1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

ĐẦU tư nước NGOÀI TRONG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ tại VIỆT NAM

19 417 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 360,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó các dự án đầu tư vào các lĩnh vực này được hưởng các ưu đãi như: - Được miễn thuế nhập khẩu 05 năm đối với: Thiết bị, máy móc; phương tiện vận tải chuyên dùng; linh kiện, chi tiế

Trang 1

32

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG

NGHIỆP HỖ TRỢ TẠI VIỆT NAM

(Bộ Công Thương)

Phát triển Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là một trong những chính sách ưu

tiên hàng đầu của Chính phủ, được kỳ vọng sẽ làm thay đổi bộ mặt của ngành công nghiệp Việt Nam

Xét trên cả tầm nhìn trung và dài hạn ngành CNHT đóng một vai trò quan trọng bởi đây là luận điểm cần thiết để xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành công nghiệp Việt Nam Có thể nói, CNHT liên quan hầu hết tới các ngành công nghiệp chế tạo quan trọng như ôtô, xe máy, cơ khí, hóa dầu, điện, điện tử, chế tạo máy… không chỉ có các doanh nghiệp trong nước

mà ngay cả các doanh nghiệp FDI cũng gặp phải khó khăn do khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp hỗ trợ Việt Nam còn rất hạn chế, nhất là các linh kiện, phụ kiện đòi hỏi tính chính xác cao

Ngành công nghiệp hỗ trợ ở nước ta hiện nay chỉ mới ở giai đoạn đầu của

sự phát triển, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết đơn giản, giá trị gia tăng thấp và còn có sự chênh lệch về năng lực phụ trợ giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa của Việt Nam với các yêu cầu của các hãng sản xuất toàn cầu Hiện nay, ĐTNN trong lĩnh vực này chủ yếu là từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan Môi trường đầu tư trong lĩnh vực này còn hạn chế và các doanh nghiệp thực sự chưa tính toán được mức lợi nhuận so với chị phí đầu tư nên chưa mặn mà với hoạt động đầu tư tại Việt Nam

Báo cáo dưới đây đánh giá khái quát tổng quan về tình hình đầu tư nước ngoài trong phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, thực trạng và những định hướng đổi mới chính sách trong thời gian tới

Về cơ chế, chính sách cho phát triển công nghiệp hỗ trợ

Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để phát triển ngành CNHT như:

- Quyết định 12/2011/QĐ-TTg ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ

về chính sách phát triển một số ngành CNHT;

- Quyết định 1483/2011/QĐ-TTg ngày 26 tháng 8 năm 2011 về danh mục các sản phẩm CNHT được ưu tiên phát triển;

Trang 2

33

- Thông tư 96/2011/TT-BTC ngày 07 tháng 7 năm 2011 của Bộ Tài Chính

về Hướng dẫn thực hiện chính sách tài chính cho phát triển một số ngành CNHT;

- Quyết định 10/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 2009 của Chính phủ về

cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm đến năm 2015;

- Thông tư 214/2010/TT-BTC ngày 28/12/2010 của Bộ Tài Chính về Hướng dẫn chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi đối với vật tư, thiết bị nhập khẩu

để sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm;

- Nghị định 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu;

Nội dung của các văn bản nói trên gồm một số vấn đề cơ bản sau:

- Chính phủ Việt Nam khuyến khích phát triển CNHT đối với các ngành:

cơ khí chế tạo, điện tử tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; dệt may; da giày; CNHT cho phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao Theo đó các dự án đầu tư vào các lĩnh vực này được hưởng các ưu đãi như:

- Được miễn thuế nhập khẩu 05 năm đối với: Thiết bị, máy móc; phương tiện vận tải chuyên dùng; linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, giá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị vận tải chuyên dùng; nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được; cho các dự án thuộc danh mục lĩnh vực được ưu đãi đặc biệt (phụ lục I nghị định 87/2010/NĐ-CP)

- Miễn thuế cho các vật tư, thiết bị nhập khẩu để sản xuất các sản phẩm cơ khí trọng điểm, (Phụ lục I Quyết định 10/2009/QĐ-TTg )

- Được giảm thuế nhập khẩu đối với: Thiết bị, máy móc; phương tiện vận tải chuyên dùng; linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, giá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị vận tải chuyên dùng; nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được cho các dự án thuộc danh mục lĩnh vực được ưu đãi (Phụ lục I nghị định 87/2010/NĐ-CP

- Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho các dự án sản xuất sản phẩm CNHT cho phát triển công nghiệp công nghệ cao

- Ngoài ra, các dự án sản xuất sản phẩm CNHT được hưởng những cơ chế

ưu đãi đặc biệt Chủ đầu tư xây dựng dự án theo các quy định hiện hành, trong

Trang 3

34

đó đề xuất cụ thể các ưu đãi đặc biệt, gửi Hội đồng thẩm định dự án CNHT xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

Một số nét khái quát về tình hình phát triển CNHT ở Việt Nam

Do đặc thù phát triển với quy định nội địa hoá của Chính phủ và dung lượng thị trường hạ nguồn rất lớn, đến nay CNHT cung cấp cho ngành xe máy được coi là thành công nhất với việc hình thành một hệ thống các nhà cung ứng ngay trong nội địa Trong quá trình hợp tác, đã có sự chuyển giao công nghệ từ các công ty lắp ráp nước ngoài đến các doanh nghiệp Việt Nam cung ứng linh kiện Ngành cơ khí và nhựa cung cấp linh kiện cho xe máy, vì vậy, đã có những bước phát triển về trình độ kỹ thuật, quản lý và tay nghề lao động Mặc dù vậy, nhiều linh kiện chi tiết quan trọng với giá trị cao vẫn do các nhà cung ứng FDI thực hiện, doanh nghiệp sản xuất CNHT cho các ngành khác như điện tử, ô tô còn rất yếu kém

Tuy nhiên, nhìn chung CNHT ở Việt Nam hiện nay còn rất yếu, thiếu đồng bộ và chưa thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của ngành công nghiệp lắp ráp Ngoại trừ một số rất ít doanh nghiệp đã tham gia được vào sản xuất phụ trợ cho các công ty lắp ráp, phần lớn các doanh nghiệp vẫn không thể đáp ứng được yêu cầu của các công ty này

Đối với ngành công nghiệp cơ khí

Các doanh nghiệp CNHT ngành cơ khí chế tạo ở Việt Nam có số lượng ít

và không tập trung Một số lĩnh vực rất thiếu và yếu như đúc, nhiệt luyện Hiện nay cũng không có một cơ sở dữ liệu đầy đủ thông tin về các doanh nghiệp này

để nhà lắp ráp tìm hiểu khi cần Mặt khác hoạt động marketing của các doanh nghiệp cũng rất kém, chủ yếu dựa trên các mối quan hệ lâu dài Điều này làm cho các doanh nghiệp lắp ráp rất khó khăn khi muốn tìm kiếm các doanh nghiệp phụ trợ ngay tại Việt Nam

Cho đến nay CNHT cung cấp cho ngành xe máy được coi là thành công nhất với việc hình thành một hệ thống các nhà cung ứng ngay trong nội địa Tỷ

lệ nội địa hoá các loại xe gắn máy do trong nước sản xuất đã đạt khoảng 85-90% Hầu hết các linh kiện của xe số, kể cả linh kiện động cơ, đều đã được sản xuất trong nước Việt Nam hiện đã có hàng trăm doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện kim loại cho xe máy Các sản phẩm chính trong xe máy hầu hết

đã được sản xuất với số lượng lớn, đạt tiêu chuẩn của các nhà lắp ráp và tạo thành hệ thống cung ứng khá hiệu quả

Trang 4

35

Các doanh nghiệp sản xuất linh kiện kim loại cho ngành ô tô với sự tham gia của các nhà sản xuất lắp ráp ô tô đồng thời đầu tư sản xuất các linh kiện, phụ tùng và các nhà cung cấp linh kiện kim loại đã bước đầu cung ứng được một phần nhu cầu cho ngành ô tô

Lĩnh vực linh kiện, thiết bị phục vụ cho sản xuất thiết bị đồng bộ mà chiến lược phát triển ngành cơ khí hướng tới (bao gồm sản xuất máy móc thiết bị tàu thủy, điện, than, xi măng) đã đạt được một số thành tích tuy nhiên ngành cơ khí mới tham gia sản xuất được một phần sản phẩm phi tiêu chuẩn, chiếm khoảng 20% trong tổng giá trị thiết bị Trong đó, ngành cơ khí trong nước đã chế tạo được 50 - 70% khối lượng của một số thiết bị tiêu chuẩn như thiết bị vận chuyển bao gồm gầu nâng, vít tải, băng tải thiết bị kho bãi như thiết bị chất liệu, dỡ liệu, thiết bị lọc bụi… Các nhà thầu Việt Nam hầu như không tự sản xuất được các loại máy móc thiết bị chính phục vụ cho các dự án lớn, phần máy móc thiết bị có giá trị, mang lại lợi nhuận cao của các nhà máy điện, xi măng hay dầu khí chủ yếu được các nhà thầu Việt Nam giao cho các nhà thầu phụ nước ngoài đảm nhiệm

Về năng lực công nghệ kỹ thuật, ngoại trừ một số ít doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp FDI được trang bị công nghệ, máy móc hiện đại và hoàn chỉnh, đa số doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ, máy móc cũ, lạc hậu vì vậy chưa đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của nhà lắp ráp

Ngành công nghiệp điện - điện tử

Mặc dù công nghiệp điện tử của Việt Nam khá phát triển trong những năm vừa qua, công nghiệp sản xuất linh phụ kiện điện tử vẫn chưa có bước phát triển tương xứng Trong tổng thể công nghiệp điện tử Việt Nam, lĩnh vực sản xuất linh phụ kiện điện tử chỉ chiếm 21,5% tổng vốn đầu tư của ngành, không đủ mạnh để cung ứng linh kiện cho lĩnh vực sản xuất các sản phẩm điện tử gia dụng chiếm 67% và điện tử chuyên dụng 11,5% tổng vốn đầu tư

Số lượng doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử đã có sự gia tăng khá nhanh trong thời gian qua, đến năm 2010, ước tính có khoảng trên 300 doanh nghiệp tham gia sản xuất linh kiện điện tử với số vốn lên tới trên 32 nghìn tỷ đồng và sử dụng khoảng 70 nghìn lao động

Sản phẩm các loại linh kiện phụ tùng điện tử của Việt Nam khá đa dạng bao gồm nhiều chủng loại từ linh kiện cơ bản tới các cụm linh kiện phức tạp, có

Trang 5

36

giá trị cao với sự tham gia của các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước

Các doanh nghiệp FDI chủ yếu đầu tư lắp ráp các sản phẩm linh kiện, cụm linh kiện điện tử với số lượng lớn như bảng mạch các loại, bo mạch điện tử, chíp điện tử, cuộn cảm điều hòa, tủ lạnh, các linh kiện cho điện thoại di động, Một phần nhỏ những linh kiện này được cung ứng cho các doanh nghiệp trong nước, còn lại phần lớn là xuất khẩu Các sản phẩm chính của doanh nghiệp Việt Nam là mạch in, đèn hình tivi, đế mạch in, tụ điện các loại, cuộn cao áp, cuộn cảm, cuộn lái tia, các chi tiết nhựa, các chi tiết cơ khí cho lắp ráp đèn hình, các loại ăng-ten, các chủng loại bao gói (thùng, xốp chèn) Phần lớn những linh kiện này được cung ứng cho các doanh nghiệp FDI trong nước, xuất khẩu rất hạn chế

Hiện nay cũng đã có một số dự án lớn đầu tư tại Việt Nam để sản xuất và lắp ráp sản phẩm điện tử do các tập đoàn đa quốc gia thực hiện Trong đó có những tập đoàn lớn, có tên tuổi trong công nghiệp điện tử thế giới: Intel (Mỹ), Nidec (Nhật Bản), Foxconn (Đài Loan), Samsung (Hàn Quốc), Nokia (Phần Lan) Các tập đoàn này hầu hết đều có sản xuất các sản phẩm linh kiện, cụm linh kiện điện tử cho sản phẩm, chủ yếu là các chi tiết mang bí quyết công nghệ, đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như tính đổi mới cao Các doanh nghiệp FDI quy

mô nhỏ và vừa chuyên sản xuất linh kiện cho các doanh nghiệp lắp ráp lớn cũng rất tích cực đầu tư sản xuất ở Việt Nam, trong đó, hệ thống các nhà cung ứng là các doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đầu tư theo các doanh nghiệp lắp ráp được đánh giá là phát triển khá mạnh

Các doanh nghiệp FDI bao gồm cả các tập đoàn lớn sản xuất linh kiện chuyên dụng và các nhà sản xuất phụ trợ nhỏ và vừa khi sản xuất tại Việt Nam thường cũng chỉ thực hiện tích hợp các thành phần tạo thành sản phẩm cụm linh kiện trên cơ sở nhập khẩu các sản phẩm điện tử cơ bản như bảng mạch, các linh kiện bán dẫn… do năng lực sản xuất các loại sản phẩm này trong nước không đáp ứng được yêu cầu, các nhà sản xuất phụ trợ lớp 2, 3 cho công nghiệp điện tử hầu như không có

Hiện nay ở Việt Nam chưa sản xuất được những linh kiện đòi hỏi trình độ công nghệ cao như các linh kiện bán dẫn, linh kiện cơ khí điện tử, quang điện tử… Muốn phát triển sản xuất các loại linh kiện này cần có vốn đầu tư lớn và phải có thị trường tiêu thụ lớn, ổn định nhưng cả hai yêu cầu trên đang là những thách thức mà các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt Tuy nhiên, với sự tập trung đầu tư của các tập đoàn công nghiệp điện tử lớn trên thế giới vào Việt Nam trong những năm gần đây, thị trường cho lĩnh vực này đã có dung lượng khá lớn, có thể hy vọng các công ty, trước hết là các công ty FDI, sẽ đầu tư vào sản xuất các loại linh kiện này phục vụ cho các nhà lắp ráp hiện có

Trang 6

37

Các loại sản phẩm điện –điện tử cung cấp cho các ngành sản xuất lắp ráp khác còn kém phát triển Trong đó, đáng kể nhất là lĩnh vực sản xuất linh kiện điện - điện tử cung ứng cho ngành ô tô, xe máy, với hệ thống các doanh nghiệp cung ứng khá lớn, chủ yếu là doanh nghiệp FDI cung cấp linh kiện điện- điện tử cho ngành xe máy, phân bố chủ yếu ở Hà Nội, Hải Phòng và Đồng Nai Các doanh nghiệp FDI này là những nhà cung ứng nằm trong hệ thống cung ứng toàn cầu của các "Công ty mẹ" nên sản phẩm làm ra chủ yếu xuất khẩu theo những hợp đồng trong hệ thống cung ứng chung, chỉ một phần nhỏ cung ứng cho các doanh nghiệp lắp ráp ô tô tại Việt Nam Các lĩnh vực sản xuất linh kiện điện- điện tử cho các lĩnh vực khác như sản xuất thiết bị đồng bộ, cơ khí chuyên dụng, công nghiệp công nghệ cao còn kém phát triển

Trang 7

38

Ngành công nghiệp dệt may, da giày

Máy móc, thiết bị sản xuất: Hầu hết các dây chuyền và thiết bị sản xuất của ngành dệt may, da giày hiện nay của Việt Nam đều nhập của Hàn Quốc và Đài Loan Hầu như chưa có các doanh nghiệp trong nước sản xuất các máy móc chuyên phục vụ sản xuất các ngành này, Tập đoàn dệt may Việt Nam trước đây cũng đã có nhà máy sản xuất các loại máy móc này song hiện nay đã dừng sản xuất để tập trung vào những khâu sản xuất có thế mạnh

Nguyên vật liệu, phụ liệu: Sản xuất sợi của Việt Nam phát triển khá nhanh trong thời gian gần đây, các loại sợi thông dụng đã đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, các loại sợi tổng hợp, sợi pha với tỷ lệ khác nhau cũng đã bắt đầu được sản xuất, hiện đã xuất khẩu được khoảng 1,8 tỷ USD sản phẩm sợi đi các nước Bước sang thời kỳ tăng tốc, ngành dệt may đã liên doanh với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đầu tư 320 triệu USD xây dựng nhà máy sản xuất xơ polyeste ở Ðình Vũ (Hải Phòng), công suất 160 nghìn tấn/năm Cùng với xây dựng Nhà máy sản xuất xơ Fomosa (Ðài Loan) tại KCN Nhơn Trạch, công suất 60 nghìn tấn/năm, dự kiến đến 2015, sản xuất xơ trong nước sẽ đáp ứng được 80-90% nhu cầu xơ của ngành dệt may

Trong khâu dệt vải, nhiều mặt hàng dệt thoi mới, chất lượng cao đã bắt đầu được sản xuất Đối với thuốc nhuộm: toàn bộ số thuốc nhuộm hiện đang sử dụng đều phải nhập khẩu; Tỷ lệ chất trợ và hoá chất cơ bản trong nước sản xuất cung cấp cho ngành dệt chiếm từ 5-15% nhưng hầu hết là những sản phẩm có giá trị thấp, mặc dù về số lượng nhiều nhưng giá trị chỉ đạt 4,55% tổng nhu cầu của ngành dệt

Tại Việt Nam hiện đã có các cơ sở sản xuất một số chủng loại phụ liệu chính như: chỉ may, bông tấm, mếch dính, cúc nhựa, khóa kéo, băng chun, nhãn mác, bao bì đáp ứng được một phần nhu cầu của thị trường nội địa

Những năm gần đây, ngành sản xuất giày trong nước phát triển nhanh khiến nhu cầu cung ứng nguyên phụ liệu sản xuất giày tăng mạnh Nhiều cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu đã ra đời Tuy nhiên các cơ sở trên được hình thành tự phát và còn nhỏ lẻ nên hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm còn hạn chế Nhiều doanh nghiệp thuộc da đã đầu tư công nghệ thiết bị tiên tiến của

Ý, Hà Lan để cung cấp các loại da thuộc bảo đảm tiêu chuẩn cho sản phẩm xuất khẩu Tuy nhiên, nguyên liệu da thô vẫn còn phải nhập khẩu từ nước ngoài là chủ yếu Tương tự như vậy, mặc dù Việt Nam có tiềm năng về cao su, chất dẻo nhưng

tỉ lệ sử dụng nguyên liệu trong nước chỉ đạt 40%; 60% còn lại đều nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc với số lượng và giá cả rất cạnh tranh

Ngành công nghiệp hóa chất

Trang 8

39

Trong hệ thống sản xuất CNHT, các sản phẩm bằng nhựa và cao su đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng cho lắp ráp các ngành như điện tử gia dụng, xe máy, ô tô… Đây cũng là lĩnh vực mà Việt Nam đã khá phát triển tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức cung ứng các sản phẩm kích thước lớn, giá trị thấp Sản xuất trong nước (cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI) đã đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước về các loại sản phẩm có kích thước lớn, các sản phẩm linh kiện cao cấp được sản xuất rất hạn chế ở một số doanh nghiệp FDI Các doanh nghiệp ngành nhựa, cao su chủ yếu chỉ sản xuất sản phẩm cung ứng cho các ngành xe máy, điện tử gia dụng là các ngành hạ nguồn tương đối phát triển, một số cho ngành ô tô và xuất khẩu, các sản phẩm phục vụ phát triển công nghiệp CNC rất ít Các doanh nghiệp tập trung chủ yếu ở khu vực Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh

Năng lực cung ứng khuôn mẫu cho sản xuất sản phẩm nhựa, cao su còn rất hạn chế, do hạn chế về năng lực thiết kế và chế tạo, Việt Nam hiện mới chỉ đáp ứng được một phần sản phẩm khuôn mẫu phục vụ cho chế tạo các sản phẩm

có thiết kế đơn giản, yêu cầu kỹ thuật không cao Khuôn mẫu do doanh nghiệp trong nước sản xuất thường có lượng dư gia công lớn, độ bền thấp Với những sản phẩm khuôn phức tạp, có yêu cầu kỹ thuật cao (để sản xuất linh kiện cho máy giặt, tủ lạnh, điều hoà, ô tô, xe máy…) hầu hết đều phải nhập bán thành phẩm hoặc nhập khuôn từ nước ngoài

Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào CNHT ở Việt Nam

Đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp

Theo số liệu tổng hợp và phân tích từ nguồn thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, từ năm 2000 đến tháng 7 năm 2012, trên cả nước có 12.370 dự án FDI còn hiệu lực đang hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, với tổng số vốn đầu tư là 109,7 tỉ USD

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hiện đã có giá trị sản xuất khá lớn, chiếm tới trên 41% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trong năm 2011 Với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định (bình quân 16,9%/năm trong giai đoạn 2001-2005

và 16,3%/năm trong giai đoạn 2006-2011), khu vực này đã đóng vai trò quan trọng trong sản xuất công nghiệp của Việt Nam

Bảng 1 Đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực công nghiệp

từ năm 2000 đến tháng 7/2012

STT Ngành công nghiệp Số lượng

doanh nghiệp %

Tổng số vốn đầu tư

1 Cơ khí 6738 54.5% 45,254,128,802 41.2%

Trang 9

40

3 Hóa chất 1088 8.8% 19,002,804,308 17.3%

4 Chế biến NLTHSTP và

đồ uống 1133 9.2% 7,440,151,920 6.8%

5 Dệt may - Da giày 1417 11.5% 10,263,792,618 9.4%

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của Cục đầu tư nước ngoài, 2012

Ngành công nghiệp cơ khí chiếm tỉ trọng thu hút đầu tư nước ngoài cao nhất, với 54,5% số lượng các dự án và 41,2% tổng số vốn đầu tư vào toàn ngành công nghiệp Mặc dù nhà đầu tư nước ngoài quan tâm mạnh đến các lĩnh vực cơ khí, các dự án luyện kim sản xuất vật liệu kim loại phục vụ cơ khí chiếm tỉ trọng nhỏ nhất trong thu hút đầu tư nước ngoài, cả về số lượng và vốn đầu tư, với 95

dự án, chiếm 0,8% tổng số dự án và 9,2 tỉ USD chiếm 8,2% tổng vốn đầu tư Mặc dù các dự án cơ khí khá lớn nhưng nhu cầu tiêu thụ thép chế tạo vẫn thấp

đã không đủ sức hút để doanh nghiệp nước ngoài đầu tư sản xuất thép chế tạọ tại Việt Nam

Do có một số dự án khá lớn nên các doanh nghiệp FDI ngành công nghiệp hóa chất chiếm tỉ trọng vốn đầu tư 17,3%, đứng vị trí thứ 2, chỉ sau ngành cơ khí Tương tự như vậy, ngành công nghiệp điện tử chỉ có 714 dự án (chiếm hơn 5% tống số dự án) nhưng có tỉ trọng vốn đầu tư gần 10%, đứng vị trí thứ 3 trong thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp Nhờ các doanh nghiệp này mà kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm điện tử (không kể điện thoại di động) của Việt nam năm 2011 là 4,2 tỉ USD, đứng thứ 3 trong bảng xuất khẩu Dệt may và Da giày thu hút số vốn đầu tư gần tương đương như công nghiệp điện tử, nhưng với gấp đôi số lượng doanh nghiệp, 1417 chiếm 11,5% tổng số dự án đầu

tư nước ngoài Mặc dù vốn đầu tư thấp, các doanh nghiệp này đóng góp quan trọng vào việc dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu quốc gia của ngành dệt may trong vài năm trở lại đây Khu vực chế biến nông lâm thủy hải sản thực phẩm và đồ uống có tổng số vốn đầu tư thấp nhất, chỉ chiếm 6,8% tổng vốn đầu tư với 1133 doanh nghiệp trên toàn quốc

Trang 10

41

Như vậy, bức tranh đầu tư nước ngoài trong giai đoạn vừa qua đã phần nào phản ánh cơ cấu các ngành công nghiệp của Việt Nam Các ngành thâm dụng vốn là cơ khí, hóa chất, điện tử hiện đã được các doanh nghiệp có vốn ĐTNN quan tâm và đã có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Khu vực các ngành ít thâm dụng vốn như Dệt may, Da giày, Chế biến NLTHSTP và đồ uống

đã thu hút được số lượng dự án đáng kể, góp phần giải quyết việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu quốc gia

Ngày đăng: 09/06/2016, 23:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:  Thống kê đầu tư trực tiếp nước ngoài vào CNHT ở Việt Nam phân - ĐẦU tư nước NGOÀI TRONG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ tại VIỆT NAM
Bảng 2 Thống kê đầu tư trực tiếp nước ngoài vào CNHT ở Việt Nam phân (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w