Chất mới lại tác động trở lại lượng mới, lượng mới lại tiếp tục thay đổi dần, đến lúc nào đó, vượt quá độ tồn tại của sự vật tới điểm nút thì lại diễn ra bước nhảy tạo sự thay đổi về chấ
Trang 1câu 10: nội dung:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật cơ bản và quan trọng nhất - hạt nhân của phép biện chứng duy vật Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển
Nội dung của quy luật:
Tất cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau, tức những mặt đối lập trong sự tồn tại của nó Các mặt đối lập của sự vật vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau tạo thành nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật
Mặt đối lập là phạm trù chỉ những mặt, những thuộc tính có đặc điểm hoặc có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau trong một chỉnh thể
Thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, ràng buộc nhau, quy định nhaumặt này lấy mặt kia làm tiền cho sự tồn tại của nhau
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại teo khuynh hướng phủ định lẫn nhau,bài trừ lẫn nhau
Cứ có hai mặt đối lập là tạo thành một mâu thuẫn biện chứng
+ Trong một mâu thuẫn có sự thống nhất của các mặt không tách rời sự đấu tranh của chúng, bất cứ một sự thống nhất nào của các mặt đối lập mang tính chất tạm thời tương đối còn sự đấu tranh là tuyệt đối Đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của sự pháttriển
+ Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân sự vật - tạo thành nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của sự vật
- Các tính chất của mâu thuẫn
Tính khách quan: mâu thuẫn là nguồn gốc vận động của mọi dạng vật chất Vật chất tồn tại khách quan nên mâu thuẫn cung tồn tại khách quan
Tính phổ biến biểu hiện: Trong bất kể sự vật hiện tượng nào, ở bất cứ địa điểm nào, ở bất
cứ thời gian cũng tồn tại các mặt đối lập
Tính đa dạng phong phú: Thế giới vật chất có vô vàn các dạng khác nhau chúng có một không gian khác nhau, thời gian khác nhau, mối liên hệ khác nhau cho nên chúng có những mâu thuẫn khác nhau, không có một dạng mâu thuãn nào chùng khít lên dạng mâuthuẫn nào Có mâu thuẫn trong tự nhiên, có mâu thuẫn trong xã hội, có mâu thuẫn trong
tư duy
+ Các hình thức của mâu thuẫn
Căn cư vào quan hệ đối với các sự vật được xem xét người ta phân loại mâu thuẫn như sau:
Có mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng mâu thuẫn không đối kháng
Mâu thuẫn bên trong là mâu thuân do sự tác đông giữa các mặt, các khuynh hướng trong cùng một sự vật
Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan hệ giữa sự vật đó với sự vật khác
Trang 2Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chát của sự vật quy định sự phát triển ở tất
cả các giai đoạn của sự vật
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phưng diện nào đó của sự vật
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật
Mâu thuẫn thư yếu là mâu thuẫn ra đời tồn tại trong một gia đoạn phát triển nào đó của
sự vật, nhưng không phải đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối
- quá trình vận động của mâu thuẫn
+ Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy mâu thuẫn biện chứng bao hàm cả "sự thống nhất" lẫn "đấu tranh" của các mặt đối lập Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển
+ Sự phát triển của sự vật, hiện tượng gắn liền với quá trình hình thành, phát triển và giải quyết mâu thuẫn Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau,mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế
Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật và là khách quan trong bản thân sự vật nên cần phải phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật bằng cách phân tích sự vật tìm ra những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau và mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng
- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể, biết phân loại mâu thuẫn và tìm cách giải quyết cụ thể đối với từng mâu thuẫn
- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn - phù hợp với từng loại mâu thuẫn, trình độ phát triển của mâu thuẫn Không được điều hòa mâu thuẫn Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn khi điều kiện đã chín muồi Câu 11: nội dung & ý nghĩa của quy luật chuyển hóa
Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại là một trong những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này chỉ rõ tính chất và cáchthức của sự phát triển
Nội dung quy luật từ những thay đổi dần về lượng dấn đến sự thay đổi về chất và ngược lại Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội cũng như sự phát triển nhận thức tư duy con người đều đi từ sự thay đổi dần về lượng được tích luỹ lại khi vượt quá giới hạn độ tới điểm nút thì thì gây nên sự thay đổi căn bản về chất Sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế Sở dĩ như vậy là vì chất và lượng là hai mặt đối lập vốn có của sự vật hiện tượng Lượng thì thường xuyên biến đổi, còn chất tương đối ổn định Do đó sự phát triển của lượng tới một lúc nào đó thì mâu thuẫn với chất cũ Khi chất cũ kìm hãm thì qua đó nảy sinh yêu cầu tất yếu phải phá vỡ chất cũ, mở ra một độ mới để mở đường cho lượng phát triển Sự chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn
Trang 3đến những thay đổi vê chất, diễn ra một cách phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy Quy luật này còn có chiều ngược lại, tức là không chỉ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi
về chất mà sau khi chất mới ra đời do sự biến đổi về lượng gây nên thì chất đó lại quy định sự biến đổi về lượng, ảnh hởng của chất mới đến lượng thể hiện ở quy mô, mức độ, nhịp điệu phát triển mới
Nội dung duy luật này được phát biểu như sau Mọi sự vật hiện tượng dều vận động, pháttriển bằng cách thay đổi dần về lượng, lượng thay đổi đến một lúc nào đó vượt quá độ tồntại của sự vật tới điểm nút thì diễn ra bước nhảy, tạo sự thay đổi về chất của sự vật Kết quả là sự vật cũ, chất cũ mất đi và sự vật mới, chất mới ra đời Chất mới lại tác động trở lại lượng mới, lượng mới lại tiếp tục thay đổi dần, đến lúc nào đó, vượt quá độ tồn tại của
sự vật tới điểm nút thì lại diễn ra bước nhảy tạo sự thay đổi về chất, cứ như vậy sự tác động qua lại giữa hai mặt chất và lượng tạo ra con đường vận động, phát triển không ngừng của mọi sự vật, hiện tượng
Quy luật lượng-chất được vận dụng trong xã hội thể hiện ở mối quan hệ giữa tiến hoá và cách mạng Trong sự phát triển của xã hội, sự thay đổi dần về lượng gọi là tiến hoá, còn
sự thay đổi về chất theo hướng tiến hoá lên gọi là cách mạng, tiến hoá chuẩn bị cho cách mạng Trong giai đoạn tiến hoá, chế độ xã hội chưa có sự thay đổi căn bản về chất, còn cách mạng là kết quả của quá trình tiến hoá, chấm dứt một quá trình này, mở ra một quá trình tiến hoá mới cao hơn, chế độ xã hội cũ bị xoá bỏ, chế độ xã hội mới ra đời thay thế Cách mạng xã hội là phương thức thay thế xã hội này bằng xã hội khác, bạo lực là hình thức cơ bản của cách mạng
- Ý nghĩa phương pháp luận
-Trong hoạt động nhận thức thực tiễn, cần phải coi trọng quá trình tích luỹ về lượng, nếu không coi trọng quá trình này thì sự không có sự biến đổi về chất -Quy luật này có chiều ngược lại, chất mới ra đời thì làm biến đổi tốc độ, quy mô lượng mới Cho nên khi chất mới ra đời phải biết xác định tốc độ, quy mô phát triển về lượng cho thích hợp, không được bảo thủ, dừng lại -Cần phải chống quan điểm tả khuynh, hữu khuynh Tả khuynh là phủ nhận tích luỹ về lượng muốn có ngay sự thay đổi về chất, còn hữu khuynh là thì ngược lạikhi lượng biến đổi đã tới vượt quá độ nhưng không dám thực hiện sự thay đổi căn bản về chất
Câu 12: nội dung và ý nghĩa phương pháp luận phủ định của phủ định
Phủ định: là sự thay thế bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ phủ định tự thân, là mắt khâu của quá trình dẫn đến ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ
Mọi quá trình vận động và phát triển các lĩnh vực tự nhiên, xã hội hay tư duy diễn ra thông qua những sự thay thế, trong đó có sự thay thế chấm dứt sự phát triển, nhưng cũng
có sự thay thế tạo ra điều kiện, tiền đề cho quá trình phát triẻn của sự vật Những sự thay
Trang 4thế tạo ra điều kiện, tiền đề cho qúa trình phát triển của sự vất thì gọi là phủ định biện chứng.
- Tính chất của phủ định
Tính khách quan
Nguyên nhân của phủ định nằm trong bản thân sự vật, hiện tượng, nó là quá trình đấu tranh, giải quyết mâu thuẫn tất yếu bên trong bản thân sự vật, tạo kả năng ra đời cái mới thay thế cái cũ, nhờ đó tạo nên xu hướng phát triển của chính bản thân sự vật
Tính kế thừa
Tính kế thừa của Phủ định được thể hiện mà trong đó cá mới hình thành và phát triển tự thân thông qua quá trình chọn lọc, loại bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, giữ lại những nội dung tích cực
Phủ định của phủ định
Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa giữa cácmặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và phủ định
Sự phủ định lần thứ nhất diễn ra là cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với mình (cái phủ định, phủ định cái bị phủ định, cái bị phủ định là tiền đề là cái cũ, cái phủ định là cái mới xuất hiện sau cái phủ định là cái đối lập với cái bị phủ định Cái phủ định sau khi khiphủ định cái bị phủ định, cái phủ định định lại tiếp tục biến đổi và tạo ra chu khỳ phủ định lần thứ hai) Sự phủ định lần thứ hai được thực hiện dẫn tới sự vật mới ra đời Sự vật này đối lập với cái được sinh ra ở lần phủ định thứ nhất Nó dường như lập lại cái banđầu nhưng nó được bổ sung nhiều nhân tố mới cao hơn, tích cực hơn
Phủ định của phủ định làm xuất hiện sự vật mới là kết quả của sự tổng hợp tất cả nhân tố tích cực đã có và đã phát triển trong cái khẳng định ban đầu và trong những lần phủ định tiếp theo Do vậy, sự vật mới với tư cách là kết quả của phủ định của phủ định có nội dung toàn diện hơn, phong phú hơn, có cái khẳng định bạn đầu và kết quả của sự phủ định lần thứ nhất
Trang 5Kết quả của sự phủ định của phủ định là diểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và cũng
là điểm khởi đầu của chu kỳ phát triển tiếp theo Sự vật lại tiếp tục phủ định biện chứng chính mình để phát triển Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn
Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng tất yếu tiến lên của sự vật - xu hướngphát triển Song phát triển đó không theo hướng thẳng mà theo đường "xoáy ốc"
Sự phát triển "xoáy ốc" là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên Mỗi vòng của đường xoáy ốc dường như thể hiện sự lặp lại, nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển Tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao được thể hiện ở sự nối tiếp nhau
từ dưới lên của các vòng trong đường "xoáy ốc"
Ý nghĩa của phương pháp luận
Qúa trình phủ định mang tính đi lên, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải có liềm tinvào xu hướng của sự phát triển
Chu kỳ sau bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước.trong sự thay thế đó có sự tác động củacác nhân tố chủ quan của con người, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải phát huy tính năng động sáng tạo, phát hiện những cái mới thay thế những cái cũ lỗi thời
Phủ định mang tính kế thừa, vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải kế thừa những yếu
tố tích cực Kế thừa phát triển những tinh hoa văn hoá của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Loại bỏ những hủ tục lạc hậu, những tư tưởng lỗi thời mang tính bảo thủ
Mỗi quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật đề cập đến những phương diện khác nhau của quá trình vận động và phát triển của sự vật Trong thực tế, sự vận động và phát triển của bất cứ sự vật nào cũng là sự tác động tổng hợp của tất cả những quy luật cơ bản
do phép biện chứng duy vật trừu tượng hóa và khái quát hóa Do đó, trong hoạt động của mình, cả hoạt động nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn để đạt chất lượng và hiệu quả cao, con người phải vận dụng tổng hợp tất cả những quy luật đó một cách đầy đủ, sâu sắc, năng động, sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể
Câu 13
Thế giới vật chất xung quanh con người tồn tại bằng muôn vàn các sự vật, hiện tượng rất khác nhau về màu sắc, trạng thái, tính chất, hình dáng, kích thước v.v., nhưng đồng thời giữa chúng cũng có rất nhiều những đặc điểm, thuộc tính chung giống nhau
1 Khái niệm
Trang 6Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ…tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng
Trong mỗi sự vật, ngoài cái chung còn tồn tại cái đơn nhất, đó là phạm trù triết học dùng
để chỉ những mặt, những thuộc tính… chỉ tồn tại ở một sự vật, một hiện tượng nào đó màkhông được lặp lại ở bất kỳ sự vật, hiện tượng nào khác
2 Mối quan hệ biện chứng
Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng,cái chung, cái riêng và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Điều đó thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu hiện sự tồn tại của mình; cái chung không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng
Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, không cso cái riêng tồn tạiđộc lập tuyệt đối tách rời cái chung
Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung là cái
bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng Bởi vì cái riêng là tổng hợp của cái chung
và cái đơn nhất còn cái chung biểu hiện tính phổ biến, tính quy luật của nhiều cái riêng Thứ tư, cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hoá cho nhau trong những đk xác định
Sở dĩ như vậy là vì trong hiện thực cái mới bao giờ cũng xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung,cái phổ biến, nhưng về sau nữa, khi không phù hợp với điều kiện mới mà bị mất dần đi
và trở thành cái đơn nhất Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ Ngược lại sự chuyển hoá từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định
Ý nghĩa phương pháp luận
-Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình, nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật,hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng
-Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (không hiểu biết lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng Mặt khác, cái chung lại biểu hiện thông qua cái riêng, nên khi áp dụng cái chung phải tuỳtheo cái riêng cụ thể để vận dụng cho thích hợp Thí dụ, -khi áp dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải căn cứ vào tình hình cụ thể của từng thời kỳ lịch sử ở mỗi nước để vận dụng những nguyên lý đó cho thích hợp, có vậy mới đưa lại kết quả trong hoạt động thực tiễn
-Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định "cái đơn nhất" có thể biến thành "cái chung" và ngược lại "cái chung" có thể biến thành "cái đơn nhất", nêntrong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để "cái đơn nhất" có lợi cho con người trở thành "cái chung" và "cái chung" bất lợi trở thành "cái đơn nhất"Câu 14 *không biết ý nghĩa :D*
Trang 7Nội dung là tổng hợp tất cả các mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật
- Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bần vững giữa các yếu tố của sự vật đó
Mối liên hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
- Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Vì nội dung là những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, còn hình thức là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nội dung Nên nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất Không có hình thức nào tồn tại thuần túy không chứa đựng nội dung, ngược lại không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định Nội dung nào có hình thức đó
Nội dung và hình thức không tồn tại tác rời nhau, nhưng không phải vì thế mà lúc nào nộidung và hình thức cũng phù hợp với nhau Không phải một nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện ra trong một hình thức nhất định và một hình thức luôn chỉ chứa một nội dung nhất định, mà một nội dung trong quá trình phát triển có nhiều hình thức thể hiện, ngược lại, một hình thức có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau
- Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động và phát triểncủa sự vật Vì khuynh hướng chủ đạo của nội dung là biến đổi, còn khuynh hướng chủ đạo của hình thức là tương đối bền vững, chậm biến đổi hơn so với nội dung Dưới sự tácđộng lẫn nhau của những mặt trong sự vật, hoặc giữa các sự vật với nhau trước hết làm cho yếu tố của nội dung biến đổi trước; còn những mối liên kết giữa các yếu tố nội dung, tức hình thức thì chưa biến đổi ngay, vì vậy hình thức sẽ trở lên lạc hậu hơn so với nội dung và sẽ trở thành nhân tố kìm hãm nội dung phát triển Do xu hướng chung của sự phát triển của sự vật, hình thức không thể kìm hãm mãi sự phát triển của nội dung và sẽ phải thay đổi cho phù hợp với nội dung mới
- Sự tác động trở lại của hình thức với nội dung Hình thức do nội dung quyết định, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung Sự tác động của hình thức đến nội dung thể hiện ở chỗ: nếu phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điềukiện thuận lợi thúc đẩy nội dung phát triển; nếu không phù hợp với nội dung thì hình thức
sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung
Câu 15 phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:
Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một sự biến đổi nhất định
Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau
- Khác với nguyên nhân, nguyên cớ cũng là một sự kiện nào đó trực tiếp xảy ra trước kết quả, nhưng không sinh ra kết quả, có liên hệ với kết quả nhưng là mối liên hệ bên ngoài không bản chất
Điều kiện là tổng hợp những hiện tượng không phụ thuộc vào nguyên nhân, nhưng có tácdụng đối với sự nảy sinh kết quả
Nguyên nhân sinh ra kết quả, vì vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả Còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân Tuy nhiên, không phải mọi quan hệ nối tiếp
Trang 8nào cũng là mối liên hệ nhân quả Chỉ những mối liên hệ trước sau về mặt thời gian có quan hệ sản sinh mới là mối liên hệ nhân quả
Trong hiện thực, mối liên hệ nhân quả biểu hiện rất phức tạp: một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân và một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả
- Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì có xu hướng dẫn đến kết quả nhanh hơn
- Nếu các nguyên nhân tác động ngược chiều thì làm cho tiến trình hình thành kết quả chậm hơn Thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau
Giữa nguyên nhân và kết quả có tính tương đối, có sự chuyển hoá, tác động qua lại tạo thành chuỗi liên hệ nhân - quả vô cùng vô tận
— Ý nghĩa phương pháp luận
- Cần tìm nguyên nhân của các hiện tượng trong bản thân thế giới hiện thực, mối quan hệ nhân quả có tính khách quan
- Vì mối liên hệ nhân quả là đa dạng, cần phân biệt các loại nguyên nhân để có biên pháp
xử lý đúng đắn
- Kết quả do nguyên nhân sinh ra nhưng không tồn tại một cách thụ động, vì vậy phải biếtkhai thác, vận dụng các kết quả đã đạt được để nâng cao nhận thức và tiếp tục thúc đẩy
sự vật phát triển
Câu 16: bản chất – hiện tượng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của bản chất và hiện tượng, mà còn cho rằng, giữa bản chất và hiện tượng có quan hệ biện chứng vừa thống nhất gắn bó chặt chẽ với nhau, vừa mâu thuẫn đối lập nhau
-Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng trước hết thể hiện ở chỗ bản chất luôn luôn được bộc lộ ra qua hiện tượng; còn hiện tượng nào cũng là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định Không có bản chất nào tồn tại thuần túy ngoài hiện tượng; đồng thời cũng không có hiện tượng nào hoàn toàn không biểu hiện bản chất Nhấn mạnh sự thống nhất này, V.I.Lênin viết: "Bản chất hiện ra Hiện tượng là có tính bản chất"
Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng còn thể hiện ở chỗ bản chất và hiện tượng về căn bản là phù hợp với nhau Bản chất được bộc lộ ra ở những hiện tượng tương ứng Bản chất nào thì có hiện tượng ấy, bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ở những hiện tượng khácnhau Bản chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đổi theo Khi bản chất biếnmất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng mất theo
Tóm lại, bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau, chính nhờ sự thống nhất này mà người ta có thể tìm ra cái bản chất, tìm ra quy luật trong vô vàn các hiện tượng bên ngoài.-Tính chất mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau, nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập Do vậy không phải bản chất và hiện tượng phù hợp nhau hoàn toàn mà luôn bao hàm
cả sự mâu thuẫn nhau Mâu thuẫn này thể hiện ở chỗ: bản chất phản ánh cái chung, cái tấtyếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, còn hiện tượng phản ánh cái riêng, cái
cá biệt Cùng một bản chất có thể biểu hiện ra ở nhiều hiện tượng khác nhau tùy theo sự
Trang 9thay đổi của điều kiện và hoàn cảnh Vì vậy hiện tượng phong phú hơn bản chất, còn bản chất sâu sắc hơn hiện tượng Bản chất là cái tương đối ổn định, ít biến đổi, còn hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi Nhấn mạnh điều này, V.I.Lênin viết: "Cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt, thường biến mất, không bám “chắc”, không “ngồi vững” bằng “bản chất”2.
Mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng còn thể hiện ở chỗ, bản chất là mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện thực khách quan; còn hiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan đó Bản chất không được biểu lộ hoàn toàn ở một hiện tượng mà biểu hiện ở rất nhiều hiện tượng khác nhau Hiện tượng không biểu hiện hoàn toàn bản chất mà chỉ biểu hiện một khía cạnh của bản chất, biểu hiện bản chất dưới hình thức đã biến đổi, nhiều khi xuyên tạc bản chất
Ý nghĩa của phương pháp luận
Bản chất không tồn tại thuần túy mà tồn tại trong sự vật và biểu hiện qua hiện tượng, vì vậy muốn nhận thức được bản chất của sự vật phải xuất phát từ những sự vật, hiện tượng,quá trình thực tế Hơn nữa bản chất của sự vật không được biểu hiện đầy đủ trong một hiện tượng nhất định nào và cũng biến đổi trong quá trình phát triển của sự vật Do vậy phải phân tích, tổng hợp sự biến đổi của nhiều hiện tượng, nhất là những hiện tượng điển hình mới hiểu rõ được bản chất của sự vật Nhận thức bản chất của sự vật là một quá trình phức tạp đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn V.I.Lênin cũng viết rằng: "Tư tưởng của người ta đi sâu một cách vô hạn, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể nói như vậy, đến bản chất cấp hai, v.v., cứ như thế mãi"
Vì bản chất là cái tất nhiên, cái tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động phát triển của sự vật, còn hiện tượng là cái không ổn định, không quyết định sự vận động phát triển của sự vật Do vậy nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện tượng mà phải tiến đến nhận thức được bản chất của sự vật Còn trong hoạt động thực tiễn, phải dựa vào bản chấtcủa sự vật để xác định phương thức hoạt động cải tạo sự vật không được dựa vào hiện tượng
Câu 17 tất nhiên – ngẫu nhiên
-Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người và đều
có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật
Trong quá trình phát triển của sự vật không phải chỉ có cái tất nhiên mới đóng vai trò quan trọng mà cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có vai trò quan trọng
Nếu cái tất nhiên có tác dụng chi phối sự phát triển của sự vật thì cái ngẫu nhiên có tác dụng làm cho sự phát triển của sự vật diễn ra nhanh hoặc chậm Thí dụ; cá tính của lãnh
tụ một phong trào là yếu tố ngẫu nhiên, không quyết định đến xu hướng phát triển của phong trào, nhưng lại có ảnh hưởng làm cho phong trào phát triển nhanh hoặc chậm, mức
độ sâu sắc của phong trào đạt được như thế nào
Trang 10- Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại, nhưng chúng không tồn tại biệt lập dưới dạng thuầntúy cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần túy
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất hữu
cơ này thể hiện ở chỗ: cái tất nhiên bao giờ cũng thể hiện sự tồn tại của mình thông qua
vô số cái ngẫu nhiên Còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho cái tất nhiên, Ph.Ăngghen nhận xét: sự xuất hiện các nhân vật xuấtsắc trong lịch sử là tất nhiên do nhu cầu xã hội phải giải quyết những nhiệm vụ chín muồicủa lịch sử tạo nên Nhưng nhân vật đó là ai lại không phải là cái tất nhiên, vì cái đó không phụ thuộc trực tiếp vào tiến trình chung của lịch sử Nếu gạt bỏ nhân vật này thì nhân vật khác sẽ xuất hiện, thay thế Người thay thế này có thể tốt hơn hoặc xấu hơn, nhưng cuối cùng nhất định nó phải xuất hiện Như vậy ở đây cái tất yếu như là khuynh hướng chung của sự phát triển Khuynh hướng đó không tồn tại thuần túy, biệt lập, mà được thể hiện dưới hình thức cái ngẫu nhiên Cái ngẫu nhiên cũng không tồn tại thuần túy
mà luôn là hình thức thể hiện của cái tất nhiên Trong cái ngẫu nhiên ẩn giấu cái tất yếu
- Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau
Tất nhiên và ngẫu nhiên không nằm yên ở trạng thái cũ mà thay đổi cùng với sự thay đổi của sự vật và trong những điều kiện nhất định tất nhiên có thể chuyển hóa thành ngẫu nhiên và ngược lại Thí dụ: việc trao đổi vật này lấy vật khác trong xã hội công xã
nguyên thủy lúc đầu chỉ là việc ngẫu nhiên Vì khi đó lực lượng sản xuất thấp kém, mỗi công xã chỉ sản xuất đủ cho riêng mình dùng, chưa có sản phẩm dư thừa Nhưng về sau, nhờ có sự phân công lao động, kinh nghiệm sản xuất của con người cũng được tích lũy Con người đã sản xuất được nhiều sản phẩm hơn, dẫn đến có sản phẩm dư thừa Khi đó
sự trao đổi sản phẩm trở nên thường xuyên hơn và biến thành một hiện tượng tất nhiên của xã hội
Sự chuyển hóa giữa tất nhiên và ngẫu nhiên còn thể hiện ở chỗ, khi xem xét trong mối quan hệ này, thông qua mặt này thì sự vật, hiện tượng đó là cái ngẫu nhiên, nhưng khi xem xét trong mối quan hệ khác, thông qua mặt khác thì sự vật, hiện tượng đó lại là cái tất yếu Như vậy ranh giới giữa tất nhiên và ngẫu nhiên chỉ có ý nghĩa tương đối Do vậy không nên cứng nhắc khi xem xét sự vật, hiện tượng
+Ý nghĩa của phương pháp luận
Vì cái tất nhiên gắn với bản chất của sự vật, cái nhất định xảy ra theo quy luật nội tại của
sự vật, còn cái ngẫu nhiên là cái không gắn với bản chất nội tại của sự vật, nó có thể xảy
ra, có thể không Do vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải dựa vào cái tất nhiên,
mà không thể dựa vào cái ngẫu nhiên Nhưng cũng không được bỏ qua hoàn toàn cái ngẫu nhiên Vì cái ngẫu nhiên tuy không chi phối sự phát triển của sự vật, nhưng nó có ảnh hưởng đến sự phát triển của sự vật, đôi khi còn có thể ảnh hưởng rất sâu sắc Do vậy,trong hoạt động thực tiễn, ngoài phương án chính, người ta thấy có phương án hành động
Trang 11dự phòng để chủ động đáp ứng những sự biến ngẫu nhiên có thể xảy ra.
Vì cái tất nhiên không tồn tại thuần túy mà bộc lộ qua vô vàn cái ngẫu nhiên Do vậy muốn nhận thức được cái tất nhiên phải thông qua việc nghiên cứu, phân tích so sánh rất nhiều cái ngẫu nhiên Vì không phải cái chung nào cũng là cái tất yếu, nên khi nghiên cứu cái ngẫu nhiên không chỉ dừng lại ở việc tìm ra cái chung, mà cần phải tiến sâu hơn nữa mới tìm ra cái chung tất yếu
Cái ngẫu nhiên trong điều kiện nhất định có thể chuyển hóa thành cái tất nhiên Do vậy trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, chúng ta không được xem nhẹ, bỏ qua cái ngẫu nhiên, mặc dù nó không quyết định xu hướng phát triển của sự vật
Câu 18 khả năng- hiện thực
- Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật Điều đó cónghĩa là trong sự vật hiện đang tồn tại chứa đựng khả năng, sự vận động phát triển của sựvật chính là quá trình biến khả năng thành hiện thực
Trong hiện thực mới đó lại nảy sinh khả năng mới, khả năng mới này nếu có những điều kiện lại biến thành hiện thực mới Quá trình đó được tiếp tục, làm cho sự vật vận động, phát triển một cách vô tận trong thế giới vật chất
Quan hệ giữa khả năng và hiện thực có tính phức tạp Điều đó thể hiện ở chỗ cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể tồn tại nhiều khả năng chứ không phải chỉ một khả năng
- Ngoài những khả năng vốn sẵn có, trong những điều kiện mới thì sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới, đồng thời bản thân mỗi khả năng cũng thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện
- Để khả năng biến thành hiện thực, thường cần không phải chỉ một điều kiện mà là một tập hợp nhiều điều kiện
Trong đời sống xã hội, hoạt động có ý thức của con người có vai trò hết sức to lớn trong việc biến khả năng thành hiện thực Nó có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm quá trình biến khả năng thành hiện thực; có thể điều khiển khả năng phát triển theo chiều hướng nhất định bằng cách tạo ra những điều kiện tương ứng Không thấy vai trò của nhân tố chủ quan của con người sẽ rơi vào sai lầm hữu khuynh chịu bó tay, khuất phục trước hoàn cảnh Tuy nhiên cũng không được tuyệt đối vai trò của nhân tố chủ quan mà xem thường những điều kiện khách quan Như vậy chúng ta dễ rơi vào sai lầm chủ quan, mạo hiểm, duy ý chí
Ý nghĩa mặt phương pháp luận
Vì hiện thực là cái tồn tại thực sự, còn khả năng là cái hiện chưa có, nên trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực để định ra chủ trương, phương hướng hành động của mình; nếu chỉ dựa vào cái còn ở dạng khả năng thì sẽ dễ rơi vào ảo tưởng Theo
V.I.Lênin, người mácxít chỉ có thể sử dụng để làm căn cứ cho chính sách của mình những sự thật được chứng minh rõ rệt và không thể chối cãi được
Khả năng là cái chưa tồn tại thật sự nhưng nó cũng biểu hiện khuynh hướng phát triển của sự vật trong tương lai Do đó, tuy không dựa vào khả năng nhưng chúng ta cũng phải tính đến các khả năng để việc đề ra chủ trương, kế hoạch hành động sát hợp hơn Khi tính
Trang 12đến khả năng phải phân biệt được các loại khả năng gần, khả năng xa, khả năng tất nhiên
và ngẫu nhiên Từ đó mới tạo được các điều kiện thích hợp để biến khả năng thành hiện thực, thúc đẩy sự vật phát triển
Việc chuyển khả năng thành hiện thực trong giới tự nhiên được thực hiện một cách tự động, nhưng trong xã hội, điều đó phụ thuộc nhiều vào hoạt động của con người Vì vậy, trong xã hội, chúng ta phải chú ý đến việc phát huy nguồn lực con người, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát huy tính năng động sáng tạo của mỗi con người để biến khả năng thành hiện thực thúc đẩy xã hội phát triển Trên ý nghĩa đó, Đảng ta chủ trương lấy việc phát huy nguồn lực con người làm nhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bềnvững của đất nước Tuy nhiên cũng cần tránh hai thái cực sai lầm, một là: tuyệt đối hóa vai trò nhân tố chủ quan; hai là: hạ thấp vai trò nhân tố chủ quan trong việc biến khả năngthành hiện thực
- Là hoạt động có mục đích Khác hoạt đông bản năng của động vật
- Có tính lịch sử - xã hội: Là hoạt động của con người trong xã hội và trong những giai đoạn lịch sử nhất định
- hoạt động thực tiễn rất đa dạng, cơ bản có 3 hình thức:
+ Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn và nhận thức không ngừng phát triển trong sự tác động lẫn nhau, trong đó thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, nguồn gốc, động lực, mục đích của nhận thức và là cơ sở của chân lý
Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc, động lực của nhận thức
- Con người muốn tồn tại thì phải lao động sx để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho con người, muốn lao động sx con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh Vậy, hoạt động thực tiễn tạo ra động lực đầu tiên để con người nhận thức thế giới
- Trong hoạt động thực tiễn , con người dung cac song cụ, các phương tiện để tác động vào thế giới, làm thế giới bộc lộ những đặc điểm, thuộc tính, kết cấu, quy luật vận động; con người nắm bắt lấy các đặc điểm thuộc tính đó, dần dần hình thành tri thức về thế giới
Trang 13- Trong hoạt động thực tiễn, con ngườidần tự hoàn thiện bản than mình, các giác quan của con người ngày càng phát triển do đó, làm tăng khả năng nhận thức của con người
về thế giới
- Trong bản thân nhận thức có động lực trí tuệ Nhưng suy cho cùng thì đông lực cơ bản của nhận thức là thực tiễn Trong hoạt động thực tiễn con người đã vấp phải nhiều trở ngại, khó khăn và thất bại Điều đó buộc con người phải giải đáp những câu hỏi do thực tiễn đặt ra - Trong hoạt động thực tiễn, con người chế tạo ra các công cụ, phương tiện có tác dụng nối dài các giác quan, nhờ vậy làm tăng khả năng nhận thức của con người về thế giới
Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Mục đích của mọi nhận thức không phải vì bản thân nhận thức, mà vì thực tiễn nhằm cải biến giới tự nhiên, biến đổi xã hội vì nhu cầu của con người Mọi lý luận khoa học chỉ có ý nghĩa khi nó được ứng dụng vào thực tiễn Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý: Làm sao để nhận biết được nhận thức của con ngườiđúng hay sai? Tiêu chuẩn để đánh giá cuối cùng không nằm trong lý luận, trong nhận thức mà ở thực tiễn Khi nhận thức được xác nhận là đúng, nhận thức đó sẽ trở thành chân lý
Tuy nhiên cũng có trường hợp không nhất thiết phải qua thực tiễn khiêpr nghiệm mới biết nhận thức đó là đúng hay sai, mà có thể thông qua quy tắc logic vẫn có thể biết được nhận thức đó là thế nào Nhưng xét đến cùng thì những nguyên tắc đó cũng đã được chứng minh từ trong thực tiễn
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối lại vừa có tính tương đối:
Tuyệt đối là ở chỗ: Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn
có khả năngg xác định cái đúng, bác bỏ cái sai
Là tương đối ở chỗ: Thực tiễn ngay một lúc không thể khẳng định được cái đúng, bác bỏ cái sai một cách tức thì Hơn nữa, bản thân thực tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển liên tục, nên nó không cho phép người ta hiểu biết bất kỳ một cái gì hóa thành chân lý vĩnh viễn
Câu 20: anh không biết
Câu 21 quan hệ sản xuất
- LLSX là sự thống nhất của hai yếu tố là người lao động và tư liệu sản xuất
+ Người lao động (sức lao động): toàn bộ năng lực và trí tuệ của con người thông qua tư liệu lao động được kết tinh vào sản phẩm phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng,
kỹ xảo, thói quen, kết hợp với các yếu tố đạo đức, tâ lý, khoa học … biết sử dụng TLSX
để tạo ra của cải vật chất m
+ Tư liệu sản xuất: là toàn bộ điều kiện vật chất cần thiết để tiến hành sản xuất Nó bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động
· Đối tượng lao động: không phải là toàn bộ giới tự nhiên mà chỉ là một bộ phận của giới
tự nhiên được con người sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất Đối tượng lao động gồm
Trang 142 dạng: dạng tự nhiên sẵn có và dạng nhân tạo
· Tư liệu lao động: là vật thể hay phức hợp vật thể mà con người đặt dưới mình với đối tượng lao động
Trong các yếu tố này không thể thiếu người lao động, người lao động là nhân tố chủ quanhàng đầu của LLSX Hơn thế nữa, lao động của con người ngày càng trở thành lao động
có trí tuệ và lao động trí tuệ
Khi con người tiến hành lao động SX thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất, động nhất và cách mạng nhất Tóm lại, trình độ của công cụ lao động là thước đo trình độchinh phục tự nhiên của con người
* Khoa học công nghệ (chỉ ngày nay mới có)
- Vai trò của Khoa học công nghệ theo quan điểm của triết học Mác:
+ Khoa học có vai trò nâng cao trình độ người lao động
+ Khoa học có vai trò nâng cao công cụ lao động
+ Khoa học có vai trò kết hợp người lao động với công cụ lao động, tao nên năng suất laođộng cao và đây là cái đích cuối cùng của Khoa học
Quan hệ sản xuất:
a Khái niệm: là sự biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất
- Quan hệ sản xuất về lĩnh vực đời sống vật chất xã hội do đó nó mang tính khách quan
- Mỗi loại QHSX đặc trưng cho một hình thái kinh tế - xã hội
b Kết cấu quan hệ sản xuất:
- Quan hệ giữa người với người đối với việc sở hữu về tư liệu sản xuất
- Quan hệ giữa người với người đối với việc tổ chức quản lý
- Quan hệ giữa người với người đối với việc phân phối sản phẩm lao động
=> 3 mặt của QHSX có mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau, trong đó quan hệ
sở hữu đối với TLSX là quan trọng nhất Nó quyết định và chi phối tới tất cả các quan hệ khác Mác nói “Trong mối quan hệ này thì quan hệ sản xuất là quan trọng nhất nhưng QH
sở hữu này không phải đơn giản mà có được”
Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
· Tính chất của LLSX: là tính chất của TLSX và của người lao động Nền SX đó bằng thủcông cá thể hoặc bằng máy móc tập thể, thể hiện là sự đòi hỏi phân công lao động trong nên sản xuất
· Trình độ của LLSX: được biểu hiện ở trình độ công cụ lao động cộng với trình độ tổ chức lao động xã hội + trình độ ứng dụng khoa học và sản xuất + kinh nghiệm, kỹ năng lao động của con người + trình độ phân công lao động
a QHSX được hình thành và biến đổi dưới ảnh hưởng quyết định của LLSX:
- LLSX và QHSX là hai mặt của phương thức sản xuất nhưng trong đó LLSX là mặt động thường xuyên biến đổi, còn QHSX mang tính bảo thủ, trì trệ hơn, thể hiện con người luôn cải tiến công cụ để giảm nhẹ lao động, thời gian lao động, tạo nên năng suất lao động hiệu quả cao Vì vậy công cụ lao động là yếu tốt động nhất trong LLSX cho nêncộng cụ lao động thay đổi dẫn đến QHSX thay đổi theo và thể hiện SX ngày càng mang tính chất xã hội hóa cao
Trang 15- Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX giống như mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Nội dung là cái quy định hình thức Nội dung thay đổi thì hình thức cũng thay đổi theo.
- Tính chất và trình độ của LLSX là quyết định nhất đối với sự phát triển của QHSX Trong lực lượng SX còn nhiều yếu tố khác nhưng quyết định nhất đối với việc hình thành
và phát triển của quan hệ sản xuất là do tính chất và trình độ của LLSX quyết định quan
hệ chặt chẽ như thế nào giữa người lao động với người lao động chứ không phải do phương pháp của đối tượng lao động hoặc tư liệu lao động
- Trong các hình thức kinh tế không phải lúc nào LLSX cũng quyết định được QHSX Cho nên dẫn đến mâu thuẫn được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giai cấp
b Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX
- LLSX phát triển được là nhờ nhiều yếu tố quyết định như dân số, hoàn cảnh địa lý, trình
độ phát triển của khoa học, còn QHSX chỉ giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển củaLLSX
- QHSX là sự phản ánh LLSX nhưng chính nó lại quy định mục đích của SX, khuynh hướng phát triển của các nhu cầu về lợi ích vật chất và tinh thần, quyết định hệ thống quản lý sản xuất và quản lý xã hội Bởi vậy nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất vàtrình độ của LLSX thì nó sẽ thúc đẩy, tạo điều kiện cho LLSX phát triển Còn nếu QHSXkhông phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX thì nó sẽ cản trở LLSX
- Sự tác động của QHSX đối với LLSX: chỉ khi xem xét QHSX trong một tình huống đầy
đủ với ba mặt của nó, đồng thời chịu sự chi phối của yếu tố chung:
+ Các quy luật kinh tế cơ bản
+ phụ thuộc vào trình độ của người lao động
+ tùy thuộc vào sự phát triển của khoa học, công nghệ
- Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì khi LLSX phát triển tới mức QHSX cản trở sự phát triển của nó thì CMXH là bước cuối cùng để thay đổi QHSX hiện có
Như vậy, ta có thể khẳng định:
- Quy luật về sự phù hợp của QHSX và tính chất, trình độ của LLSX là quy luật chung cho toàn xã hội loài người, chính sự tác động của quy luật này làm cho xã hội loài người phát triển từ hình thái kinh tế XH này sang hình thái kinh tế XH khác cao hơn
- Quy luật này là cơ sở lý để chống lại các quan điểm duy tâm tôn giáo về sự phát triển của lịch sử
- Quy luật này là cơ sở lý luận cho việc hoạch định các đường lối của Đảng, phê phán cácchủ trương sai lầm trong việc xây dựng phương thức sản xuất mới
- Đây là quy luật khách quan, tất yếu đối với 5 hình thái kinh tế, xã hội và lịch sử của nhân loại
Câu 22 kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng:
- Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Trang 16(“Toàn bộ những quan hệ sản xuất” bao gồm: quan hệ sản xuất thống trị; quan hệ sản xuất tàn dư của hình thái kinh tế - xã hội trước; quan hệ sản xuất mầm mống của hình thái kinh tế - xã hội tương lai).
- Đặc trưng của cơ sở hạ tầng :
Trong một chế độ xã hội nhất định, quan hệ sản xuất thống trị là chủ đạo, chi phối các loại quan hệ sản xuất khác, tạo nên đặc trưng của cơ sở hạ tầng đó
Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì cơ sở hạ tầng cũng có tính đối kháng
* Kiến trúc thượng tầng:
- Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm tư tưởng (Chính trị, pháp quyền, đạođức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học…) và những thiết chế tương ứng (Nhà nước, đảng phái, giáo hội, các tổ chức quần chúng…) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định và phản ánh cơ sở hạ tầng đó
- Đặc trưng của kiến trúc thượng tầng:
Các yếu tố, các bộ phận của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động nhau và điều hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định Trong đó nhà nước là bộ phận có quyền lực mạnh nhất
Trong xã hội có giai cấp kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp và giai cấp nào thống trị cơ sở hạ tầng, thống trị kinh tế thì đồng thời thống trị kiến trúc thượng tầng Dovậy, trong xã hội có đối kháng giai cấp thì kiến trúc thượng tầng cũng có tính đối kháng
* Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
+ Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng:
- Cơ sở hạ tầng như thế nào thì kiến trúc thượng tầng dựng trên nó phải như thế ấy
Trang 17(Nghĩa là, những biến đổi trong cơ sở hạ tầng sớm muộn gì cũng dẫn tới sự biến đổi trongkiến trúc thượng tầng Như khi cơ sở hạ tầng của CNTB trong thời kỳ tự do cạnh tranh chuyển sang CNTB độc quyền thì kiến trúc thượng tầng của CNTB cũng biến đổi, nhà nước dân chủ tư sản chuyển thành nhà nước độc quyền; các quan điểm chính trị, triết học,đạo đức, nghệ thuật… có xu hướng phản tiến bộ).
- Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi, cơ sở hạ tầng mới ra đời thì “sớm muộn” kiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi và kiến trúc thượng tầng mới cũng ra đời theo để đảm bảo sự tương ứng
(Sở dĩ có sự “sớm muộn” trong sự mất đi hay sự ra đời của KTTT vì KTTT với tính cách là lĩnh vực ý thức luôn luôn có tính độc lập tương đối Chẳng hạn, khi một cơ
sở hạ tầng nào đó mất đi, nhưng các bộ phận của kiến trúc thượng tầng mất theo không đồng đều, có bộ phận tồn tạo dai dẳng, thậm chí có những bộ phận được giai cấp thống trịmới sử dụng)
+ Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng:
- Kiến trúc thượng tầng có chức năng bất kỳ tình huống nào cũng ra sức bảo vệ cơ
sở hạ tầng đã sinh ra nó, kể cả cơ sở hạ tầng tiến bộ hoặc cả khi cơ sở hạ tầng phản tiến bộ
- Nếu kiến trúc thượng tầng tiên tiến thì nó tác động cùng chiều với sự vận động của những quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển Ngược lại, nếu KTTT bảo thủ, lạc hậu, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng (Sự kìm hãm đó chỉ nhất thời, sớm muộn tất yếu sẽ được thay bằng một KTTT mới phù hợp với CSHT) .- Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng theo những hình thức và hiệu lực khác nhau, trong đó nhà nước là bộ phận có vai trò quan trọng nhất, có hiệu lực mạnh mẽ nhất
(Chính vì vậy mà các giai cấp đều có ý tưởng là xây dựng nhà nước mạnh, là công
cụ bạo lực để tập trung quyền lực kinh tế và chính trị nhằm thống trị giai cấp khác và toàn xã hội)
Câu 23: sự thay thế hình thái kinh tế- xã hội từ thấp tới cao trong lịch sử là 1 quá trình tự nhiên do sản xuất quyết định:
Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp
nhau Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động phát triển khách quan của xã hội,C.Mác đã đi đến kết luận: "Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quátrình lịch sử - tự nhiên"2
Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống, trong đó, các mặt không ngừng tác
động qua lại lẫn nhau tạo thành các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội
Trang 18Đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các quy luật xã hộikhác Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà các hình thái kinh tế - xãhội vận động phát triển từ thấp đến cao.
Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của xã hội là ở sự phát triển của lực
lượng sản xuất Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đã quyết định, làm thay đổiquan hệ sản xuất Đến lượt mình, quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượngtầng thay đổi theo, và do đó mà hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hìnhthái kinh tế - xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn Quá trình đó diễn ra một cách khách quanchứ không phải theo ý muốn chủ quan V.I.Lênin viết: "Chỉ có đem quy những quan
hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độcủa những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quanniệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"1
Sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế - xã hội
phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao - đó là con đường phát triển chung của nhânloại Song, con đường phát triển của mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi các quy luậtchung, mà còn bị tác động bởi các điều kiện về tự nhiên, về chính trị, về truyền thốngvăn hóa, về điều kiện quốc tế, v.v Chính vì vậy, lịch sử phát triển của nhân loại hết sứcphong phú, đa dạng Mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng trong lịch sử phát triển củamình Có những dân tộc lần lượt trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao;nhưng cũng có những dân tộc bỏ qua một hay một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó.Tuy nhiên, việc bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử - tự nhiên chứ khôngphải theo ý muốn chủ quan
Như vậy, quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra
bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trong những điều kiệnnhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Câu 24: phân tích HTKT-XH và ý nghĩa
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử (hay còn gọi
là chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội) dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch
sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó Nó chính là các xã hội cụ thể được tạo thành từ sự thống nhất biện chứng giữa các mặt trong đời sống xã hội và tồn tại trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Cấu trúc:
Cấu trúc cơ bản của hình thái kinh tế xã hội bao gồm:
• Lực lượng sản xuất: là nền tảng vật chất - kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế - xã hội Hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có lực lượng sản xuất khác nhau Sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội
Trang 19• Quan hệ sản xuất: Tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác.[3] Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất đặctrưng cho nó Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội.
• Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó
• Các yếu tố khác: Ngoài ra, hình thái kinh tế-xã hội các hình thái kinh tế - xã hội còn có quan hệ về gia đình, dân tộc và các quan hệ xã hội khác Nó còn bao gồm các lĩnh vực chính trị, lĩnh vực tư tưởng và lĩnh vực xã hội Mỗi lĩnh vực của hình thái kinh tế-xã hội vừa tồn tại độc lập với nhau, vừa tác động qua lại, thống nhất với nhau gắn bó với quan hệ sản xuất và cùng biến đổi với sự biến đổi của quan hệ sản xuất.Phản bác quan điểm duy tâm về lịch sử
Trước khi C.Mác đưa ra học thuyết về hình thái kinh tế xã hội thì về cơ bản chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội Thể hiện ở chỗ có những quan điểm cho rằng lịch sử phát triển không có quy luật mà chỉ theo chiều hướng ngẫu nhiên, không đoán định, hoặc lịch sử phát triển phụ thuộc vào ý muốn, ý thích chủ quan của con người,con người muốn phát triển như thế nào thì lịch sử sẽ phát triển như vậy, đặc biệt là ý chí của những lãnh tụ, những bậc anh hùng, hoặc quan điểm cho rằng lịch sử là đời sống con người ở một thời đại
Lịch sử không chỉ là cuộc đời và những chuyến thám hiểm của các nhà quý tộc, các vị vua, các vị linh mục… mà nó cho thấy những giai đoạn nối tiếp nhau của những phương thức sản xuất khác nhau, nhờ những phương thức sản xuất đó con người đạt được sức mạnh để chiến thắng thiên nhiên
Đề ra phương pháp nghiên cứu mới
Sau đó, sự ra đời học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã đưa lại cho khoa học xã hội một phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học Thể hiện ở chỗ:
Học thuyết này đề xuất khi nghiên cứu lịch sử-xã hội phải bắt đầu nghiên cứu từ quá trình sản xuất, những cơ sở hạ tầng kinh tế của từng xã hội trong từng thời kỳ lịch sử vì học thuyết này chỉ ra rằng: sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định các mặt của đời sống xã hội Cho nên, không thể xuất phát từ ý thức,
tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội mà phải xuất phát từ phương thức sản xuất
Cơ sở để phân kỳ lịch sử
Trang 20Học thuyết cơ sở để phân chia thời đại lịch sử hay phân kỳ lịch sử vì nó chỉ ra: xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định các quan hệ xã hội khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội Muốn nhận thức đúng đời sống xã hội, phải phân tích các mặt của đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng Đặc biệt phải phân tích về quan hệ sản xuất thì mới có thể hiểu một cách đúng đắn về đời sống xã hội Chính quan hệ sản xuất cũng là tiêu chuẩn khách quan để phân kỳ lịch sử một cách đúng đắn, khoa học.
Có ý nghĩa cách mạng
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội khẵng định, lịch sử-xã hội của con người là quá trình lịch sử có quy luật cũng giống như những quy luật tự nhiên toàn bộ vấn đề là ở chỗ nhận
ra được quy luật đó hay không Nó chỉ ra: sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội
là một quá trình lịch sử - tự nhiên, tức diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan Cho nên, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội phải đi sâu nghiên cứu các quy luật vận động phát triển của xã hội
Câu 25 phân tích những luận điểm
Giai cấp chỉ tồn tại nhất định trong điều kiện nhất định của sản xuất Trong xã hội có nhiều nhóm xã hội khác nhau Sự khác nhau ấy được phân biệt bởi những đặc trưng khác nhau như giới tính, nghề nghiệp, chủng tộc, dân tộc Những khác biệt ấy tự nó không tạo ra sự đối lập về mặt xã hội Chỉ có những giai cấp xuất phát từ sự khác biệt căn bản
về lợi ích mới tạo ra những xung đột xã hội mang tính chất đối kháng Mác chỉ ra rằng:
“Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với các giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất” Sự phân chia một xã hội thành giai cấp trước hết là do nguyên nhân kinh tế Trong xã hội nguyên thuỷ, lực lượng sản xuất chưa phát triển, năng suất lao động rất thấp, sản phẩm làm ra chưa đủ nuôi sống người nguyên thuỷ Để tồn tại họ phải sống nương tựa vào nhau theo bầy đàn, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên, giai cấp chưa xuất hiện Sản xuất ngày càng phát triển với sự phát triển của lực lượng sản xuất Công cụ sản xuất bằng kim loại ra đời thay thế công cụ bằng đá, năng suất lao động nhờ đó tăng lên đáng kể phân công lao động nhờ đó từng bước được hình thành, của cải dư thừa xuất hiện, những người có chức quyền trong các thị tộc, bộ lạc đã chiếm đoạt của cải dư thừa làm của riêng; chế độ tư hữu ra đời, bất bình đẳng về kinh tế nảy sinh trong nội bộ công
xã, đó chính là cơ sở của sự xuất hiện giai cấp
Do có của cải dư thừa, tù binh bắt được trong các cuộc chiến tranh không bị giết như trước Họ được sử dụng làm nô lệ cho những người giàu và có địa vị trong xã hội, chế độ có giai cấp hình thành kể từ đó Như vậy, sự xuất hiện chế độ tư hữu là nguyên nhân quyết định trực tiếp sự ra đời giai cấp Sự tồn tại các giai cấp đối kháng gắn với chế
độ chiếm hữu nô nệ, chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản phát triển cao lại tạo tiền đề cho sự thủ tiêu chế độ tư hữu, cái cơ sở kinh tế của sự đối
Trang 21kháng giai cấp trở thành xu thế khách quan trong sự phát triển xã hội Đó là lôgic khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử.
B, đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản
Đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến cách mạng xã hội, thay thế phương thức sản xuất cũ bằng một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn Phương thức sản xuất mới ra đời mở ra địa bàn mới cho sự phát triển của sản xuất xã hội Sản xuất phát triển sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ đời sống xã hội Dựa vào tiến trình phát triển của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng đỉnh cao của đấu tranh giai cấp là cách mạng xã hội Cách mạng xã hội như là đòn bẩy thay đổi các hình thái kinh tế xã hội vì vậy “đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử các xã hội có giai cấp”
Đấu tranh giai cấp góp phần xoá bỏ các thế lực phản động, lạc hậu đồng thời cải tạo cả bản thân giai cấp cách mạng Giai cấp nào đại biểu cho phương thức sản xuất mới, giai cấp đó sẽ lãnh đạo cách mạng Thành tựu mà loài người dạt được trong tiến trình phát triển của lực lượng sản xuất, cách mạng khoa học và công nghệ, cải cách về dân chủ
và tiến bộ xã hội không tách rời cuộc đấu tranh giai cấp giữa các giai cấp tiến bộ chống các thế lực thù địch, phản động
Đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là cuộc đấu tranh sau cùng trong lịch sử xã hội có giai cấp Nó là cuộc đấu tranh khác về chất so với so với các cuộc đấu tranh trước đó trong lịch sử Bởi vì, mục tiêu của nó là thay đổi về căn bản sở hữu tư nhân bằng sở hữu xã hội
Trước khi giành được chính quyền, nội dung của đấu tranh giai cấp giữa giai cấp
vô sản và giai cấp tư sản là đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị Sau khi giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính của giai cấp vô sản, mục tiêu và hình thức đấu tranh giai cấp cũng thay đổi V.I.Lênin viết “Trong điều kiện chuyên chính vô sản, những hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản không thể giống như trước được”
Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp vô sản phải biết cách sử dụng mọi nguồn lực, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh Mục tiêu của cuộc đấu tranh này là giữ vững thành quả cách mạng, xây dựng và củng cố chính quyền của nhân dân; tổ chức quản lý sản xuất, quản lý xã hội, bảo đảm tạo ra một năng suất lao động xã hội cao hơn, trên cơ
sở đó thủ tiêu chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội mới, công bằng, dân chủ, văn minh Đó vừa là mục tiêu, đồng thời vừa là nhân tố bảo đảm thắng lợi cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư bản
C, bản thân chuyên chính vô sản chỉ là bước quá độ:
Theo Lenin, Chuyên chính vô sản là "hòn đá thử vàng" để nhận ra người mác-xít "đích thực" và người mác -xít giả danh chỉ những người đã hiểu rằng chuyên chính của một giai cấp là tất yếu không những cho mọi xã hội có giai cấp nói chung, không những giai cấp vô sản sau khi đã lật đổ giai cấp tư sản mà còn suốt cho cả thời kỳ lịch sử từ chế độ
Trang 22tư bản chủ nghĩa đến "xã hội không có giai cấp", đến chế độ cộng sản chủ nghĩa, chỉ những người đó mới thấm nhuần được thực chất của học thuyết Mác về Nhà nước".
"Thái độ của cách mạng xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản đối với Nhà nước không những chỉ có ý nghĩa chính trị - thực tiễn, mà còn có tính chất nóng hổi nhất nữa, vì đây
là vấn đề làm cho quần chúng thấy rõ những việc họ sẽ phải làm trong một tương lai gần đây, để tự giải phóng khỏi ách tư bản"
Chuyên chính vô sản không phải là hình thái Nhà nước tuyệt đích mà nhân loại phải đạt tới, mà là hình thức quá độ để Nhà nước tiêu vong theo như quan điểm của Ph Ăng-ghen Điều này đã thể hiện của Công xã Paris lần đầu tiên giai cấp vô sản trên thế giới đứng lên tiến hành cuộc cách mạng lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản, thành lập Công xã
Câu 26, tính tất yếu của đấu tranh giai cấp
Đấu tranh giai cấp có nguyên nhân khách quan: từ chính sự phát triển thường xuyên liên tục của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất đạt tới trình độ xã hội hoá ngày càng cao, mâu thuẫn với quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất Mâu thuẫn
đó ngày càng phát triển Để lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển để sản xuất xã hội phát triển cần phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay vào đó là quan hệ sản xuất tiến bộ hơn.Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện về phương diện xã hội
là mâu thuẫn giữa giai cấp bị trị và giai cấp thống trị Đó là mâu thuẫn giữa một bên là giai cấp tiến bộ cách mạng, đại diện cho phương thức sản xuất mới với một bên là giai cấp thống trị, bóc lột đại biểu cho những lợi ích gắn với quan hệ sản xuất, phương thức sản xuất lỗi thời, lạc hậu Đó chính là mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản đối lập trong một phương thức, không thể điều hoà được vì lợi ích kinh tế cơ bản đối lập nhau (Hai mặt đối lập trong một sự vật tất yếu dẫn đến đấu tranh với nhau) Dưới góc độ chính trị -
xã hội: giai cấp thống trị luôn tìm mọi cách củng cố địa vị thống trị của mình, giai cấp bị trị luôn tìm mọi cách giải phóng mình Đấu tranh giai cấp là tất yếu
Đấu tranh giai cấp là nói đến đấu tranh của tập đoàn này chống lại tập đoàn khác Những cuộc đấu tranh lẻ tẻ của cá nhân thuộc giai cấp này chống cá nhân một giai cấp khác không được gọi là đấu tranh giai cấp
tại sao nói: đấu tranh giai cấp là động lực phát triển
Trang 23Động lực xét đến cùng thúc đẩy sự phát triển của XH là mâu thuẫn
giữa LLSX tiến bộ và QHSX lỗi thời Tuy nhiên trong XH có giai cấp
mâu thuẫn này lại được biểu hiện về mặt XH bằng mâu thuẫn giữa giai cấp bị trị - người đại biểu cho LLSX với giai cấp thống trị - người đại biểu cho QHSX (giai cấp sở hữu TLSX, chi phối việc phân phối sản phẩm), mâu thuẫn này tất yếu làm bùng nổ cac cuộc đấu tranh giai cấp dẫn đến đỉnh cao của nó sẽ là một cuộc cách mạng XH nhằm xóa bỏ hình thái kinh tế XH cũ, thiết lập nên một hình thái kinh tế XH mới Như vậy trong thời kỳ cách mạng, thì đấu tranh giai cấp chính là động lực
thúc đẩy quá trình phát triển thay thế nhau của các hình thái KT-XH từ
thấp đến cao Trong thời bình (QHSX thống nhất, phù hợp với LLSX):
đấu tranh giai cấp cũng là một động lực quan trọng kích thích sự phát triển của các lĩnh vực trong đời sống XH, cụ thể:
- Nó kích thích sự phát triển của LLSX, bởi vì nó đòi hỏi giới chủ phải quan tâm đến cải tiến công cụ lao động để nâng cao năng suất lao động XH (cuộc đấu tranh giai cấp của
người lao động đầu tiên đòi hỏi về mặt kinh tế => nâng cao năng suất để thỏa mãn đòi hỏi của cuộc đấu tranh giai cấp, thỏa mãn nhu cầu lợi ích kinh tế của mình)
- Đấu tranh giai cấp kích thích sự phát triển của lĩnh vực văn hóa tinh thần, tạo ra nhiều giá trị tinh thần khác nhau như: văn học, nghệ thuật để phản ánh lại các cuộc đấu tranh đó;
- Đấu tranh giai cấp góp phần làm hoàn thiện lĩnh vực chính trị XH đem lại nhiều giá trị XH quan trọng, như: tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền (không phải là sự ban phát của giới chủ, mà là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài);
- Thông qua đấu tranh giai cấp mà bản thân các giai cấp không ngừng lớn mạnh làm hình thành nên các tổ chức lãnh đạo giai cấp (công đoàn, nghiệp đoàn, chính đảng được hình thành, tôi luyện, trưởng thành )
Câu 27 tính tất yếu của cách mạng xã hội:
Là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân tiến hành (tổ chức và lãnh đạo) nhằm xoá bỏ
xã hội áp bức bất công, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa, tiến tới xã hội
Trang 24cộng sản chủ nghĩa Đây là một cuộc cách mạng triệt để, toàn diện, sâu sắc nhất trong lịch sử.
Cũng như các cuộc cách mạng xã hội đã từng diễn ra trong lịch sử, cách mạng xã hội chủ nghĩa là kết quả tất yếu của sự phát triển các mâu thuẫn và là con đường giải quyết mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản
- Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã đạt tới trình độ xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
- Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức với giai cấp tư sản
- Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa xuất hiện thêm những mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc Mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc
Những mâu thuẫn này phát triển đến mức gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết Cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra là tất yếu nhằm giải quyết những mâu thuẫn đó
Cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể diễn ra một cách tự phát mà là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chủ động, tạo ra tình thế chớp lấy thời cơ cho cách mạng nổ ra và giành thắng lợi
Hiện nay, nhờ có cách mạng khoa học, công nghệ, chủ nghĩa tư bản ứng dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ trong sản xuất đã tạo ra bước nhảy vọt trong phát triển kinh tế Điều đó đã góp phần giúp chủ nghĩa tư bản có điều kiện điều chỉnh những vấn đề xã hội, giúp chủ nghĩa tư bản tồn tại trong giới hạn của nó Nhưng cũng chính sự phát triển ở mức độ cao đó, chủ nghĩa tư bản cũng đồng thời tạo ra những tiền đề vật chấtquan trọng, ngày càng chín muồi cho cách mạng xã hội chủ nghĩa Nó bộc lộ những mâu thuẫn vốn có của nó, nội tại của nó ngày càng sâu sắc hơn (lực lượng sản xuất ngày càng phát triển làm cho giai cấp công nhân tăng cả về số lượng, chất lượng - yếu tố quyết định đến sự tồn tại hay không tồn tại của chủ nghĩa tư bản; tệ nạn phân biệt chủng tộc, phân biệt giàu nghèo ) Đây chính là những yếu tố khách quan phủ nhận chủ nghĩa tư bản thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Câu 28
Phân tich nguồn gốc cơ bản của nhà nước
Nhà nước là tổ chức chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế lập ra nhằm bảo vệ chế độ kinh tế hiện có và đàn áp các giai cấp khác
Nhà nước là cơ quan quyền lực chính trị của giai cấp thống trị, là một tổ chức quan trọng nhất trong các tổ chức chính trị của giai cấp cầm quyền dùng để thống trị xã hội
Trang 25Nhà nước là một phạm trù lịch sử, không đồng nghĩa với xã hội.
Nguồn gốc ra đời của Nhà nước
Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin thì nhà nước là một phạm trù lịch sử, nghĩa là nhà nước chỉ ra đời và tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển của lịch sử Nhà nước sẽ mất đi khi những điều kiện tồn tại của nó không còn nữa Trong lịch sử đã
có một thời kỳ rất dài chưa có nhà nước và sau này nhà nước cũng sẽ mất đi khi điều kiệntồn tại của nó không còn
Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy rằng xã hội nguyên thủy, dựa trên chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất, mọi người sống bình đẳng, chưa có giai cấp nên chưa có nhà nước Đến xã hội chiếm hữu nô lệ, với sự ra đời của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng - chủ nô và nô lệ - thì mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô thống trị bóc lột và giai cấp nô lệ bị thống trị, bị bóc lột ngày càng sâu sắc Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp nô lệ chống lại giai cấp chủ nô do vậy đã diễn ra ngày càng quyết liệt không thể điều hòa được Để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, đàn áp sự phản kháng của giai cấp nô lệ và buộc họ phải tuân theo trật tự do giai cấp mình đặt ra, giai cấpchủ nô đã lập ra một bộ máy bạo lực, trấn áp, bộ máy đó là nhà nước
Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là Nhà nước chiếm hữu nô lệ Đó là nhà nước xuất hiện trong cuộc đấu tranh không thể điều hòa được giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ.Tiếp đó là nhà nước phong kiến và nhà nước tư bản chủ nghĩa mà sự xuất hiện của nó cũng dựa trên mâu thuẫn đối kháng nói trên
Như thế là bất kỳ ở đâu và lúc nào khi mà mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì ở đó nhà nước sẽ xuất hiện Cũng như thế, nơi nào có nhà nước xuất hiện và tồn tại thìchừng đó ở đó có mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Đó là nguồn gốc ra đời của Nhà nước
Như vậy sự ra đời của nhà nước là một tất yếu khách quan của xã hội có giai cấp đối kháng Sau này, khi xã hội không còn phân chia giai cấp, không còn mâu thuẫn giai cấp đối kháng thì nhà nước cũng sẽ tự tiêu vong
Hiện tại, nhà nước của giai cấp công nhân, gọi là nhà nước chuyên chính vô sản là một hình thức nhà nước quá độ, nhà nước không còn nguyên nghĩa của nó, là nhà nước “nửa nhà nước” để tiến tới xã hội không còn phân chia giai cấp, không còn nhà nước Nhưng
sự tồn tại của nhà nước chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lại là một tất yếu vì nó
là công cụ sắc bén trong tay giai cấp công nhân dùng để cải tạo triệt để xã hội cũ và xây dựng thành công xã hội mới
Bản chất của nhà nước
Nhà nước không phải là hiện tượng bẩm sinh, có sẵn, cũng không phải là được sinh ra từ bên ngoài xã hội rồi áp đặt vào xã hội; cũng không phải là cái do ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một giai cấp nào đó quyết định, mà sự ra đời và tồn tại của nhà nước là một tất yếu khách quan do nhu cầu phải kiềm chế sự đối lập giữa các giai cấp, làm cho cuộc đấu tranh giữa các giai cấp có lợi ích kinh tế đối kháng nhau không đi đến chỗ tiêu diệt nhau và giữ cho sự xung đột giai cấp nằm trong vòng trật tự của nó, đó là trật tự duy trì chế độ kinh tế mà trong đó giai cấp thống trị vẫn tiếp tục thống trị và bóc lột giai cấp Câu 29:
Trang 26Về mặt lý thuyết, sự ra đời của bất kì Đảng cộng sản nào trên thế giới cũng đều là sản phẩm của chủ nghĩa Mac - Lênin và phong trào công nhân Nói cách khác, ở nơi nào mà chủ nghĩa Mac - Lênin được truyền bá rộng rãi và phong trào công nhân phát triển mạnh
mẽ, nơi đó tất yếu có một Đảng cộng sản ra đời
Đảng cộng sản Việt Nam không nằm ngoài quy luật chung ấy Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam cũng là sản phẩm của chủ nghĩa Mac - Lênin, phong trào công nhân, nhưngngoài ra còn có thêm một yếu tố đặc biệt nữa là phong trào yêu nước
Vì vậy để chứng minh sự ra đời của ĐCSVN là một tất yếu khách quan, bạn cần trở lại thời điểm năm 1930 và phân tích ba yếu tố nói trên, trả lời các câu hỏi: Chủ nghĩa Mac - Lênin đã được truyền bá sâu rộng vào trong nước hay chưa? Phong trào công nhân đã phát triển đến mức độ tự giác , giai cấp công nhân đã có thể trở thành một lực lượng chính trị độc lập, đủ sức lãnh đạo cách mạng hay chưa? Phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc có cần phải có một đảng cách mạng mới hay không? Trả lời được những câu hỏi
đó, tự nhiên ta sẽ thấy rằng Đảng CSVN ra đời là sự kiện tất yếu của lịch sử CMVN Sau đây mình sẽ phân tích qua cho bạn ba yếu tố đó:
1) Về chủ nghĩa Mac - Lê
Kể từ khi HCM đọc Luân cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, tin theo Quốc tế III, thành lập ĐCS Pháp, Người đã xúc tiến việc truyền bá chủ nghĩa Mac - Lê vềtrong nước, bằng những việc: viết báo, thành lập Hội VNCM Thanh niên, mở lớp bồi dưỡng chủ nghĩa Mac Tập hợp các bài giảng của Người ở lớp học này được in thành cuốn "Đg cách mệnh" Cuốn "Đg cách mệnh" và báo Thanh niên được đưa về nước nhằmtruyền bá chủ nghĩa Mac-Lê Năm 1928, Hội VNCM Thanh niên thực hiện "Vô sản hoá",đưa cán bộ về các nhà máy, xí nghiệp nhằm thúc đẩy việc truyền bá chủ nghĩa Mac
Vì thế đến những năm 1930, chủ nghĩa Mac đã đc truyền bá khá sâu rộng vào trong nước 2) Về phong trào công nhân
Kể ra các cuộc bãi công, biểu tình giai đoạn 26 - 29 để chứng minh rằng phong trào công nhân đã đi từ tự phát lên tự giác, và giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập, đủ sức lãnh đạo cách mạng
3) Về phong trào yêu nước
Kể từ khi TD Pháp xâm lược nước ta, rất nhiều phong trào yêu nước đã nổ ra Nhiều đảng phái đã được thành lập như: VN Quang phục hội của Phan Bội Châu, Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học, Tân Việt Tuy nhiên chưa một phong trào, một đảng phái nào thành công Nhu cầu bức thiết phải giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức bóc lột của
TD Pháp đặt ra yêu cầu phải có một đường lối mới, một đảng cách mạng mới đủ sức đưa cách mạng VN đến thắng lợi
Những lý do đã dẫn đến việc ĐCSVN ra đời năm 1930 Sự ra đời đó là sự phát triển biện chứng từ một tổ chức trung gian là Hội VNCM Thanh niên, qua sự phát triển về lượng dẫn tới những biến đổi về chất Đúng như Bác Hồ đã nhận xét: "Chủ nghĩa Mac - Lênin cùng với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn đến việc thành lập ĐCS Đông Dương vào đầu năm 1930"
ĐCS VN ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta vì:
+ chấm dứt thời kì khủng hoảng về đường lối và giai cấp của cách mạng VN ( nếu như
Trang 27các phong trào cách mạng yêu nước ở cuối thế kỉ 19,đầu thể kỉ 20 đều thất bại vì k có giaicấp lãnh đạo hay đường lối hợp lí, tập hợp lực lượng lên tất cả dẫn đến thất bại) + đảng ra đời vạch ra phương pháp CM đúng đắn, dùng phương pháp đấu tranh cách mạng bạo lực của quần chúng theo quan điểm của chủ nghĩa mác lê nin nhờ đó mà ta biết xây dựng và sử dụng 2 lực lượng chính trị và vũ trang tiền hành khởi nghĩa.( trước
1930 người ta chống pháp anh dũng xong sai phương pháp người thì dùng khởi nghĩa vũ trang ( pt Cần Vương), những khởi nghĩa thường diễn ra lẻ tẻ, dễ bị tiêu diệt, người thì dùng vũ lực nhưng dựa vào sức mạnh bên ngoài ( Phan Bội Châu), người thì dùng biện pháp cải lương, cầu xin thực dân Pháp rủ lòng thương ( Phan Châu Trinh)
+ Đảng ra đời xây dưng lực lượng cho CM mà chủ yếu là liên minh công nông => liên minh công- nông là nhân tố cơ bản cho chiến thắng cách mạng VN
+ đảng ra đời là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là lãnh đạo CM duy nhất cầm quyền ở nước ta
+ đảng ra đời xây dựng được bạn đồng minh mới, đoàn kết khăng khít vs cách mạng thế giới nhờ vậy từ đó đến nay luôn nhận được sự ủng hộ to lớn => tạo ra được sức mạnh tổng hợp chiến thắng mọi kẻ thù
=> đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu có tính chất quyết định cho bước phát triển của cáchmạng về sau
Câu 30
Khái niệm quần chúng nhân dân:
Quá trình vận động, phát triển của lịch sử diễn ra thông qua hoạt động của khối đông đảo con người được gọi là quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của một cá
nhân hay một tổ chức, nhằm thực hiện mục đích và lợi ích của mình Căn cứ vào điều kiện lịch sử xã hội và những nhiệm vụ đặt ra của mỗi thời đại mà quần chúng nhân dân bao hàm những thành phần, tầng lớp xã hội và giai cấp khác nhau
Như vậy, quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích căn bản, bao gồm những thành phần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định
Khái niệm quần chúng nhân dân được xác định bởi các nội dung sau đây: Thứ nhất, những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần, đóng vai trò là hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân Thứ hai, những bộ phận
Trang 28dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với nhân dân Thứ ba, những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Do đó, quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội
b Khái niệm cá nhân trong lịch sử:
Trong mối liên hệ không rách rời với quần chúng nhân dân, những cá nhân kiệt xuất có vai trò đặc biệt quan trọng trong các tiến trình lịch sử; đó là những vĩ nhân, lãnh tụ
Vĩ nhân là những cá nhân kiệt xuất trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học,
nghệ thuật Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, lãnh tụ là những cá nhân kiệt xuất do phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân tạo nên
Lãnh tụ là người gắn bó với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm, lãnh tụ phải là người có những phẩm chất cơ bản sau đây: Một là, có tri thức khoa học uyên bác, nắm bắt được xu thế vận động của dân tộc, quốc tế và thời đại Hai là, có năng lực tập hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng nhân dân vào nhiệm vụ của dân tộc, quốc tế và thời đại Ba là, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, hy sinh quên mình vì lợi ích của dân tộc, quốc tế và thời đại
Bất cứ một thời kỳ nào, một dân tộc nào, nếu lịch sử đặt ra những nhiệm vụ cần giải quyết thì từ trong phong trào quần chúng nhân dân, tất yếu sẽ xuất hiện những lãnh tụ, đáp ứng yêu cầu của lịch sử
2 Quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân lãnh tụ:
Cần phải khẳng định rằng, mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ là quan hệ biện chứng Tính biện chứng của mối quan hệ trên biểu hiện:
Thứ nhất, tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ Không có phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, không có các quá trình kinh tế, chính trị,
Trang 29xã hội của đông đảo quần chúng nhân dân, thì cũng không thể xuất hiện lãnh tụ Những cá nhân ưu tú, những lãnh tụ kiệt xuất là sản phẩm của thời đại, vì vậy,
họ sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của phong trào quần chúng Thứ hai, quần chúng nhân dân và lãnh tụ thống nhất trong mục đích và lợi ích của mình Sự thống nhất về các mục tiêu của cách mạng, của hành động cách mạng giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ do chính quan hệ lợi ích quy định Lợi ích biểu hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau: lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị,
lợi ích văn hóa Quan hệ lợi ích là cầu nối liền, là nội lực để liên kết các cá nhân cũng như quần chúng nhân dân và lãnh tụ với nhau thành một khối thống nhất về ý c
hí và hành động Lợi ích đó vận động phát triển tùy thuộc vào thời đại, vào địa
vị lịch sử của giai cấp cầm quyền mà lãnh tụ là đại biểu, phụ thuộc vào khả năng nhận thức và vận dụng để giải quyết mối quan hệ giữa các cá nhân, các giai cấp và tầng lớp xã hội Từ đó, có thể thấy rằngmức độ thống nhất về lợi ích là cơ sở quy định sự thống nhất về nhận thức và hành động giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử
Thứ ba, sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ biểu hiện trong vai
trò khác nhau của sự tác động đến lịch sử Tuy cùng đóng vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, nhưng quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển, còn lãnh tụ là người định hướng, dẫn dắt phong trào,
thúc đẩy sự phát triển của lịch sử Bởi vậy, quan hệ giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân lãnh tụ là biện chứng, vừa thống nhất vừa khác biệt Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, đồng thời đánh giá cao vai trò của lãnh tụ
câu 31
bản chất con người
Thứ nhất: các quy luật sinh vật học tạo thành phương diện sinh học của con người, như quy luật về sự phù hợp giữa cơ thể với môi trường, về quá trình trao đổi chất, về biến dị,
di truyền và sự tiến hóa…
+ Thứ hai: các quy luật tâm lý-ý thức hình thành và hoạt động trên nền tảng sinh học của con người, như quy luật hình thành tư tưởng, tình cảm, khát vọng, mục tiêu, lý tưởng,
Trang 30niềm tin, ý chí…
+ Thứ ba: các quy luật xã hội đang quy định mối quan hệ giữa con người với con người, như quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, các quy luật về giai cấp
và đấu tranh giai cấp…
Trong đời sống con người, ba hệ thống quy luật trên không tách biệt nhau, mà chúng hòa vào nhau, tác động lẫn nhau, tạo nên bản chất con người trong sự thống nhất của con người tự nhiên (cái sinh học) và con người xã hội (cái xã hội) trong một con người hiện thực
- Bản chất tự nhiên của con người được biểu hiện ra bên ngoài là các nhu cầu tất yếu khách quan:
+ Nhu cầu ăn, mặc, ở, sinh hoạt văn hóa tinh thần
+ Nhu cầu tái sản xuất xã hội
+ Nhu cầu tình cảm, nhu cầu hiểu biết
- Bản chất xã hội của con người được hình thành trong quan hệ con người với con người
và con người với tự nhiên Để duy trì sự tồn tại của mình, con người phải lao động Vì vậy, lao động là yếu tố quyết định sự hình thành bản chất xã hội của con người Bởi vì:+ Thứ nhất: Lao động là nguồn gốc của nền văn minh vật chất và tinh thần
+ Thứ hai: Lao động là nguồn gốc trực tiếp của sự hình thành ý thức
+ Thứ ba: Trong lao động, con người quan hệ với nhau trong lĩnh vực sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng, để từ đó, hình thành các quan hệ xã hội khác trong đời sống tinhthần
- Cần phải thấy rằng, không thể tách rời bản chất tự nhiên và bản chất xã hội, mà chúng
là một thực thể thống nhất, trong
Phần II kinh tế Chính trị
Câu 1 đối tượng của kinh tế chính trị
kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ xã hội của con người hình thành trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất và vạch rõ những quy luật điều tiết sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng những của cải đó trong những trình độ nhất định với sự phát triển xã hội loài người Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là phương thức sản xuất hay nói cách khác là nó nghiên cứu các quan hệ sản xuất trong mối liên hệ
và sự tác động lẫn nhau với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng
Các quan hệ sản xuất phải phù hợp một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, sự pháttriển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuấttác động trở lại lực lượng sản xuất, đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Kinh tế chính trị không nghiên cứu bản thân đối tượng lao động và tư liệu lao động mà nghiên cứu việc phát triển lực lượng sản xuất trong mức độ làm rõ sự phát triển của quan
hệ sản xuất do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định Nó cũng không nghiên
Trang 31cứu bản thân của cải vật chất, mà nghiên cứu quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng những của cải này.
Kinh tế chính trị cũng quan tâm đến mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, bởi vì các quan hệ sản xuất là cơ sở của kiến trúc thượng tầng và kiến trúc thượng tầng, nhất là quan hệ chính trị, pháp luật, v.v tác động trở lại quan hệ sản xuất và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, biểu hiện rõ nhất là vai trò kinh tế của nhà nước trong xã hội hiện đại
Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất trong mối liên hệ và tác động với lực lượngsản xuất và kiến trúc thượng tầng, nhưng không phải là nghiên cứu những biểu hiện bề ngoài của các hiện tượng kinh tế mà đi sâu vạch rõ bản chất, tìm ra những mối liên hệ và
sự lệ thuộc bên trong của các hiện tượng và quá trình kinh tế trên cơ sở đó hình thành cácphạm trù và khái niệm như hàng hoá, tiền tệ, tư bản, thu nhập quốc dân, v.v Kết quả caonhất của sự phân tích khoa học các quan hệ sản xuất, các quá trình kinh tế nói chung là phát hiện ra các quy luật, tính quy luật kinh tế và sự tác động của chúng nhằm mục đích ứng dụng một cách có hiệu quả trong thực tiễn
Chức năng của kinh tế chính trị Mác - Lênin
Kinh tế chính trị Mác - Lênin là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác - Lênin, có quan hệ mật thiết với hai bộ phận kia là triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học Kinh tế chính trị Mác - Lênin là biểu hiện mẫu mực của sự vận dụng quan điểm duy vật lịch sử vào sự phân tích kinh tế Kinh tế chính trị Mác - Lênin thực hiện những chức năngsau đây:
Chức năng nhận thức
Kinh tế chính trị Mác - Lênin cung cấp những tri thức về sự vận động của các quan hệ sản xuất, về sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng, về những quy luật kinh tế của xã hội trong những trình độ phát triển khác nhau của xã hội Đó là chìa khoá để nhận thức lịch sử phát triển của sản xuất vật chất và lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung, về chủ nghĩa tư bản nói riêng
để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế đang diễn ra trong thực tiễn; phân tích nguyên nhân và dự báo triển vọng, chiều hướng phát triển kinh tế và xã hội
Những tri thức do kinh tế chính trị cung cấp là cơ sở khoa học để đề ra đường lối, chính sách kinh tế tác động vào hoạt động kinh tế, định hướng cho sự phát triển kinh tế và cũng
là cơ sở nhận thức sâu sắc đường lối, chính sách kinh tế
Chức năng thực tiễn
Trang 32Giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhận thức: nghiên cứu các quy luật kinh tế là
để thực hiện nhiệm vụ cải tạo thế giới Các học thuyết kinh tế chính trị của Các Mác trang bị cho công nhân và nhân dân lao động một công cụ đấu tranh giai cấp mạnh mẽ, giúp họ nhận rõ sứ mệnh lịch sử của mình Kinh tế chính trị tuy không đưa ra những giải pháp cụ thể cho mọi tình huống trong cuộc sống, nhưng nó vạch ra những quy luật và những xu hướng phát triển chung, cung cấp những tri thức và nếu thiếu chúng sẽ không giải quyết được tốt những vấn đề cụ thể Khi quần chúng đã nắm vững lý luận khoa học thì lý luận khoa học sẽ trở thành lực lượng vật chất Tính khoa học và cách mạng của kinh tế chính trị Mác - Lênin là những yếu tố quyết định hành động thực tiễn của người học, nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn đó, nhất là trong công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa
Chức năng phương pháp
Kinh tế chính trị là nền tảng lý luận cho một tổ hợp các khoa học kinh tế, trong đó có các khoa học kinh tế ngành, như kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, vận tải, lao động, tài chính, lưu thông tiền tệ và tín dụng Ngoài ra, nó còn là cơ sở lý luận cho một loạt khoa học kinh tế nằm giáp ranh giữa các tri thức ngành khác nhau, như địa lý kinh tế,nhân khẩu học Đối với các khoa học kinh tế nói trên, kinh tế chính trị thực hiện chức năng phương pháp luận, nghĩa là cung cấp nền tảng lý luận khoa học, mang tính đảng chocác môn khoa học kinh tế cụ thể
Chức năng tư tưởng
Trên cơ sở nhận thức khoa học về quy luật vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản, kinh tế chính trị Mác - Lênin đã góp phần đắc lực xây dựng thế giới quan cách mạng và niềm tin sâu sắc của người học vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm xoá bỏ
áp bức bóc lột giai cấp và dân tộc, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa, làm cho niềm tin có một căn cứ khoa học vững chắc đủ sức vượt qua khó khăn, kể cả những thất bại tạm thời trong quá trình phát triển của cách mạng Kinh tế chính trị Mác - Lênin, cùng với các bộ phận hợp thành khác của chủ nghĩa Mác - Lênin, là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, xây dựng chế độ xã hội mới
Câu 2 điều kiện ra đời và các đặc trưng ưu thế của sản xuất hang hóa
* Điều kiện ra đời, tồn tại của kinh tế hàng hoá
Sản xuất hàng hoá ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
Trang 33Phân công lao động xã hội: là sự phân chia lao động xã hội ra các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa sản xuất thành những ngành nghề khác nhau Do có phân công lao động xã hội, mỗi ngành chỉ sản xuất ra một vài thứ sản phẩm Song nhu cầu tiêu dùng của xã hội lại bao hàm nhiều thứ khác nhau làm cho việc trao đổisản phẩm trở thành tất yếu.
Có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất, sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định Trong lịch sử, tính tách biệt này do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chi phối Sau đó, trong điều kiện của sản xuất lớn với sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, thì sự tách biệt kinh tế giữa những người sản xuất, giữa các doanh nghiệp thuộc cùng chế độ sở hữu có tính tự chủ kinh doanh qui định Điều này làm cho chủ thể sản xuất có sự độc lập nhất định, sản phẩm làm ra thuộc quyền chi phối của họ, người này muốn dùng sản phẩm lao động của người khác phải thông qua trao đổi mua bán hàng hoá
* Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá
- Về đặc trưng của sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hoá có hai đặc trưng sau:
+ Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi mua bán Trong lịch sử loài người tồn tại haikiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp và sản xuất hàng hóa Sản xuất
tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
+ Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính chất tư nhân vừa mang tính chất xã hội Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân.Tính chất tư nhân có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa
Về ưu thế của sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hoá có những ưu thế sau:
+ Thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng mở rộng và sâu sắc Từ
đó, nó phá vỡ tính tự túc, tự cấp, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội đáp ứng đầy
đủ hơn
+ Quy mô sản xuất được mở rộng dựa trên nhu cầu và nguồn lực của xã hội, điều đó tạođiều kiện cho việc ứng dụng thành tựu khoa học của sản xuất
Trang 34+ Dưới tác động của các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá như: quy luật giá trị, cạnh tranh cung cầu buộc người sản xuất năng động sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
+ Sự mở rộng và giao lưu kinh tế làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng cao
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu nghèo, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái
Câu 3:
Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người
và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán
Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
- Giá trị sử dụng: Là công dụng của vật phẩm có thể đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của vật quy định không phụ thuộc vào hình thái xã hội mà nó tồn tại Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm làgiá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội đồng thời nó mang nội dung của giá trị trao đổi Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng nó Khi chưa tiêu dùng, giá trị sử dụng chỉ ở trạng thái khả năng Để giá trị sử dụng có khả năng biến thành giá trị sử dụng hiện thực, nó phải được tiêu dùng Điều này nói lên ý nghĩa quan trọng của tiêu dùng đối với sản xuất
- Giá trị: Để hiểu được giá trị hàng hoá phải bắt đầu từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi
là tỷ lệ về số lượng giữa 2 giá trị sử dụng khác nhau Thí dụ: 1m vải = 5kg thóc Trong tỉ
lệ đó, số lượng của những hàng hóa trao đổi với nhau, giá trị trao đổi của hàng hóa được biểu hiện ra
Nếu hai vật thể khác nhau có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có cơ sở chung nào đó Cái chung đó không thể là công dụng, vì công dụng của chúng hoàn toàn khác nhau Các hàng hóa khác nhau chỉ có một thuộc tính chung làm cho chúng có thể sosánh với nhau trong khi trao đổi, đó là các hàng hóa đều là các sản phẩm của lao động
Cơ sở cho hai hàng hoá trao đổi được với nhau là lao động xã hội hao phí vào việc sản xuất ra những hàng hóa đó Thực chất của trao đổi hàng hóa cho nhau là trao đổi lao động
ẩn giấu trong các hàng hóa đó
Trang 35Như vậy, lao động hao phí để tạo ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa là cơ sở chung của trao đổi được gọi là giá trị hàng hóa Giá trị hàng hoá là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Nó phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá gắn liền với kinh tế hàng hoá Nó là một phạm trù lịch sử Giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị Giá trị là nội dung là cơ sở của giá trị trao đổi.
Hai thuộc tính của hàng hóa có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau
Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: Hai thuộc tính này, cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hóa, một vật phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới là hàng hóa Thiếu một trong haithuộc tính đó, vật phẩm không phải là hàng hóa
Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa thể hiện ở chỗ: Với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng nhất về chất Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị thìcác hàng hóa lại đồng nhất về chất, tức đều là sự kết tinh về lao động Mặt khác, quá trìnhthực hiện chúng lại tách rời nhau cả về không gian và thời gian\
* Vì sao hàng hoá có hai thuộc tính?
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính vì lao động sản xuất có tính chất hai mặt: Lao động
cụ thể và lao động trừu tượng
- Lao động cụ thể: Là sự hao phí sức lao động giữa một ngành nghề chuyên môn nhất định Lao động này tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá
- Lao động trừu tượng: Là sự hao phí sức lao động của người sản xuất hàng hoá không kể đến các hình thức cụ thể của nó Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
-Sở dĩ hàng hóa có tính hai mặt là vì bản thân lao động của người sản xuất hàng hóa cũng
có tính hai mặt:lao động cụ thể và lao động trừu tượng
a.Lao động cụ thể là hình thái cụ thể của một nghề nghiệp chuyên môn nhất định.Những nghề nghiệp khác nhau thì có lao động cụ thể là khác nhau
Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa
Là phạm trù vĩnh viễn do giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn
b.Lao động trừu tượng là lao động là hao phí sức lao động về thần kinh và cơ bắp nói chung của người sản xuất hàng hóa nếu không kể tới hình thái cụ thể của nó
Lao động trừu tượng tạo ra thuộc tính giá trị của hàng hóa làm cơ sở so sánh các hàng hóa trong trao đổi
Là phạm trù lịch sử
Trang 36***:lao động cụ thê và lao động trừu tượng không phải là hai lạo lao động mà là hai mặt của cùng một lao động
Lao động Sản xuất hàng hóa vừa có tính chất tư nhân vừa có tính chất xã hội
-Xã hội:sxhh dựa trên điều kiện phân công lao động xã hội
-Tư nhân:sxhh dựa trên điều kiện sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất
===>đây là mâu thuẫn cơ bản của lao động sản xuất hàng hóa.là một nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa\
Câu 4
Phân tích mặt chất mặt lượng giá trị của hàng hóa
1. Mặt chất của hàng hoá Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và được dùng để trao đổi hay mua bán trên thị trường Sản xuấthàng hoá có bản chất khác nhau ở mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau Nhưng bất
kì một hàng hoá nào cũng mang hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị
+ Giá trị sử dụng: Giá trị sử dụng là công dụng nào đó của sản phẩm để thoả mãn nhucầu nào đó của con người, Giá trị sử dụng chỉ thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng + Giá trị hàng hoá: Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi chính là quan hệ tỉ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác
giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
Giá trị là nội dung là cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên
Mặt lượng giá trị hàng hoá + Thơi gian lao động xã hội cần thiết Chất của giá trị là lao động trừu tượng cuả người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Vậy lượng giá trị là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định Đo lượng lao động bằng thước đo thời gian như: một giờ lao động một ngày lao động Do đó lượng giá trị của hàng hoá cũng được quyết định bởi lượng thời gian lao động
+ Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá
Thời gian lao động xã hội cần thiết là luôn luôn thay đổi vì vậy lượng giá trị hàng hoá
là một đại lượng không cố định thay đổi do tác động của năng xuất lao động :
Năng xuất lao động là năng lực sản xuất của người lao động nó được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Năng xuất lao động tỉ lệ nghịch với thời gian lao động, thời gian lao động càng ít thì năng xuất lao động càng cao và ngược lại
Tăng năng xuất lao động và tăng cường độ lao động tác động khác nhau đối với lượng giá trị của hàng hoá Cường độ lao động là mức độ khẩn trương căng thẳng của
Trang 37lao động Khi cường độ lao động tăng thì mức hao phí lao động trong cùng một đơn
vị thời gian tăng và lượng sản phẩm được tạo ra tăng còn lượng giá trị của đơn vị sản phẩm không đổi Tăng cường độ lao động cũng như kéo dài thời gian lao động Còn tăng năng xuất lao động thì làm giảm lượng giá trị của hàng hoá
Câu 5:
Nội dung quy luật giá trị:
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa
Nội dung của quy luật giá trị là:
Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí laođộng xã hội cần thiết
Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được; còn trong trao đổi, hay lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiệnvới giá cả bằng giá trị
Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác động sau:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau: + Thứ nhất, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động Mặt khác, những người sản xuất hàng hóa khác cũng
có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở rộng
+ Thứ hai, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị lỗ vốn Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác lại có thể tăng lên
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sảnxuất mặt hàng này
Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp hơn đến nơi có giá cả cao hơn, và do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó, có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổitheo mức hao phí lao động xã hội cần thiết
Trang 38- Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo
Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóatheo mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sảnxuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ
Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuê
Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có những biệnpháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầntheo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Câu 6:
1. Nguồn gốc của tiền tệ
Để tìm hiểu nguồn gốc của tiền tệ, ta hãy xem xét quá trình phát triển của các hìnhthái biểu hiện của giá trị:
Đầu tiên là hình thái giản đơn, ngẫu nhiên của giá trị Hình thái này xuất hiện khi
xã hội nguyên thủy tan rã và chỉ thường gặp ở những mầm mống đầu tiên của traođổi Ở đây, giá trị của hàng hoá này chỉ biểu hiện đơn nhất ở một hàng hoá khác
và quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trực tiếp hàng lấy hàng, tỷ lệ trao đổi được hình thành ngẫu nhiên Ví dụ như 20 vuông vải = 1 cái áo Cái áo ở đây đóng vai trò vật ngang giá - hình thái phôi thai của tiền tệ
Khi quan hệ trao đổi trở thành quá trình đều đặn, thường xuyên, thúc đẩy sản xuấthàng hoá ra đời và phát triển thì hình thái thứ hai là hình thái đầy đủ hay mở rộng của hàng hoá ra đời Hình thái này xuất hiện trong thực tế khi một hàng hoá nào
đó được trao đổi với nhiều hàng hoá khác một cách thông thường phổ biến Ở đây, giá trị của hàng hoá được biểu hiện ở nhiều hàng hoá khác nhau đóng vai trò làm vật ngang giá Đồng thời tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần do lao động quy định Tuy nhiên, ở hình thái này, giá trị của hànghoá được biểu hiện còn chưa hoàn tất, thống nhất và vẫn trao đổi trực tiếp hàng - hàng Ví dụ như 20 vuông vải = 1 cái áo, = 10 đấu chè, = 40 đấu cà phê, = 0,2 gam vàng
Như vậy, tiền ra đời là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá
2 Bản chất của tiền:
Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cảcác loại hàng hoá Nó là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời nó biểu hiện quan
Trang 39hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá.
3 Tiền có 5 chức năng Nó là thước đo giá trị, là phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán và tiền tệ thế giới
Trước hết, tiền là thước đo giá trị, tức là nó dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác Khi đó, giá trị của hàng hoá được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hoá Giá cả hàng hoá là hình thức biểu hiệnbằng tiền của giá trị hàng hoá Giá cả hàng hoá có thể lên xuống xung quanh giá trị nhưng tổng số giá cả luôn bằng giá trị
Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá, tức là tiền đóng vai trò là một phương tiện lưu thông Khi ấy, trao đổi hàng hoá vận động theo công thức H - T - H' Đây
là công thức lưu thông hàng hoá giản đơn Với chức năng này, tiền xuất hiện dướicác hình thức vàng thoi, bạc nén, tiền đúc và cuối cùng là tiền giấy Tiền giấy là
ký hiệu giá trị do nhà nước phát hành buộc XH công nhận Tiền giấy không có giátrị thực (không kể đến giá trị của vật liệu giấy dùng làm tiền) Khi thực hiện chức năng này, tiền giúp quá trình mua bán diễn ra dễ dàng hơn nhưng nó cũng làm việc mua bán tách rời nhau cả về không gian lẫn thời gian nên nó bao hàm khả năng khủng hoảng
Tiền đôi khi được rút khỏi lưu thông và cất giữ lại để khi cần thì đem ra mua hàng Chỉ có tiền vàng, tiền bạc, các của cải bằng vàng có giá trị thực mới thực hiện được chức năng lưu trữ Ngoài ra, tiền làm phương tiện cất trữ còn có tác dụng đặc biệt là dự trữ tiền cho lưu thông
Khi kinh tế hàng hoá phát triển đến một mức độ nào đó tất yếu sẽ sinh ra mua bán chịu và tiền có thêm chức năng phương tiện thanh toán như trả nợ, đóng thuế Tiền làm phương tiện thanh toán có tác dụng đáp ứng kịp thời như cầu của người sản xuất hoặc tiêu dùng ngay cả khi họ chưa có tiền hoặc không đủ tiền Nhưng
nó cũng làm cho khả năng khủng hoảng tăng lên Trong quá trình thực hiện chức năng thanh toán, loại tiền mới - tiền tín dụng - xuất hiện, có nghĩa là hình thức tiền đã phát triển hơn
Chức năng cuối cùng của tiền là tiền tệ thế giới Chức năng này xuất hiện khi buôn bán vượt ra ngoài biên giới quốc gia, hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước Khi thực hiện chức năng này, tiền thực hiện các chức năng: thước đo giá trị,phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, tín dụng, di chuyển của cải từ nước này sang nước khác Thực hiện trức năng này phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế Việc trao đổi tiền của nước này sang tiền của nước khác tuân theo tỷ giá hổi đoái, tức là giá cả của một đồng tiền nước này được tính bằng đồng tiền của nước khác
Tóm lại, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, tiền có 5 chức năng Những chức năng này có quan hệ mật thiết và thông thường tiền làm nhiều chức năng một lúc
Câu 7:
Trang 40Thị trường :
Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ Thực chất, Thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng
có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi
để thỏa mãn nhu cầu đó
Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó
Cũng có một nghĩa hẹp khác của thị trường là một nơi nhất định nào đó, tại đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ
Còn trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào
Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng hóa - dịch
vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động, và thị trường tiền tệ
Cơ chế thị trường là quá trình tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể (hoạt động) kinh tế trong việc hình thành giá cả, phân phối tài nguyên, xác định khối lượng và
cơ cấu sản xuất Sự tương tác của các chủ thể tạo nên những điều kiện nhất định
để nhà sản xuất, với hành vi tối đa hóa lợi nhuận, sẽ căn cứ vào giá cả thị trường
để quyết định ba vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai Ngược lại, hoạt động của các chủ thể tạo nên sự tương tác nói trên Như vậy, cơ chế thị trường là hình thức tổ chức kinh tế, trong đó các quan hệ kinh tế tác động lên mọi hoạt động của nhà sản xuất và người tiêu dùng trong quá trình trao đổi.Theo lý thuyết của các nhà kinh tế học phúc lợi thì cơ chế thị trường là cách thức
tự động phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế Đó là vì, khi mỗi nhà sản xuất đều căn cứ vào giá cả thị trường để có quyết định về sản xuất, sẽ không có sản xuất thừa, cũng sẽ không có sản xuất thiếu Phúc lợi kinh tế được đảm bảo do không có tổn thất xã hội
Tuy nhiên, để cơ chế thị trường thực hiện tốt được chức năng của mình, thì các điều kiện sau đây phải được thỏa mãn: thị trường phải có cạnh tranh hoàn hảo, thông tin đối xứng, không có các ảnh hưởng ngoại lai, v.v Nếu không, cơ chế thịtrường sẽ không thể phân bổ tối ưu các nguồn lực kinh tế Khi đó có thất bại thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa người sản xuất và người tiêu dùng được vận hành do sự điều tiết của quan hệ cungcầu
Đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường là động lực lợi nhuận, nó chỉ huy hoạt động của các chủ thể Trong kinh tế thị trường, đặc điểm tự do lựa chọn hình thức sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm: 'lãi hưởng lỗ chịu', chấp nhận cạnh tranh, là những điều kiện hoạt động của cơ chế thị trường Sự tuân theo cơ chế thị