1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

ĐẦU tư nước NGOÀI với PHÁT TRIỂN cơ sở hạ TẦNG tại VIỆT NAM

5 344 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 327,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

71 ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VỚI PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI VIỆT NAM Bộ Giao thông Vận tải Kết cấu hạ tầng giao thông luôn được Chính phủ Việt Nam dành ưu tiên quan tâm đầu tư với phương ch

Trang 1

71

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VỚI PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI

VIỆT NAM

(Bộ Giao thông Vận tải)

Kết cấu hạ tầng giao thông luôn được Chính phủ Việt Nam dành ưu tiên quan tâm đầu tư với phương châm cơ sở hạ tầng giao thông phát triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền vững tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Để thực hiện mục tiêu nước ta cơ bản đạt được quy mô và trình độ của nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Bộ Giao thông vận tải đã xây dựng mục tiêu phát triển hạ tầng giao thông “bảo đảm kết nối các trung tâm kinh tế lớn với nhau và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giao thông đồng bộ, năng lực vận tải được nâng cao, giao thông được thông suốt, an toàn”. Bộ xác định, huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực của xã hội, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

1) Kết quả phát triển CSHT giao thông trong thời gian qua

Trong thời gian qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam phát triển theo chiều hướng khá tích cực, mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng Các tuyến giao thông đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt chính yếu

đã được đầu tư nâng cấp kết hợp tăng cường công tác quản lý, bảo trì, nâng cao đáng kể năng lực thông qua Hệ thống cảng biển và cảng hàng không từng bước được mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới đáp ứng tốc độ tăng trưởng vận tải bình quân tăng trên 10%/năm Nhiều công trình quan trọng cấp thiết phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước như: Đường bộ cao tốc tại các vùng kinh tế trọng điểm, trục Bắc Nam, đường vành đai đô thị, cảng hàng không quốc tế, cảng biển lớn đã và đang được triển khai xây dựng Giao thông đô thị từng bước được mở mang cùng với việc phát triển vận tải hành khách công cộng Hệ thống giao thông địa phương cũng đã được các tỉnh, thành phố quan tâm đầu tư, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội Cụ thể trong từng lĩnh vực như sau:

a) Lĩnh vực hàng hải:

Hạ tầng giao thông đường biển được đầu tư cơ bản, hoàn thành nâng cấp giai đoạn 1 các cảng biển tổng hợp quốc gia chủ yếu như: Cảng Cái Lân, cảng Hải Phòng, cảng Vũng Áng, cảng Tiên Sa – Đà Nẵng, cảng Quy Nhơn, cảng Sài

Trang 2

72

Gòn, cảng Bà Rịa – Vũng Tầu, cảng Cần Thơ và hoàn thành nâng cấp một số cảng địa phương Năng lực thông qua cảng biển đã tăng gần 3 lần từ 110 triệu tấn năm 2000 lên 300 triệu tấn vào năm 2010 Đang triển khai xây dựng cảng Quốc tế Cái Mép – Thị Vải, đầu tư xây dựng luồng cho tàu có trọng tải lớn vào sông Hậu cho cảng Cần Thơ, chuẩn bị triển khai cảng Lạch Huyện…

b) Lĩnh vực hàng không:

Thời gian qua, được sự quan tâm của Chính phủ, các cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Cam Ranh, các cảng hàng không nội địa Phù Cát, Côn Sơn, Vinh, Điện Biên Phủ, Pleiku, Đồng Hới, Liên Khương đã được nâng cấp đáp ứng nhu cầu, nâng năng lực hành khách thông qua các cảng hàng không từ 4,9 triệu khách năm 2000 lên 41,8 triệu khách năm

2010 Bộ Giao thông vận tải đang triển khai xây dựng Nhà ga T2 sân bay quốc tế Nội Bài, chuẩn bị đầu tư cảng hàng không quốc tế Long Thành,…

c) Lĩnh vực đường bộ:

Hạ tầng giao thông đường bộ được quan tâm đầu tư, nâng cấp một bước

rất cơ bản hệ thống quốc lộ Bước đầu xây dựng được gần 150 km đường cao tốc và tiền cao tốc như Tp HCM – Trung Lương, Láng – Hoà Lạc, Nội Bài - Bắc Ninh, Pháp Vân – Cầu Giẽ; đang triển khai xây dựng một số tuyến cao tốc:

Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội – Lào Cai, Sài Gòn – Long Thành – Dầu Giây; đã xác định nguồn vốn, hiện đang chuẩn bị thủ tục để khởi công một số tuyến cao tốc và đang tích cực kêu gọi vốn đầu tư cho một số tuyến

d) Lĩnh vực đường sắt

Hệ thống giao thông đường sắt hiện có đã từng bước được cải tạo nâng cấp, nâng cao tính an toàn và rút ngắn thời gian chạy tàu từ 42h xuống còn 29h trên tuyến đường sắt Thống Nhất, 10 giờ xuống còn 8 giờ trên tuyến Hà Nội - Lào Cai; hiện đang triển khai dự án đường sắt Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long – Cái Lân, nâng cấp tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai

e) Lĩnh vực đường thủy nội địa:

Đã hoàn thành nâng cấp 2 tuyến đường thuỷ phía Nam TP HCM – Cà Mau, TP HCM – Kiên Lương, vận tải thủy phục vụ thủy điện Sơn La, tuyến vận tải thủy Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên; các tuyến sông chính yếu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng cũng từng bước được cải tạo, tăng cường quản lý bảo trì đáp ứng tốt hơn nhu cầu chạy tàu…

Nhìn chung, vốn đầu tư vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trong thời gian vừa qua, chủ yếu từ nguồn vốn ODA, Ngân sách Nhà nước, trái phiếu

Trang 3

73

Chính phủ Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đầu tư vào hạ tầng giao thông của Việt Nam còn rất hạn chế, chưa đồng đều và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực xây dựng và khai thác cảng biển Hiện tại ở Việt Nam đã có 9 dự án liên doanh với nước ngoài đầu tư xây dựng và vận hành cảng biển với tổng vốn đầu tư khoảng 1,7 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 50%

2) Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trong thời gian tới

Chính phủ Việt Nam đã xác định xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng

bộ là 1 trong 3 khâu đột phá chiến lược giai đoạn 2010-2020

Nghị Quyết số 16/NQ của Chính phủ về xây dựng hệ thống kết cấu hạ

tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đã chỉ rõ “Định hướng phát triển hạ tầng giao thông” như sau:

- Về đường bộ, ưu tiên đầu tư nâng cấp và mở rộng Quốc lộ 1A, hoàn thành phần lớn vào năm 2015 và hoàn thành toàn tuyến vào năm 2020 Đầu tư nối thông tuyến đường Hồ Chí Minh và nâng cấp đoạn qua Tây Nguyên Lựa chọn đầu tư những đoạn có hạ tầng yếu kém trên tuyến đường ven biển gắn với

đê biển Nối thông tuyến đường biên giới phía Bắc, phía Tây, Tây Nam Nâng cấp một số tuyến giao thông hành lang kinh tế Đông Tây

Ưu tiên đầu tư trước một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam, tuyến nối Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh với các cửa ngõ và các đầu mối giao thông quan trọng Phấn đấu đến năm 2015, hoàn thành khoảng 600 km và đến năm 2020 hoàn thành đưa vào sử dụng khoảng 2.000 km đường cao tốc

- Về đường sắt, ưu tiên nâng cấp, hiện đại hoá hệ thống tuyến đường sắt Bắc - Nam hiện có Nghiên cứu đầu tư mới tuyến đường sắt khổ 1,435 m nối Thành phố Hồ Chí Minh với thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh với thành phố Vũng Tàu Phát triển đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

- Về đường thuỷ nội địa, nâng cấp các tuyến đường thuỷ nội địa chính; Ưu tiên hoàn thành nâng cấp các tuyến ở đồng bằng Sông Cửu Long kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh; các tuyến sông Tiền, sông Hậu, sông Hồng, sông Thái Bình

- Về cảng biển quốc gia, ưu tiên đầu tư đồng bộ, hiện đại hai cảng biển cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện (Hải Phòng) và cảng Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa -

Trang 4

74

Vũng Tàu); khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong (Khánh Hoà)

- Về cảng hàng không, ưu tiên đầu tư nâng cấp đồng bộ, hiện đại 5 sân bay quốc tế Huy động nguồn vốn ODA và khuyến khích hợp tác công tư để đầu tư xây dựng mới cảng trung chuyển hàng không quốc tế Long Thành

Để thực hiện được chiến lược, nhu cầu vốn đầu tư rất lớn Trong điều kiện ngân sách nhà nước khó khăn, Chính phủ Việt Nam chủ trương tăng cường huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, từ mọi thành phần kinh tế trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài là một kênh huy động vốn rất quan trọng

3) Những thách thức trong thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam

- Thể chế chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, thiếu các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện, nhất là các văn bản hướng dẫn triển khai dự án huy động vốn theo hình thức hợp tác đối tác công – tư (PPP) Việc lựa chọn nhà đầu

tư chưa bài bản Do vậy, nhà đầu tư còn e ngại tính minh bạch trong lựa chọn nhà đầu tư

- Kinh tế vĩ mô chưa ổn định, lạm phát tăng cao, giá cả biến động dẫn đến rủi ro cao đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng

- Các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông yêu cầu vốn đầu tư lớn, hiệu quả tài chính thấp, đòi hỏi ngân sách tham gia lớn, trong khi Ngân sách Nhà nước hạn hẹp, việc huy động vốn cho các dự án lớn rất chậm dẫn đến nhiều nhà đầu tư đề xuất các cơ chế vượt quá quy định của pháp luật

- Khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, chi phí giải phóng mặt bằng lớn, tiến độ GPMB chậm, kéo dài ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của dự án

4 Kiến nghị

Nhằm khuyến khích, tạo lòng tin, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các dự án phát triển hạ tầng giao thông tại Việt Nam, Bộ GTVT kiến nghị:

- Về pháp luật: Sớm hoàn chỉnh thể chế, chính sách nhất là thể chế triển khai các dự án theo hình thức hợp tác đối tác công – tư PPP nhằm khuyến khích đầu tư tư nhân tham gia đầu tư vào phát triển kết hạ tầng giao thông

- Về tổ chức thực hiện:

Trang 5

75

+ Tăng cường sự phối kết hợp giữa các Bộ, ngành với các nhà tài trợ trong quá trình huy động vốn và triển khai thực hiện các dự án, trong đó Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tìm kiếm các nguồn vốn để triển khai các dự án theo hình thức hợp tác đối tác công – tư (PPP) – đây là hình thức huy động vốn cơ bản trong giai đoạn tới

+ Trong quá trình tái cơ cấu đầu tư công, Chính phủ cần có phương án vốn đặc biệt tham gia vào các dự án lớn có tính lan tỏa, kịp giải quyết tình trạng

ùn tắc và nâng cao năng lực thông qua của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông

+ Cần có những cải tiến cơ bản trong công tác giải phóng mặt bằng để các địa phương có thể bàn giao nhanh mặt bằng cho nhà đầu tư để triển khai dự án

Ngày đăng: 09/06/2016, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w