu tâm sự hết với mẹ Mẹ nói: anh tài hoa nghệ sỹ lắm, viết- vẽ- đàn- ca đủ cả Đã hai mươi ba năm trôi qua, không biết ngoài gia đình anh còn mấy ai biết được chuyện tình của người lính tên Xanh? Thời còn ở nhà, anh quen một người con gái, theo gia đình kể lại thì giữa họ chắc chắn là tình yêu

Trên Internet lan truyền một video/clip ghi lại hình ảnh về “Vòng tròn bất tử”

được các chiến sỹ công binh Việt Nam tạo nên xung quanh cột cờ Tổ Quốc để ngăn cản lính hải quân Trung Quốc xông lên cướp cờ, bảo vệ chủ quyền biên cương - Đó là hình ảnh trên bãi đá Gạc Ma những ngày tháng ba năm 1988 Trong đó, 9 chiến sỹ bị Trung Quốc bắt giữ, 61 chiến sỹ mất tung tích và 3 chiến sỹ hi sinh Cuộc đời của những con người ấy sau hai mươi ba năm là những lá thư còn sót lại, những giọt nước mắt lăn dài trên má mẹ, là sự cơ cực, vất vả trong những bon chen cuộc sống…

Mẹ liệt sĩ Nguyễn Phú Đồn và Phạm Văn Lợi

Trang 20

VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

20

DIÏỴN ÀÂN VÙN HIÏËN

Tin anh hi sinh tại đảo Gạc Ma báo về quê

nhà, người con gái đau đớn khóc ròng mấy ngày

dài Dù rằng giữa họ chưa rõ đã có hứa hẹn gì

hay chưa, nhưng bởi nỗi nhớ mong, chị xin phép

gia đình lập bàn thờ anh tại nhà riêng Hàng năm,

người con gái ấy vẫn qua lại gia đình nhang khói

cho anh mỗi dịp lễ Tết và giỗ chạp, việc này diễn

ra cho tới khi chị quyết định lấy chồng Không

biết phải nghĩ thương đau với chị là thế nào, hay

do đường duyên tình trắc trở mà người chồng

của chị cũng chết vì ngã trong khi thắp hương cho

anh Xanh Có lẽ là do sự đời quá trái ngang, chị

đã mang theo chân nhang anh mà tìm đến nương

tựa cửa Phật

Sau tất cả những đau thương, người ta sẽ cố

gìn giữ và ghi nhớ nó như một phần đã diễn ra

trong cuộc đời mình, hay sẽ tự chôn kín như một

điều gì đó riêng tư, khó chạm? Trong suốt cuộc

trò chuyện, mẹ Lê Thị Muôn không tâm sự nhiều,

nhưng gương mặt mẹ lại ẩn hiện nhiều nỗi niềm

khó nói Người con trai của mẹ - liệt sỹ Phan Văn

Sự nhận lệnh nhập ngũ khi người anh cả đang tại

ngũ và cha bệnh nặng trên giường Được gia đình

động viên "cứ yên tâm làm nhiệm vụ", anh Sự lên

đường Trước khi ra Trường Sa theo chiến dịch

chủ quyền 1988 ( gọi tắt là chiến dịch CQ88), anh

được nghỉ phép về thăm gia đình Có lẽ đến giờ

mẹ vẫn không tin, đó cũng là lần cuối gặp anh

Cuộc hành trình tìm về những câu chuyện nơi

Trường Sa của tôi tiếp tục dừng lại ở một ngôi

nhà nhỏ quạnh vắng, chỉ có hai người tuổi đã xế

chiều ngày ngày vui vầy với nhau Đó là cha mẹ

liệt sỹ Nguyễn Phú Đoàn Cha anh trước đây cũng

từng là lính, cũng có biết bao tấm huân chương

ghi dấu chặng đường đấu tranh mà ông đã trải

qua Nhưng giờ đây, tuổi già đã khiến ông không

còn đủ khỏe để chống lại bệnh tật, "cha" cứ cố

ngồi dậy nghe cho rõ câu chuyện giữa mẹ-con

tôi Người phụ nữ mà tôi ngồi đối diện lúc ấy,

bình thường và giản dị như bao người dân thường

khác, nhưng mẹ đã hi sinh tuổi thanh xuân vò võ

chờ chồng và rồi dâng cho đất nước một chiến sỹ

quả cảm Những chấm đồi mồi, từng nếp nhăn cứ

xếp lớp như con sóng xô bờ, đến cuối đời, mẹ vẫn

chưa hết những vất vả những lo toan Cuộc đời

lúc này cô quạnh, vắng bóng người có ai hiểu

vì sao? Màu áo hải quân, và giọt nước mắt người

đầu bạc khóc kẻ tóc xanh !

Sự đánh đổi được qui từ máu - nước mắt - tự

do và hạnh phúc của nhiều người cho an lành của

muôn người Nhưng rồi, người ta cũng vô tình bị

lãng quên ?!

Đây không phải là tất cả những câu chuyện làm thay đổi cung bậc cảm xúc trong tôi, cũng chưa phải là tất cả những gì tôi có thể diễn tả được như khi tôi được cảm nhận bằng mắt, bằng tai và bằng cả trái tim Biết là thế, tôi xin phép được dừng lại, hi vọng có chút dấu lặng trong lòng các bạn Tuy vậy, tôi chắc chắn một điều rằng, còn trải nghiệm thì tôi sẽ vẫn còn kể tiếp, kể tiếp các bạn nghe về Trường Sa nơi Đà thành vào một dịp khác không xa

THEO CHIỀU DÀI TỔ QUỐC

"Lịch sử vùng III hải quân 1975 - 2005" do NXB Quân đội nhân dân đã ghi lại: "Ngày 14 tháng

3 năm 1988, khi các tàu vận tải cùng với bộ đội của ta đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao, thì các tàu chiến của đối phương lao đến ngang ngược và bất chấp luật pháp quốc tế, họ đã dùng pháo lớn bắn vào các tàu HQ-604 ở đảo Gạc Ma, HQ-605 ở đảo Len Đao và HQ-505 ở đảo Cô Lin; cho quân đổ bộ lên đảo Gạc Ma nhổ cờ Tổ quốc, nổ súng vào bộ đội gây cho chúng ta nhiều tổn thất "

Không sợ nguy hiểm, người chiến sĩ Trần Văn Phương đã lao vào giành giật lá cờ Tổ Quốc và trúng đạn Anh để lại cho đời sau một di chúc:

"Thà hi sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu mình tô thắm lá cờ truyền thống của quân chủng hải quân anh hùng" Giây phút đó, anh đang là Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma (thuộc cụm đảo Sinh Tồn) Người thanh niên 23 tuổi này đã lỡ mất lời hứa " về trông nhà cho em" với vợ mình

Trở về Sài Gòn, đến bây giờ, tôi vẫn không ngờ mình gặp vợ người anh hùng ấy ngay giữa chốn phồn hoa đô thị này Tôi gặp cô Mai Thị Hoa - vợ liệt sỹ Trần Văn Phương ( Quảng Trạch

Cơ Mai Thị Hoa và chị Trần Thị Thủy

Trang 21

-Quảng Bình) giữa một chiều mưa gió Nhắc tới

anh, cô vẫn nghẹn ngào như câu chuyện vừa mới

hôm qua Trước khi theo tàu HQ 604 ra Trường Sa,

anh còn dặn dò:

- "Mẹ cho con gửi nhà con ở đây, sau này

hoàn thành nhiệm vụ, con sẽ về làm một căn nhà

nhỏ rồi con đón vợ con qua"

- " Nếu em muốn biết thông tin về anh thì cứ

nghe trên báo đài, đừng đợi thư anh"

" Sau này mà anh về, anh sẽ chỉ giữ nhà cho

em đi làm thôi, anh không đi làm đâu"

Vẫn là một ngày cuối đông gió rét, chúng tôi

đi trên con đường xứ Thanh gập ghềnh sỏi đá,

tới một ngôi nhà đã phủ rêu phong, quạnh vắng

tiếng người Nơi đây, chúng tôi được gặp những

người con của liệt sỹ Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng tàu HQ604 Tiếp bước cha mình, người con trai lớn của anh - anh Đăng hiện đang là chiến sỹ hải quân thuộc Lữ đoàn 125 - nơi cha anh đã từng sống và cống hiến, tiếp tục theo cha ghi dấu chân đứng trên mũi tàu bảo vệ biên cương Tổ Quốc Người con trai út bây giờ đã là cựu sinh viên của Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM

Trái đất tròn, dòng đời xô đẩy những bước chân vô tình chạm nhau Đôi khi bần thần, tôi chợt nghĩ: lòng Sài Gòn rất rộng, ôm trọn mọi kiếp người, từ Đông tới Tây, từ Nam chí Bắc.Nghe vang vọng câu ca nơi vĩ tuyến:

"Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹĐáy sông còn đó bạn tôi nằmCó tuổi hai mươi thành sóng nướcVỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"

Đất mẹ Quảng Trị anh hùng ghi dấu những người con ra đi không hẹn ngày trở về Gió Lào và cát trắng, nghe như rát đến cả tâm can Anh trai liệt sỹ Tống Sỹ Bái (Đông Hà - Quảng Trị) ngậm ngùi: "Không một kỷ vật, không một manh áo, không một nấm mồ!" - 'Nghe xót xa như rụng bàn tay'! Cuộc nói chuyện của chúng tôi với gia đình liệt sĩ Hoàng Ánh Đông trở nên đầy xúc động khi mẹ của liệt sĩ nghẹn ngào trong nước mắt: "Năm tháng qua lo làm ăn lăn lộn với cuộc sống làm quên đi chứ tới những ngày này các con về thăm, mẹ thấy đau khổ lắm!" Sống mũi cay cay và đôi mắt nhòe đi, tôi cố gắng ghi lại những hình ảnh giây phút đó

Nỗi đau mất mát là nỗi đau chung của bao người mẹ trên đất nước Việt Nam này, là nỗi đau của cả một thế hệ đứng giữa đoạn trường mà lịch sử phân chia Ngày ấy, anh ra đi với tâm hồn phơi phơi của tuổi trẻ, hẹn ngày trở về với những khát vọng yêu thương Dòng thơ viết nghiêng nghiêng trong trang lưu bút nói nên những tâm tư của buổi biệt ly: Biết khi nào gặp lại? Biết khi nào nhìn được mẹ thương yêu? Những người chiến

sĩ ấy lên đường, hành trang mà họ tự gói ghém cho mình còn là niềm tin trở về Dẫu bao gian nan đang chờ đợi, mặc cho sóng gió bão táp giữa biển khơi, các anh vẫn sống hết lòng cho lý tưởng, dành trái tim mình dâng tặng quê hương

Hai mươi ba năm trôi qua không phải là quá dài nhưng chừng đó cũng đủ để con người ta lãng quên nhiều thứ Hành trình tìm lại ký ức một thời máu lửa của những chiến sĩ Trường Sa năm nào của chúng tôi dẫu bị không gian địa lý ngăn cách, dẫu bị che mờ bởi thời gian nhưng tên tuổi của các anh sẽ được lưu danh sử sách muôn đời

Một trang lưu bút của LS Hồng Ánh Đơng

Cha, mẹ LS Hồng Ánh Đơng

Trang 22

"Nhà báo là người chấm ngòi bút vào

nỗi đau của nhân loại" Người viết

câu ấy là một nhà báo từng có mặt

ở những vùng nóng bỏng nhất trên hành tinh:

Trung Đông, với Iraq, Afganistan, Pakistan và

nay là Lybia, Yemen Nỗi đau đang thấm đẫm

trên "vùng đất chết chóc" ấy nhưng vì sứ mệnh

cao cả của báo chí, nhiều nhà báo vẫn đang dấn

thân vào Những ngòi bút ấy hiểu rất rõ rằng:

"viết một bài báo dở, bạn có thể mất việc, viết

một bài báo hay, bạn có thể mất mạng"

Thế nhưng, đâu chỉ nơi "vùng đất chết chóc"

ấy mới có nỗi đau Ở khắp nơi trên trái đất này,

nỗi đau của con người chẳng có lúc nào vơi Mà

nước mắt con người đều cùng có vị mặn, máu

con người đều cùng màu đỏ! Ấy vậy mà, nguyên

nhân làm cho nước mắt phải rơi, máu phải chảy,

thì thiên hình vạn trạng Và có lẽ người Việt Nam

là người hiểu rõ vấn đề đó hơn ai hết trên trái đất

này Cuộc chiến đấu cận kề về thời gian cũng như

về không gian ấy cũng là cuộc chiến đấu đầu tiên

và triền miên trong lịch sử dựng nước và giữ nước

của dân tộc này kể từ thời Bà Trưng Bà Triệu

cho đến Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn

Trãi, Quang Trung Trong cuộc chiến không cân sức đó phải luôn lưu giữ khí phách của một Trần Bình Trọng hiên ngang trước kẻ thù "Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc"! Khí phách đó lưu chảy trong huyết quản của mỗi người Việt Nam

Từ bao đời ông cha ta thường xuyên răn dạy tinh thần cảnh giác trong mọi ứng xử với "thiên triều", biết tiến, biết thoái, biết nhu, biết cương nhưng luôn giữ khí phách kiên cường, không bao giờ khuất phục Điều răn ấy không chỉ ở lời ghi vào sử sách mà còn được tạc vào hình hài núi sông bằng những truyền thuyết, những huyền thoại Chẳng hạn như 99 ngọn núi ở vùng trung

du được giải thích là tượng trưng cho 99 con voi và một tượng trưng cho voi bị chém cụt đầu do quay về hướng bắc! Hoặc câu chuyện về câu đối

"Đằng giang tự cổ huyết do hồng!" (Sông Bạch Đằng từ xưa đỏ vì máu) của sứ thần Giang Văn Minh đáp lại thái độ ngạo mạn của Sùng Trinh, vua nhà Minh trong "Đồng trụ chí kim đài dĩ lục!" (Cột đồng xưa giờ đã rêu xanh) luôn được truyền tụng! Cọc gỗ Bạch Đằng vẫn mãi mãi trụ vững trong khí phách Việt Nam tự bao đời

Chấm ngòi bút

vào nỗi đau nhân thế

GS TƯƠNG LAI

TÛÂ TRONG DI SẪN

VIÏÅT NAM

Trang 23

Kênh báo chí truyền thông là kênh thông tin

trực tiếp nhất đưa những tư tưởng lớn, những tình

cảm lớn đến tận hang cùng ngõ hẻm Báo chí vốn

đã có chức năng và lợi thế khó có gì so sánh được,

chức năng và lợi thế đó lại tăng lên bội phần với

công nghệ thông tin, kỹ thuật truyền tin của thế

kỷ XXI Báo chí đã làm cho một tư tưởng lớn trong

đầu óc của một người đến được với nhiều người,

chuyển thành sức mạnh "tức nước vỡ bờ" trong

hành động của quần chúng nhân dân

Đọc Mao Trạch Đông ngàn năm công tội

lại nhớ Lỗ Tấn với nhân vật Ngụy Liên Thù in

trong tập "Gào thét" Chẳng phải vì muốn thức

tỉnh người Trung Quốc mà nhà đại văn hào ấy

đã phải chấm ngòi bút vào máu của mình để viết

ra những tác phẩm bất hủ đó sao? Đừng quên

rằng tác giả của "A Q chính truyện" trước khi bắt

tay vào viết tác phẩm bất tử nhằm phê phán cái

"quốc dân tính" lạc hậu này là một nhà báo với

những chính luận vang dội một thời trên văn đàn

Dù phải nói đến sức mạnh của những "tư

tưởng" mù quáng thì rút cuộc thì vẫn phải nói

về sức mạnh khôn lường của báo chí ở cái hướng

thuận với bước tiến của lịch sử, cho dù lực lượng

cản trở bước tiến của lịch sử vẫn đang hoành hành

Ai đó đã gợi lên một ý thật đẹp : báo chí "là

cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực

tế hiện thực lại chảy trở về hiện thực như một

dòng thác đầy sinh khí" "Dòng thác đầy sinh khí"

ấy cuộn chảy trong mạch sống của xã hội, tiếp

nhận được sức mạnh từ mạch sống ấy, góp phần

nâng cao thêm, phát huy lên, rồi lại chuyển tải

sức mạnh ấy đến từng con người, từng gia đình,

từng cộng đồng

Bởi lẽ báo chí là một chỉ báo sống động về

đời sống tinh thần của xã hội Hiểu được như

vậy để có đủ căn cứ mà tin thêm vào sức mạnh

của báo chí khi "báo chí sống trong nhân dân và

trung thực chia sẻ với nhân dân niềm hy vọng và

nỗi lo lắng của họ, tình yêu và lòng căm thù của

họ, niềm vui và nỗi buồn của họ" Hiểu như vậy

để những người đang chiến đấu trên trận địa báo chí dám trải lòng mình ra để tiếp nhận nghị lực và sức mạnh từ nguồn mạch cuộc sống của đông đảo quần chúng nhân dân, để mỗi nhà báo chân chính "là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân, là hiện thân sự tin cậy của nhân dân đối với bản thân mình"

Chỉ có thể làm được điều đó khi, cùng với việc thực hiện chức năng chuyển tải những thông điệp từ trên xuống, báo chí phải biết cách chuyển tải những thông tin phản hồi từ dưới lên Mà chuyển tải những thông tin phản hồi từ dưới lên là trách nhiệm xã hội quan trọng nhất của báo chí Báo chí thường xuyên gióng lên tiếng chuông cảnh báo về tâm trạng quần chúng, những bức xúc, băn khoăn, những khát khao, kỳ vọng, những buồn vui, phẫn nộ của những "con người bé nhỏ" đang lầm lũi nhẫn nại và kiên cường trong cuộc mưu sinh cho mình, gia đình mình và góp phần thúc đẩy xã hội đi tới

Không làm được nhiệm vụ tạo nên một luồng chảy sống động của thông tin phản hồi từ cuộc sống "bên dưới", từ "phần chìm của tảng băng", báo chí sẽ tự đánh mất vai trò thật sự của mình.Trong "Những người Khốn khổ", Victor Hugo có viết một câu bất hủ: "Hãy nhìn vào dân chúng, bạn sẽ tìm thấy chân lý" Đúng là phải tìm chân lý từ trong nguồn mạch bất tận ấy, trong dòng sông cuộc sống

Dòng sông ấy vẫn tuôn chảy không ngừng Nương theo địa hình, có lúc tưởng như sông chảy ngược Nhưng không! Sông vẫn xuôi về biển cả Tốc độ dòng sông được quyết định ở sức cuộn chảy từ bên dưới

Ở những đoạn nước xoáy, nơi những khúc sông rẽ ngoặt, sức cuộn chảy từ bên dưới đẩy những bèo bọt rác rưởi dồn lên, dạt vào hai bên bờ để dòng sông xuôi về biển lớn, vươn tới cái đích ở phía chân trời! Báo chí phải tắm mình vào dòng sông ấy mới có thể hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình

Trang 24

TÛÂ TRONG DI SẪN

PHƯƠNG THẢO (sưu tầm)

Thăng Long Tứ trấn gồm bốn ngôi đền: Đền Bạch Mã trấn phía Đông; Đền Voi Phục trấn phía Tây; Đền Kim Liên trấn phía Nam; Đền Quán Thánh trấn phía Bắc Bốn ngôi đền xác định địa giới Thăng Long, tạo nên ý nghĩa và tầm vóc của mảnh đất kinh kỳ Mỗi ngôi đền thờ một vị thần có nguồn gốc và ý nghĩa khác nhau Đây cũng là những dấu mốc định hình long mạch đất kinh kỳ, đã tồn tại từ bao đời nay trong tâm tưởng người dân Việt.

Trang 26

TÛÂ TRONG DI SẪN

VIÏÅT NAM

Đền Bạch Mã

Đền nay là số nhà 76 phố Hàng Buồm, quận

Hoàn Kiếm, Hà Nội Đền thờ thần Long Đỗ tức

Bạch Mã, vị thần bảo hộ kinh thành Thăng Long

Ngài là vị thần được chúng dân thời xưa ở Thăng

Long rất tôn sùng, kính phục

Truyền thuyết kể rằng: Khi vua Lý Công Uẩn

định đô Thăng Long (năm 1010), xây thành mà

cứ bị sụt lở, nhà vua tới đây cầu lễ và lạ thay,

một buổi sáng chợt thấy có con ngựa trắng từ

trong đền đi ra, chạy vòng quanh khu vực đang

xây thành, chạy đến đâu để dấu chân đến đấy

rồi trở lại đền và vụt biến mất Vua Lý cứ theo

vết chân ngựa mà xây, thành không lở nữa Từ

đó thành được đắp cao lên, rất vững chắc Thành

xây xong, nhà vua xuống chiếu phong thần Long

Đỗ làm thành hoàng bảo vệ cho Thăng Long Từ

đấy Ngựa trắng là một biểu tượng thiêng liêng

của Đền

Đền đã được sửa chữa, tu bổ nhiều lần

Hội Đền hằng năm mở ngày 12 và 13 -2 âm

lịch hàng năm

Đền Voi Phục

Đền còn có tên là Thủ Lệ hay Linh Lang do

thờ thần Linh Lang Đại Vương Đền nằm phía Tây

kinh thành Thăng Long cũ, tọa lạc bên hồ Thủ

Lệ, nay thuộc phường Cầu Giấy, quận Ba Đình,

Hà Nội

Truyền thuyết ghi lại rằng thần Linh Lang vốn

là một Thiên sứ đầu thai làm con nàng phi thứ bảy

của vua Lý Thái Tông Tương tự như người anh

hùng làng Gióng, khi đất nước có giặc ngoại xâm,

Hoàng tử nhỏ vươn mình trở thành một dũng sĩ

cưỡi voi xung trận, diệt tan quân xâm lược Sau

chiến thắng, bỗng nhiên hoàng tử lâm bệnh, vua

cha đến thăm, chàng cho biết mình không phải là người trần rồi biến thành con giao long trườn xuống hồ Dâm Đàm và biến mất Vua cho lập đền thờ, phong là “Thượng đẳng thần”

Đền thờ Linh Lang được xây dựng vào năm

1065, đời vua Lý Thánh Tông Cửa đền có đắp hai vị voi quỳ Trong đền còn lưu giữ tảng đá có vết lõm, tương truyền đó là dấu vết hoàng tử nằm gối đầu lên rồi hóa thành giao long và trườn xuống hồ Trải qua những biến cố của lịch sử, chiến tranh, và nhiều lần trùng tu, nay đền không còn hình dáng cũ

Đền Voi Phục

Trang 27

Đầu năm 1994, nhân dân Thủ Lệ quyên góp

đúc lại quả chuông cao 93cm, đường kính miệng

70cm, thân chia 4 múi, mỗi múi có hai hàng chữ

Hán đúc nổi: "Tây trấn thượng đẳng"

Lễ hội Đền Voi Phục mở từ ngày 9 đến 11/2

âm lịch hàng năm

Đền Kim Liên

Đền nay thuộc phường Phương Liên, quận

Đống Đa, Hà Nội Đền thờ thần Cao Sơn Tương

truyền Thần đã có công giúp Sơn Tinh chiến thắng

Thủy Tinh và sau này lại giúp vua Lê Tương Dực

dẹp loạn, khôi phục nhà Lê Do đó vua Lê cho xây

đền, dựng bia để hương khói phụng thờ Chịu tác

động của thăng trầm lịch sử, đến nay ngôi Đền

không còn nguyên dạng

Tam quan và Đền xây trên gò đất cao, từ sân

bước lên phải qua chín bậc gạch, hai bên thềm là

hai sấu đá niên đại thời Lê Tam quan xây thành

nhà hoàn chỉnh, kiểu tường hồi bít đốc Bốn góc

tường hồi có bốn cột trụ, bốn bộ vì đỡ mái làm

theo kiểu chồng giường, giá chiêng, cột trốn

Các con rường chạm nổi hình mây cuốn, câu

đầu và hai bẩy hai vì ngoài chạm bong kênh và

chạm lộng nhiều lớp hình tứ linh Trong đền vẫn

còn long ngai thờ thần Cao Sơn và hai nữ thần

phối hưởng: Thuỷ Tinh đệ Tam Tôn nữ và Huệ

Minh phu nhân

Đền còn giữ được 39 đạo sắc phong trong đó

26 đạo sắc phong thời Lê Trung Hưng, 13 đạo sắc

phong thời Nguyễn; ngoài ra là các câu đối, bia đá

trong hốc cây có bài văn bia của Lê Trung Hưng

Đền Kim Liên vừa được trùng tu lớn trong dịp đại

lễ 1000 năm Thăng long – Hà Nội

Lễ hội đền Kim Liên mở vào ngày 16-3 âm

lịch hàng năm

Đền Quán Thánh

Đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ,

vị thần trấn giữ hướng Bắc kinh thành Nay ở ngã

tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh, Hà Nội

Sự tích kể rằng: Huyền Thiên Trấn Vũ là thần cai quản phương Bắc giúp dân trừ tà ma, yêu quái phá hoại đời sống yên lành vùng chung quanh thành Thăng Long Đến thời nhà Lê, các vua cũng thường đến đây để cầu mưa mỗi khi có hạn hán.Đền được xây dựng vào những năm đầu khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long Năm

1823, Vua Minh Mạng lên ngôi đổi tên đền là Trấn Vũ Quán Đến đời vua Thiệu Trị năm 1842, đổi tên là Quán Thánh như hiện nay

Đền Quán Thánh đứng ở một địa thế rất đẹp cạnh hai hồ trên đường Cổ Ngư là hồ Trúc Bạch và Hồ Tây Trong đền có một bức tượng đồng Trấn Vũ cao lớn uy nghi nặng 4 tấn Pho tượng đồng đen lớn này là tác phẩm nghệ thuật độc đáo của các tay thợ tài hoa làng đúc đồng Ngũ Xã, đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và tài nghệ của thợ thủ công Việt Nam cách đây ba thế kỷ

Tại nhà Bái đường còn một pho tượng nữa, nhỏ hơn, cũng bằng đồng đen, nhiều người cho rằng đây là tượng ông Trùm Trọng, người thợ cả đã chỉ huy việc đúc pho tượng Trấn Vũ Tượng này là do các học trò của ông đúc để ghi nhớ ơn thầy Cùng đúc với tượng là quả chuông cao gần 1,5m treo ở gác tam quan

Văn bia tại đền do Trạng nguyên Đặng Công Chất và tiến sĩ Hồ Sĩ Dương soạn Thời Tây Sơn, đô đốc Lê Văn Ngữ, cùng nhiều người nữa đã quyên tiền đúc chiếc khánh bằng đồng lớn vào năm Cảnh Thịnh thứ hai

Đền đã qua nhiều lần sửa chữa, kiểu kiến trúc hiện nay là của thời Nguyễn

Đền Quán Thánh tổ chức chính hội vào ngày 3/3 âm lịch

Đền Kim Liên

Đền Quán Thánh

Trang 28

Thời gian qua, chùa Vĩnh Nghiêm được nhiều

người biết đến hơn nhờ việc phát hiện, bảo

tồn, giới thiệu và đồng thời đệ trình Tổ

chức Văn hóa - Khoa học - Giáo dục của Liên Hợp

Quốc (UNESCO) công nhận kho mộc bản kinh

Phật tại đây trở thành Di sản văn hóa tư liệu của

nhân loại trong Chương trình ký ức thế giới Tuy

nhiên, có những sự kiện mà ít người từng biết đến

về chốn Thiền này, đó là mấy chục năm về trước

nơi đây từng diễn ra và chứng kiến nhiều sự kiện

lịch sử trong công cuộc chống giặc ngoại xâm của

quê hương thượng võ Bắc Giang Các thế hệ sư,

tăng thời kỳ đó luôn ý thức được tinh thần dân

tộc với việc tự do tín ngưỡng, tôn giáo nên đã hết

lòng với Cách mạng với nhân dân

Theo dòng lịch sử trên những trang tư liệu,

chúng tôi lại tìm về với Vĩnh Nghiêm trong những

ngày tháng tư lịch sử đầy ý nghĩa này Chùa Vĩnh

Nghiêm vẫn nằm đó, soi bóng xuống dòng Lục

Đầu Giang hiền hòa, thơ mộng, cảnh Thiền,

cõi Phật vẫn tĩnh lặng, vô thường và thanh

cao như không hề vương chút bụi trần,

phàm tục

Đại Đức Thích Thanh Vịnh, phó

trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm tiếp đón

chúng tôi theo những nết riêng của

nhà Thiền, con Phật Sự nghiêm

trang, chuẩn mực nhưng lại rất

cởi mở, hòa đồng, Đại đức cho

rằng: Dù mình là thế hệ hậu sinh, song về lịch sử mấy trăm năm của chốn tổ Vĩnh Nghiêm thì đã được các tổ, các thầy và các sư huynh trong sơn môn lĩnh hội, truyền thừa kể lại Những sự kiện lịch sử nổi bật gần đây nhất mặc dù không thấy ghi chép trong sử sách nhà chùa song những nhân chứng, những câu truyện kể thì vẫn nguyên vẹn như mới ngày nào

Vào khoảng những năm ba mươi của thế kỷ

20, trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm là hoà thượng Thích Thanh Hanh, Sư tổ Hanh lúc còn sống là một nhà

sư tiếng tăm, uy tín lớn đối với phật giáo Bắc Kỳ Tên Việt gian Nguyễn Năng Quốc nhiều lần cho người mang áo vào ve vãn lôi kéo Hoà thượng nhưng hoà thượng Hanh đã nhiều lần từ chối lời mời của Quốc với lý do người tu hành không ham phú quý và danh lợi

Năm 1947, địch theo đường thuỷ tấn công vào mấy xã quanh chùa Vĩnh Nghiêm Đại bác, đạn pháo của giặc đã bắn gẫy thượng lương, sập mái nhà tổ, nhà trai bị phá huỷ hoàn toàn Thời gian này du kích các xã trong vùng đã tập trung đông trong chùa để huấn luyện, nhà chùa giúp đỡ về nơi ăn, chốn ở nhiều khoá huấn luyện chính trị và quân sự của địa phương

Đại đức Thích Thanh Vịnh trong giây phút cởi lòng mình đã cho chúng tôi biết: những năm kháng

CHÙA VĨNH NGHIÊM

VÀ NHỮNG ĐIỀU ÍT KỂ

Chùa Vĩnh Nghiêm là một trong những danh lam cổ ghi danh ba vị Trúc lâm Tam tổ là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa Đồng Kiên Cương và Huyền Quang Lý

Đạo Tái, nơi đào tạo các tăng đồ đầu tiên ở Việt Nam và được coi là là một trong những

chốn tổ của Thiền phái Trúc lâm Yên Tử thời Trần - một dòng thiền mang những đặc trưng

riêng của Việt Nam.

NGUYỄN VĂN HƯỞNG

Nhà sư trong mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm

VIÏÅT NAM

TÛÂ TRONG DI SẪN

Trang 29

chiến chống thực dân Pháp, cụ Thiền gia Pháp chủ-

Hòa thượng Thích Thanh Hanh đã từng nhiều lần

đứng lên phản đối các chính sách đàn áp, các lễ nghi

phong tục không hợp thuần phong mỹ tục của Pháp

áp đặt ở Việt Nam Vì thế cụ được vua Bảo Đại tấn

phong để bảo vệ, gìn giữ nghi lễ, phong tục tốt đẹp

của dân tộc… riêng sơn môn Trúc Lâm thời chống

Pháp có trên hai mươi sư, tăng đi kháng chiến trực

tiếp ngoài chiến trường

Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, những

người tu hành ở chùa Vĩnh Nghiêm còn hưởng ứng

lời kêu gọi "Tăng gia sản xuất" của Hồ Chủ Tịch nên

đã cố gắng trong việc trồng trọt và chăn nuôi, góp

công, góp của cho kháng chiến Thời kỳ này Hòa

thượng Thích Tâm Duyệt là người trực tiếp chèo đò

chở cán bộ, bộ đội trên bến đò La qua sông Lục

Nam, cụ còn ủng hộ cho quân ngũ 2 con lợn chuyển

cho cách mạng miền Nam lúc đó Sư cụ Duyệt được

Nhà nước tặng Huân chương vì đã có công trong sự

nghiệp chống Mỹ cứu nước

Đại đức Vịnh còn bộc bạch: nếu như xưa kia vào

thời Trần, các tổ, các sư vì Quốc gia, dân tộc đã

tham gia chống giặc ngoại xâm, thì trong hai cuộc

kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, việc các sư,

tăng tham gia chống giặc là chuyện rất thường tình

và quả nhiên như vậy! Những người tu hành dù

không ham muốn những lợi lộc vật chất tầm thường,

những “tham, sân, si” nơi trần tục, nhưng vì “đạo”

vì “đời”, vì Quốc gia, dân tộc mà trong số ấy đã có

nhiều người gác chuyện hoằng dương, chánh pháp

để “xung phong” ra chiến trận Thời nay, đất nước

hòa bình, thống nhất, nhà chùa, cửa Phật lại là nơi

để Phật tử bốn phương hành hương, lễ Phật thể hiện

lòng thành kính dâng lên đức Phật, tri ân công đức

các vị Tổ sư, các sư, tăng lại góp những tiếng nói

chung để giúp dân, giúp nước trong sự nghiệp xây

dựng và bảo vệ đất nước

Chùa Vĩnh Nghiêm

Trang 30

VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

30

TRONG ÀÚÂI SƯËNG HƯM NAY

Người xưa đã tổng kết: những ai chưa có cuộc

sống từng trải và cũng chưa biết cách vượt qua

những khó khăn, cam go nào đó, thì chưa chắc

người đó có thể thi đỗ tài năng, làm nên sự nghiệp

(Nhân bất phong sương vị lảo tài) Liên hệ đến nhiều

tài năng lớn trên đời mà chúng ta từng biết, nhất là với

các lĩnh vực khoa học, văn hóa và nghệ thuật thì câu

nói trên đây thật có nhiều ý nghĩa Liên hệ đến học

giả - nghệ sĩ Mịch Quang sau khi đã ít nhiều hiểu và

đọc ông qua nhiều công trình nghiên cứu và cả sáng

tác, tôi cũng thấy có nhiều liên quan đến câu nói trên

đây của người xưa Từng trải theo năm tháng lăn lộn

với đời, qua quá trình học tập, nghiên cứu và công tác

với nhiều cảnh ngộ và hoàn cảnh khác nhau, thì rất rõ,

song với những thử thách phải chịu đựng và khó khăn

phải vượt qua thì tuy chưa có gì to tát, vẫn là những

gồ ghề,cũng có thể là nghịch lý trên đường học thuật,

sáng tạo của ông.

Sinh ra trên dải đất “trời văn - đất võ” Bình Định, Mịch Quang là một trong số ít người cùng quê hương

am hiểu Đào Tấn khá sâu, nhưng suốt trong thời gian kháng chiến chống Pháp ở chiến trường Nam Trung Bộ, không ai có thể nhắc đến danh nhân họ Đào Danh nhân trong cái dạng áo mão bậc đại quan triều Nguyễn, làm sao có thể tồn tại trong định hướng “phản đế phản phong” và khẩu hiệu “tất cả để chiến thắng”, khi giặc xâm lăng rập rình bắn phá Hoài bão nghiên cứu bậc hậu tổ tuồng của Mịch Quang đành gác lại, để nhịp nhàng cùng lớp trí thức - nhà văn đương thời trong những sáng tác “ngắn ngày” kịp thời phục vụ công - nông - binh Đó là cái nghịch tất yếu theo hoàn cảnh mà mỗi thành viên xã hội phải tuân thủ nghiêm túc Khi trong lòng nung nấu một cái gì, có dịp thuận lợi là nó liền bật ra Sau khi tập kết ra Bắc, trong hoàn cảnh hòa bình, Mịch Quang là người đầu tiên có bài viết về Đào Tấn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn

Trang 31

học Miền Bắc lúc bấy giờ đang trong thời kỳ “sửa sai”

trong cải cách ruộng đất, dư âm phản phong còn khá

nặng nề Cả thường trực ban biên tập Tạp chí Nghiên

cứu văn học không ai dám đề cập văn chương của các

vua quan chưa xác định rõ ràng về nhiều mặt Suýt nữa

bài của Mịch Quang chỉ là bài lai cảo thông thường,

nằm im trong hồ sơ lưu trữ May sao, Viện trưởng Viện

Văn học đồng thời là chủ nhiệm Tạp chí Nghiên cứu

văn học lúc bấy giờ là học giả Đặng Thái Mai rất tâm

đắc với bài viết về Đào Tấn của Mịch Quang Vốn là

người Nghệ An, cụ Mai khá am tường Đào Tấn là quan

đầu tỉnh yêu nước và thanh liêm, từng che chở cho chí

sĩ Phan Bội Châu hoạt động cứu nước, khi Đào Tấn

làm Tổng đốc An Tỉnh Cụ Mai cũng am hiểu nhân

sĩ và nhân dân Nghệ An - Hà Tĩnh đã cảm mến và

khâm phục Đào Tấn như thế nào Mịch Quang không

phải chỉ vui vì bài nghiên cứu được đăng trên một Tạp

chí khoa học nghiêm túc, mà niềm vui lớn hơn khi sự

nghiệp văn chương và nghệ thuật Đào Tấn được chú

ý, mở ra triển vọng một đề tài về danh nhân mà mình

đang nung nấu Quả thật, sau khi Bắc Nam thống nhất,

một cuộc hội thảo khoa học với quy mô lớn về Đào Tấn

được tổ chức ở Quy Nhơn, quy tụ nhiều nhà nghiên cứu

tham gia, đánh dấu cuộc mở đầu nghiên cứu toàn diện

về danh nhân này.

Từ cái nghịch cảnh do thời cuộc phải nín chịu đến

phát huy khả năng và lương tâm khi hoàn cảnh cho

phép, Mịch Quang đã trở thành chuyên gia hàng đầu

về Đào Tấn Nhưng cũng có những cái không hẳn do

thời cuộc mà phần quan trọng do con người quan niệm

đơn sơ về nghệ thuật và đời sống, về giá trị thẩm mĩ

trong văn hóa nghệ thuật đã trở thành di sản trong đời

sống tinh thần của dân tộc Đó là cách lập luận dễ dãi

một chiều về nghệ thuật phản ánh hiện thực chiến đấu

và sản xuất ở vùng tự do Nam Trung Bộ trong kháng

chiến chống Pháp trước đây Một phần do lý luận văn

nghệ cách mạng còn quá mới mẻ đối với ta, một phần

do chiến trường chia cắt, xa trung tâm đầu não của

trung ương, và mặt khác do thiếu quá nhiều tác phẩm

và tài liệu tham khảo Quanh đi quẩn lại chỉ có tác phẩm

“Người mẹ” ( của Gorki ) bằng Pháp văn, xem như cẩm

nang mở đầu cho chủ nghĩa hiện thực mới.

Giáo sư Hoàng Châu Ký cũng là một chuyên gia

hàng đầu về nghệ thuật Tuồng đã kiên trì đấu tranh

theo tính chất “Quảng Nam hay cãi” nhằm loại bỏ định

kiến Tuồng là sản phẩm của chế độ vua quan, nhưng

rốt cuộc đành dung hòa theo khả năng phản ánh hiện

thực của Tuồng cải cách! Vở tuồng “Chị Ngộ” được công

diễn theo hoàn cảnh đó - tuy nó có tác dụng gây căm

thù tội ác giặc, song gọi đó là tuồng thì thật khiên cưỡng!

Mịch Quang không thể không băn khoăn về đặc trưng

thể loại khi viết Tuồng “Giảm tô” phục vụ đợt phát động

phong trào giảm tô ở các vùng tự do Nam Trung Bộ, trước khi có Hiệp nghị Geneve 1954 về Đông Dương Lúc bấy giờ chúng tôi biết nhiều về Mịch Quang qua thơ

- văn đăng trên Tạp chí Miền Nam (Chi hội Văn nghệ Liên khu V) hơn là soạn giả Tuồng Hàng chục kịch bản Tuồng sau này của Mịch Quang khác hẳn với vở tuồng

“Giảm tô” trước đây, khi tác giả nhận chân được đặc trưng thể loại và hệ giá trị thẩm mỹ độc đáo của nghệ thuật truyền thống dân tộc.

Bất cứ nền văn chương nghệ thuật cách mạng nào trên thế giới theo hệ tư tưởng mácxit-lêninnít cũng đều trải qua những giai đoạn ấu trĩ Cái ấu trĩ tạo nên nghịch lý mà Mịch Quang và bạn bè ông đã trải qua trong kháng chiến chống Pháp, hầu như đương nhiên trong hoàn cảnh đặc biệt nên không ai cố chấp Nhưng cái nghịch lý mà Mịch Quang phải tốn công sức để vượt qua là những người nhân danh học thuật với đầu óc vọng ngoại xem nhẹ nghệ thuật sân khấu truyền thống dân tộc, trong khi nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật nổi tiếng ở Châu Âu cho rằng “về phương diện sân khấu tổng thể thì các dân tộc châu Á đã đi trước chúng ta khá xa” (J.L.Braô và A.Actô) Đã xem nhẹ, họ còn vận dụng méo mó lý thuyết Opera, opéret để gán cho Tuồng, Chèo một cách thô kệch Đó là chưa kể những ngôn luận cho rằng, tuồng là loại sân khấu truyền thống do ảnh hưởng từ kinh kịch của Trung Quóc, trong khi giáo sư Vương Gia - giảng viên Trường Đại học Bắc Kinh - sau khi xem Tuồng “Trương Phi uống rượu” của Đào Tấn rất khác với Trương Phi trong văn nghệ Trung Quốc đã nhấn mạnh: nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Việt Nam phải chú ý đến đặc điểm dân tộc ảnh hưởng đến kết cấu hình tượng nhân vật, không nên vì những mô típ gần gũi giữa các nước vốn cùng đồng văn mà kết luận dễ dãi sự giống nhau giữa văn hóa Trung Việt

Vượt qua những gồ ghề trong tranh luận và trao đổi giữa Mịch Quang và bạn bè, cả với chuyên gia nghệ thuật nước ngoài khi ông còn là giảng viên trường Đại học văn hóa, dĩ nhiên là bằng ý thức tự hào và tự tôn dân tộc đã được Bác Hồ và nhiều lãnh đạo là nhà văn hóa lớn cổ vũ, động viên, nhưng đảm bảo yêu cầu đó trước hết phải từ luận điểm khoa học, từ thực tiễn phong phú và độc đáo của nghệ thuật dân tộc đã trở thành di sản lớn cần bảo tồn và phát huy Là người được đào tạo dưới mái trường tân học trước 1945, Mịch Quang đâu có xa lạ gì với định đề nghiên cứu khoa học: “triết học là khoa học của khoa học” (La philosophie est science des scienes), sau này khi bắt gặp câu nói bất hủ của Ănghen: “Các nhà bác học muốn làm gì thì làm, họ vẫn

bị triết học thống trị”, Mịch Quang càng quyết tâm học hỏi và tìm tòi những nguyên lý triết học của kinh dịch để có cơ sở tạo thành phương pháp luận nghiên cứu Tuồng và nghệ thuật dân tộc.

Trang 32

VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

32

TRONG ÀÚÂI SƯËNG HƯM NAY

Trong khi nhiều học giả châu Âu không ngớt tìm về

phương Đông học hỏi “cổ học tinh hoa” để điều chỉnh các

học thuyết cũ mòn từ Trung tâm châu Âu (Eurocentrism)

thì hành động khoa học của Mịch Quang rất hợp với xu thế

thời đại Theo Kinh dịch, dựng đạo trời là âm và dương,

dựng đạo đất là mềm và cứng, dựng đạo người là nhân

và nghĩa, vậy đạo là quy luật biến chuyển của trời, đất

và con người Đạo trời và đạo người gắn nhau mật thiết

theo quan niệm “thiên nhân tương dữ”, từ đó người ta đề

cập đến luân lý hay đạo đức - một trong những hình thái

ý thức xã hội, bao gồm những quy tắc, chuẩn mực, điều

tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác,

với gia đình và cộng đồng Nghệ thuật truyền thống - chủ

yếu kịch hát và nhạc dân tộc - gắn bó mật thiết với khái

niệm trên.

Từ lâu Mịch Quang đã thấy dấu vết âm dương ngũ

hành trong Tuồng, Chèo thì sau khi nghiên cứu Kinh

Dịch ông đã lý giải có sức thuyết phục cao các hình

thái biểu hiện trong nghệ thuật dân tộc Chẳng hạn, tư

tưởng chủ toàn và khuynh hướng sân khấu tổng thể;

cấu trúc động trong sân khấu truyền thống; cấu trúc

động - mở trong âm nhạc truyền thống; âm dương ngũ

hành và thang âm - điệu thức - âm nhạc; nhạc gõ - con

đẻ của vũ trụ quan; cấu trúc động, hệ thống mở và cá

tính sáng tạo; đường cong trong phương pháp hiện thực

tả ý, hiện thực mở… Có những lý giải sâu sắc về những

hình thái và cũng là những vấn đề nêu trên, vì tác giả

đã nắm vững ý nghĩa triết học của Kinh dịch soi rọi vào

nghệ thuật: vũ trụ quan và quan hệ giữa con người với

tự nhiên, giữa chủ thể với khách thể, về thời gian và

không gian, về cấu trúc hệ thống trong tác phẩm nghệ

thuật trong mối quan hệ với cấu trúc hệ thống vũ trụ…

Tác giả khẳng định Tuồng và Chèo tuy loại hình sân

khấu khác nhau song khi nâng lên tầng phương pháp thì

lại giống nhau và cả hai đều thuộc loại hình kịch hát thì

lại gặp nhau ở đặc điểm âm nhạc truyền thống Giáo

sư tiến sĩ nhạc học dân tộc nổi tiếng Trần Văn Khê đã

hết lời ca ngợi Mịch Quang sau khi đọc hai công trình

nghiên cứu lắm công phu và tài năng của ông: Âm nhạc

và sân khấu dân tộc và Kinh dịch và nghệ thuật truyền

thống Hai công trình này cùng với các công trình: Đặc

trưng nghệ thuật Tuồng và Khơi nguồn mỹ học dân tộc

v.v… là loại công trình quí hiếm, góp phần tạo nền móng

vững chãi cho lý luận và phương pháp luận nghiên cứu

sân khấu và nghệ thuật truyền thống dân tộc, đặc biệt

là với tính bác học của nghệ thuật Tuồng.

Qua học hỏi và tìm tòi, Mịch Quang biết thêm rằng

Kinh dịch vốn không có trong Ngũ kinh (Kinh thư, kinh

thi, kinh lễ, kinh nhạc, kinh xuân thu), nhưng do Kinh

nhạc bị thất lạc người ta mới đưa Kinh dịch ghép vào

Ngũ kinh Điều đó đã gây nên nhiều ngộ nhận về cội

nguồn Kinh dịch ở bạn đọc lâu nay Thực ra Lão Tử

người Kinh Việt mới là ông tổ triết học của Bách Việt, trong đó có người Lạc Việt (dân tộc cổ) - tổ tiên ta Cũng từ đó Mịch Quang có cái nhìn sâu sắc thêm về bản sắc dân tộc “Dân tộc ta có một nền văn hóa gốc từ thời cổ đại và chính nhờ nền văn hóa gốc ấy mà một nghìn năm Bắc thuộc ta không bị đồng hóa” Đấy là cái cụ thể của nhận định khoa học chứ không phải chỉ nhận định chung về ý thức tự cường dân tộc Hậu thuẫn cho nhận định này là các nhà khảo cổ học đã chứng minh sự tồn tại nền văn hóa cổ xưa có nguồn gốc bản địa rõ ràng, có bản lĩnh độc đáo, vững chắc trên đất Việt Nam Nhận định đó cũng rất phù hợp với câu nói của danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh “cái gốc của nền văn hóa mới là dân tộc” Ông không phản đối

“căn cước văn hóa” (indentite culturelle) được xem như bản sắc dân tộc, đồng thời nhận định bao quát :”bản sắc dân tộc vừa là căn cước, vừa là tính cách, vừa là

tư tưởng, vừa là hành động và cách hành động, là hệ quả tất yếu của cộng đồng dân tộc trong môi trường thiên nhiên nhất định, trong mối quan hệ với các dân tộc khác trong quá trình lao động, dựng mình và dựng nước” Đây là nhận định góp phần làm sáng tỏ một vấn đề tưởng chừng không gì mới song chưa bao giờ ngừng trao đổi.

Mịch Quang quả là một học giả sắc sảo Ông không những am tường mạch lạc cả chiều rộng và chiều sâu về lĩnh vực mình nghiên cứu trong mối quan hệ với nhiều lĩnh vực khác, mà luôn học hỏi, tìm tòi và lý giải để phát lộ ra những chân lý mới mẻ cho nghệ thuật và văn hóa dân tộc Những thành tựu tiêu biểu của ông phần lớn thuộc về giai đoạn sau của bậc học giả lão thành, nêu tấm gương cao đẹp cho lớp người kế cận Cũng may là ông có người con là một nhà báo tài năng, hiểu nhiều về nghệ thuật dân tộc giúp đỡ ông trong việc tập hợp bài vở, in ấn và xuất bản để kịp thời cống hiến cho xã hội những tác phẩm có giá trị, khi tuổi đã bước vào cõi “xưa nay hiếm”.

Vượt qua những thuận nghịch tất yếu trên đường học thuật,đồng thời cũng tự vượt mình, học giả - nghệ

sĩ Mịch Quang đã vươn tới những thành tựu khoa học và sáng tác nghệ thuật xuất sắc Dấu ấn đậm nét nhất mà Mịch Quang để lại trong lòng bạn đọc là phương pháp tư duy của ông Dù là triết lý nhân sinh theo hệ thống hình tượng trong kịch bản hay lý giải một định đề triết học được đặt ra từ sân khấu Tuồng và nghệ thuật truyền thống, Mịch Quang luôn vận dụng tinh thần biện chứng trong mối quan hệ thẩm mỹ - nhân văn, phù hợp với thời đoạn lịch sử của những bộ môn nghệ thuật truyền thống tiêu biểu Phương pháp tư duy trên cũng đồng thời là phong cách sáng tạo của Mịch Quang

Tháng 5/2011

Trang 33

Mỗi một lần xốc súng lên vai Không để chồng thêm một từng nghèo đói Đường lên hạnh phúc chỉ có một mà thôi Có ai chảy ngược dòng sông Khi tất cả đang tuôn về biển cả Sợ gì sóng! Sợ gì gió!

Khi với ta Đổi Mới - chuyện mất còn

Lễ kỷ niệm 100 năm sinh Lưu Trọng Lư tổ chức tại Hà Nội ngày 15/6 vừa qua là

dịp để hậu thế phát hiện những gĩc khuất quý giá trong sự nghiệp văn chương

đồ sộ của văn tài độc đáo và đa dạng này, khi bộ sách 1000 trang tập hợp hàng

chục tác phẩm văn xuơi, tiểu thuyết cùng tập thơ “Bài ca tự tình” gồm những di

cảo thơ của ơng được sưu tầm xuất bản Người thi sĩ từng bị đĩng đinh vào lịch

sử văn chương như một “con nai vàng ngơ ngác” đã cho ta thấy ơng là một nhà

nhân văn lớn, bền bỉ của dân tộc “Bài ca tự tình” phần nào nĩi lên điều đĩ.

Bài ca tự tình

LƯU TRỌNG LƯ

Trang 34

34 VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

TRONG ÀÚÂI SƯËNG HƯM NAY

1

Cái lương thiện chết mòn

Cái bất nhân lên mặt

Vẫn nụ cười thơn thớt

Nghênh ngang những hình người

Phải biết bao sông núi

Mới rửa sạch cặn bã tâm hồn

Mới kỳ cọ sạch nham nhở lương tâm

Trong biết bao bộ ngực đẫy đà phồng căng

Không phải những trái tim mà lửng lơ những thớ thịt

Vét! Vét hết những gì bao đời nhân dân đã làm nên

Đẹp đẽ, giàu sang, béo bở, uy quyền

Quăng ra, nhả ra từng từng “động biến”

Tắc nghẽn tuần hoàn

Bịt hết lỗ chân lông

Ăn cướp, ăn cắp, đầu cơ, phe phẩy

Những chiếc vòi, những mồi bẫy

Bên thoi thóp những cuộc đời

Chúng rôm rả: Vào! Vào! Vô! Vô!

Một miếng cháy hôm qua nấu thành cháo loãng

Trên tay người lao công khốn cùng, húp,

húp nhanh!

Tội tình giọt mồ hôi trộn bụi sền sệt chảy…

2.

Sau 30 năm bom đạn

Giữa lòng mẹ con vẫn chưa về

Súng trên vai, chiến trường bước thẳng

Cưỡi biên cương đầy trời quân diệt chủng

Có thương đau nào như thương đau nầy

Có tội ác nào như tội ác ấy

Một tiếng “thương” hai trời mẹ gọi

Có hành quân nào như thế – hành quân bay!

Giặc ngoài còn đầy biên ải

Đó đây nổi dậy âm binh

Những tên giặc trong mình

Không gươm, không mác

Đêm đen ngọn đèn thổi phụt

Vườn hoang gậy múa tung hoành

Sợi dây oan nghiệt trói lương tri vào một duộc

Tối thượng đồng tiền rắn độc

Lúc nhúc ngõ ngách hoàng hôn

Tối thượng uy quyền

Trò chơi tàn nhẫn

Giữa phố phường những cuộc đua rửng mỡ

Hoa lài, hoa lý, chết giữa mùi thơm

Mồ hôi thành đứa sai vặt

Đâu đó cuộc đời chỉ phết mãi một mầu sơn

Đâu đó cuộc đời chỉ phết mãi phấn sonCái giả đuổi

Cái dối trả đuổiCái lọc lừa đuổiCái sống đuổi Cái chết đuổiCái đói, cái nghèo đuổiCái dốt nát đuổiCái xác xơ tàn phá đuổiHãy tỉnh lại lòng ơi!

Vương miện chẳng làm nên nhân cách

con ngườiHãy bắt đầu thế đã

Mồ hôi - người chủ tối caoXin người hãy biết nhỏ đúng từng vị tríXin người đừng cúi đầu làm kẻ sai vặtÔi thần thánh mồ hôi

Máu lệ nghìn năm Thiêng liêng lời nguyệnHãy xắn tay giành lại lẽ công bằng!

3.

Vẫn là sau 30 năm, một cuộcCó những lỗi lầm chẳng từ lẽ gian truânCuộc sống ơi! Dễ đâu ngươi bướng bỉnh Từng chân lông ta soi sáng ngọn đènQuy luật như con chạch đang lủi bùn đenHay chính nó đang dưới ngọn đuốc rực rỡ

Đi lại đứng nằm, mắt thường bị lóa?

Mới và cũNào đâu dung dảy một đường ranhĐục - trong chung chạ một dòngNhưng từ cái cũ vô biên

Mặt trời còn bay mãiRất cũ và rất mớiKhi mỗi vòng quayHạnh phúc đắp đầyCũ - muôn năm cũ:

Phải gần dânMà muôn năm mới

Nhưng thế nào là “gần”

Khi trong gang tấcMà núi cách sông ngăn?

Bến này dân gọiBến kia đò chẳng qua sông?

Dù cho tuyệt thế thông minh, siêu việt, tài tìnhDù cho hiền truyện thánh kinh

Cũng không thể một lời dân sánh nổi!

Trang 35

Thì ý chí, quyền uy, người chớ vội vàng ra lệnh

Cuộc đời đâu dễ cúi đầu ngay

Một chiếc trứng con cũng phải đủ tháng, đủ ngày

Không thể lôi xoạch ra ngoài khoác áo đính đầy

lông cánhKhi cuộc đấu tranh giữa vòng quyết liệt

Cái quan liêu còn nằm trên đệm thịt

Cái kiêu ngạo, nôn nóng nhơn nhơn

Và sáu tấm ván huân chương

Đâu dễ ôm tròn cái bảo thủ mà nhốt

Bên cái ấu trĩ tả khuynh

Cái hữu khuynh áp sát

Được dịp cái “vô chủ” hê hê êm ả buông mình

4

Cái mới từ đâu lại?

Cái mới đi từ đâu?

Có phải từ trên da thịt của mình

Cái khổ, cái đau, cái đói, cái nghèo, đã véo từng cái

véo - một báo cáo trung thực nhất

Cái báo cáo từ trên lưng nhân dân

oằn bao gánh nặng Chớ ai bảo ta yếu hèn khi ta không ngăn được dòng

nước mắtKhi cái ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh:

“Ai cũng được học hành Ai cũng cơm no áo ấm”

vẫn còn là giấc mơ xa lắc

Mà đất trời mờ mịt

Đòi phen cái vô luân thả nổi, cái phi pháp

tung hoành

Bao trảng trống, vào ra ngọn gió độc

Bao anh hùng súng đã buông hàng loạt giữa những

“Đầu cầu”

Cuộc đời lẫn lộn vàng thau

Lập lờ mình đây, thù đó

Hổ báo đêm nay sẽ theo vào giấc ngủ

Tắc kè trên vọng gác đã rời canh?

Sáng mai lẽ nào mặt trời khi mọc

Vẫn hồng hào tươi rói một bình minh?

5.

Phải trả lại bình mình cho bình minh

Phải trả lại lịch sử cho lịch sử

Ôi Đại Việt một thuở oai hùng

Xin tạ lỗi với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du

Tạ lỗi Bạch Đằng, tạ lỗi Điện Biên, tạ lỗi

Trường SơnVà các mẹ, chúng con ngàn lần tạ lỗi các mẹ

Những đứa con của các mẹ đã ngã xuống

Nào đâu chỉ để đỏ ngực, xanh mồ?

Không! Chẳng gì dễ mất!

Chẳng gì dễ chết!

Lịch sử còn kia!

Sự thật còn kia!

Của anh, của em hôm nào giọt nước mắtCũng chẳng hề chết bao giờ

Cả hôm nay phụt phùi giở gióLòng ơi! Ta muốn trăm lần, nghìn bậnGiữa muôn vàn cay đắng

Hôn lên ngọn cờ Tổ quốcHôn lên lời thề non nước

“Thù đếch sợ” - “Gian nan đếch sợ”

Đời ta chỉ biết sợ… thời gianThời gian trôi đi không bao giờ trở lại

Ôi, tổ quốc không nằm trên đệm gấmTổ quốc theo chân cơn bão chín, cơn bão mườiTổ quốc trong từng nhịp đập tươi trẻ trái timĐuổi giông

Đuổi lũĐuổi đóiĐuổi nghèoĐuổi vô luânĐuổi dốt nát, thờ ơ, vô cảmĐuổi cái thói coi con người chỉ là cán cờ,

cán cuốc.Sẽ có một ngày, ôi tổ quốc to đẹp đàng hoàng

No đủ giàu sangNgẩng đầu kiêu hãnhThịt gân ta đang vặn mình chuyển độngTrên áo ta mặc đang bứt xé những đường khâu

“Chở thuyền là dânLật thuyền là dân”

Bao đổ vỡ động trờiNhân dân chuyển mình rầm rậpSắp đóng lại rồi thế kỷ hai mươiLòng nghe cho rõ, lòng ơi!

Ngọn gió mới đang thổi tớiChải lại đi vòng tóc rốiCho sáng đẹp mặt màyKhông phải với ai khácTôi đang nói với ngườiGiấc mơ đẹp của lòng tôiVà thơ ơi!

Nếu trái tim ngươi nguội lạnh

Ta viết sẵn rồi cho ngươi đây lời điếu văn

vĩnh biệtMột câu thơ đã đến lúc cũng có quyền bất diệtNhưng trước hết người ơi!

Muôn lần bất diệt: Con người

Trang 36

VÙN HIÏËN

VIÏÅT NAM

36

TRONG ÀÚÂI SƯËNG HƯM NAY

1 Người gọi ông là “ba đỉnh núi sương mù” Người

gọi ông là “Dòng sông ba nhánh” Người gọi ông

là “Nghệâ sĩ đa tài” Người gọi ông là “Bậc tài danh

thế kỷ”… Khi tôi gặp ông thì ông đã 57 tuổi, chòm râu

dài phất phơ ngả bạc như tiên lão bảy mươi Ông ngồi

một mình trên đi-văng đệm vải cũ, mắt nhìn vào chén

rượu gạo bình dân như chẳng chờ đợi một điều gì Có

lẽ ông đã ngồi như vậy mấy chục năm liền

Khi nghe Phan Lạc Hoa giới thiệu tôi, mắt và miệng

ông ánh lên nụ cười gần gũi, bình dị: “À, cái anh Nghệ

nhận Quan Họ làm quê đây!” Ông với tay kệ tủ lấy thêm

ly, và Nguyễn Thụy Kha rót rượu Ông đối với bọn trẻ

chúng tôi như với bạn Khi thân mật rồi, hầu như chẳng

còn khoảng cách tuổi tác Có lẽ vì thế mà ông luôn luôn

mới Chúng tôi rủ ông đến quán lòng lợn tiết canh đầu

chợ Đuổi, ông đồng ý ngay, nhưng nhắc là nên mua

rượu ở quán cạnh bến xe Kim Liên, loại rượu gạo ông

thường uống Quán đông quá, chúng tôi mượn một cái

chiếu trải vào túp lều tranh bỏ trống bên cạnh Cứ ngồi

xếp bằng mà uống rượu và hút thuốc lào như ở làng ở

xã Người ra vào chợ đông đúc, ồn ào, hình như cũng

không ai biết ông già ngồi quán bình dân này là tác giả

Quốc ca Còn chúng tôi, lần đầu tiên được biết những

bài thơ ông làm để rồi cất lại trong lòng Những bài thơ

của ông khiến chúng tôi nổi cả da gà, kinh ngạc vì thán

phục Thơ ông đẹp một cách quyết liệt Thơ của ông

thật đến siêu thực Thơ của ông mới bất ngờ như mầm cây vừa đội đất trồi lên.

Buổi sáng nay cả phố phường như mở hội

Mọi con người đeo mạt nạ đi chơi

Vui lên cành non Lá bàng trên phố xanh màu ngọc

… Những mặt nạ gặp nhau chào hỏi

Ô kìa Nước mắt mồ hôi Sao chảy ra trên từng mặt nạ

Đến giờ, tôi vẫn nhớ giọng vang trong của ông đọc thơ trong quán rượu Bài thơ “Năm buổi sáng” không có trong sự thật ông làm năm 1960 mà tôi tưởng ông vừa làm trong quán rượu năm 1980 này Chúng tôi nghe như nuốt từng lời thơ của ông vào tâm khảm Khi ngấm rượu, ông nói hay đến nỗi tôi tưởng là đang nghe ông trong giáo đường chứ không phải giữa chợ Vì thế mà chúng tôi đều thuộc bài thơ ngắn Không đề ông làm năm 1967 Bài thơ như một cuốn phim cực ngắn chứa đầy âm nhạc và treo lơ lửng một câu hỏi trước cuộc đời:

Con thuyền đi qua Để lại sóng Đoàn tàu đi qua Để lại tiếng Đoàn người đi qua Để lại bóng Tôi không đi qua tôi Để lại gì?

Hơn 20 mươi năm “im lặng” về thơ lại chính là thời gian ông làm thơ nhiều nhất Những bài thơ chi chít trong cuốn sổ tay nhỏ xíu úa màu thời gian vàng vọt Những bài thơ viết trên vỏ bao thuốc lá nhặt được trong quán rượu Có bài thơ được ghi lại không phải chữ của ông mà là chữ của vợ ông, bà sợ ông quên đi mất nên bắt ông đọc lại để bà chép lại Năm 1987, Nguyễn Thụy Kha đã lần mò chép những bài thơ trong tập bản thảo nhòe mờ ấy của ông rồi đưa cho tôi đọc Giữa quá nhiều bất trắc cuộc đời, tiếng thơ Văn Cao chẳng bao

BA BIẾN KHÚC

VĂN CAO

NGUYỄN TRỌNG TẠO

Nhạc sĩ Văn Cao Ảnh: Nguyễn Đình Tốn

Trang 37

giờ đổi giọng Chữ nghĩa của ông như được viết ra từ

ngòi bút kim cương chứ không phải bút lông bút sắt Và

khi tiến hành chọn bản thảo tập thơ Lá, Văn Cao rất vui

lòng ủy thác cho Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo và tôi

tuyển chọn Hầu như ông hoàn toàn yên tâm về việc

đó Ông nói: “Ba thằng mày bảo được là được!” Dù là

trong thời kì “đổi mới” rất mạnh mẽ, chúng tôi vẫn thấy

ông có một bài thơ mà nhà xuất bản khó lòng chấp nhận,

đấy là bài “Đồng chí” của tôi viết năm cải cách ruộng đất

(1956) Bài thơ tràn đầy lòng tin vào chủ nghĩa xã hội

mà cảnh tỉnh những sai lầm của hiện tại, nó là tiếng lòng

thống thiết của người công sản bị xử bắn oan gửi tới các

đồng chí của mình Không trung thực với Đảng, không

có lòng can đảm của một đảng viên, không chan chứa

một trái tim nhân đạo… không thể viết được một bài thơ

rớm máu như thế Nhưng 30 năm và hơn thế nữa, nó

vẫn chỉ là bài thơ của riêng ông Chúng tôi biết điều

đó, và đề nghị ông “để lại”, ông đồng ý ngay Đầu năm

1995, tôi nhắc lại với ông bài thơ ấy, và thấy đã đến

“thời” bài thơ có thể in dược rồi, nhưng nói sau khi nhấp

một ngụm rượu: “Thôi, cứ để sau khi mình chết rồi in

cũng chưa muộn” Ngày ông qua đời, tôi bỗng mở sổ

tay xem lại bài thơ ấy, và tôi đã khóc.

Người ta các đồng chí của tôi

Treo tôi lên một cái cây

Đợi một loạt đạn nổ

Tôi sẽ dẫy như một con nai con

Ở đầu sợi dây Giống như một nữ đồng chí Một anh hùng của Hà Tĩnh Tôi sẽ phải kêu lên Như mọi chiến sĩ bị địch bắn Đảng Lao động Việt Nam muôn năm Cho mọi người hiểu khi tôi chết Vẫn còn là một đảng viên Cho mọi người hiểu khi tôi chết Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam

Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ đã nuôi cách mạng Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi dẫy chết Có mẹ tôi

Ba lần mang cơm đến nhà tù Hãy quay mặt đi

Cho các đồng chí bắn tôi Tôi sợ các cụ già không sống được Bao năm nữa

Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa Của chúng ta

Chết đi mang theo hình đứa con

Bị bắn

Nhạc sĩ Văn Cao và nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo Ảnh: Nguyễn Đình Tốn

Ngày đăng: 19/06/2016, 11:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh trong bài trích từ một số vở diễn trong LH Tuồng  toàn quốc năm 2011 tổ chức tại Bình Định - Văn hiến việt nam 2011 06 2
nh ảnh trong bài trích từ một số vở diễn trong LH Tuồng toàn quốc năm 2011 tổ chức tại Bình Định (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN