Trong Luật Hôn nhân và Gia đình, các quy định về giám hộ liên quan đến việc “chăm sóc, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên” .Ngoài ra, chế định giám hộ còn điều chỉnh
Trang 1MỞ ĐẦU
Giám hộ là một chế định mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật Trong Luật Hôn nhân và Gia đình, các quy định về giám hộ liên quan đến việc “chăm sóc, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên” Ngoài ra, chế định giám hộ còn điều chỉnh các quan hệ với mục đích khắc phục tình trạng không tương đồng giữa sự bình đẳng về năng lực pháp luật với không bình đẳng về năng lực hành vi dân sự của những người có năng lực hành vi một phần, những người không có năng lực hành vi,
bị mất năng lực hành vi Đặc biệt là giám hộ trong quan hệ hôn nhân, điều này được quy định trong Điều 62 BLDS 2005, quy định này xuất phát từ đặc điểm của Luật Hôn nhân và Gia đình: “ Quyền và nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình gắn liền với nhân thân mỗi chủ thể, không thể chuyển giao cho người khác” và “ quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân và gia đình tồn tại lâu dài, bền vững trong quan hệ vợ chồng, chừng nào hôn nhân còn tồn tại thì vợ, chồng phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân đối với nhau” Tất cả những điều trên đều nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu tình cảm trong đời sống vợ chồng Nhưng trái lại, có nhiều trường hợp khi vợ (hoặc chồng) không có ý thức, không điều khiển được hành vi của mình dẫn đến mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không làm tròn bổn phận của một người vợ ( người chồng), đi ngược lại với những quy tắc đạo đức và lẽ sống trong xã hội Vì vậy, nhóm 2 chúng em chọn đề tài 2 để tìm hiểu
Đề tài 2 có nội dung như sau:
Năm 1998 chị L và anh H đăng ký kết hôn và có 2 con chung là cháu C và cháu T Năm 2007, chị L bị phát hiện bị lao màng não và chữa trị không khỏi Năm 2011, trên
cơ sở kết quả khám chữa bệnh của chị L, Tòa án có Quyết định tuyên bố chị mất năng lực hành vi dân sự Trong thời gian chị L bị bệnh, anh H mặc dù là chồng nhưng không chăm lo quan tâm tới vợ mà còn chung sống với người khác và có con riêng là cháu X (sinh năm 2009) Mẹ chị L đã có đơn xin thay đổi người giám hộ đương nhiên
từ năm 2011 cho đến nay, tuy nhiên, vẫn không có cơ quan nhà nước nào giải quyết cho bà
Câu hỏi:
1 Xác định các điều kiện của người giám hộ cho chị L.
2 Nêu các quy định của pháp luật về xác định người giám hộ đương nhiên và thay đổi
người giám hộ
Trang 23 Hãy tư vấn cho mẹ chị L trong tình huống trên để bảo vệ quyền lợi của chị L.
4 So sánh quy định về giám hộ của BLDS 2005 với BLDS 2015 và đánh giá về
những điểm mới của BLDS 2015 trong việc bảo vệ quyền lợi của người được giám
hộ Nếu có bất cập thì đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật
NỘI DUNG Câu 1: Xác định các điều kiện của người giám hộ cho chị L.
*Khái niệm giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự
Khoản 1 điều 58 BLDS 2005 quy định : “Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức được
pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự”
*Điều kiện của người giám hộ cho chị L
Điều 60 BLDS 2005 quy định về điều kiện để cá nhân làm người giám hộ: “Cá nhân
có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1 Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
2 Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;
3 Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.”
Mục đích của việc giám hộ trên là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chị L Vì vậy, không phải bất kỳ ai cũng có thể trở thành người giám hộ Chỉ khi cá nhân đó có
đủ những điều kiện nhất định trên mới trở thành người giám hộ Quy định này xuất phát từ thực tế người giám hộ khi thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục , đại diện cho người được giám hộ, người giám hộ có nhân thân, tư cách đạo đức tốt có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của người được giám hộ
Câu 2: Nêu các quy định của pháp luật về xác định người giám hộ đương nhiên
và thay đổi người giám hộ.
a, Giám hộ đương nhiên.
Trang 3Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên (Điều 61 BLDS):
Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định như sau:
● Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thoả thuận khác thì anh cả hoặc chị cả
là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;
● Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ
Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự(Điều 62 BLDS):
● Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ
● Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ
● Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha,
mẹ là người giám hộ
b) Thay đổi người giám hộ
Điều 70 BLDS 2005 quy định về thay đổi người giám hộ như sau:
“1 Người giám hộ được thay đổi trong các trường hợp sau đây:
a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 60 của Bộ luật này;
Trang 4b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Toà án tuyên bố mất tích, tổ chức làm giám
hộ chấm dứt hoạt động;
c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;
d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ
2 Trong trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người được quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật này là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộ đương nhiên thì việc cử người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 63 của Bộ luật này
3 Thủ tục thay đổi người giám hộ được cử được thực hiện theo quy định tại Điều 64
và Điều 71 của Bộ luật này.”
Câu 3: Hãy tư vấn cho mẹ chị L trong tình huống trên để bảo vệ quyền lợi của chị L.
Việc mẹ chị L viết đơn xin thay đổi quyền giám hộ cho chị L là hoàn toàn đúng Mẹ chị L có thể viết đơn lên Tòa án để xin thay đổi quyền giám hộ cho chị L , đồng thời
có thể đâm đơn kiện anh H đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và vi phạm nghĩa vụ của người giám hộ bởi:
Khi tòa án có Quyết định tuyên bố chị L mất năng lực hành vi dân sự thì theo Khoản 1 Điều 62 BLDS : “Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.” , anh H là người giám hộ đương nhiên của chị L, anh H có nghĩa vụ chăm sóc quan tâm tới chị L theo Điều 67 BLDS Tuy nhiên anh H lại không chăm lo quan tâm tới chị L, mà còn chung sống với người khác và có con riêng là cháu X ( sinh năm 2009) Việc anh H sống với người khác và có con riêng diễn ra sau khi phát hiện ra chị L bị lao màng lão và chữa trị không khỏi nên anh H không có đủ tư cách đạo đức tốt để tiếp tục làm người giám hộ cho chị L Như vậy, anh H vô trách nhiệm với gia đình, vô trách nhiệm với người vợ đang chống chọi với bệnh tật, không làm tốt tnghĩa
vụ của một người chồng Như vậy hành vi của anh H là vi phạm chế độ hôn nhân một
vợ một chồng( Khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình) và vi phạm nghĩa vụ của người giám hộ, đồng thời cũng không đủ điều kiện làm người giám hộ Bộ luật dân sự
2005 quy định người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ là căn cứ để thay đổi
Trang 5người giám hộ Do vậy, mẹ chị L có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi người giám hộ tới Tòa án nhân dân để được giải quyết Những người được quy định tại Điều
61 và Điều 62 của Bộ luật này là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộ đương nhiên thì việc cử người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều
63 của Bộ luật này Việc thay đổi người giám hộ phải tiến hành theo thủ tục thay đổi người giám hộ được quy định tại Điều 64 Bộ luật này Khoản 1 Điều 64 BLDS quy định: “Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ” Ngoài ra, mẹ chị L có trách nhiệm cử người đại diện làm người giám sát việc giám hộ theo Điều 59 Bộ luật này
Câu 4: So sánh quy định về giám hộ của BLDS 2005 với BLDS 2015 và đánh giá
về những điểm mới của BLDS 2015 trong việc bảo vệ quyền lợi của người được giám hộ Nếu có bất cập thì đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Về người giám hộ, BLDS 2005 không có quy định riêng về người giám hộ Tuy
nhiên tại Điều 58 BLDS 2005 khi giải thích về quy định giám hộ đã đề cập đến việc
cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định hoặc được cử Đối với cá nhân có thể là người giám hộ đương nhiên hoặc giám hộ cử nhưng đối với tổ chức chỉ có thể là người giám hộ cử Đối với hình thức giám hộ đương nhiên là hình thức giám hộ đặt ra đối với người thân thích và những người giám hộ là những người do pháp luật quy định cụ thể Đối với hình thức giám hộ cử chỉ đặt ra khi không có ai trong số những người giám hộ đương nhiên hoặc có mà không đủ điều kiện BLDS 2015 đã quy định
mới về người giám hộ bao gồm: cá nhân, pháp nhân Đặc biệt, đã đưa ra quy định cụ
thể về người giám hộ Điều 49, Điều 50 đã nêu rất cụ thể những điều kiện để cho một
cá nhân, pháp nhân có thể tham gia vào quan hệ giám hộ với tư cách là người giám
hộ Đặc biệt, quy định tại Điều 54 đã cho phép những người giám hộ có sự thỏa thuận, bàn bạc với nhau trước khi đồng ý tham gia vào vai trò là người giám hộ Điều 52 quy định: “Người giám hộ cho người chưa thành niên do những người thân thích tự thỏa thuận với nhau” Quy định về người giám hộ đã giúp bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người được giám hộ cũng như tạo nên sự chủ động cho người giám hộ Người được giám hộ đã có quyền lựa chọn người giám hộ cho mình trong trường hợp pháp luật cho phép Người giám hộ đã có sự chủ động trong việc thể hiện ý chí muốn hay không muốn tham gia vào quan hệ giám hộ Ngoài ra, pháp luật đã bảo vệ người được giám
hộ trong trường hợp đặt ra vấn đề những người gần gũi nhất, người trực tiếp chăm sóc cho người được giám hộ để ưu ái cho họ trở thành người giám hộ Bởi lẽ giữa những
Trang 6người được giám hộ và người giám hộ (trong trường hợp là người thân thích, người trực tiếp chăm sóc) đã có sự gắn kết về tình cảm, về sự thấu hiểu lẫn nhau nên rất thuận lợi cho việc giám hộ Vì suy cho cùng việc giám hộ không chỉ là đại diện cho
họ tham gia vào các giao dịch dân sự mà việc giám hộ còn để đảm bảo thực hiện việc chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho những người được giám hộ
Về người giám sát việc giám hộ, BLDS 2005 có đề cập đến người giám sát việc
giám hộ Tuy nhiên việc đề cập này dường như vẫn chưa thể và vẫn chưa giúp mọi người hình dung cụ thể về quyền lợi, nghĩa vụ của người giám sát việc giám hộ cũng như vai trò của họ như thế nào trong các quan hệ có người giám hộ đại diện cho người được giám hộ tham gia vào Chỉ những quy định liên quan đến vấn đề tài sản của người giám hộ thì mới đề cập đến người giám sát việc giám hộ Đây sẽ là người kiểm tra việc giám hộ của người giám hộ để đảm bảo cho quyền lợi của người được giám
hộ Nhưng quy định trong BLDS 2005 vẫn chưa thể hiện rõ vai trò của đối tượng này BLDS 2015 đã có sự sửa đổi, bổ sung về quy định cho đối tượng này Theo đó: Thứ nhất, người giám sát phải là người được cử ra theo quyết định của cơ quan
2005 Bởi BLDS 2005 giao thẩm quyền cho những người thân thích, trong trường hợp những người thân thích không lựa chọn được thì giao lại cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có thể dẫn đến sự thông đồng giữa người giám hộ và người giám sát việc giám hộ Thứ hai, BLDS 2005 chỉ đòi hỏi người giám sát là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không đưa thêm điều kiện nào Bởi đây là đối tượng đóng vai trò quan trọng không kém gì người giám hộ Khi người này giám sát người giám hộ thì nên quy định những điều kiện cơ bản giúp đảm bảo thực hiện việc giám sát BLDS 2015 đã bổ sung về điều kiện của người giám sát người giám hộ(Khoản 3 Điều 51) và bổ sung thêm Khoản 4( về quyền và nghĩa vụ của người giám sát người giám hộ) Đây là điều kiện giúp cho người giám
sát việc giám hộ có thể thực hiện tốt vai trò của mình không bị ảnh hưởng bởi những vấn đề khác có liên quan, cũng như tránh sự trục lợi, thông đồng của người giám hộ
và người giám sát việc giám hộ,giúp giải quyết những trường hợp cụ thể liên quan đến người giám sát việc giám hộ
Về thẩm quyền, thủ tục cử người giám hộ, người giám sát việc giám hộ cũng như giải quyết tranh chấp về giám hộ (Điều 54) đã được quy định rất cụ thể Quy định
này để giúp đảm bảo giải quyết tốt cho quyền lợi của các bên tham gia vào quan hệ giám hộ
Trang 7Về số lượng người giám hộ cho người được giám hộ, một người chỉ có thể giám hộ
cho một người, trừ trường hợp người giám hộ là cha mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu(Khoản 2 Điều 47) Quy định này để đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động giám hộ khi quyết định một vấn đề nào đó trong việc giám hộ
KẾT LUẬN
Như vậy, từ vụ việc của chị L, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về chế định giám hộ trong BLDS 2005 cũng như BLDS 2015, đặc biệt là về người được giám hộ Trên cơ sở BLDS 2005 cũng như từ bối cảnh xã hội hiện nay, BLDS 2015 đã quy định, bổ sung thêm một số điều mới về người được giám hộ Điều này giúp cho người được giám hộ được bảo đảm về quyền lợi và được pháp luật bảo vệ
Trên đây là toàn bộ bài tập nhóm môn Luật Dân sự 1 của nhóm 2 chúng em Vì khuôn khổ bài tập có hạn và đây là ý kiến riêng của nhóm em nên có thể bài làm của chúng
em không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót Chúng em mong nhận được sự quan tâm, góp
ý của thầy(cô) để bài tập chúng em được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy(cô)!