bài tập thuyết trình dân sự. hơi lan man nhưng các khái niệm đều sử dụng được. MỤC LỤC: 1. Khái niệm, xác định tư cách chủ thể của cá nhân trong các quan hệ pháp luật dân sự 2. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân 2.1. Khái niệm 2.2. Đặc điểm 2.3. Nội dụng 3. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân 3.1. Khái niệm 3.2. Đặc điểm 3.3. Nội dung 4. Quyền nhân thân 5. Hộ tịch nơi cư trú của cá nhân 5.1. Hộ tịch 5.2. Nơi cư trú của cá nhân 6. Giám hộ 6.1. Khái niệm 6.2. Điều kiện của cá nhân để trở thành người giám hộ 6.3. Các hình thức giám hộ 6.4. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ 6.5. Quản lý tài sản của người được giám hộ 6.6. Thay đổi và chấm dứt giám hộ 6.7. Giám sát việc giám hộ 6.8. Hậu quả chấm dứt việc giám hộ 7. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Tuyên bố mất tích. Tuyên bố chết.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Khoa Luật - ĐHQGHN
BÀI TẬP THUYẾT TRÌNH MÔN
LUẬT DÂN SỰ
Giảng viên: Bùi Thị Thanh Hằng
Nhóm :
• Hoàng Thị Thu Hà
• Đàm Thị Hương Quỳnh
• Nguyễn Thu Trang
• Lê Sơn Tùng
• Lê Huy Bằng
• Ngô Phúc Tuấn Anh
• Hoàng Anh
• Nguyễn Thành Đạt
• Nguyễn Duy Khương
• Trần Hữu Tuấn
Đề tài: Những vấn đề về cá nhân trong bộ luật dân sự Việt Nam
MỤC LỤC:
• Khái niệm, xác định tư cách chủ thể của cá nhân trong các quan
hệ pháp luật dân sự
• Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
• Khái niệm
Trang 2• Đặc điểm
• Nội dụng
• Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
• Khái niệm
• Đặc điểm
• Nội dung
• Quyền nhân thân
• Hộ tịch nơi cư trú của cá nhân
• Hộ tịch
• Nơi cư trú của cá nhân
• Giám hộ
• Khái niệm
• Điều kiện của cá nhân để trở thành người giám hộ
• Các hình thức giám hộ
• Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
• Quản lý tài sản của người được giám hộ
• Thay đổi và chấm dứt giám hộ
• Giám sát việc giám hộ
• Hậu quả chấm dứt việc giám hộ
• Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú Tuyên bố mất tích Tuyên bố chết.
• Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
• Tuyên bố mất tích
• Tuyên bố chết
• Khái niệm, xác định tư cách chủ thể của cá nhân trong các quan
hệ pháp luật dân sự.
- Theo pháp luật dân sự Việt Nam, thì có sáu loại chủ thể của quan hệ pháp luật Dân sự Đó là: cá nhân, pháp nhân, các tổ chức, cơ quan công quyền, hộ gia đình và tổ hợp tác
- Khái niệm “cá nhân” trong pháp luật Dân sự Việt Nam được dùng để chỉ “con người”, là cách để phân biệt với chủ thể “pháp nhân”
- Cá nhân bao gồm cả công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch, trong đó công dân là loại chủ thể cá nhân chủ yếu của quan hệ pháp luật dân sự
- Việc xác định tư cách chủ thể của cá nhân trong các quan hệ pháp luật Dân sự dựa - Tuy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng giữa NLPL và NLHVDS của cá nhân có giới hạn rõ nét:
• Thời điểm phát sinh:
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân không có ngay khi cá nhân sinh
ra mà phải đạt đến độ tuổi nhất định (6 tuổi) mới bắt đầu có năng lực hành vi dân sự
Trang 3• Tính chất
- Pháp luật ghi nhận mọi công dân có năng lực pháp luật dân sự như nhau Bộ luật dân sự quy định "mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau nghĩa là có tính bình đẳng về năng lực pháp luật dân
sự giữa các cá nhân"
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là cá nhân tự tạo ra quyền, nghĩa vụ và có trách nhiệm về hậu quả Năng lực hành vi của cá nhân phụ thuộc vào độ tuổi khả năng nhận thức, khả năng làm chủ hành vi,
vì vậy mà pháp luật không công nhận sự bình đẳng về năng lực hành
vi
• Vị trí, vai trò trong năng lực chủ thể
- Năng lực pháp luật dân sự là điều kiện "cần" để cá nhân tham gia vào các quan hệ dân sự Năng lực hành vi dân sự là điều kiện đủ
- Năng lực pháp luật dân sự mới là khả năng hưởng quyền còn năng lực hành vi dân sự là "cầu nối" giữa năng lực pháp luật dân sự và quyền dân sự hiện thực hoá các nội dung của năng lực pháp luật dân sự
Liên quan đến NLPL cá nhân, BLDS đã quy đinh một số trường hợp ngoại lệ trong quan hệ thừa kế:
• Người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì được xác định là người thừa kế
• Cá nhân chỉ có thể tự mình, tức là bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự khi cá nhân đó là người thành niên, tức là người từ đủ 18 tuổi trở lên mà không bị mất NLHVDS hoặc bị hạn chế NLHVDS
• Đối với người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người địa diện theo pháp luật đồng
ý, trừ các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hành ngày phù hợp với lứa tuổi Đối với trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tại sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác
VD: theo Điều 652 khoản 2, di chúc của người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 phải được lập thành văn bản và phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
• Mọi giao dịch của người không có năng lực hành vi dân sự hoặc người mất NLHVDS đều phải do người đại diện theo pháp luật xác
Trang 4lập, thực hiện.
• Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
• Khái niệm
Theo khoản 1 điều 14 của BLDS 2005 quy định: năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự
Như vậy, năng lực pháp luật Dân sự của cá nhân là điều kiện cần để cá nhân
có thể tham gia các quan hệ pháp luật Dân sự và trở thành chủ thể của quan
hệ đó
• Đặc điểm (4 đặc điểm )
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là sự phản ánh địa vị pháp lý của cá nhân trong xã hội được nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật Địa
vị pháp lý là thứ bậc vị trí của cá nhân trong một xã hội có nhà nước , địa
vị đó do nhà nước quy định mà thông qua đó các cá nhân được hưởng những quyền nhất định Được ghi nhân từ điều 14 đến điều 16 BLDS 2005
• Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự
Khoản 2 điều 14 BLDS quy định: “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau” , không phân biệt tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội…nói cách khác , mọi cá nhân đều có khả năng như nhau về quyền và nghĩa vụ dân sự, không bị hạn chế bởi bất cứ lí do nào
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không đồng nghĩa với quyền dân
sự chủ quan của cá nhân mà chỉ là tiền đề để cho công dân có các quyền dân sự cụ thể Tuy nhiên, chủ thể không có khả năng hưởng quyền thì cũng không thể có quyền dân sự cụ thể được
• Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc tính không thể tách rời , nó phát sinh vào thời điểm người đó sinh ra và chấm dứt khi người
đó chết ( khoản 3 điều 14 BLDS 2005)
Mặc dù năng lực dân sự cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết (Khoản 3 điều 14 ) nhưng có một số trường hợp được pháp luật quy định người chưa sinh ra (bào thai) đã được hưởng một số quyền dân sự nhất định
VD: theo điều 635 BLDS 2005: người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống và thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai sau khi người để lại di sản chết.
• Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không phụ thuộc vào độ tuổi, khả năng nhận thức, lý trí… mà nó gắn bó suốt đời mỗi cá nhân từ khi sinh ra cho đến khi chết đi
VD: một người cho dù bị mất năng lực hành vi dân sự, thì họ vẫn có các quyền đối với họ tên, xắc định giới tính, quyền sở hữu tài sản,
Trang 5• Điều 16 BLDS 2005 quy định: “năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không hề bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định”
Mọi giao dịch dân sự nhằm mục đích hạn chế hoặc hủy bỏ năng lực pháp luật dân sự của cá nhân đều bị xem là vô hiêu, trừ trường hợp pháp luật quy định Có 2 trường hợp bị hạn chế :
• Văn bản pháp luật chung quy định một loại người nào đó không được tham gia các quan hệ dân sự cụ thể
VD: người nước ngoài không có quyền sở hữu về nhà ở nên không được phép mua bán nhà ở Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại điều 125, 126 Luật nhà ở về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài.
• Quyết định đơn hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
VD: tòa án ra quyết định cấm cư trú đối với một người nào đó trong khoảng thời gian xác định Tuy nhiên đây không phải là tước bỏ năng lực pháp luật dân sự mà chỉ là tạm định chỉ khả năng này Việc hạn chế này chỉ đối với một số quyền cụ thể mà không phải là năng lực pháp luật dân sự nói chung.
• Nội dung
Điều 15 BLDS 2005 quy định nội dung NLPLDS của cá nhân, theo đó cá nhân có các quyền và nghĩa vụ như sau :
1- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản
Quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật quy định Quyền nhân thân được quy định từ điều 24 đến 52 BLDS 2005 Theo đó, quyền nhân thân được chia làm 2 nhóm :
• Quyền nhân thân không gắn với tài sản như quyền đối với họ tên, hình ảnh, quyền xác định giới tính, quyền giữ bí mật về đời tư, danh dự nhân phẩm…
• Quyền nhân thân gắn với tài sản là những quyền có thể mang lại lợi ích vật chất nhất định cho các cá nhân như quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ…
Cá nhân không được lạm dụng quyền nhân thân để xâm phạm tới lợi ích nhà nước, cộng đồng, quyền và lợi ích của cá nhân khác
2- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản.
Quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những trường hợp nhất định.Quyền sở hữu là một trong những quyền đặc biệt quan trọng của cá nhân vì thông qua đó cá nhân có thể thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình Các cá nhân có quyền
sở hữu đối với tài sản hợp pháp của chính mình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ
Cá nhân có quyền để lại di sản cũng như hưởng di sản thừa kế theo di chúc và theo quy định của pháp luật
Trang 6• NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
• Khái niệm
Theo điều 17 BLDS 2005: “ Năng lực hành vi dân sự cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xắc lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân
sự ”
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng thực tế của chủ thể nhằm thực hiện nội dung năng lực pháp luật của chủ thể Đây là điều kiện quan trọng để một cá nhân có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
• Đặc điểm
• Năng lực hành vi thể hiện qua :
- Khả năng thực hiện quyền
- Khả năng thực hiện nghĩa vụ
• Năng lực hành vi có 3 đặc điểm:
• Tính điều kiện
NLHVDS của cá nhân không mặc nhiên xuất hiện khi cá nhân được sinh ra NLHVDS của cá nhân chỉ có được khi đáp ứng những điều kiện nhất định Theo BLDS2005, dựa trên những điều kiện nhất định mà một cá nhân có thể
có NLHVDS đầy đủ , một phần, NLHVDS bị hạn chế hoặc không có
NLHVDS
• Tính có thể ủy quyền
Khác với NLPLDS, NLHVDS của cá nhân có thể tách rời với cá nhân Đối với những người có NLHVDS một phần hoặc bị hạn chế NLHVDS , thì NLHVDS của các cá nhân đó được ủy quyền cho người khác – người đại diện theo pháp luật Mọi giao dịch không phù hợp với khả năng của người
có NLHVDS một phần,NLHVDS hạn chế mà không được sự đồng ý của người đại diện thì giao dịch đó có thể bị TA tuyên bố là vô hiệu theo yêu cầu của người đại diện theo pháp luật
• Tính bảo vệ
Việc quy định NLHVDS của cá nhân nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho cá nhân trong giao dịch dân sự:
+ Đối với người có NLHVDS một phần, NLHVDS hạn chế, mất NLHVDS: tránh sự lợi dụng cúa cá nhân , tổ chức khác nhằm chiếm đoạt tài sản khi có những căn cứ tuyên bố hạn chế, mất NLHVDS đối với một cá nhân
+ Đối với những người có quyền, lợi ích liên quan đến người có NLHVDS
Trang 7một phần, NLHVDS hạn chế: đảm bảo quyền , lợi ích liên quan của họ đến người có NLHVDS một phần, NLHVDS hạn chế, tránh sự phá tán tài sản chung của gia đình
• Nội dung:
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào các yếu tố:
• Độ tuổi
• Khả năng nhận thức
• Tình trạng sức khỏe thể chất
BLDSVN 2005 đã quy định về các mức năng lực hành vi dân sự như sau:
• Người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự
• Người có năng lực hành vi không đầy đủ
• Người không có năng lực hành vi dân sự
• Người mất năng lực hành vi dân sự
• Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Xét theo độ tuổi thì điều 18 BLDS 2005 quy định “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên.”
• Người có đủ NLHVDS
Cá nhân có NLHVDS đầy đủ là những người đã phát triển hoàn chỉnh
về mặt thể chất lẫn trí tuệ, không mắc bệnh tâm thần hay các bệnh khiến người đó không còn khả năng nhận thức Điều 18 BLDS quy định: “người
đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên
VD: một cá nhân sinh ngày 10/10/1992 thì 18 năm sau đến ngày 10/10/2010 cá nhân đó mới được coi là người đủ 18 tuổi, là người thành niên.
Người có NLHVDS có đầy đủ tư cách chủ thể, có quyền tham gia vào các quan hệ PLDS với tư cách chủ thể độc lập, tự chịu trách nhiệm về những hành vi của bản than và trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự mà người đó tham gia
Người có NLHVDS đầy đủ có quyền tự do giao kết hợp đồng dân sự,
có thể là người đại diện theo PL hoặc ủy quyền cho hộ gia đình, tổ chức tham gia giao kết dân sự, có quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của
mình…
Trang 8• Người có NLHVDS một phần
Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác (theo khoản 1 điều 20 BLDS 2005 của Việt Nam) Đây là nhóm đối tượng thuộc độ tuổi chưa thành niên có thể thực hiện một số giao dịch có sự đồng ý của người đại diện( cha, mẹ hoặc người giám hộ.)
VD: một người đủ 16 tuổi và có có đủ số tiền trả cho suất ăn trưa tại trường thì người
đó có thể tự thực hiện được giao dịch.
• Người không có NLHVDS
Theo điều 21 BLDS 2005 của Việt Nam thì ”Người chưa đủ sáu tuổi không
có năng lực hành vi dân sự Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.”
Những người chưa đủ 6 tuổi hoàn toàn không có năng lực hành vi dân sự vì chưa thật sự nhận thức được hành vi của mình Để bảo vệ quyền và lợi ích của họ luật quy định người không có khả năng tự mình thực hiện các quyền
và nghĩa vụ dân sự nhất thiết phải được đại diện trong quá trình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó
• Người mất NLHVDS
“Mất” NLHV được hiểu là đã có NLHV nhưng sau đó, sau một sự kiện vào đó khiến cho người đó không còn có NLHV nữa
Một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự dựa trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định Mọi giao dịch dân sự của người mất NLHVDS đều do người đại diện hợp pháp xác lập và thực hiện
Người bị tòa án quyết định mất NLHVDS phải có người giám hộ (khoản 1, điều 22 BLDS 2005) người giám hộ đương nhiên của người mất NLHVDS được quy định tại điều 62 BLDS2005 Trong trường hợp không
có người giám hộ đương nhiên thì UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị cử một tổ chức đảm nhiệm việc giám
hộ Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất NLHVDS thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, tòa án quyết định hủy bỏ tuyên bố mất NLHVDS
Hậu quả pháp lý: mọi giao dịch dân sự của người này đều do người đại diện hợp pháp xác lập và thực hiện
Trang 9• Người bị hạn chế NLHVDS
Theo điều 23 BLDS 2005 thì người bị hạn chế NLHVDS là người nghiện
ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
và theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Người đại diện không được thực hiện các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản của người được đại diện, trong trường hợp người đại diện thực hiện giao dịch có liên quan đến tài sản có giá trị lớn của người được đại diện thì phải được sự đồng ý của người giám sát người giám hộ
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
• Quyền nhân thân
Với tư cách là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, cá nhân có hàng loạt các dấu hiệu và thuộc tính tự nhiên và xã hội mà trên cơ sở đó, phân biệt các cá nhân với nhau và đồng thời có ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của cá nhân đó Các thuộc tính đó là: họ tên, quốc tịch, độ tuổi, tình trạng gia đình,… Từ những thuộc tính này, luật quy định mỗi người tham gia vào quan hệ pháp luật với một tên (họ), nhất định (nhân danh mình) với quốc tịch, độ tuổi và giới tính đã xác định Các thuộc tính này được xác định ngay từ khi sinh ra cùng với việc đăng kí khai sinh
Các thuộc tính này gắn với nhân thân cá nhân và được pháp luật ghi nhận, trở thành các quyền nhân thân của mỗi con người
Điều 24 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Quyền nhân thân là một khái niệm pháp lý chỉ quyền năng dân sự của cá nhân được pháp luật ghi nhận, gắn liền với những giá trị tinh thần của con người và về nguyên tắc không thể chuyển giao cho người khác
Một xã hội càng tiến bộ, phát triển bao nhiêu thì quyền nhân thân của cá nhân càng được pháp luật tôn trọng và mở rộng bấy nhiêu Cùng với sự phát triển của đất nước, quyền nhân thân của cá nhân cũng ngày càng được công nhận và bảo vệ cao hơn trong pháp luật Việt Nam Từ Bộ luật Dân sự 1995 đến BLDS 2005, pháp luật đã mở rộng thêm quyền nhân thân của cá nhân từ
20 quyền lên thành 26 quyền nhân thân trong đó bổ sung thêm các quyền như quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền hiến xác, hiến các bộ phận trên cơ thể sau khi chết; quyền nhận bộ phận cơ thể người; quyền xác định lại giới tính… Có thể nói đây là những cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tôn
Trang 10trọng và bảo vệ quyền nhân thân của con người Tuy nhiên các quyền này chỉ được thực hiện trong y học, khám chữa bệnh mà không mang mục đích kinh doanh, thương mại, tránh tình trạng biến các bộ phận cơ thể người thành hàng hóa
Thừa nhận quyền hiến xác; hiến và nhận các bộ phận cơ thể
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, để duy trì sự sống, rất nhiều người bệnh cần phải thay hay ghép một số bộ phận cơ thể (ví dụ như thay thận, ghép gan…) nên Điều 33 và 34 của BLDS đã cho phép cá nhân có quyền được hiến bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học
Hóa giải mâu thuẫn giữa luật và tập quán
Đối với quyết định cho phép mổ tử thi cần phải được sự đồng ý của cha
mẹ, người giám hộ của người quá cố Hơn nữa, khái niệm “người thân thích” được quy định tại khoản 5 Điều 32 BLDS năm 1995 lại có thể hiểu theo nghĩa rất rộng và chưa có văn bản nào giải thích cụ thể nên vừa gây khó khăn, ách tắc cho ngành y và cả với những gia đình có yêu cầu
Để khắc phục bất cập, khoản 4 Điều 32 BLDS mới đã quy định các trường hợp cụ thể được phép giải phẫu tử thi như sau:
“Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;
b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết; c) Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết”
Giới tính - chỉ được xác định lại, không được chuyển đổi
Việc chuyển đổi giới tính là vấn đề mới và rất phức tạp về mặt xã hội, mới chỉ xảy ra rất ít trường hợp, chưa có tính phổ biến và chưa phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, từ thực tiễn
là trong thời gian gần đây, một số nơi ở nước ta (ví dụ như TP.HCM) có nhiều cuộc phẫu thuật nhằm xác định lại giới tính dẫn đến một yêu cầu bức xúc về việc phải có pháp luật điều chỉnh về vấn đề này Đáp ứng thực tiễn đó, Điều 36 BLDS đã quy định về việc xác định lại giới tính như sau:
“Cá nhân có quyền được xác định lại giới tính Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người
đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự