1. Tên chủ đề SU DUNG KIEN THUC LIEN MON PHONG TRANH ELNINO LANINA 2. Mục tiêu giải quyết tình huống Sử dụng các kiến thức liên môn nhằm giải quyết vấn đề tìm hiểu về khái niệm, phân tích các nguyên nhân gây nên hiện tượng El Nino và La Nina và tác động của hiện tượng El Nino và La Nina với sự biến đổi khí hậu ngày nay nhằm đưa ra những biện pháp tích cực góp phần bảo vệ môi trường sống 3. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống 3.1. Những nghiên cứu về hiện tượng El Nino và La Nina Các nhà khoa học trong và ngoài nước trong những năm gần đây đã có khá nhiều những nghiên cứu giải thích biến động lượng mưa có liên quan đến các yếu tố hoàn lưu quy mô lớn như gió mùa, bão, áp thấp nhiệt đới, El Nino và La Nina…
Trang 11 Tên chủ đề
SU DUNG KIEN THUC LIEN MON PHONG TRANH ELNINO LANINA
2 Mục tiêu giải quyết tình huống
Sử dụng các kiến thức liên môn nhằm giải quyết vấn đề tìm hiểu về khái niệm, phân tích các nguyên nhân gây nên hiện tượng El Nino và La Nina và tác động của hiện tượng El Nino và La Nina với sự biến đổi khí hậu ngày nay nhằm đưa ra những biện pháp tích cực góp phần bảo vệ môi trường sống
3 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống
3.1 Những nghiên cứu về hiện tượng El Nino và La Nina
Các nhà khoa học trong và ngoài nước trong những năm gần đây đã có khá nhiều những nghiên cứu giải thích biến động lượng mưa có liên quan đến các yếu tố hoàn lưu quy mô lớn như gió mùa, bão, áp thấp nhiệt đới, El Nino và La Nina…
Vào những tháng cuối năm 1997 và đầu năm 1998, hiện tượng El Nino đã gây nhiều nơi ở Úc, Indonesia bị khô hơn bình thường, hạn hán đã xảy ra và gây ra thiệt hại kinh tế nặng nề ở Úc, cũng như cháy rừng chưa từng có ở Indonesia Ảnh hưởng của hiện tượng El Nino không chỉ giới hạn ở trong vùng Indonesia, Úc châu mà còn khắp nhiều nơi trên thế giới Vì tầm quan trọng của hiện tượng này trên khí hậu trái đất, nhiều nước trên thế giới đã và đang đầu tư tài chính và nhân lực rất nhiều để nghiên cứu, tìm hiểu nguyên do, hậu quả của El Nino và tiên đoán sự hình thành của hiện tượng này
Hiện tượng El Nino, còn được gọi là Dao động phương Nam (Southern Oscillation) trong khí tượng học, xuất hiện từ khi có sự thành hình của các lục địa châu
Á, châu Mỹ và biển Thái Bình Dương Vì thế nó đã có từ lâu rồi Tuy vậy hiện tượng
El Nino chỉ được biết rõ và nghiên cứu bắt đầu từ cuối thập niên 1960 Người thổ dân Inca ở Nam Mỹ trong các thế kỷ trước đã áp dụng kiến thức về hiện tượng này và
thích ứng vào sinh hoạt canh nông Khi chòm sao Pleiades trong đêm vào tháng sáu
trông rất rõ (kể cả các sao không sáng) thì vài tháng sau từ lúc ấy sẽ có nhiều mưa Ngược lại khi chúng bị mờ, hạn hán thường xảy ra sau đó Ngày nay ta biết rằng trong lúc có hiện tượng El Nino, mây rất cao loại cirrus thường có trên dãy núi Andes,
Trang 2do các mưa bão từ xa ở phía đông Thái bình dương mang đến Chính những mây này làm mờ đi chòm sao Pleiades
Hiện tượng El Nino bắt nguồn từ sự thay đổi nhiệt độ nước biển ở Nam Thái Bình Dương dọc theo đường xích đạo từ Indonesia đến Peru (Nam Mỹ) Bình thường thì gió mùa thổi từ Đông sang Tây với hệ quả là nhiệt độ nước biển gần Indonesia thường cao hơn ở bờ biển Nam Mỹ và giữa Thái Bình Dương khoảng 40C Mực nước biển ở Indonesia cũng cao hơn ở Peru khoảng 0.5 mét Như ta biết, ở vùng nước biển nóng ấm gần Indonesia, nước bốc hơi lên tầng khí quyển và tuần hòa về phía Tây và Đông gây ra mưa bình thường ở Đông Nam Á và bắc Úc Hiện tượng El Nino xảy ra khi vùng nước biển nóng ấm di chuyển xa khỏi Indonesia về phía Đông đến giữa Nam Thái Bình Dương và gần bờ biển Nam Mỹ
Hậu quả là mưa xảy ra nhiều hơn ở giữa Nam Thái Bình Dương và Nam Mỹ nhưng mưa lại có rất ít có ở Đông Nam Á và bắc Úc El Nino, tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “bé trai” là từ do các ngư phủ ở bờ biển Peru đặt tên cho hiện tượng này khi nước biển dọc Peru trở nên nóng ấm lạ thường lúc gần Giáng Sinh (“bé trai” là chúa Giê Su lúc sanh ra đời) Trong giai đoạn này, biển dọc Peru và Chile rất ít có cá và có nhiều mưa lũ xảy ra dọc Nam Mỹ Hiện tượng El Nino thường kéo dài khoảng gần 1 năm, sau đó trở ngược lại tình trạng bình thường (được gọi là La Nina, “bé gái”) Chu
kỳ tuần hoàn El Nino, La Nina lại tiếp tục tái diễn Chu kỳ dao động này xảy ra với chu kỳ từ 2 đến 6 năm ở Nam Thái Bình Dương vì thế được các nhà khoa học gọi là
“Dao động phương Nam” (Southern Oscillation) Hiện tượng dao động thời tiết này được gọi tắt là ENSO (El Nino Southern Oscillation)
Khi hiện tượng El Nino xảy ra, áp suất không khí ở Tahiti (giữa Nam Thái Bình Dương) thấp hơn ở Darwin (bắc Úc) Khi có La Nina, áp suất ở Tahiti lại cao hơn Nhà khoa học Walker đầu thế kỷ 20 đã khám phá ra điều này khi nghiên cứu so sánh các dữ kiện khí tượng đo được ở hai nơi này trong nhiều năm qua các cơ quan khí tượng địa phương Chỉ số dao động phương nam (Southern Oscillation Index, SOI) là
sự khác biệt giữa áp suất không khí ở Tahiti và Darwịn Chỉ số SOI sẽ là âm khi có El Nino
Trang 3Hiện tượng El Nino lần cuối xảy ra là năm 1997/1998 với cường độ mạnh nhất (còn được gọi là ENSO của thế kỷ 20) Ở Đông Nam Á, nạn hạn hán xảy ra ở nhiều nơi, kể cả Việt Nam Hệ quả trầm trọng nhất là ở Indonesia, gây ra nạn cháy rừng kéo dài cả tháng Cũng trong năm 1997, ở thành phố Hồ Chí Minh nhiệt độ đạt kỷ lục cao nhất đến 4006 C Ảnh hưởng khí hậu của hiện tượng El Nino không những ở vùng Đông Nam Á mà còn thay đổi khí tượng ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia dọc bờ Tây và Đông của Thái Bình Dương từ Úc, Nam Mỹ, bắc Mỹ đến Nhật Bản, Trung Quốc Trong khi ở Đông Nam Á và Úc có hạn hán thì ở Nam Mỹ mưa lũ, lụt lội xảy ra trên mức bình thường
Theo bản tường trình của Nha Khí tượng, Thủy văn và Trung tâm nghiên cứu Môi trường, Giáo dục và Phát triển ở Việt Nam cho thấy là hiện tượng El Nino vào năm 1997/1998 đã gây hạn hán và thiếu nước trầm trọng ở nhiều nơi Đồng bằng sông Cửu Long bị nước mặn lấn vào từ biển Mực nước ở các đập thủy điện Hoà Bình, Trị
An, Thác Bà đã xuống đến mức báo động Ước tính thiệt hại kinh tế (kể cả nông nghiệp) là vào khoảng 5000 tỉ đồng Việt Nam Ngoài ra trong những năm El Nino, mặc dầu giông bão ít xảy ra, nhưng nếu có thì cường độ sẽ mạnh hơn Thí dụ như trong năm El Nino 1997/1998, ở miền nam Việt nam, cơn bão lớn Linda đã xảy ra nhanh chóng và bất ngờ gây những thiệt hại nặng nề về nhân mạng và kinh tế Sản xuất nông nghiệp đã có bị ảnh hưởng nhưng không hại bằng các thiệt hại kinh tế khác
Bản tường trình của Nha Khí tượng, nằm trong chương trình nghiên cứu hợp tác với các nước do Liên Hiệp Quốc tổ chức, cũng đã đề nghị là các cơ quan ở Việt Nam như Bộ Nông nghiệp, Bộ Khoa học và Môi trường, Bộ Kế hoạch, các công ty cung cấp điện nước có liên hệ trực tiếp về hệ quả của hiện tượng El Nino nên đầu tư vào nhân lực, tài nguyên, cũng như tăng cường sự hiểu biết và thông tin về El Nino để
có thể dự kiến, quản lý, đáp ứng có hiệu quả hơn trong giai đoạn có El Nino
Vì hiện tượng El Nino là hiện tượng thiên nhiên có chu kỳ (như hiện tượng mùa mỗi năm), chúng ta không thể nào ngăn chặn El Nino tái phát Tuy nhiên chúng ta
có thể nghiên cứu để hiểu biết các nguyên tố, tác năng tạo thành El Nino và từ đó tiên đoán khi nào El Nino trở lại và sửa soạn phòng ngừa hay giảm bớt những hậu quả nghiêm trọng của nó Giai đoạn El Nino năm 1997/1998, ước lượng thiệt hại do ô
Trang 4nhiểm bụi cháy rừng là 9 tỉ đô la Mỹ từ thiệt hại nông nghiệp, y tế, du lịch, vận chuyển giao thông và những hoạt động kinh tế khác Với kinh nghiệm trên, trong chương trình
dự kiến phòng ngừa El Nino, tổ chức ASEAN đã thành lập một Trung tâm chuyên ngành về khí tượng đặt ở Singapore để liên lạc và điều hành với các bộ phận, cơ quan
ở các nước Indonesia, Mã Lai, Brunei trong sự thi hành lệnh cấm đốt lửa trong các tháng 6 đến tháng 9 trong năm El Nino Tổ chức ASEAN cũng đã thành lập các đội Liên quốc gia chống cháy rừng
Ở Việt Nam, dự án phòng ngừa và chương trình quản lý khẩn cấp là do Nha Khí tượng và Thuỷ văn điều hành với sự hợp tác của các chính quyền địa phương Đã
có những hội thảo được tổ chức để rút ra các kinh nghiệm từ El Nino 1997/1998
Nghiên cứu về El Nino lúc đầu không phát xuất từ hiện tượng này xảy ra ở Nam Mỹ mà tập trung ở Ấn độ chú trọng vào sự thay đổi không khí qua gió, áp suất khí quyển, nhiệt độ không khí gây ra sự chậm trễ bất thường của gió mùa và mưa nhiệt đới ở vùng Ấn độ dương Sau này chúng ta mới biết là hai hiện tượng này đều có liên quan với nhau và liên hệ chặc chẻ qua sự chuyển động và thay đổi nhiệt độ nước biển
ở Nam Thái Bình Dương Năm 1887, gió mùa mang theo mưa nhiệt đới đã đến trễ hay không đến được một số vùng ở Nam Á, gây ra nạn đói lớn trầm trọng
Vì tầm quan trọng của gió mùa và mưa ở Ấn Độ, nghiên cứu về khí tượng của chúng đã được đặt lên hàng đầu Nhà toán học Gilbert Walker, xuất thân từ Cambridge, đến Ấn Độ năm 1904 nhậm chức ở Cơ quan khí tượng Ông bắt tay nghiên cứu về khí tượng gió mùa dùng toán học trên cơ sở các dữ kiện khí tương Trong các năm của thập niên 1920 và 1930, dùng các dữ kiện từ các trạm khí tượng đo được trong 40 năm dài, ông Walker đã phát hiện ra một sự dao động tuần hoàn, mà ông gọi là dao động phương nam (Southern Oscillation)
Ông đã đặt ra một chỉ số gọi là chỉ số dao động phương nam để biểu hiện hiện tượng này Chỉ số này dựa vào một hệ thống phương trình khá phức tạp dùng dữ kiện
từ các trạm không những ở Thái bình dương và Ấn độ dương mà còn ở các nơi khác như Phi châu và Nam Mỹ Ông cho rằng dùng chỉ số này, ta có thể tiên đoán được hiện tượng thời tiết về lâu dài Ông phát triển và dùng phương pháp toán học, gọi là tự tương quan (autocorrelation), cho thấy một hệ thống tự nó có thể có một chuyển động
Trang 5tuần hoàn Phương trình Yule-Walker trong toán học hiện nay bắt nguồn từ công trình nghiên cứu khí tượng gió mùa này của ông Walker Sau này phương trình của chỉ số dao động phương nam đã được đơn giản hoá bởi Willet và Bodurtha vào năm 1952 chỉ dùng áp suất khí quyển ở hai nơi, Darwin (bắc Úc) và đảo Tahiti
Trong các thập niên 1950 đến 1960, các nhà khoa học đã ra sức tìm hiểu vì đâu gây ra sự tuần hoàn của dao động được thể hiện bởi chỉ số trên Sự liên hệ giữa đại dương và khí quyển là một mấu chốt quan trọng qua nhiệt độ nước biển và áp suất khí quyển ở các nơi khác nhau gây ra sự chuyển động của gió mùa
J Bjerknes, nhà khí tượng học nổi tiếng trong các thập niên từ 1950 đến 1980, cuối cùng đã thành công giải thích và phát họa được một hình ảnh tổng thể gắn liền hiện tượng nước biển ấm lúc có El Nino ở Đông Thái bình dương với sự thay đổi áp suất, sự yếu đi của gió mùa, và vũ lượng tăng cao ở Nam Mỹ khi chỉ số dao động phương Nam xuống thấp Khám phá của Bjerknes là một đột phá lớn trong khoa học khí tượng Dùng những dữ kiện thâu thập được trong năm địa chất quốc tế (International Geophysical Year, IGY), ông nhận ra rằng nhiệt độ nước biển rất ấm ở đông Thái bình dương trong thời kỳ El Nino 1957/1958 trùng hợp với giai đoạn âm rất lớn của chỉ số dao động phương nam Hai hiện tượng này thật ra có liên hệ rất mật thiết và từ đó được cộng đồng khoa học gọi là ENSO (El Nino Southern Oscillation) Ông Bjerknes đã đưa ra sự liên hệ giữa đại dương và khí quyển qua sự lưu thông trực tiếp, mà ông gọi là sự lưu thông Walker (Walker Circulation) Ông để ý rằng lúc La Nina (lúc nước biển Nam Mỹ còn lạnh), không khí trên mặt nước biển lạnh ở đông Thái bình dương chuyển động về phía tây đến vùng biển ấm ở tây Thái bình dương Ở đấy không khí sẽ được hâm nóng và bị ẩm cao trên mặt nước biển ấm Vì thế không khí sẽ bốc lên cao gây ra mưa và chuyển dộng trở lại phía đông ở độ cao Sự lưu thông tuần hoàn này cũng gây ra nước lạnh từ đáy sâu trồi lên ở đông Thái bình dương và làm nước biển lạnh thêm và tiếp tục gây ra sự chuyển động của không khí và sự bắt đầu của chu kỳ lưu thông Walker
Khác với các đại dương khác, Thái Bình Dương có một chiều ngang rất dài ở dọc xích đạo (dài gấp 2 lần chiều ngang Đại Tây Dương), vì thế có thể mang đến một chuyển động cơ học tuần hoàn qua sóng ngầm gây ra bởi gió mùa hay các cơn gió
Trang 6mạnh đôi khi xảy ra trong thời gian dài khoảng 1 tháng ở các vùng dọc xích đạo trên Thái Bình Dương Gió mùa thổi dọc đường xích đạo từ hướng đông đến hướng tây Vì thế ở Thái Bình Dương, mực nước biển ở hướng tây cao hơn ở phía đông
Khi gió hay gió mùa chấm dứt, sóng ngầm vẫn tiếp tục chuyển động và thường phải mất 3 tháng để di chuyển qua hết chiều dài rộng lớn của Thái Bình Dương Khi sóng ngầm từ xa đến một vùng địa phương, nhiệt độ nước biển vùng đó sẽ thay đổi làm môi sinh và thời tiết nơi đó cũng phải thay đổi Nhà hải dương học Klaus Wyertki ở Đại học Hawai trong các năm 1970s đã khám phá ra sự liên hệ giữa hiện tượng ENSO và sư chuyển động của dòng nước biển ở Thái bình dương Khi sóng đến
và phản hồi giữa hai điểm, ta sẽ có sự thiết lập của một chu kỳ Chu kỳ này là El Nino
và La Nina Sóng ngầm rất dài này trong khoa học được gọi là sóng Kevin và sóng Rossby Sóng Kevin rất dài (khoảng 1000 km bề dài) chuyển động qua đông mang nước ấm từ vùng nhiệt đới ở tây Thái bình dương Khi sóng Kevin đến Nam Mỹ, chúng phản hồi lại và thành sóng Rossby Sóng Rossby chuyển động trở lại phía tây và cuối cùng sẽ làm chấm dứt hiện tượng El Nino
Lượng nước biển ấm ở Thái Bình Dương rất khổng lồ, nên khi vị trí của lượng nước biển ấm thay đổi, thì thời tiết chung quanh vùng Thái Bình Dương sẽ thay đổi và
có ảnh hưởng khắp thế giới Thường thì dòng nước lạnh Humbold chảy từ Nam cực lên dọc theo bờ biển Nam Mỹ và lên gần đường xích đao Vì thế nước lạnh từ đáy sâu trổi lên mang theo nhiều sinh liệu và làm phong phú sinh sôi các loài sinh vật như cá ở tầng nước ấm phía trên Vì nước lạnh ở dưới trộn với nước ấm ở trên, nên nhiệt độ nước biển ở Đông Thái Bình Dương thường thì lạnh hơn khoảng 2 hay 3 độ celsius so với ở Tây Thái Bình Dương Tuy nhiên khi hiện tượng El Nino xảy ra, thì ngược lại nước biển ở Nam Mỹ sẽ nóng ấm hơn qua sự di chuyển của khối nước ấm khổng lồ từ Tây Thái Bình Dương và từ xích đạo xuống phía Nam dọc Nam Mỹ
Trong thập niên 1920, khi ông Walker để ý rằng chỉ số dao động phương nam lúc cực âm cũng là lúc mà hạn hán thường xảy ra ở Australia, Indonesia, Ấn độ và một phần ở Phi châu Ông cũng cho rằng nó cũng liên hệ đến mùa đông không lạnh lắm ở tây Canada Ông đã bị đồng nghiệp chỉ trích về sự tiên đoán qua một liên hệ quá xa này Hơn nửa thế kỷ sau này, chúng ta mới biết là ông thật sự đúng
Trang 7Khoa học ngày nay với các mô hình về sư tác động giữa khí quyển và đại dương với đất liền, cộng với sự phát triển của máy tính và dữ kiện lấy được từ các trạm khí tượng, tàu bè hay máy bay, đã cho phép con người có thể tiên đoán dấu hiệu báo trước sự hình thành của El Nino trong vòng 9 đến 12 tháng trước đó (2)
Trong đầu năm 2002, theo dự đoán của các cơ quan chính phủ như National Ocean and Atmosphere Administration, NOAA (cơ quan Quản lý Đại dương và khí quyển quốc gia ở Mỹ và các viện nghiên cứu như Universities Consortium of Atmospheric Research, UCAR (Tổ hợp các đại học nghiên cứu khí quyển) hay các tổ chức phi chính phủ như Center of Ocean, Land and Atmosphere, COLA (Trung tâm nghiên cứu Đại dương, lục địa và khí quyển) thì khoảng giữa năm 2002 đến đầu năm
2003, hiện tượng El Nino sẽ trở lại
Theo tiên đoán vào tháng 3/2002, thì đã có dấu hiệu hiện tượng El Nino xuất hiện ở thời kỳ đầu qua các mô hình tiên đóan, nhiệt độ nước biển đo được ở Nam Thái bình dương gần bờ biển Nam Mỹ đã tăng lên trên mức bình thường, và quan trọng hơn nữa là chỉ số dao động Nam Thái Bình Dương (SOI) trong tháng 3/2002 đã đột ngột xuống mức âm dưới zero.Tiên đoán là chỉ số SOI đa số sẽ ở mức âm cho đến cuối năm hoặc đầu năm 2003 khi hiện tượng El Nino mạnh nhất và sau đó sẽ chấm dứt Nhưng cường độ thì không tiên đoán được Kết quả là hiện tượng El Nino 2002/2003 đã xảy
ra có cường độ rất nhẹ so với các hiện tượng trước kia
Hiện nay đã có những bước tiến lớn trong ngành tiên đoán khí tượng, đặc biệt với hiện tượng ENSO, qua các dữ kiện thu thập ở nhiều nơi và bằng nhiều phương pháp khác nhau và các mô hình rất chi tiết và đầy đủ giữa sự liên hệ đại dương và khí quyển chạy trên những siêu máy tính (supercomputer) Những tiên đoán này đã và sẽ giúp con người phù hợp và thích ứng trong các hoạt động kinh tế với sự thay đổi thời tiết qua chu kỳ El Nino dao động phương nam (ENSO) và giảm đi hệ quả tác hại của hiện tượng này vào đời sống con người
3.2 Nội dung kiến thức liên quan để giải quyết tình huống
Để giải quyết vấn đề nêu trên một cách có hiệu quả, chúng ta cần áp dụng một
số kiến thức thuộc các lĩnh vực sau:
Trang 8- Toán học: Thống kê thành phần các đợt xảy ra El Nino và La Nina qua các giai đoạn khác nhau
- Vật Lý: Khái quát cơ chế vật lý của El Nino và La Nina
- Sinh học: Tác động của El Nino và La Nina đến hoạt động của sinh vật và đa dạng sinh học
- Địa lý:
+ Các dạng biểu đồ, bảng biểu
+ Tìm hiểu về sự biến đổi khí hậu do El Nino và La Nina gây ra
+ Những khu vực địa lí chịu sự tác động của El Nino và La Nina
- Giáo dục công dân: Tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân trong việc góp phần bảo vệ môi trường sống
4 Giải pháp giải quyết tình huống
- Làm sáng tỏ khái niệm El Nino và La Nina
- Nguyên nhân sinh ra El Nino Nino và La Nina
- Khái quát cơ chế vật lý El Nino Nino và La Nina
- Chu trình El Nino và La Nina qua các thời kỳ
- Tác động của El Nino Nino và La Nina đến đa dạng sinh học
- Tác động của El Nino Nino và La Nina đến biến đổi khí hậu
- Các giải pháp đối phó
5 Tiến trình giải quyết tình huống
5.1 Khái niệm El Nino và La Nina
5.1.1 El Nino
“El Nino” (theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là đứa con của Chúa hay còn gọi
là bé Hài Đồng nam) là từ được dùng để chỉ hiện tượng nóng lên dị thường của lớp
nước biển bề mặt ở khu vực xích đạo trung tâm và Đông Thái Bình Dương, kéo dài 8
-12 tháng, hoặc lâu hơn, thường xuất hiện 3 - 4 năm 1 lần, song cũng có khi dày hơn hoặc thưa hơn
Khái niệm El Nino là kết quả tương tác giữa khí quyển và đại dương mà thể hiện chủ yếu là hoàn lưu khí quyển với nhiệt độ nước biển bề mặt ở khu vực xích đạo Thái Bình Dương, sự thay đổi của một phía sẽ gây ra phản ứng của phía kia El Nino không phải là một hiện tượng mang tính cục bộ ở vùng biển ngoài khơi Nam Mỹ, mà
Trang 9là một phần hệ thống tương tác có quy mô lớn, phức tạp giữa khí quyển và đại dương.
El Nino là một phần của bộ máy khí hậu ở vùng nhiệt đới có liên quan đến nhiều hiện tượng thời tiết thế giới, sự xuất hiện của hiện tượng El Nino biểu hiện sự dao động trong cơ chế của khí hậu toàn cầu
5.1.2 La Nina
“La Nina” (hay còn gọi là bé Hài Đồng nữ) là hiện tượng lớp nước biển bề mặt
ở khu vực nói trên lạnh đi dị thường, xảy ra với chu kỳ tương tự hoặc thưa hơn El
Nino
Để thể hiện sự ngược nhau giữa hai hiện tượng này có khi người ta dùng khái niệm Anti-El Nino (đối El Nino) Hiện tượng La Nina có thể xuất hiện ngay khi hiện tượng El Nino suy yếu, nhưng có khi không phải như vậy
ENSO là chữ viết tắt của các từ ghép El Nino Southern Oscillation (El Nino
-Dao động Nam) để chỉ cả 2 hai hiện tượng El Nino và La Nina và có liên quan với dao động của khí áp giữa 2 bờ phía Đông Thái Bình Dương với phía Tây Thái Bình Dương
- Đông Ấn Độ Dương (Được gọi là Dao động Nam) để phân biệt với dao động khí áp
ở Bắc Đại Tây Dương)
5.2 Nguyên nhân
El Nino và La Nina không phải là do con người, mà chính là thiên nhiên, cho
dù con người có can thiệp như thế nào, hiện tượng này vẫn xảy ra
Nguyên nhân sinh ra El Nino: Nguyên nhân chủ yếu là do sự thay đổi hướng gió làm xuất hiện đột ngột dòng biển ấm ở phía đông Thái Bình Dương, các dòng biển nóng này sẽ đẩy các dòng nước lạnh xuống dưới Ngoài ra còn có một số giả thiết cho rằng có các nguyên nhân khác như: sự thay đổi áp suất không khí, Trái Đất nóng dần lên, các cơn động đất dưới đáy biển,…
Nguyên nhân sinh ra La Nina: La Nina thường xuất hiện khi nhiệt độ mặt nước biển thấp hơn nhiệt độ chuẩn (khoảng 250C) từ 0,50C trở đi Nếu nhiệt độ mặt nước biển chỉ thấp nhiệt độ chuẩn từ 0 – 0,50C thì đó là trạng thái trung gian Thông thường sau một chu kì El Nino thì đến chu kì trung gian hoặc chu kì La Nina
Trang 105.3 Khái quát cơ chế vật lý El Nino Nino và La Nina
* Dao động Nam và Hoàn lưu Walker
Dao động Nam (Southern Oscillation) là sự dao động của khí áp quy mô lớn,
từ năm này qua năm khác ở 2 phía Đông và Tây của khu vực xích đạo Thái Bình Dương, được Gilbert I.Walker phát hiện vào cuối những năm 20 của thế kỷ trước Hơn
40 năm sau, Jacob Bjerknes (1966) thừa nhận có sự dao động cỡ lớn trong hoàn lưu tín phong của Bán cầu Bắc và Nam ở Thái Bình Dương và ông cho rằng nó có liên quan với Dao động Nam Khi tín phong mạnh, nước tương đối lạnh có nguồn gốc nước trồi
ở xích đạo thuộc bờ biển Nam Mỹ được hình thành bởi áp lực của gió Đông lên bề mặt đại dương, mở rộng về phía Tây tới trung tâm Thái Bình Dương Sự chênh lệch khí áp giữa Đông (cao) và Tây (thấp) và nhiệt độ giữa Đông (thấp) và Tây (cao) trên khu vực xích đạo Thái Bình Dương dẫn đến chuyển động ngược chiều của không khí ở tầng thấp (gió Đông) và trên cao (gió Tây); ở phía Đông có chuyển động giáng, ở phía Tây
có chuyển động thăng của không khí, tạo thành một hoàn lưu khép kín, được Bjerknes gọi là Hoàn lưu Walker Chênh lệch nhiệt độ và khí áp giữa Đông và Tây Thái Bình Dương càng lớn, hoàn lưu Walker càng mạnh, ngược lại, chênh lệch nhiệt độ và khí áp giảm, hoàn lưu Walker yếu đi
Xích đạo
Gió Đông
Tín phong NBC
Tín phong BBC
Gió Tây Đối lưu
phát triển
Chuyển động giáng
Nêm nhiệt
80 0 T
120 0 Đ
HOÀN LƯU WALKER
Nước trồi
Nóng, khí áp thấp
Lạnh, khí áp cao
Hình 1.1: Sơ đồ hoàn lưu Walker trong điều kiện bình
thường