1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÂU 9 11 ÔN TẬP TRIẾT

17 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 124,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Năm 1919, trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, Lênin đã nêu ra một định nghĩa vềgiai cấp: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn người to lớn khác nhau về địa vị của họ trong một hệ t

Trang 1

CÂU 9: Quan hệ giai cấp – dân tộc? Ý nghĩa trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam.

* Quan hệ giai cấp – dân tộc:

- Dân tộc là cộng đồng xã hội - tộc người ổn định bền vững, là sự kết tinh độc đáo

các thể cộng đồng về lãnh thổ, về ngôn ngữ, về kinh tế, về văn hóa, tâm lý và tính cách

Những cộng đồng người được coi là dân tộc có các đặc trưng chủ yếu sau:

Một là, cộng đồng về lãnh thổ, bao gồm chủ quyền về vùng đất, vùng trời, vùng

biển, hải đảo, thềm lục địa, v.v Trong một quốc gia nhiều dân tộc thì lãnh thổ quốc gia gồm lãnh thổ của tất cả các dân tộc thuộc quốc gia ấy hợp thành Lãnh thổ là chủ quyền không thể chia cắt, là cơ sở hình thành nên tổ quốc của mỗi quốc gia dân tộc

Hai là, cộng đồng về kinh tế Cộng đồng chung về kinh tế đảm bảo cho sự tồn tại

và thống nhất của mỗi quốc gia dân tộc

Ba là, cộng đồng về ngôn ngữ Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của dân tộc

mình, nhưng trong một quốc gia bao giờ cũng có một ngôn ngữ chung thống nhất Ngôn ngữ được chọn làm ngôn ngữ thống nhất của dân tộc quốc gia bao giờ cũng là sản phẩm

và kết quả tất yếu của một quá trình hết sức lâu dài của sự phát triển kinh tế - xã hội Ví

dụ, các dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam như người Tày, người Thái, người Nùng, người Mường, người Êđê, đều có ngôn ngữ của dân tộc mình Nhưng tiếng Kinh (Việt) được coi là ngôn ngữ chung của dân tộc Việt Nam Một dân tộc có thể dùng các ngôn ngữ khác nhau để giao tiếp nhưng tiếng mẹ đẻ - ngôn ngữ chung của dân tộc, một quốc gia thống nhất là đặc trưng bản chất và là nhân tố kết nối các dân tộc thành một quốc gia

có chủ quyền Ngôn ngữ là nền tảng văn hoá đồng thời còn là di sản văn hoá tinh thần của dân tộc

Bốn là, cộng đồng về văn hóa, tâm lý, tính cách Văn hoá là yếu tố đặc biệt trong

sự gắn kết cộng đồng dân tộc thống nhất Đặc trưng chung của văn hoá dân tộc là thống nhất trong tính đa dạng Văn hoá là động lực phát triển của dân tộc, là công cụ bảo vệ độc lập, chủ quyền của mỗi quốc gia dân tộc Đấu tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc bao gồm đấu tranh chống đồng hoá về văn hoá Đồng thời, mỗi dân tộc có tâm lý, tính cách riêng Nó phản ánh những điều kiện sống, điều kiện địa lý, dân cư, văn hoá, v.v

Bốn cộng đồng này vừa kết dính dân tộc vừa tạo ra động lực để mỗi dân tộc phát triển

Trang 2

- Năm 1919, trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, Lênin đã nêu ra một định nghĩa về

giai cấp: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn người to lớn khác nhau về địa vị

của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan

hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định”.

Như vậy, nói giai cấp là nói đến sự khác nhau giữa các tập đoàn người về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định Địa vị khác nhau này được thể hiện ở ba quan hệ xét từ ba mặt trong quá trình sản xuất như sau:

Thứ nhất, khác nhau về quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất (sự khác nhau đó

được pháp luật quy định và thừa nhận)

Thứ hai, khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức lao động, trong tổ chức quản lý

sản xuất

Thứ ba, khác nhau về phương thức và quy mô thu nhập hay phân phối của cải xã

hội

Ở đây, khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất là sự khác nhau cơ bản nhất Trong định nghĩa, Lênin chỉ ra thực chất của tình trạng xã hội phân chia giai cấp là do tập đoàn này có thể chiếm đoạt sản phẩm lao động của tập đoàn khác Trong xã hội có giai cấp, ngoài giai cấp thống trị và giai cấp bị trị (những giai cấp cơ bản của xã hội) còn

có các giai cấp, tầng lớp trung gian khác Bộ phận này không có vị trí cơ bản trong phương thức sản xuất thống trị, nó thường xuyên bị phân hoá Nhân tố chi phối sự phân hoá này chính là lợi ích Nghĩa là các giai cấp trung gian, các tầng lớp trung gian ngả về giai cấp nào trong xã hội là do lợi ích của họ chi phối

- Quan hệ giai cấp – dân tộc:

a Vai trò của giai cấp đối với dân tộc:

Trong quan hệ biện chứng giữa giai cấp và dân tộc thì quan hệ giai cấp xét đến cùng là nhân tố có vai trò quyết định đối với sự hình thành dân tộc, tính chất dân tộc, xu hướng phát triển của dân tộc

Trang 3

Áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc Dân tộc này

áp bức, thống trị dân tộc khác về thực chất là giai cấp thống trị dân tộc này áp bức, bóc lột dân tộc khác

Nhân tố giai cấp là nhân tố cơ bản, hàng đầu trong phong trào giải phóng dân tộc Điều này thể hiện ở chỗ, giai cấp nào lãnh đạo phong trào, những giai cấp nào là nòng cốt của phong trào, liên minh với giai cấp nào Những điều này có ảnh hưởng mang tính quyết định đối với thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc

b Vai trò của dân tộc đối với giai cấp:

Sự tác động của dân tộc đối với giai cấp thể hiện, dân tộc là địa bàn trực tiếp của các quá trình kinh tế - xã hội, là cơ sở của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân Các cuộc cách mạng xã hội và trình độ phát triển dân tộc có vai trò to lớn đối với trình độ phát triển giai cấp

Vấn đề dân tộc là vấn đề cơ bản, hàng đầu của cách mạng vô sản Vấn đề dân tộc chỉ được nhận thức và giải quyết đúng đắn trên lập trường của giai cấp công nhân Phong trào giải phóng dân tộc ảnh hưởng to lớn đến đấu tranh giai cấp

Trong lịch sử, khi giai cấp đang lên, đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, cho sự tiến hóa của xã hội thì nó cũng là giai cấp đại biểu cho lợi ích chân chính của dân tộc Giai cấp đó có khả năng nắm ngọn cờ dân tộc để tập hợp lực lượng, chống giai cấp thống trị phản động và chống bọn áp bức thuộc các dân tộc khác

Khi giai cấp thống trị đã trở thành lỗi thời và phản động thì lợi ích giai cấp của nó mâu thuẫn gay gắt với lợi ích dân tộc Nó sẵn sàng vứt bỏ lợi ích dân tộc để bảo vệ lợi ích giai cấp Trong cuộc đấu tranh Pháp - Phổ, giai cấp tư sản Pháp khi ấy đã sẵn sàng bán đứng lợi ích dân tộc Pháp để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản

Đảng ta giương cao ngọn cờ chủ nghĩa yêu nước và ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới hiện nay chính là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, thúc đẩy tiến bộ xã hội

* Ý nghĩa trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam:

Trong thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng hết sức cấp

Trang 4

thiết Bởi vì, thực tế cho ta bài học là, có thời kỳ, khi triển khai các nhiệm vụ xây dựng CNXH, đã có lúc Đảng ta phạm sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí, quá nhấn mạnh vấn đề giai cấp nên đã xem nhẹ vấn đề dân tộc trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp không được tính đến đầy đủ và kết hợp hài hoà, sức mạnh dân tộc không được phát huy như một trong những động lực chủ yếu nhất Nhưng ngay sau đó, Đảng ta đã kịp thời khắc phục có hiệu quả

cả về phương điện nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn về vấn đề này Tuy thế, trong những năm gần đây, ở nước ta đã nảy sinh ý kiến cho rằng: mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp luận chứng trong chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một số nước khác nào đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao giờ cũng chi phối, khi nào Đảng nhấn mạnh vấn đề giai cấp thì đều dẫn đến sai lầm Từ đó, họ đề xuất ý kiến theo hướng nhấn mạnh một chiều vấn đề dân tộc, tách vấn đề dân tộc khỏi vấn đề giai cấp, hạ thấp ý nghĩa quan trọng, bức thiết của vấn đề giai cấp, không lấy quan điểm giai cấp làm quan điểm cơ sở lập trường để xem xét, giải quyết vấn đề dân tộc Theo họ, nước ta hiện nay chỉ nên đề ra và giải quyết những vấn đề dân tộc, còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra Mục tiêu ''dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh'' được họ đồng tình, nhưng giải thích theo hướng phi giai cấp, nghĩa là không nhất thiết phải theo định hướng XHCN Thực chất là họ bác bỏ đường lối giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân Quan điểm nêu trên đi ngược với con đường mà Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, và rõ ràng là không phù hợp với thực tiễn của lịch sử cách mạng Việt Nam Thực tiễn đó đã chỉ ra rằng, trong bất cứ giai đoạn nào, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đều phải kết hợp nhuần nhuyễn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc; trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn luốn gắn bó hữu cơ với lý tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam Nền độc lập thật sự của dân tộc; tự do, sự giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể đạt được một cách bền vững trong sự nghiệp cách mạng theo mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân Bởi vậy, ngay từ khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã xác định rõ: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là quan niệm đúng đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình thức; bước đi và biện pháp phù hợp Nói cách khác, giữ vững định hướng XHCN là nguyên tắc cơ bản của quá trình đổi mới Thực tiễn

Trang 5

cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện, mà thực chất là nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong công cuộc xây đựng CNXH ở nước ta Văn kiện của Đảng ta tại Đại hội lần thứ IX đã xác định rõ: “mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết

và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây đựng và bảo vệ Tổ quốc được sự lãnh đạo của Đảng Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”

Phương hướng vận dụng và phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới là nắm vững quan điểm thực tiễn, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người để giải quyết đúng đắn vấn đề do thực tiễn đặt ra.Nội dung chủ yếu để vận dụng

tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt năm hiện nay cơ bản như sau:

- Kiên định đi theo con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn Đó là tiếp tục con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng cơ bản được vạch ra trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH mà đại hội Đảng lần VII đã vạch

ra

- Dựa vào sức mạnh của toàn dân :

+ Thường xuyên chăm lo xây dựng và phát triển nguồn lực con người

+ Tiếp tục xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân

+ Tôn trọng quyền làm chủ của toàn dân

+ Dựa trên sức mạnh của dân,xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc dựa trên giá trị truyền thống văn hóa dân tộc

- Xây dựng và chỉnh đốn hệ thống chính trị trong sạch và vững mạnh

CÂU 10: Hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội? Ý nghĩa trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam.

* Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội:

- Tồn tại xã hội là phạm trù chỉ toàn bộ đời sống vật chất và những điều kiện vật

chất của xã hội Bao gồm hoàn cảnh địa lý, dân cư và phương thức sản xuất Trong đó phương thức sản xuất giữ vai trò quyết định

Trang 6

- Ý thức xã hội là thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm tư tưởng

cùng những tình cảm tâm trạng, nẩy sinh từ tồn tại xã hội và phản ảnh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển lịch sử xã hội nhất định

Phân tích:

Ý thức xã hội là thuộc Lĩnh vực đời sống tinh thần: Đời sống con người chia làm

2 loại, đời sống vật chất và đời sống tinh thần Đời sống tinh thần bao gồm ý thức xã hội

và hoạt động của con người trong lĩnh vực tinh thần Vì thế ý thức xã hội chỉ là một bộ phận của đời sống tinh thần

Ý thức xã hội bao gồm những quan điểm tư tưởng, tình cảm, tâm trạng phản ánh tồn tại xã hội nhất định - theo từng giai đoạn

Kết cấu của Ý thức xã hội:

Ý thức xã hội rất đa dạng Có nhiều cách chia, cách chia phổ biến nhất là theo cấp độ có tâm lý xã hội, hệ tư tưởng

Thứ nhất: Tâm lý xã hội là Bao gồm toàn bộ những tình cảm, tâm trạng, tập

quán của cộng đồng người được hình thành 1 cách tự phát từ cuộc sống con người Tâm lý xã hội biểu hiện rất phức tạp bởi ở những cộng đồng người khác nhau, ở những điều kiện khác nhau, cuộc sống khác nhau sẽ biểu hiện khác nhau Tâm lý xã hội có tính lây lan, trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội nó có sự truyền cảm lây lan

Thứ 2: hệ tư tưởng là những quan điểm tư tưởng đã được khái quát hóa hệ thống

hóa dưới dạng các học thuyết về chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học…

+ Hệ tư tưởng hình thành tự giác trong quá trình tích cực của tư duy

+ Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị là hệ tư tưởng thống trị

+ Hệ tư tưởng không đồng nhất với chân lý Hệ tư tưởng phản ánh đúng hiện thực mới là chân lý

+ Ý thức xã hội vừa có tính giai cấp vừa có tính nhân loại

Ngoài ra còn chia ý thức xã hội thành ý thức xã hội thông thường và ý thức lý

luận

+ Ý thức xã hội thông thường là những tri thức, những quan niệm của con người

hình thành một cách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hoá, khái quát hoá

Trang 7

VÍ DỤ : Trời chuẩn bị mưa, thông thường mọi người đi ra ngoài, có ý thức mang theo áo mưa

+ Ý thức lý luận là những tư tưởng quan điểm được hệ thống hoá, khái quát hoá

thành các học thuyết xã hội và được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật

VÍ DỤ : Bác Hồ đưa ra lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

Tính giai cấp của ý thức xã hội

- Khi nào xuất hiện giai cấp, Nhà nước, khi đó ý thức xã hội mang tính giai cấp

- Giai cấp nào nắm quyền thống trị thì ý thức xã hội phục vụ cho giai cấp đó

- Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin phục vụ cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì học thuyết của nó mang bản chất của Giai cấp công nhân

Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội::

- Vai trò quyết định của tồn tại xã hội với ý thức xã hội:

Thứ nhất: Nhìn chung tồn tại xã hội nào thì ý thức xã hội ấy Ví dụ trong chiến

tranh, thời kỳ bao cấp, thời kỳ đổi mới thì ý thức xã hội mỗi thời kỳ là khác nhau

Thứ 2: khi tồn tại xã hội thay đổi (nhất là khi phương thức sản xuất thay đổi) thì

những tư tưởng tình cảm tâm trạng của ý thức xã hội sớm muộn cũng thay đổi theo

Thứ 3: tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm xu hướng phát triển

của các hình thái ý thức xã hội

Thực chất quan hệ vật chất quyết định ý thức xã hội Ví dụ: tranh chấp nẩy sinh chủ yếu là do lợi ích kinh tế

- Tính độc lập tương đối :

+ Vì sao ý thức xã hội có tính độc lập tương đối: có 3 lý do sau:

Thứ nhất: Ý thức xã hội có cấu trúc phức phạp, chịu tác động của nhiều yếu tố cả vật chất và tinh thần, cả truyền thống và hiện đại, vì thế nó có tính độc lập tương đối

Thứ 2: Mỗi hình thái ý thức xã hội phản ánh 1 lĩnh vực của đời sống xã hội, nó có quy luật “riêng: loric của nó Vì thế trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội nó có tính độc lập tương đối

Thứ 3: trong xã hội có những lực lượng muốn níu kéo ý thức xã hội đó vì động chạm lợi ích của họ

+ Tính độc lập tương đối biểu hiện như thế nào:

Thứ nhất: Tính lạc hậu (đi sau) bảo thủ vì ý thức phản ảnh không thực cuộc sống

do sức ỳ của tâm lý Do có những lực lượng níu kéo

Thứ 2: Ý thức xã hội có tính kế thừa: trong quá trình phản ánh xã hội đã có kế thừa những tư tưởng tích cực trước đó Tuân theo Quy luật phủ định của phủ định

Trang 8

Thứ 3: Tính vượt trước: tồn tại xã hội chưa có nhưng ý thức xã hội đã có Vượt trước có vượt trước trên cơ sở khách quan, vượt trước ảo tưởng

Thứ 4: Sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội,đặc biệt là yếu tố chính trị

Thứ 5: sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội: sự tác động theo hai hướng, nếu ý thức xã hội tiến bộ thì thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển, nếu ý thức xã hội lạc hậu thì cản trở Sự phụ thuộc trên 3 yếu tố:

+ Tính đúng đắn khách quan khoa học của bản thân ý thức xã hội đó phản ánh tồn tại xã hội

+ phụ thuộc ý thức ấy thâm nhập vào quần chúng nhân dân đến đâu

+ phụ thuộc vào mức độ vận dụng đúng đắn sáng tạo của chủ thể lãnh đạo quản lý

Ý nghĩa phương pháp luận:

Thứ nhất, tồn tại xã hội đóng vai trò quyết định ý thức xã hội, tức mặt đời sống

tinh thần của xã hội Vì vậy, muốn xoá bỏ hình thái ý thức xã hội cũ lỗi thời, lạc hậu, bảo thủ, trì trệ thì trước hết phải cải tạo tồn tại xã hội sinh ra nó

Thí dụ: muốn thay đổi tư duy manh mún, nhỏ lẻ của người nông dân thì cần phải đưa công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với các tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng vào trong sản xuất nông nghiệp Từ đó, sẽ làm thay đổi cách nghĩ, cách làm thủ công, truyền thống của người nông dân sang làm ăn lớn trên cơ sở áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại vào sản xuất nông nghiệp cho năng suất cao

Thứ hai, ý thức xã hội có sự tác động trở lại tồn tại xã hội Vì vậy, cần đấu tranh

chống lại các tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, phản tiến bộ, phản khoa học nhằm thúc đẩy xã hội phát triển

Thí dụ: cần đấu tranh chống lại các tư tưởng ngại đổi mới, chậm đổi mới, chậm áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa Vì vậy, trong quá trình phát triển cần phải

kế thừa những giá trị truyền thống của dân tộc và không ngừng tiếp thu, ứng dụng những thành tựu văn hoá, khoa học kỹ thuật và công nghệ của nhân loại vào sản xuất nhằm

nâng cao năng suất lao động; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: "Dân giàu, nước

mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Thứ tư, ý thức xã hội có tính vượt trước, dự báo xu hướng vận động và phát triển

của xã hội tương lai

Vì vậy, cần phải tích cực đẩy mạnh nghiên cứu khoa học nhằm phát hiện những quy luật vận động, phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và con người Từ đó, Đảng

và Nhà nước cần có cơ chế, chính sách và giải pháp khoa học nhằm thúc đẩy sự tiến bộ

Trang 9

và phát triển của xã hội; đồng thời ngăn ngừa được những nguy cơ xấu phát sinh trong đời sống xã hội như: bão lụt, động đất, sóng thần, dịch bệnh, khủng hoảng toàn cầu

Thứ năm,nghiên cứu các hình thái xã hội, trong đó, ý thức chính trị, ý thức pháp

luật ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội, đến việc hình thành ý thức công dân và thực hành ý thức xã hội Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cần tích cực tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước vào trong đời sống xã hội

* Ý nghĩa trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam:

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương tại Đại hội VII chỉ rõ: sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và tiến bộ xã hội Thể hiện mục tiêu chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Đó là nội dung chỉ đạo quá trình giải quyết mâu thuẫn có thể có trong việc đầu tư phát triển kinh tế ở bất kỳ nền kinh tế hàng hóa nào Đối với chúng ta trong chế độ xã hội chủ nghĩa, vấn đề đó đã phải luôn luôn là vấn đề được quan tâm với đầy đủ tinh thần trách nhiệm

Ta phải nhận thức hiệu quả kinh tế gắn liền với hiệu quả xã hội, kinh tế phát triển

là để tạo ra điều kiện lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, bảo vệ truyền thống văn hóa, đạo đức, lối sống tốt đẹp của từng gia đình và cả dân tộc Ta phải đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân tự do làm ăn theo pháp luật sẽ là một tiến

bộ lớn về mặt xã hội, là thực hiện tốt dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế Nhà nước ta phải có cơ chế chính sách thích đáng nhằm động viên toàn xã hội tiết kiệm để đầu tư phát triển, để đẩy mạnh hơn nữa tăng trưởng kinh tế theo phương hướng nhiệm vụ mà chiến lược kinh tế - xã hội đề ra Từ đó mà giải quyết tốt hơn việc làm thu nhập và đời sống tạo tiền đề vật chất cho việc xử lý các vấn đề xã hội Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế không tự nó giải quyết được tất cả các những đề xã hội, cũng không phải chờ đến lúc kinh tế phát triển cao mới quan tâm đến những vấn đề xã hội Ngược lại, chính việc ta giải quyết tốt những vấn đề xã hội là điều kiện quyết định để thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế Chúng ta không thể có sớm ngay một xã hội tốt đẹp trong khi kinh tế nước ta còn kém phát triển, năng suất lao động thấp, kinh tế kỹ thuật còn lạc hậu, nhưng ta phải kết

Trang 10

hợp ngay từ đầu tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, từng bước xây dựng XH nước ta trong đó nhân dân làm chủ các công việc Nhà nước, mọi người sống nhân ái, có văn hóa, tôn trọng pháp luật, kỷ cương, không còn áp bức bất công, ai cũng

có điều kiện làm ăn sinh sống, ấm no, tự do, hạnh phúc

Hiện nay, nhiều vấn đề XH còn phức tạp không phải do KT kém phát triển, mà còn do chúng ta còn buông lỏng lãnh đạo quản lý ở từng nơi từng lúc, chưa quan tâm đúng mức đến việc quản lý các vấn đề XH, chưa chú trọng kết hợp tăng trưởng KT với tiến bộ XH và công bằng XH Hướng tới, Nhà nước, từng địa phương và từng cán bộ Đảng viên phải tạo cho người dân có công ăn việc làm, Nhà nước tạo cho người lao động được làm chủ một phần tư liệu SX, như nông dân được giao ruộng đất, công nhân viên chức có cổ phần cổ phiếu trong các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân Chủ trương bảo vệ và khuyến khích công dân làm giàu hợp pháp, được hưởng thụ văn hóa, giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế, được hưởng thụ tương xứng với công sức, tiền của bỏ vào SX kinh doanh Phải thực hiện phân phối công bằng theo lao động, chống tư tưởng bình quân ỷ lại, đãi ngộ xứng đáng tài năng, mở rộng các phúc lợi XH , đổi mới tốt chính sách bảo hiểm XH , bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể lực của nhân dân, bảo đảm nhu cầu thuốc chữa bệnh Thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, tạo phong trào đoàn kết giúp đỡ trong nhân dân theo truyền thống “lá lành đùm lá rách”, tương thân tương ái đùm bọc lẫn nhau, đẩy mạnh hơn nữa chống tham nhũng một bất công XH nghiêm trọng hiện nay Cải cách chế độ tiền lương để người lao động hăng hái làm việc đủ sống và nâng lên mức sống, mức đóng góp cho XH

Vận dụng mối quan hệ này tại hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII Đảng ta đã nêu quan điểm: tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực văn hóa , XH là chăm sóc , bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực , vừa là mục tiêu của CM Trong đó việc làm, công bằng XH , nâng cao dân trí, lành mạnh hóa XH, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân là vấn đề nổi lên hiện nay

CÂU 11: Quan điểm Mácxít về con người và bản chất con người Ý nghĩa trong việc phát huy nhân tố con người hiện nay ở Việt Nam.

* Quan điểm Mácxít về con người và bản chất con người

Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội

Ngày đăng: 14/06/2016, 09:34

w