1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

THAM LUẬN của bộ tài CHÍNH tại hội NGHỊ TỔNG kết 25 năm THU hút ĐTNN tại VIỆT NAM chính sách thuế và ưu đãi đầu tư trong đầu tư nước ngoài tại việt nam

15 335 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 402,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạt được những thành tựu như vậy, bên cạnh yếu tố môi trường chính trị trong nước ổn định, giá nhân công thấp, điều kiện tự nhiên thuận lợi … thì yếu tố vô cùng quan trọng khác là sự qua

Trang 1

51

THAM LUẬN CỦA BỘ TÀI CHÍNH TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT 25 NĂM THU HÚT ĐTNN TẠI VIỆT NAM

Chính sách thuế và ưu đãi đầu tư trong đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Nhìn lại chặng đường 25 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (sau đây gọi tắt là ĐTNN) tại Việt Nam, khu vực doanh nghiệp có vốn ĐTNN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, góp phần tích cực trong tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán, tạo việc làm trực tiếp cho người lao động và hàng triệu việc làm gián tiếp khác,

là yếu tố thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao phương thức quản lý kinh doanh, tạo động lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong từng ngành

Đạt được những thành tựu như vậy, bên cạnh yếu tố môi trường chính trị trong nước ổn định, giá nhân công thấp, điều kiện tự nhiên thuận lợi … thì yếu

tố vô cùng quan trọng khác là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ trong việc xây dựng toàn diện hệ thống các chính sách ưu đãi thuế, tài chính, kế toán và kiểm toán, chính sách về tiền thuê đất, về sử dụng đất … nhằm khuyến khích các doanh nghiệp có vốn ĐTNN và Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Việt Nam Trong phạm vi bài tham luận này, Bộ Tài chính tập trung vào một số chính sách ưu đãi lớn như ưu đãi thuế (đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, về chính sách tài chính đất đai), tài chính góp phần quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài thời gian qua như sau:

1 Về cơ chế chính sách tài chính đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN

1.1 Về chính sách thuế và thu khác

(1) Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): trong từng giai đoạn phát

triển, Luật thuế TNDN đã góp phần tạo môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả, khuyến khích và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, phát huy tốt vai trò định hướng thu hút đầu tư, góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở vững chắc cho nền kinh tế phát triển bền vững

Sau 25 năm thực hiện, bên cạnh cải cách các chính sách ưu đãi thuế TNDN, việc Quốc hội Việt Nam nhiều lần điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế TNDN đã giúp môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng trở nên cạnh tranh hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới Cụ thể, mức thuế suất thuế TNDN từ 32% năm 1997 đã giảm xuống còn 28% năm 2003 và tiếp tục giảm còn 25% từ năm 2009

- Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2004, với mục tiêu đẩy mạnh thu hút vốn ĐTNN, chính sách ưu đãi đầu tư đối với khu vực có vốn ĐTNN đã dành

Trang 2

52

mức ưu đãi cao hơn hẳn cả thuế suất, thời gian miễn thuế, giảm thuế so với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước Cụ thể, đối với khu vực có vốn ĐTNN, tuỳ theo lĩnh vực, địa bàn đầu tư, doanh nghiệp được áp dụng thuế suất

ưu đãi 10%, 15% và 20% và miễn, giảm thuế tương ứng, trong đó mức miễn thuế tối đa là 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo

- Giai đoạn từ năm 2004 đến nay: Thời kỳ này các nhà ĐTNN được hưởng mức giá dịch vụ đầu vào bình đẳng như các nhà đầu tư trong nước Việc Quốc hội ban hành Luật thuế TNDN số 09/2003/QH11 ngày 17/6/2003 là một trong những văn bản luật đầu tiên thiết lập chế độ đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa ĐTNN và đầu tư trong nước, góp phần tạo lập cơ sở pháp lý đáp ứng điều kiện gia nhập WTO, tạo bước tiến mới về cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, tạo lập môi trường đầu tư bình đẳng, thuận lợi và hấp dẫn hơn Theo đó chính sách thuế TNDN quy định tại Luật thuế TNDN số 09/2003/QH11

và các văn bản hướng dẫn đã quy định áp dụng mức thuế suất thuế TNDN và mức ưu đãi miễn thuế, giảm thuế thống nhất cho tất cả các loại hình doanh nghiệp Đồng thời sau khi Luật thuế TNDN năm 2003 có hiệu lực thi hành thì các quy định về thuế TNDN bổ sung và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đã được bãi bỏ, điều này thể hiện quan điểm nhất quán của Việt Nam trong việc khuyến khích đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, ngày 13/6/2008 Quốc hội ban hành Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12 thay thế cho Luật Thuế TNDN số 09/2003/QH11 Việc cải cách chính sách ưu đãi thuế tại Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn thực hiện từ 01/01/2009 đến nay đã tạo sự chuyển biến tích cực trong phân bổ nguồn lực, thu hẹp diện ưu đãi theo ngành, lĩnh vực để khuyến khích và thu hút đầu tư có chọn lọc để phát triển các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tập trung vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm hoặc lĩnh vực xã hội hoá

Với các cải cách thuế có tính bước ngoặt nêu trên, giai đoạn từ năm

2004-2011 nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã tăng nhanh chóng với 9.500 dự án đầu tư, vốn đăng ký đạt 175 tỷ USD (gấp 3,2 lần giai đoạn 1988-2003), vốn thực hiện đạt 61,8 tỷ USD (gấp 2,3 lần giai đoạn 1988-2003) và đặc biệt từ năm 2007 số vốn ĐTNN thực hiện hàng năm đều đạt xấp xỉ 10 tỷ USD

(2) Về thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu:

Trang 3

53

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ra đời đã tạo lập khuôn khổ pháp lý trong việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần tạo nên một môi trường đầu tư chung và thuận lợi cho cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước

Trong 25 năm qua, sự phát triển mạnh của khu vực doanh nghiệp FDI, là một trong những thước đo đánh giá sức hấp dẫn của môi trường đầu tư của Việt Nam Ngoài việc góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, việc gia tăng xuất khẩu của khối các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là gia tăng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của khu vực này là rất đáng kể Một trong các yếu

tố góp phần vào việc gia tăng liên tục của khu vực công nghiệp và xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là chính sách ưu đãi được quy định trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Đầu tư nước ngoài, và các văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể là:

- Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công cho nước ngoài và khi xuất trả sản phẩm cho phía nước ngoài được miễn thuế xuất khẩu Hàng hóa xuất khẩu ra ngước ngoài để gia công cho phía Việt Nam được miễn thuế xuất khẩu và khi nhập khẩu trở lại được miễn thuế nhập khẩu trên phần trị giá của hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài để gia công theo hợp đồng

- Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa để tạo tài sản cố định đối với các

dự án đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, lĩnh vực khuyến khích đầu tư và các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; đối với dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA

- Miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 05 kể từ ngày bắt đầu sản xuất đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sản xuất của các dự án đầu tư và lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn;

- Chính sách hoàn thuế nhập khẩu và không thu thuế xuất khẩu đối với các sản phẩm xuất khẩu được xác định là sản xuất toàn bộ từ nguyên liệu nhập khẩu

Việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) cũng như việc tham gia ký kết 7 Hiệp định thương mại tự do trong khu

vực ASEAN (ATIGA; ASEAN - Trung quốc; ASEAN - Hàn Quốc; ASEAN- Ấn Độ; ASEAN- ÚC- Niu Dilan; ASEAN - Nhật Bản và Việt Nam - Nhật Bản) đã tạo

ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI mở rộng thị phần ra bên ngoài, tham ra sâu hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, việc thực hiện cắt giảm thuế quan hàng năm theo các cam kết trong WTO và trong khu vực ASEAN đối với các nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được đã tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp FDI nói riêng và

Trang 4

54

doanh nghiệp nói chung giảm chi phí đầu vào trong sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước so với hàng nhập khẩu

Với chính sách ưu đãi thuế xuất nhập khẩu nêu trên đã và đang củng cố lòng tin cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

và thu hút vốn đầu tư nước ngoài và công nghệ sản xuất hiện đại vào Việt Nam Hiện nay, mặc dù không còn duy trì một chính sách ưu đãi có phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng việc quan tâm, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc của các doanh nghiệp đầu

tư nước ngoài nhanh chóng, hiệu quả thông qua các buổi tọa đàm, đối thoại trực tiếp với các Hiệp hội, doanh nghiệp ĐTNN tại Việt Nam hoặc trả lời trực tiếp bằng văn bản để giải quyết các vướng mắc về thuế trong quá trình điều chỉnh chính sách xuất nhập khẩu, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã đóng góp một cách tích cực vào tăng trưởng kinh tế nói chung và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi tại Việt Nam cho các doanh nghiệp FDI nói riêng

Tạo nên một môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn luôn là một mục tiêu mà Chính phủ hướng tới với nỗ lực rất cao vì cải thiện môi trường đầu tư sẽ khuyến khích được các nguồn lực trong và ngoài nước tập trung cho đầu tư, phát triển kinh tế vì vậy, trong thời gian tới, chính sách xuất khẩu, nhập khẩu sẽ tiếp tục được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để khắc phục những bất cập phát sinh trong quá trình thực hiện nhằm tạo nên một hành lang pháp lý minh bạch và thuận tiện hơn rõ ràng hơn nữa, hiệu quả hơn nữa đối với hoạt động xuất nhập khẩu để không những khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, cải thiện tính cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế

(3) Về chính sách tài chính đất đai

Chính sách tài chính đất đai dần dần đã được hoàn thiện phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, về cơ bản đã đảm bảo công bằng giữa tổ chức trong nước

và tổ chức nước ngoài, cụ thể:

- Về hình thức sử dụng đất: Mặc dù Luật đất đai 2003 có sự phân biệt về hình thức sử dụng đất giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Doanh nghiệp nước ngoài được được lựa chọn hình thức thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê đất thu tiền thuê đất 1 lần cho cả thời gian thuê Doanh nghiệp trong nước được lựa chọn hình thức giao đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm Tuy nhiên, nghĩa vụ tài chính về thu tiền thuê đất trong trường hợp trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê (đối với doanh nghiệp nước ngoài) cũng tương đương với nghĩa vụ tài chính trong trường hợp được giao đất có thu tiền sử dụng đất (đối với doanh nghiệp trong nước)

Trang 5

55

- Về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất: Tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài được nhà nước cho thuê đất đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong quá trình sử dụng đất

- Về thời hạn thuê đất: Điều 67 Luật đất đai quy định chung về thời hạn cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư là không quá 50 năm, trường hợp đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn thì thời hạn không quá 70 năm (không phân biệt là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài);

- Về ưu đãi đầu tư: Các dự án đầu tư được hưởng mức ưu đãi giống nhau nếu dự án đầu tư được thực hiện trên cùng địa bàn ưu đãi đầu tư hoặc có cùng lĩnh vực ưu đãi đầu tư, cụ thể như sau:

+ Được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với toàn bộ dự án: (i) trong thời gian xây dựng theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; (ii) Nếu dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn kinh

tế - xã hội đặc biệt khó khăn

+ Kể từ ngày dự án hoàn thành đưa vào hoạt động, được miễn:

Ba (3) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư, tại cơ sở sản xuất kinh doanh mới của tổ chức kinh tế thực hiện di dời theo quy hoạch, di dời do ô nhiễm môi trường

Bảy (7) năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

Mười một (11) năm đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

Mười lăm (15) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự

án thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

1.2 Về cơ chế chính sách đối với lĩnh vực tài chính khác

Những năm đầu đổi mới để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tham gia thực hiện đầu tư sản xuất, kinh doanh, pháp luật về đầu tư, về thuế và tài chính khác có quy định chính sách ưu đãi riêng biệt đối với từng khu vực có vốn ĐTNN và khu vực có vốn đầu tư trong nước Tuy nhiên, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế nhanh và bền vững khi Việt Nam gia nhập WTO, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát sinh ngày càng nhiều khó khăn và thách thức, ngành Tài chính đã nỗ lực triển khai thực hiện các cam kết quốc tế và cam kết tài chính nói riêng nhằm đảm bảo việc tuân thủ nghĩa vụ của nước thành viên, góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế

Trang 6

56

quốc tế, ban hành kịp thời các cơ chế chính sách tài chính phù hợp, đồng bộ để đảm bảo hiệu lực thực thi và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đề xuất các giải pháp cấp thiết nhằm giảm thiểu rủi ro và bất cập trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Theo đó, cùng với các chính sách thuế quan trọng như thuế TNDN, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nêu trên, tại các văn bản thuế, tài chính khác cũng đảm bảo nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo không có sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước Điều này đã và đang liên tục củng cố lòng tin cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, các nhà đầu tư tiềm năng, là dấu hiệu tích cực đối với việc cải thiện môi trường đầu

tư thông thoáng, nhằm đạt được mục tiêu thu hút các nguồn lực trong nước và ngoài nước tập trung cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội Cụ thể:

a) Đối với dịch vụ bảo hiểm: từng bước thực hiện nghiêm túc các cam kết về:

- Cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới, cho phép thực hiện: Không duy trì hạn chế phân biệt đối xử quốc gia đối với bảo hiểm cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc ở Việt Nam; tái bảo hiểm; bảo hiểm vận tải quốc tế; môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm; dịch vụ đánh giá, tư vấn, định phí và giải quyết bồi thường

- Không áp dụng hạn chế tiếp cận thị trường (MA) hoặc hạn chế phân biệt đối xử quốc gia (NT) đối với phương thức cung cấp tiêu dùng ở nước ngoài

- Không áp dụng hạn chế phân biệt đối xử quốc gia (NT) và xóa bỏ hạn chế về phạm vi kinh doanh bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài khi cung cấp dịch vụ; Cho phép mở chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ phù hợp với quy định thận trọng theo phương thức hiện diện thương mại

b) Đối với dịch vụ chứng khoán:

- Đối với phương thức cung cấp qua biên giới: không áp dụng hạn chế tiếp cận thị trường (MA) với dịch vụ cung cấp thông tin tài chính và tư vấn, trung gian và dịch vụ phụ trợ - bảo lưu quyền áp dụng với các dịch vụ khác; bảo lưu quyền áp dụng hạn chế phân biệt đối xử quốc gia (NT);

- Đối với phương thức tiêu dùng ở nước ngoài không áp dụng hạn chế tiếp cận thị trường hoặc hạn chế phân biệt đối xử quốc gia (NT);

- Đối với phương thức hiện diện thương mại:

+ Cho phép mở liên doanh 49% vốn nước ngoài;

+ Cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Trang 7

57

+ Cho phép thành lập chi nhánh của doanh nghiệp chứng khoán nước ngoài cung cấp dịch vụquản lý tài sản, thanh toán bù trừ, cung cấp thông tin, tư vấn và dịch vụ phụ trợ

+ Không áp dụng hạn chế phân biệt đối xử quốc gia (NT)

c) Đối với dịch vụ kiểm toán, kế toán:

Nếu như thập kỷ 1991-2000 là thập kỷ hình thành thị trường dịch vụ Kế toán - Kiểm toán, thì thập kỷ 2001 - 2011 là thập kỷ thúc đẩy sự phát triển thị trường dịch vụ Kế toán - Kiểm toán của Việt Nam Trong giai đoạn 2001-2011,

lần đầu tiên trong lịch sử kế toán nước ta, Luật Kế toán đã được Quốc hội khoá

XI thông qua, có hiệu lực từ 01/01/2004 đã khẳng định rõ vai trò, nhiệm vụ, nguyên tắc, nội dung kế toán trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập Và đến nay khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán về cơ bản đã được xây dựng khá đầy đủ, toàn diện và tương đối hoàn thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường chuyển đổi của Việt Nam như ban hành hệ

thống 26 Chuẩn mực kế toán doanh nghiệp (VAS) trên cơ sở các chuẩn mực

kế toán quốc tế và chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IAS và IFRS), ban

hành mới các Chế độ kế toán cơ bản áp dụng cho các lĩnh vực trong nền kinh tế

quốc dân: Doanh nghiệp; Hành chính Sự nghiệp; Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa; Ngân sách và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước; Tài chính và Ngân sách xã;… và các Thông tư hướng dẫn thực hiện Chuẩn mực kế toán; …Ngoài ra, cũng xây dựng các Chế độ kế toán đặc thù phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật và điều kiện hoạt động của từng ngành, từng lĩnh vực cũng đã được xây dựng

Trong quan hệ và hợp tác quốc tế, Việt Nam cũng tham gia làm thành viên của các tổ chức lớn như Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), Hiệp hội Kế toán Đông Nam Á (AFA), Liên đoàn Kế toán Châu Á - Thái Bình Dương (CAPA)… thông qua đó để trao đổi, nắm bắt tình hình phát triển nghề nghiệp của quốc tế, khu vực, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức này trong việc tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ về Kế toán, Kiểm toán Mặt khác, kể từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, các văn bản về kế toán, kiểm toán cũng từng bước được sửa đổi, bổ sung để đảm bảo mục tiêu thực hiện đúng với cam kết WTO là không áp dụng hạn chế tiếp cận thị trường (MA) hoặc hạn chế phân biệt đối xử quốc gia (NT) đối với dịch vụ kiểm toán kế toán trên cả 3 phương thức (1) qua biên giới (2) tiêu dùng ở nước ngoài và (3) hiện diện thương mại

2 Thành tựu đã đạt được thời gian qua

Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê, tính từ năm 1988 đến nay đã có 14.998 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 230 tỷ USD và đã thực hiện được 89 tỷ USD đạt tỷ lệ 38,7%, cung cấp một nguồn lực đáng kể cho

sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

Trang 8

58

Với sự gia tăng hàng năm, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã góp phần đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế Thu Ngân sách nhà nước từ (NSNN) khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2010 đạt 215.672 tỷ đồng (không kể các khoản thu từ dầu thô, từ đất, phí và lệ phí), chiếm 10,5% tổng thu NSNN; 13,6% tổng thu nội địa; 17,9% thu nội địa trừ dầu thô và chiếm 12.9% thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn thu chủ yếu từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN là thuế TNDN, giá trị gia tăng và tiêu thụ đặc biệt

Thu ngân sách nhà nước theo các khu vực chi tiết từng năm

Đơn vị: Tỷ đồng

Stt CHỈ TIÊU 2006 2007 2008 2009 2010 GĐ 2006

-2010

2011

1 Tổng thu NSNN 279.472 327.911 430.549 454.786 559.170 2.051.887

2 Thu nội địa 228.750 261.628 329.679 341.249 423.570 1.584.875

3 Thu nội địa không

kể dầu thô 145.404 182.994 240.076 280.112 354.400 1.202.985

4 Thu từ HĐ SXKD 94.274 113.647 159.315 182.736 244.668 794.640

Trđó: - DNNN 46.344 50.180 71.835 84.049 111.922 364.330 126.944

- DN có vốn

ĐTNN 25.838 32.274 43.953 50.785 62.821 215.672

77563

- DN NQD 22.091 31.192 43.527 47.903 69.925 214.638 86.345

(Nguồn: Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính)

Phù hợp với tiến trình mở rộng khu vực ĐTNN, trong kết cấu số thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh số thu từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN có xu hướng tăng dần về tỷ trọng (tăng từ 15,66% năm 2000 lên 25,95% năm 2011)

Số thu từ doanh nghiệp FDI (không kể thu từ dầu thô) so với tổng thu nội địa tăng lên 14,3% (77.563 tỷ đồng) năm 2011 Trong số thu từ doanh nghiệp FDI, số thu chủ yếu là thuế giá trị gia tăng, thuế TNDN, thu về khí thiên nhiên, tuy nhiên có sự chuyển dịch về tỷ trọng giữa các sắc thuế: Năm 2007, thuế giá trị gia tăng chiếm 36,2% số thu từ doanh nghiệp FDI, TNDN 28%, thu từ khí thiên nhiên 11,3%; nhưng đến năm 2011, thuế GTGT chỉ chiếm 23,7%, thuế TNDN tăng lên 33.3% và thu từ khí thiên nhiên 31,8%

3 Một số vấn đề phát sinh liên quan đến doanh nghiệp có vốn ĐTNN

Với các chính sách ưu đãi về thuế, tài chính nêu trên, Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn đổ vào Việt Nam, tỷ trọng đóng góp vào GDP của khối doanh nghiệp này cũng ngày càng cao Tuy nhiên, theo đánh giá chung, việc kê khai, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của một số doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn chưa tương xứng với kỳ vọng của nhà nước đối với khối doanh nghiệp này Mặt khác, qua thời gian thực hiện cho thấy hiện tượng

Trang 9

59

các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ khá phổ biến, chiếm khoảng 50% tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên cả nước, trong đó nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ liên tục trong 3 năm Điển hình tại một số địa phương như Bình Dương,

số doanh nghiệp FDI kê khai lỗ năm 2010 là 754/1.490 doanh nghiệp (chiếm tỷ trọng 50,6%, trong đó có tới 200 doanh nghiệp lỗ quá vốn chủ sở hữu)

Theo tổng kết của Bộ Tài chính, trong khoảng 05 năm trở lại đây (2006-2010) các hành vi chuyển giá điển hình đã và đang diễn ra tại Việt Nam thường dưới các hình thức: chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản hữu hình giữa các bên liên kết, chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản vô hình giữa các bên liên kết, chuyển giá thông qua chuyển giao dịch vụ giữa các bên liên kết, chuyển giá

thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh giữa các bên liên kết Các

hành vi chuyển giá của doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là điều chuyển lợi nhuận từ nơi có thuế suất cao sang nơi có thuế suất thấp hơn để tránh thuế mà nó

còn bao gồm cả chiều ngược lại Qua công tác thanh tra đã phát hiện các hình

thức chuyển giá thông qua hoạt động giao dịch liên kết điển hình như: nâng vốn góp bằng việc nâng giá trị máy móc, thiết bị và công nghệ; bán hàng hoá, nguyên vật liệu thấp hơn nhiều so với giá bán cho các bên không có quan hệ liên kết; chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp liên kết tại Việt Nam; định giá tiền bản quyền thương hiệu rất cao so với giá trị thực; các tập đoàn, công ty mẹ tại nước ngoài ký hợp đồng sản xuất kinh doanh và dịch vụ với các công ty của các nước với đơn giá cao, sau đó giao lại cho công ty con tại Việt Nam theo giá

do công ty mẹ quy định rất thấp; hoặc công ty mẹ thực hiện hỗ trợ vốn hoặc cho công ty con tại Việt Nam vay vốn không tính lãi;

Để đảm bảo công tác quản lý về thuế, khắc phục tình trạng chuyển giá đã

và đang xảy ra ngày càng phổ biến gây thất thu cho NSNN Bộ Tài chính đã nghiên cứu xây dựng, ban hành các VBQPPL để quản lý về thuế trong trường hợp này, cụ thể:

- Thông tư số 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết

- Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết

Đồng thời, bước đầu nhằm hạn chế tình trạng này, ngành thuế đã triển khai các biện pháp kiểm tra, giám sát ngăn chặn các hành vi chuyển giá thông qua hoạt động giao dịch liên kết và thúc đấy hoạt động thanh tra chống chuyển giá đạt hiệu quả tốt hơn Thông qua việc đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, trong giai đoạn từ 2009-2011, hiện tượng chuyển giá đã được khắc phục đáng

kể Cụ thể, năm 2009, lợi nhuận trước thuế của khu vực doanh nghiệp FDI là 114.296 tỷ đồng, chiếm 36,4%, doanh nghiệp nhà nước là121.381 tỷ đồng,

Trang 10

60

chiếm 38,6% và doanh nghiệp ngoài quốc doanh 78.386 tỷ đồng, chiếm 25%, trong đó thuế TNDN từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN là 13.288 tỷ đồng, chiếm 21,5%, từ DNNN là 37.381 tỷ đồng, chiếm 60,4%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 11.245 tỷ đồng, chiếm 18,1%, thì qua thanh tra tại 921 doanh nghiệp

lỗ, doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá năm 2011, Bộ Tài chính đã xử lý giảm

lỗ 6.617 tỷ đồng, truy thu thuế và phạt 1.669 tỷ đồng

Việc tăng cường thanh tra chống chuyển giá nêu trên đã bước đầu tạo tác động đến các doanh nghiệp, theo đó, một số doanh nghiệp đã tự điều chỉnh hạch toán để giảm lỗ và có phát sinh thu nhập chịu thuế góp phần tích cực trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế, chống thất thu ngân sách nhà nước

4 Định hướng hoàn thiện chính sách thuế, tài chính giai đoạn tới

Ngày 18/4/2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 450/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược Tài chính đến năm 2020, theo đó Chiến lược tài chính được thực hiện theo 2 giai đoạn và cụ thể hóa thông qua 9 chiến lược ngành sau:

1 Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020;

2 Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020;

3 Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020;

4 Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 -

2020 và tầm nhìn đến năm 2030;

5 Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020;

6 Chiến lược phát triển thị trường vốn đến năm 2020;

7 Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011

- 2020;

8 Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2020;

9 Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030

Để thực hiện Chiến lược Tài chính, Bộ Tài chính đã chỉ đạo triển khai thực hiện trong toàn ngành để sớm đạt được các mục tiêu đã đề ra, trong đó hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống chính sách tài chính, thuế, hải quan … đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường

Mặt khác, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh cải cách và hiện đại hoá các lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó lĩnh vực thuế - hải quan là một trong những ưu tiên hàng đầu Trong phạm vi bài viết này xin nhấn mạnh một số nội dung định hướng về xây dựng, cải cách nhằm

Ngày đăng: 09/06/2016, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w