Tuy nhiên, đối vớimôn Toán, việc làm thế nào để học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra của bài toán, tự mày mò tìm hiểu dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên để từ đó tự tìm ra kiến thức làmộ
Trang 1Trong hệ thống giáo dục Quốc dân, Tiểu học là bậc học có ý nghĩa rất quantrọng đối với sự vận động và phát triển toàn hệ thống, là bậc học nền tảng đặt cơ sởban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con người, là nềnmóng vững chắc cho toàn bộ hệ thống giáo dục Quốc dân
Bắt đầu từ năm học 2002 - 2003, chương trình - SGK mới triển khai đại tràtrên cả nước Ngay từ năm học đầu tiên, với tinh thần và quyết tâm cao, địa phương
và nhà trường đã ưu tiên những gì tốt đẹp nhất cho các lớp thay sách: phòng học tốtnhất, giáo viên có năng lực, Tập thể giáo viên cũng chuyển mình hoà nhịp cùngcác trường trong toàn huyện, bước đầu đã có những thành quả đáng kể trong đổimới phương pháp dạy học nói chung và môn Toán nói riêng Tuy nhiên, đối vớimôn Toán, việc làm thế nào để học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra của bài toán, tự mày
mò tìm hiểu dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên để từ đó tự tìm ra kiến thức làmột bài toán mà đội ngũ giáo viên trường Tiểu học số 1 Triệu Long còn vướngmắc Đây cũng là vấn đề bản thân tôi quan tâm từ nhiều năm nay Với mong muốnnâng cao chất lượng dạy học môn Toán bằng con đường cải tiến và đổi mới phươngpháp dạy học sao cho mỗi học sinh thực sự được tham gia vào quá trình học Toánvới những hoạt động nhẹ nhàng, tự nhiên mang lại hứng thú và say mê học tập củahọc sinh nên tôi chọn đề tài: "Một số biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp dạyhọc môn Toán lớp 2 theo hướng tiếp cận vào học sinh."
Chương trình toán của tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn Toán họcgóp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triểnnhân cách học sinh Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về sốhọc, các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản, giải toán có lời vănứng dụng thiết thực trong đời sống và một số yếu tố hình học đơn giản
Môn toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượnghoá, khái quán hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triểnhợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng bằng lời, suy luận đơn giản, gópphần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo Mục tiêu nói trên được thông qua việc dạy học các môn học, đặc biệt là môn toán.Môn này có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên
Trang 2cứu hệ thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt vàlao động của con người Môn toán là ''chìa khoá'' mở của cho tất cả các ngành khoahọc khác, nó là công cụ cần thiết của người lao động trong thời đại mới Vì vậy,môn toán là bộ môn không thể thiếu được trong nhà trường, đây là những tri thức,
kỹ năng vừa đáp ứng cho phát triển trí tuệ, óc thông minh, sáng tạo, vừa đáp ứngcho việc ứng dụng thiết thực trong cuộc sống hàng ngày, để các em trở thànhnhững người có ích cho xã hội
Trong dạy - học toán ở lớp 2, việc cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 chiếmmột vị trí quan trọng Có thể coi việc dạy - học và cộng trừ là '' hòn đá thử vàng'' Đây cũng là vấn đề bản thân tôi quan tâm từ nhiều năm nay Với mongmuốn nâng cao chất lượng dạy học môn Toán bằng con đường cải tiến và đổi mớiphương pháp dạy học sao cho mỗi học sinh thực sự được tham gia vào quá trìnhhọc Toán với những hoạt động nhẹ nhàng, tự nhiên mang lại hứng thú và say mêhọc tập của học sinh nên tôi chọn đề tài: "“Một số biện pháp giúp học sinh học tốt
môn toán lớp 2”
2.Mục đích nghiên cứu
- Từ đầu năm học tôi đã chú trọng đến việc rèn kĩ năng thực hiện phép tínhcộng, trừ để học sinh tiếp thu tri thức có hệ thống, đó là việc rất quan trọng và cầnthiết của người giáo viên hiện nay nhằm giúp cho học sinh bắt kịp trình độ khoahọc kĩ thuật tiên tiến và sự đổi mới đất nước, sự cần thiết phải đổi mới con ngườichính vì vậy tôi mới đặt vấn đề nghiên cứu
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Đề tài này áp dụng cho lớp 2 trường Tiểu học Bột Xuyên
- Rèn cho học sinh lớp 2 kĩ năng tính toán
4.Phương pháp nghiên cứu
Từ ngày 17/9/2013 đến 30/11/2013: Nghiên cứu và áp dụng Thử nghiệm
Từ ngày 05/12/2013 đến 20/12/2013: Cùng giáo viên trong khối rút ra bài học
Từ ngày 21/12/2013 đến 30/ 4/2014: thực hiện và hoàn tất đề tài
Trang 3
B NỘI DUNG
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
Đối mới phương pháp dạy học là vấn đề then chốt của chính sách đổi mớigiáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đổi mới phương pháp dạy học sẽ làmthay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế hệ học trò - chủ nhân tương lai củađất nước Hơn nữa, trước thực tiễn đổi mới của mục tiêu giáo dục, nội dung chươngtrình Tiểu học và cách đánh giá kết quả học tập của học sinh thì đổi mới phươngpháp dạy học đã được xác định trong các nghị quyết TW 4 (khoá VII) và nghịquyết TƯ 2 ( khoá VIII), được thể chế hoá trong luật Giáo dục và được cụ thể hoátrong chỉ thị 15 của Bộ GD&ĐT
Trong luật giáo dục, khoản 2, điều 24 đã ghi: " Phưong pháp giáo dục phổthông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp vớiđặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn , tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho học sinh."
Có thể nói, tư tưởng và cũng là mục đích của quá trình đổi mới phương phápdạy học cũng là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh Tích cực trong hoạtđộng học tập của học sinh thực chất là tính tích cực nhận thức được đặc trưng ởkhát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh trithức."
Khác với quá trình nhận thức nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức tronghọc tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hộinhững tri thức mà loài mgười tích luỹ được Tuy nhiên trong học tập, học sinh cũngphải "khám phá" ra những hiểu biết mới của bản thân Học sinh sẽ thông hiểu, ghinhớ những gì đã lĩnh hội được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình
Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan mật thiết với động
cơ học tập và thường được biểu hiện như: hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên, bổsung các câu trả lời của bạn, nêu thắc mắc đề nghị giải thích những vấn đề chưa đủ
rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới
Cũng như các môn học khác trong hệ thống chương trình Tiểu học, mônToán đã thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học Vì vậy, việchướng dẫn học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới có vai trò quan trọng trongquá trìn hình thành và phát triển tư duy Toán học của học sinh, bởi lẽ :
- Quá trình tự tìm tòi, khám phá sẽ giúp học sinh rèn luyện tính chủ động ,sáng tạo trong học Toán
- Học sinh sẽ hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn kiến thức nếu như chính mình tìm rakiến thức đó hoặc góp phần cùng với các bạn tìm tòi, khám phá, xây dựng kiếnthức
- Trong quá trình tìm tòi, khám phá, học sinh tự đánh giá kiến thức của mìnhkhi gặp khó khăn chưa giải quyết được vấn đề, học sinh tự đo được thiếu sót củamình về mặt kiến thức, về mặt tư duy và tự rút kinh nghiệm Khi tranh luận với các
Trang 4bạn, học sinh cũng tự đỏnh giỏ được trỡnh độ của mỡnh so với cỏc bạn để tự rốnluyện, điều chỉnh.
- Trong quỏ trỡnh học sinh tự tỡm tũi, khỏm phỏ, giỏo viờn biết được tỡnh hỡnhcủa học sinh về mức độ nắm kiến thức từ bài học cũ, vốn hiểu biết, trỡnh độ tư duy,khả năng khai thỏc mối liờn hệ giữa những yếu tố đó biết với những yếu tố phảitỡm,
- Học sinh tự tỡm tũi, khỏm phỏ sẽ rốn luyện được tớnh kiờn trỡ, vượt khúkhăn và một số phẩm chất tốt của người học Toỏn như: tự tin , suy luận cú cơ sở,coi trọng tớnh chớnh xỏc, tớnh hệ thống
Như vậy, đổi mới phương phỏp dạy học Toỏn nhằm tạo điều kiện để cỏ thểhoỏ dạy học và khuyến khớch dạy học phỏt hiện vấn đề đồng thời phỏt triển nănglực, sở trường của từng học sinh trở thành người lao động chủ động, sỏng tạo
2 THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
2.1.Những thuận lợi và khú khăn
* Thuận lợi :
- Phần đông các em có nhà gần trờng, tỉ lệ đi học chuyên cần cao
- Điều kiện cơ sở vật chất của trờng , lớp có đủ điều kiện cho các em học tập
* Khó khăn:
- Hầu hết phụ huynh học sinh làm nghề nông đa số gia đình các em có hoàncảnh khó khăn nên cha có điều kiện quan tâm đến học sinh, cha coi trọng việc học
mà chỉ cho rằng học để biết chữ, cha dành nhiều thời gian cho các em học tập
- Đa số nhà các em cha có góc học tập riêng, nếu có thì cũng cha đúng quycách, nhiều em phải nằm, ngồi trên giờng khi học bài, viết bài
- Phần đa các em học tập trên lớp, về nhà các em không có thời gian học bài
và phụ huynh học sinh không đôn đốc các em tự học
- Bài toán cho biết gì?
- Ta phải đi tìm cái gì?
- Ta phải làm phép tính gì?
Em nào xung phong lên bảng làm bài?
- HS lên bảng làm bài xong GV kiểm tra, sửa chữa hoặc bổ sung
Tôi thấy 2 hình thức vừa nêu ở trên chính là nguyên nhân dẫn đến kết quả HSgiải toán có lời văn đạt chất lợng thấp trong nhà trờng
Chính cách dạy trên đã hạn chế khả năng t duy của HS, không phát huy đợcnăng lực cho các em trong việc giải toán
Trang 5Vì vậy nên chất lợng của một số lớp đặc biệt là khối lớp 2 chỉ chiến 40% HSbiết giải toán, trong đó giải thành thạo chỉ chiến từ 5- 8% Phần lớn khi các em
đứng trớc một bài toán các em chỉ đọc sơ sài 1, 2 lần đề bài rồi áp dụng các thao táctheo bài thầy giảng dạy để giải
Hỡnh thức tổ chức cỏc hoạt động học tập cũn đơn vị đơn điệu, cỏc tỡnh huốngđưa ra ớt hấp dẫn, trũ chơi học tập chưa phong phỳ Hơn nữa trỡnh độ tư duy, vốnhiểu biết kiến thức cơ bản ở lớp 1 chưa chắc chắn vẫn tồn tại thúi quen học vẹt, ghinhớ mỏy múc và một số học sinh cũn ghi nhớ thụ động, chỉ tiếp nhận những điều
cú sẵn chưa chịu khú tỡm tũi, khỏm phỏ để tỡm kiếm kiến thức
Mặc dầu đó được quan tõm, đầu tư nhưng cơ sở vật chất phục vụ dạy họcchưa tương xứng với yờu cầu đổi mới như: bàn ghế, phũng học, thiết bị dạy học, Qua khảo sỏt thực tế cho thấy:
3.1 Bồi dưỡng về kiến thức
Đổi mới phương dạy học ở Tiểu học chỉ thành cụng khi giỏo viờn nhàtrường nhận thức rừ về vị trớ, mục tiờu, quan điểm cũng như xu thế đổi mới phươngdạy học Khi vấn đề được sỏng tỏ, thấm nhuần nú sẽ tạo động cơ hành động đỳngđắn ở mỗi giỏo viờn Vỡ vậy, việc học tập nắm chắc cỏc nội dung: Mục tiờu giỏodục Tiểu học, định hướng phỏt triển giỏo dục giai đoạn 2001 - 2010 đó được xỏcđịnh rừ trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, cỏc tài liệu liờn quan đếnđổi mới phương phỏp dạy học, bồi dưỡng thường xuyờn chu kỡ III,
Nõng cao nhận thức về vai trũ, trỏch nhiệm của mỗi người giỏo viờn trongviệc đổi mới phương phỏp dạy học, từng bước khắc phục tư tưởng ỷ lại, ngại khú,chờ đợi những gỡ cú sẵn để thực hiện theo một cỏch rập khuụn, mỏy múc Độngviờn khớch lệ tinh thần sỏng tạo, khả năng tiếp cận, sử dụng cỏc phương phỏp dạyhọc một cỏch linh hoạt , ý chớ quyết tõm khẳng định mỡnh
3.2 Xõy dựng kế hoạch
3.2.1.Cỏc bước thực hiện:
Bước 1: Xõy dựng kế hoạch bài dạy.
Bước 2: Chỉ đạo thớ điểm.
Bước 3: Chỉ đạo đại trà.
Bước 4: Kiểm tra đỏnh giỏ rỳt kinh nghiệm.
Trang 63.2.2 Xây dựng kế hoạch bài dạy
3.2.3 Xác định phương pháp dạy học từng dạng bài
* Đối với "tiết học bài mới" chúng tôi yêu cầu giáo viên nghiên cứu kĩ để xácđịnh : Khác với chương trình cũ, phần bài mới trong các tiết dạy bài mới thườngkhông nêu kiến thức có sẵn mà thường chỉ nêu các tình huống có vấn đề để họcsinh hoạt động và tự phát hiện ra kiến thức mới theo sự hướng dẫn của giáo viên,với sự trợ giúp của các đồ dùng học tập, Thời lượng thực hành chiếm khoảng 50% -60% thời lượng của tiết học Vì vậy tuỳ theo khả năng của từng học sinh mà tổchức cho các em thực hiện một số hoặc toàn bộ bài tập thực hành, trong đó khôngđược bỏ qua các dạng bài tập cơ bảnnhất Đông thời, trong "Tiết học bài mới" giáoviên tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động học tập để giúp học sinh:
Thứ nhất: Tự phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ bài học
Ví dụ: Dạy bài "11 trừ đi một số "
Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng các bó que tính và que tính rời để họcsinh tự nêu được: Có một bó một chục que tính và một que tính, tức là có 11 quetính, lấy bớt đi 5 que tính thì còn lại mấy que tính?( 11- 5 = ?) Tiếp tục hướng dẫnthực hiện các thao tác trên que tính để học sinh nêu và làm được, để bớt đi 5 quetính lúc đầu ta bớt đi 1que tính rời (11- 1 = 10 ).Sau đó phải tháo bó que tính ra, lấybớt tiếp 4 que tính nữa còn lại 6 que tính ( 10 - 4 = 6 ) Như vậy: 11 - 5 = 6
Tương tự như trên cho học sinh tự tìm kết quả của các phép tính trừ :
11 - 2 ; 11 -3 ; 11- 4 ; 11- 6 ; 11- 7 ; 11- 8 ; 11- 9
Thứ hai: Tự chiếm lĩnh kiến thức mới
Sa khi học sinh tìm được kết quả các phép trừ nêu trên, giáo viên cần tổ chứccho học sinh ghi nhớ các công thức trong bảng trừ của bài : " 11 trừ đi một số "bằng cách tái hiện các công thức vừa hấp dẫn vừa khích lệ học sinh thi đua học tậpnhư che lấp hoặc xoá từng phần rồi toàn bộ công thức và tổ chức cho học sinh thiđua lập lại ( nói, viết ) các công thức đã học Để khẳng định học sinh đã tự chiếmlĩnh kiến thức mới như thế nào thì sau khi học sinh tiếp thu bài mới, học sinh phảilàm được các bài tập trong SGK
Quá trình dạy học Toán như vậy sẽ dần dần giúp học sinh biết cách pháthiện, chiếm lĩnh kiến thức mới và cách giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống
Thứ ba: Thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức mới với kiến thức đã
học
Ví dụ: Khi dạy học phép cộng có nhớ trong phạm vi 100 Ở mỗi tiết học này,giáo viên phải yêu cầu học sinh huy động các kiến thức ở lớp 1 để tự phát hiện ranội dùng mới Chẳng hạn : 9 + 5 = ?
Học sinh phải huy động kiến thức đã học như: 9 + 1 = 10 ; 10 + 4 = 14 Cáchviết theo hàng ngang : 9 + 5 = 14, theo cột dọc +
5 9
14
Trang 7Đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với kiến thức đã học Nếu thực hiệnphương pháp dạy học bài mới như vậy không những tạo điều kiện ôn tập, cũng cốkiến thức đã học, giúp học sinh huy động để phát hiện, chiếm lĩnh, vận dụng kiếnthức mới, tìm ra những nội dung còn tiềm ẩn trong từng bài học mà còn góp phầnrèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời, bằng kí hiệu, phát triển các năng lực tưduy của học sinh.
* Đối với tiết "Luyện tập thực hành"
Nội dung luyện tập, thực hành không chỉ có trong các tiết luyện tập, luyệntập chung, mầ còn chiếm tỉ lệ khá lớn trong các tiết dạy học bài mới Nhiệm vụchủ yếu nhất của dạy học thực hành, luyện tạp là củng cố các kiến thức và kĩ năng
cơ băn cảu chương trình, rèn luyện các năng lực thực hành, giúp học sinh nhận rarằng: Học không chỉ để biết mà học còn để làm, để vận dụng Vì thế chúng tôi chỉđạo giáo viên dạy lớp 2 khi dạy dạng bài này cần:
- Giúp mọi học sinh đều tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theokhả năng của mình Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh
- Khuyến khích học sinh tự đánh giá kết quả thực hành, luyện tập
- Giúp học sinh nhận ra kiến thức cơ bản của bài học trong sự đa dạng vàphong phú của các bài thực hành, luyện tập
- Tập cho học sinh thói quen không thoả mãn bài làm của mình, với các cáchgiải có sẵn
3.2.4 Mẫu kế hoạch bài dạy:
Trên cơ sở quy định của phòng GD&ĐT, căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị,chúng tôi quy định lập kế hoạch bài dạy theo 2 mẫu: Mẫu chi tiết và mẫu cơ bản.Dưới đây là mẫu thiết kế bài dạy theo mẫu chi tiết:
Ngày soạn:
Ngày dạy:
Tiết Tên bài dạy:
Những hoạt động dạy học chủ yếu:
Các hoạt động Hoạt động cụ thể
Trang 8-Giỏo viờn ghi đề bài
- Giỏo viờn đặt vấn đề, gợi mở Học sinh thảo luận, tỡm tũi, giải quyết vấn đề
- Giỏo viờn kết luận
- Giỏo viờn giao việc
- Học sinh làm bài tập
- GV theo dừi giỳp đỡ học sinh yếu, kộm
- Học sinh trỡnh bày kết quả - nhận xột, bổ sung
ở lớp 2, cha yêu cầu học sinh nắm đợc các khái niệm, đợc những hình họcdựa trên các đặc điểm quan hệ các yếu tố của hình (chẳng hạn cha yêu cầu học sinhbiết hình chữ nhật là hình tứ giác có 4 góc vuông, hoặc có 2 cạnh đối diện bằngnhau) chỉ yêu cầu học sinh nhận biết đợc hình ở dạng “tổng thể” phân biệt đợc hìnhnày với hình khác và gọi đúng trên hình của nó Bớc đầu vẽ đợc hình đó bằng cáchnối các điểm hoặc vẽ dựa trên các đờng kẻ ô vuông (giấy kẻ ô ly,…)
Một cách khác nữa, khi dạy thì giáo viên cần lu ý cho học sinh có thói quen
đặt câu hỏi “tại sao” và tự suy nghĩ để trả lời các câu hỏi đó Trong nhiều tìnhhuống giáo viên còn có thể đặt ra câu hỏi “Tại sao làm nh vậy? Có cách nào kháckhông? Có cách nào hay hơn không?” Các câu hỏi của giáo viên nh “tại sao”, “vìsao” đã thôi thúc học sinh phải suy nghĩ tìm tòi giải thích Đó là chỗ dựa để đa racách làm hoặc cách giải sự lựa chọn trong vốn kiến thức đã học để trả lời
Khi dạy các yếu tố hình học cho học sinh lớp 2, việc tập cho học sinh có thóiquen đặt ra câu hỏi “tại sao” và tìm cách giải thích làm cho vấn đề đợc sáng tỏ là
Trang 9nhiệm vụ của ngời giáo viên Từ thói quen trong suy nghĩ ta hình thành và rèn luyệnthói quen đó trong diễn đạt, trong trình bày.
Ví dụ: Bài chu vi hình tam giác
Cho học sinh nhắc lại cách tính chu vi của hình tam giác
Học sinh có thể tính chu vi tam giác bằng các cách:
4 = 4 = 4 = 12 (cm)Hoặc : 4 x 3 = 12 (cm)
Cho học sinh so sánh các kết quả khẳng định là làm đúng
Lúc đó giáo viên hỏi: Tại sao con lại lấy 4 x 3 để tính chu vi hình tam giác (vì
3 cạnh hình tam giác có số đo bằng nhau = 4 cm)
- So sánh 2 cách làm trên con thấy cách nào làm nhau hơn? (cách 2)
+ Tổng độ dài các cạnh của hình tam giác là chu vi của hình tam giác đó
* Trong SGK toán 2, hệ thống các bài tập thực hành về yếu tố hình học có mấy dạng cơ bản sau:
- Kéo dài đoạn thẳng AB về hai phía, ta đợc đờng thẳng AB
- L u ý: Khái niệm đờng thẳng không định nghĩa đợc, học sinh làm quen với
“biểu tợng” về đờng thẳng thông qua hoạt động thực hành: Vẽ đờng thẳng qua 2
điểm, vẽ đờng thẳng qua 1 điểm
b Nhận biết giao điểm giao điểm của hai đoạn thẳng:
Ví dụ bài 4 trang 49
Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm nào?
- Khi chữa bài giáo viên cho học sinh tập diễn đạt kết quả bài làm Chẳng hạnhọc sinh nêu lại “Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm O”
Hoặc giáo viên hỏi: Có cách nào khác không? Học sinh suy nghĩ trả lời: “Hai
đoạn thẳng AB và CD cắt nhau tại điểm O” Hoặc “O là điểm cắt nhau của đờngthẳng AB và CD”
D
Trang 10Ví dụ: Bài 2 trang 73
Nêu tên 3 điểm thẳng hàng (dùng thớc thẳng để kiểm tra):
Ví dụ dạy học bài “Hình chữ nhật” theo yêu cầu trên, có thể nh sau:
- Giới thiệu hình chữ nhật (học sin đợc quan sát vật chất có dạng hình chữnhật, là các miếng bìa hoặc nhựa trong hộp đồ dùng học tập, để nhận biết dạng tổngthể “đây là hình chữ nhật”)
- Vẽ và ghi tên hình chữ nhật (nối 4 điểm trên giấy kẻ ô vuông để đợc hìnhchữ nhật, chẳng hạn hình chữ nhật ABCH, hình chữ nhật MNPQ)
- Nhận biết đợc hình chữ nhật trong tập hợp một số hình (có cả hình khôngphải là hình chữ nhật), chẳng hạn:
Tô màu (hoặc đánh dấu x ) vào hình chữ nhật có trong mỗi hình sau:
O M N
D O
A