1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bai giang môn tài chính tiền tệ

102 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 840 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ Tiền tệ và tài chính là những phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất và lưu thông hành hóa. Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, cũng như trên phạm vi quốc tế; đặc biệt trong nền kinh tế thị trường nền kinh tế được tiền tệ hóa cao độ. Để thấy rõ vai trò đó, chương này cho phép chúng ta hiểu một cách cơ bản: Tiền tệ là gì? Tiếp đến là nhận thức được quá trình ra đời, phát triển và các chức năng của tiền tệ. Đồng thời cũng cho thấy một cách khái quát về tiền tệ hiện nay được đo lường như thế nào? Và chúng ta biết được tài chính được biểu hiện thông qua những quan hệ kinh tế chủ yếu nào? I. LỊCH SỨ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ 1. Khái quát quá trình phát triển của tiền tệ Sự ra đời của tiền tệ gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trong thời kỳ đầu chế độ cộng sản nguyên thuỷ với công cụ lao động thô sơ người ta tự cung cấp cho nhau số sản phẩm ít ỏi thu về sau một ngày săn bắn, hái lượm. Khi đời sống cộng đồng phát triển ý thức phân công lao động được hình thành và với lượng sản phẩm dư thừa này đã làm nảy sinh quan hệ trao đổi giữa các thị tộc. Trong giai đoạn này trao đổi mang tính ngẫu nhiên và được thực hiện bằng cách trao đổi trực tiếp (HH). Đây là một bước tiến lớn để xã hội công xã thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp. Tuy nhiên, ở hình thức trao đổi này vì hai giai đoạn mua và bán cùng thống nhất trong một quá trình nên đôi bên mua và bán phải có nhu cầu phù hợp về hàng hoá như: người có thóc muốn đổi vải song ngược lại người có vải cũng đang cần có thóc. Như vậy, việc thực hiện giá trị hàng hoá phụ thuộc vào giá trị sử dụng của hàng hoá. Ngoài ra, trong hình thức trao đổi này người ta còn phải thoả thuận về tỷ lệ giá trị của hàng hoá, về số lượng hàng hoá...với những bất tiện của trao đổi hiện vật nêu trên, nên hình thức này chỉ phù hợp trong giai đoạn nền sản xuất còn sơ khai và quan hệ trao đổi chưa mở rộng. Cùng với việc cải tiến công cụ lao động và quá trình phân công lao động xã hội ngày một sâu hơn, nền sản xuất hàng hoá phát triển mạnh do đó quan hệ trao đổi không còn ngẫu nhiên, không chỉ dựa trên sự định giá giản đơn. Mặt khác, hàng hoá trên thị trường đã phong phú và đa dạng hơn đòi hỏi phạm vi trao đổi cần được mở rộng hơn. Để giải quyết khó khăn trên người ta đã đặt ra vật trung gian làm phương tiện trao đổi nghĩa là hai giai đoạn mua bán được tách thành hai quá trình độc lập. H vật trung gian H Có thể nói sự ra đời của vật trung gian trao đổi đánh dấu giai đoạn mở đầu cho sự xuất hiện của tiền tệ đồng thời là bước chuyển hoá từ nền kinh tế đổi chác sang nền kinh tế tiền tệ. Trải qua tiến trình phát triển, tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của đời sống kinh tế.

Trang 1

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ

Tiền tệ và tài chính là những phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất và lưu

thông hành hóa Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, cũng như trên phạm vi quốc tế; đặc biệt trong nền kinh tế thị trường - nền kinh tế được tiền tệ hóa cao độ

Để thấy rõ vai trò đó, chương này cho phép chúng ta hiểu một cách cơ bản: Tiền tệ là gì? Tiếp đến là nhận thức được quá trình ra đời, phát triển và các chức năng của tiền tệ

Đồng thời cũng cho thấy một cách khái quát về tiền tệ hiện nay được đo lường như thế nào? Và chúng ta biết được tài chính được biểu hiện thông qua những quan hệ kinh tế chủ yếu nào?

I LỊCH SỨ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ

1 Khái quát quá trình phát triển của tiền tệ

Sự ra đời của tiền tệ gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá Trong thời kỳ đầu chế độ cộng sản nguyên thuỷ với công cụ lao động thô sơ người

ta tự cung cấp cho nhau số sản phẩm ít ỏi thu về sau một ngày săn bắn, hái lượm Khi đời

sống cộng đồng phát triển ý thức phân công lao động được hình thành và với lượng sản

phẩm dư thừa này đã làm nảy sinh quan hệ trao đổi giữa các thị tộc Trong giai đoạn này

trao đổi mang tính ngẫu nhiên và được thực hiện bằng cách trao đổi trực tiếp (H-H') Đây

là một bước tiến lớn để xã hội công xã thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp Tuy nhiên, ở hình thức trao đổi này vì hai giai đoạn mua và bán cùng thống nhất trong một quá trình nên đôi bên mua và bán phải có nhu cầu phù hợp về hàng hoá như: người có thóc muốn

đổi vải song ngược lại người có vải cũng đang cần có thóc Như vậy, việc thực hiện giá

trị hàng hoá phụ thuộc vào giá trị sử dụng của hàng hoá Ngoài ra, trong hình thức trao đổi này người ta còn phải thoả thuận về tỷ lệ giá trị của hàng hoá, về số lượng hàng hoá với những bất tiện của trao đổi hiện vật nêu trên, nên hình thức này chỉ phù hợp trong giai đoạn nền sản xuất còn sơ khai và quan hệ trao đổi chưa mở rộng Cùng với việc cải tiến công cụ lao động và quá trình phân công lao động xã hội ngày một sâu hơn, nền sản xuất hàng hoá phát triển mạnh do đó quan hệ trao đổi không còn ngẫu nhiên, không chỉ dựa trên sự định giá giản đơn Mặt khác, hàng hoá trên thị trường đã phong phú và đa dạng hơn đòi hỏi phạm vi trao đổi cần được mở rộng hơn Để giải quyết khó khăn trên người ta đã đặt ra vật trung gian làm phương tiện trao đổi nghĩa là hai giai đoạn mua - bán được tách thành hai quá trình độc lập

H - vật trung gian - H

Có thể nói sự ra đời của vật trung gian trao đổi đánh dấu giai đoạn mở đầu cho sự xuất hiện của tiền tệ đồng thời là bước chuyển hoá từ nền kinh tế đổi chác sang nền kinh

tế tiền tệ Trải qua tiến trình phát triển, tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức để đáp ứng

yêu cầu ngày càng đa dạng của đời sống kinh tế

2 Các thời kỳ phát triển của tiền tệ

- Tiền tệ dưới dạng hàng hóa

Trong thời kỳ đầu vật trung gian trao đổi thường được chọn từ một loại hàng hóa có

có giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người, có thể bảo tồn lâu ngày đồng thời mang tính chất phổ biến, đặc trưng cho địa phương, khu vực nơi diễn ra quan hệ trao đổi

Vì vậy, trong lịch sử đã có nhiều mặt hàng được sử dụng lúc này hay lúc khác để làm phương tiện trao đổi Thời cổ đại ở Trung Quốc đã từng dùng lúc thì da, lúc thì vỏ

Trang 2

trai, gạo, vải làm vật ngang giá Ơ Hy lạp, La mã đã dùng súc vật, ở Tây tạng, Mông cổ,

Indonesia dùng chè Và cho đến hiện nay ở một số bộ lạc thổ dân châu Phi, châu Úc dùng cá khô, thuốc lá làm vật trung gian trao đổi

Tuy nhiên, tiền tệ dưới dạng hàng hóa dẫn đến nhiều bất lợi, ví dụ như gia súc khó phân chia những tỉ lệ trao đổi, chất lỏng (Dầu) thì có thể chia nhỏ như ý muốn song lại khó bảo quản Mặt khác, theo đà phát triển của nền sản xuất, sự hình thành một thị

trường rộng lớn không giới hạn chỉ trong khuôn khổ một địa phương đã đòi hỏi vật trung

gian cần mang tính chất phổ biến, đồng nhất, dễ phân chia Đo đó, các loại hàng hóa thông thường được dùng làm tiền tệ dần dần bị đào thải nhường chỗ cho thời kỳ sử dụng tiền kim khí

- Tiền tệ kim loại

Cùng với sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai, thủ công nghiệp tách khỏi

nông nghiệp, vai trò tiền tệ chuyển dần sang các kim loại.

Kim loại được sử dụng là tiền tỏ rõ ưu thế hơn so với các hàng hóa khác Trong lịch

sử sắt, đồng, bạc vàng đã từng là tiền, thời kỳ tiền kim loại tồn tại khá lâu Trong giai đoạn đầu để thanh toán cho nhau người ta thường phải cân, đong những lượng kim loại phù hợp Để tạo điều kiện dễ dàng một số thương nhân đã tự in đúc tiền và sau này nhà nước chính thức ban hành tiêu chuẩn giá cả cho đồng tiền quốc gia và thống nhất kỹ thuật

in đúc tiền để đảm bảo uy tín, tính chất pháp lý của đồng tiền đồng thời chứng thực quyền lực của nhà nước

Khi chủ nghĩa tư bản hình thành, nền sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển mạnh

mẽ đòi hỏi vật trung gian trao đổi phải có giá trị cao, tồn tại như một hình thức được nhiều người chấp nhận và phải có độ bền để bảo tồn giá trị theo thời gian Từ đó vàng và bạc đã loại dần các kim loại kém giá, dễ bị gỉ sét để trở thành tiền kim loại phổ biến trong khoảng thế kỷ 18 và 19 Trong giao đoạn này có những nước đã thực hiện chế độ song bản vị là cùng thừa nhận vàng và bạc là tiền tệ trong lưu thông Tuy nhiên, cùng tồn tại bên cạnh vàng, vai trò của bạc trong lưu thông bị giảm sút không chỉ về hình thức bạc dễ

bị sĩn mà giá trị quý hiếm của vàng trên thị trường ngày càng cách xa khoảng cách với bạc

Cho đến cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 khi giá trị bạc trên thị trường bị giảm mạnh hầu hết các nước Phương Tây đã áp dụng chế bản vị vàng và trong mối quan hệ giao thương bị phụ thuộc nhiều vào Châu âu nên sau đó các nước Châu á như Nhật, Ấn độ, các nước Đông Dương, Trung Quốc cũng lần lượt chuyển sang chế độ bản vị vàng Sử dụng tiền kim loại mặc dù cũng có những ưu điểm so với hóa tệ không kim loại nhưng cũng có những hạn chế như cồng kềnh, khó chuyên chở Mặt khác, với quy mô Sản xuất

và trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển đòi hỏi sự gia tăng của phương tiện trao đổi trong khi nguồn vàng dự trữ không đủ đáp ứng Do đó, thay vì dùng vàng trực tiếp là tiền, các nước đã có xu hướng chuyển sang sử dụng tiền dấu hiệu ngày càng phổ biến hơn

- Tiền giấy - Tiền tín dụng

Tiền giấy chỉ là một loại tiền dấu hiệu nên để được sử dụng là phương tiện trao đổi phải dựa vào sự tín nhiệm của con người

Lúc đầu những tờ giấy bạc ngân hàng là những dấu hiệu đại diện cho vàng đáng lẽ phải có trong lưu thông Những giấy bạc ngân hàng đó được tự do chuyển đổi ra vàng theo luật định, về sau do ngân hàng phát hành ra nhiều giấy bạc hơn so với số vàng dự trữ, làm cho nó không còn được tự do chuyển đổi ra vàng, thời đại ngày nay, việc sử

Trang 3

dụng tiền giấy đã trở thành phổ biến, do tính thuận tiện của nó trong việc làm phương tiện trao đổi hàng hóa, đó là:

- Dễ mang theo để làm phương tiện trao đổi hàng hóa, dễ thanh toán nợ.

- Thuận tiện khi thực hiện chức năng phương tiện dự trữ của cải dưới hình thức giá trị

Bằng cách thay đổi các con số trên mặt đồng tiền, một lượng giá trị lớn hay nhỏ được biểu hiện

- Các hình thức khác của tiền tệ

+Tiền qua ngân hàng (bút tệ): thông qua bút toán chuyển khoản hoặc thanh toán bù trừ trên tài khoản ký thác Sự ra đời của tiền ghi sổ cùng với các chứng từ thanh toán như séc giấy chuyển ngân, giấy nhờ thu làm đa dạng các phương tiện thanh toán bằng tiền mặt, đồng thời còn tạo điều kiện giảm bớt những chi phí lưu hành tiền giấy Vì vậy, việc

sử dụng tiền qua ngân hàng được coi là xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế phát triển

+Tiền điện tử: các loại thẻ thanh toán

II BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ

1 Bản chất của Liền tệ

Qua quá trình phát triển của tiền tệ cho thấy tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức

từ những dạng hoá tệ, kim tệ và ngày nay chủ yếu là thời đại của tiền giấy và tiền qua ngân hàng là những loại tiền hoàn toàn dựa trên sự tín nhiệm không có giá trị bản thân

Do vậy, đã hình thành nhiều quan điểm khi nghiên cứu thực chất của tiền tệ

Học thuyết tiền tệ kim thuộc ra đời từ thế kỷ 16 với đại diện là Thomas-men 1641) đã khẳng định rằng: vàng, bạc tự nhiên là tiền tệ Vàng, bạc là của cải chính tông Với sự đề cao quá mức tiền kim loại trường phái này đã nhận định sai lầm rằng chỉ có kim loại quý mới thực hiện chức năng của tiền tệ

(1576-Đến thế kỷ 18 khi các loại tiền dấu hiệu như tiền giấy, tiền tín dụng ra đời nhưng vẫn phục vụ cho trao đổi thì trường phái tiền tệ duy danh lại đề cao tiền dấu hiệu, họ cho rằng, tiền giấy và tiền kim loại là như nhau chỉ là dấu hiệu thanh toán hay nhãn hiệu mà nhờ đó hàng hoá được lưu thông, từ đó họ kết luận: tiền tệ chỉ là một công cụ kỹ thuật tiện cho trao đổi hàng hoá, nó chỉ là đơn vị tính toán trừu tượng nên bản thân tiền tệ không cần có giá trị nội tại và nhà nước hoàn toàn có thể phát hành tiền giấy và những dấu hiệu quy ước là có thể phục vụ cho trao đổi

K.Marx dưới cái nhìn của nhà biện chứng ông đã nghiên cứu nguồn gốc ra đời của tiền tệ qua sự phát triển của các hình thái và đã khẳng định: tiền tệ có nguồn gốc từ hàng hoá, từ thế giới hàng hoá tách ra Ông đã chỉ ra rằng vàng chỉ trở thành tiền tệ trong những điều kiện lịch sử nhất định trước khi là tiền tệ và sau khi được thừa nhận đóng vai trò là tiền tệ thì vàng vẫn giữ nguyên bản chất là hàng hoá Ngày nay học thuyết tiền tệ của K.Marx vẫn mang giá trị lý luận rất lớn để chúng ta nghiên cứu và vận dụng sáng tạo.Bước vào thế kỷ 20 cùng với sự phong phú của đời sống kinh tế khi đề cập đến tiền tệ người ta không nhìn nó một cách hạn hẹp và giản đơn rằng tiền tệ chỉ là tiền kim loại hay

là tiền giấy mà đã xem xét tiền tệ ở giác độ rộng hơn kể cả các loại séc, số dư tiền gửi tại ngân hàng nếu chúng có thể chuyển đổi dễ dàng thành tiền mặt thì cũng có thể xem là tiền và ngay cả các loại chứng khoán cũng được hiểu là tiền theo nghĩa rộng

Trên quan điểm toàn diện và có chọn lọc, chúng ta đưa khái niệm về tiền tệ như sau:

Tiền tệ là một phương tiện trao đổi được pháp luật thừa nhận và người sở hữu nó

sử dụng để phục vụ cho những nhu cầu trong đời sống kinh tế xã hội.

Trang 4

Tóm lại, quan điểm tiền tệ theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế tiền tệ ở mỗi nước và để đi đến một khái niệm thống nhất về tiền tệ là điều không đơn giản Song một thuộc tính vốn có đặc trưng của tiền là bất cứ vật gì được chấp nhận trong việc thanh toán cho hàng hoá, dịch vụ hoặc hoàn trả các món nợ đều được xem là tiền.

Để hiểu rõ hơn bản chất về tiền tệ, chúng ta sẽ đi phân tích các chức năng của tiền tệ

2 Chức năng của tiền tệ

Khi đề cập đến vấn đề chức năng của tiền tệ Từ lâu phần lớn các nhà kinh tế học đều cho rằng tiền tệ có 3 chức năng, đó là: Đo lường giá trị, làm trung gian trao đổi và bảo tồn giá trị Tuy nhiên, cũng có một số nhà kinh tế học lại thêm một chức năng thứ tư là: Phương tiện thanh toán

Theo Mác, khi giả định vàng là hàng hóa tiền tệ, ông đã cho rằng tiền tệ có 5 chức năng: Thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới

Trải qua quá trình lịch sử, khoa học tiền tệ không ngừng phát triển, trong nền kinh

tế hiện đại các chức năng ban đầu của tiền tệ vẫn có ý nghĩa nhất định Chúng ta có thể nêu lên 3 chức năng chủ yếu của tiền tệ như sau:

2.1 Chức năng thước đo giá trị

Tiền tệ là đơn vị đo lường giá trị, nghĩa là nó được dùng để đo lường giá trị các hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi Người ta do giá trị của hàng hóa và dịch

vụ bằng tiền giống như người ta đo trọng lượng của 1 vật bằng kilôgam, do chiều dài một vật bằng mét

Với chức năng này tiền tệ đã trở thành thước đo chung để biểu thị và so sánh giá cả

của tất cả hàng hóa, từ đó làm cho đời sống kinh tế được đơn giản hóa rất nhiều Bởi lẽ,

trong nền kinh tế phát triển với sự tham gia của hàng nghìn mặt hàng trên thương trường nếu không có một đơn vị thanh toán chung người ta sẽ tốn nhiều thời gian để xác định những quan hệ tỉ lệ giữa các hàng hóa với nhau khi muốn thực hiện trao đổi Nhưng nếu

có một đơn vị thanh toán chung người ta không chỉ quy định giá cả hiện tại và hơn nữa còn dự đoán cả mức giá trong tương lai Mặt khác, thông qua biểu hiện giá trị hàng hóa bằng thước đo chung, tiền tệ còn tạo điều kiện để người ta có thể so sánh, đánh giá và lựa chọn các loại hàng hóa trên thị trường

Ví dụ:

Trong quá trình trao đổi trực tiếp, có 3 mặt hàng đưa ra trao đổi: A,B,C thì chúng ta chỉ cần biết 3 giá để có thể trao đổi các hàng hóa này với nhau, đó là:

- Giá của hàng hóa A được tính bằng bao nhiêu hàng hóa B

- Giá của hàng hóa A được tính bằng bao nhiêu hàng hóa C

- Giá của hàng hóa C được tính bằng bao nhiêu hàng hóa B

Tương tự, nếu có 10 mặt hàng đưa ra trao đổi, chúng ta phải cần biết 45 giá để có thể trao đổi hàng này lấy một hàng hóa khác, với 100 mặt hàng cần 4.950 giá và với 1.000 mặt hàng thì chúng ta cần biết 499.500 giá (Theo công thức tổng quát tính số cặp khi có N phân tử = N (N- 1 )/2)

Nhưng nếu nền kinh tế có tiền tệ làm môi giới, thì người ta định giá bằng đơn vị

tiền tệ cho tất cả các hàng hóa đem trao đổi trên thị trường Do vậy, có bao nhiêu hàng hóa đưa ra trao đổi thì có bấy nhiêu giá cả Có nghĩa là, nếu có 3 hàng hóa đưa ra trao đổi thì có 3 giá, có 10 hàng hóa trao đổi thì có 10 giá, có 1.000 hàng hóa trao đổi thì có 1.000 giá

Trang 5

Vậy là, việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá sẽ thuận lợi rất nhiều cho quá trình trao đổi hàng hóa, giảm được chi phí trong trao đổi đã giảm được số giá cần xem xét.

Trong nền kinh tế thị trường vận dụng chức năng này của tiền tệ đã giúp cho các

doanh nghiệp có thể hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và qua

đó đánh giá hiệu quả kinh doanh để chọn hướng đầu tư thích hợp Hơn nữa, ở tầm vĩ mô trong hệ thống kế toán quốc gia, đồng tiền với chức năng thước đo giá trị đã được vận dụng để tính toán tổng mức GDP, GNP trong từng thời kỳ Từ đó, ngoài việc phục vụ cho quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân còn giúp chúng ta đánh giá hiệu quả nền kinh tế để có biện pháp tận dụng những nguồn tài nguyên quốc gia phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước

2.2 Chức năng phương tiện trao đổi

Trong nền kinh tế, tiền tệ làm phương tiện trao đổi khi nó được dùng để mua bán

hàng hóa, dịch vụ hoặc thanh toán các khoản nợ trong và ngoài nước Việc dùng tiền làm phương tiện trao đổi đã nâng hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, bởi nó đã tiết kiệm được các chi phí quá lớn trong quá trình trao đổi trực tiếp (hàng lấy hàng) Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp hàng đổi hàng, các chi phí giao dịch thường rất cao, bởi vì người mua, người bán phải tìm được những người trùng hợp với mình về nhu cầu trao đổi, thời gian trao đổi, không gian trao đổi Quá trình trao đổi chỉ được diễn ra khi có sự phù hợp đó

Tiền tệ làm môi giới trung gian trong trao đổi đã hoàn toàn khắc phục được các hạn

chế đó của quá trình trao đổi trực tiếp Người có hàng bán lấy tiền, sau đó sẽ mua được hàng mà họ có Bởi vậy, người ta coi tiền như thứ dầu mỡ bôi trơn, cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, khuyến khích chuyên môn hóa và phân công lao động

Thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, tiền không chỉ góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa mà qua quá trình đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng còn giúp chúng ta phát hiện những khiếm khuyết trong sản xuất như mẫu mã, chất lượng hàng hóa cũng như điều tiết cung - cầu hàng hóa trong từng khu vực của nền kinh tế

2.3 Chức năng phương tiện tích lũy

Đồng tiền không chỉ được sử dụng tất cả cho chi tiêu mà người ta còn thực hiện tích

lũy để đề phòng rủi ro trong tương lai hoặc tích lũy để mua sắm, nghĩa là người ta muốn

chuyển nhu cầu tiêu dùng từ thời điểm này sang thời điểm khác

Trước đây trong chế độ lưu thông tiền kim loại, người ta có quan niệm tích lũy tiền

tệ như một dạng của cải xã hội nên việc chôn dấu kim loại quý trong những chum, lọ là

phổ biến Và ngày nay, trong giai đoạn mà nền kinh tế có lạm phát người ta cũng có xu hướng quay về tích lũy tiền vàng như một hình thức bảo tồn tài sản của mình Trong điều

kiện nền kinh tế phát triển, khi các doanh nghiệp muốn đầu tư mở rộng sản xuất, khi tầng

lớp dân cư có nhu cầu mua sắm những vật phẩm có giá trị cao để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, người ta thường tích lũy dưới dạng tiền giấy hoặc số dư trên tài khoản ký thác tại ngân hàng

Với chức năng này cho phép người sở hữu nó dự trù một sức mua cho các giao dịch trong tương lai Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chức năng tích lũy này không phải chỉ có tiền

mới có mà phần lớn các dạng động sản, vật trang sức, chứng khoán đều có thể đóng vai

trò lưu giữ giá trị thậm chí trong một số trường hợp như nền kinh tế có lạm phát thì tích lũy một số dạng tài sản khác có tính ưu việt hơn là tích lũy tiền mặt

Trang 6

Mặc dù vậy, đồng tiền thực hiện chức năng tích lũy đã tạo điều kiện lưu giữ một khả năng sử dụng ngay tức khắc (Có tính lỏng cao nhất), trong khi các dạng dự trữ tài sản khác đòi hỏi thời gian và chi phí giao dịch khi cần chuyển sang tiền để sử dụng.

III.CUNG - CẦU TIỀN TỆ

1 Các loại tiền trong nền kinh tế hiện đại

1.1 Tiền có quyền lực cao

Loại này thuận tiện nhất khi thực hiện các quan hệ trao đổi và đây cũng là tính chất nổi bật so với các loại tiền tài sản khác Vì thế, tiền có quyền lực cao được xếp vào khối tiền giao dịch trong các phép đo tổng lượng tiền của ngân hàng Trung ương các nước Tiền có quyền lực cao bao gồm 2 loại:

a.Tiền pháp định.

Bao gồm các loại tiền giấy, tiền kim khí do nhà nước phát hành với tên gọi tiền pháp định đã cho thấy các loại tiền này được nhà nước thống nhất phát hành và cho phép

lưu thông với mệnh giá được in trên đồng tiền theo luật định.

Đồng tiền pháp định thể hiện quyền lực của nhà nước trong quá trình điều tiết lưu thông tiền tệ qua hoạt động phát hành cũng như thu hồi tiền từ lưu thông nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của chính phủ trong từng thời kỳ Mặt khác, đồng tiền pháp định còn thể hiện chủ quyền kinh tế chính trị và kinh tế của quốc gia đó trên trường quốc

tế Do vậy, về hình thức tiền pháp định luôn có dấu quốc huy trên đồng tiền, đặc biệt với các loại tiền giấy còn phải có số seri phát hành và chữ ký của một quan chức chính phủ Trong lưu thông tiền pháp định có thể được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như tiền mặt, tiền ngân hàng trung ương, tiền nhà nước Tiền pháp định có mức sinh lời thấp nhất

b Tiền gửi không kỳ hạn hay các khoản tiền gửi trên tài khoản thanh toán tại các ngân hàng là một loại tiền có quyền lực cao nhưng tính lỏng thấp hơn so với tiền pháp

định vì phải thông qua một số thủ tục thanh toán theo quy định khi thực hiện giao dịch Tuy nhiên, trong điều kiện những dịch vụ ngân hàng trở nên tiện ích thì vấn đề thanh toán từ tiền gửi không kỳ hạn hay các tài khoản thanh toán có thể phát hành séc sẽ góp phần giảm đáng kể những chi phí không cần thiết trong thanh toán bằng tiền mặt

Ngoài ra, một số ngân hàng thương mại còn thực hiện trả lãi cho các khoản tiền gửi thanh toán nên so với tiền mặt thì nó còn đáp ứng phần nào mục tiêu sinh lời cho người

sở hữu tiền tệ Điều đó lý giải vì sao bộ phận này chiếm đến 3/4 trong tổng khối tiền dùng cho giao dịch tại các nước phát triển

1.2 Các loại tiền tài sản

Xét thực chất tiền tài sản không phải là tiền giao dịch vì người ta không thể sử dụng

nó như một phương tiện trao đổi không hạn chế về thời gian như tiền mặt cũng như không thể đáp ứng nhu cầu giao dịch ngay lập tức như các loại tiền có quyền lực cao, nhưng chúng được xem là tiền vì người ta có thể chuyển chúng thành tiền mặt thông qua hoạt động của thị trường tài chính Mặt khác với tên gọi tiền tài sản cho thấy đây là loại

tài sản được người sở hữu nắm giữ như một hình thức đầu tư sinh lợi song chúng lại có

khả năng hoán chuyển linh hoạt sang tiền mặt trong một thời gian ngắn

Từ đó việc thừa nhận loại tiền tài sản trong kết cấu khối tiền của ngân hàng trung ương các nước sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ phát triển kinh tế thị trường của nước

đó mà đặc biệt là một thị trường tài chính năng động

Các loại tiền tài sản bao gồm:

Trang 7

a Các loại tiền gửi có kỳ hạn, đem lại mức sinh lợi khá ổn định cho người sở hữu và

được thực hiện với nguyên tắc thời hạn càng dài lãi suất càng cao, bao gồm:

- Tiền gửi tiết kiệm của công chúng tại các qũy tiết kiệm, các ngân hàng

- Tiền gửi có kỳ hạn của các cá nhân và doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng

b Tài khoản tiền gửi ở thị trường tiền tệ

c Các chứng từ nợ ngắn hạn, trung hạn được mua bán trên thị trường tiền tệ

d Các loại tiền tài sản khác: Thương phiếu, hối phiếu thương mại đã được ngân hàng chấp nhận

2 Phép đo tổng lượng Liền trong nền kinh tế hiện đại

Tại các nước phát triển phép đó tổng lượng tiền được ngân hàng trung ương công

bố thông thường gồm 3 khối tiền chính đó là:

- Các loại tiền gửi có kỳ hạn loại nhỏ

- Tiền gửi tiết kiệm

Tiền gửi thị trường tiền tệ ngắn hạn

*Khối M3 bao gồm:

- M2

- Các loại tiền gửi có kỳ hạn loại lớn

- Các chứng từ nợ, tiền gửi trên thị trường tiền tệ dài hạn

Ngoài ra, phép đo cuối cùng về tổng lượng tiền mà ở Anh gọi là khối M4 còn ở Mỹ

và nhiều nước phát triển khác gọi là khối L bao gồm:

- M3

- Các loại tiền theo nghĩa rộng hơn đó là các loại chứng khoán, chứng từ có giá có khả năng hoán chuyển trên thị trường tài chính

3 Cầu tiền tệ

Qua phân tích về nguồn gốc của tiền tệ cho thấy tiền tệ ra đời là kết quả của quá

trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá Nói cách khác, tiền tệ là sản phẩm tất yếu

của sản xuất hàng hoá, như vậy, còn sản xuất hàng hoá thì nhu cầu về tiền tệ còn là sự cần thiết mang tính chất khách quan

Trong thời đại ngày nay với nền kinh tế tiền tệ đang phát triển mạnh mẽ thì một thực tế khách quan là hầu hết giao dịch giữa các cá nhân hoặc các tổ chức đều được giải quyết bằng tiền Do vậy, nhu cầu về tiền tệ và việc sử đụng tiền có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội

Từ phân tích trên có thể thấy rằng, nếu xét một cách tổng quát trong nền kinh tế tiền

tệ thì hai nhu cầu lớn chi phối đời sống xã hội đó là nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng

Ai đầu tư? Đó là các doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô sản xuất, muốn sử dụng

có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi Đó là các cá nhân muốn kiếm lợi nhuận từ đồng tiền tiết kiệm của mình Và tiêu dùng vào những mục đích nào? Các doanh nghiệp, cá nhân cần tiền để phục vụ các giao dịch của mình như mua sắm hàng hoá, dịch vụ, thanh toán công

nợ, nộp thuế hoặc dành một phần thu nhập bằng tiền cho mục đích dự phòng những rủi

Trang 8

ro, những tổn thất có thể gặp trong sản xuất và đời sống Chính phủ muốn thực hiện các

chương trình cải cách kinh tế hay thực hiện các chính sách xã hội

Nhu cầu về tiền tệ để phục vụ cho đầu tư sẽ phụ thuộc vào hai nhân tố quan trọng

đó là lãi suất tín dụng của ngân hàng và mức lợi nhuận:

+ Lãi suất tín dụng ngân hàng là mức thu nhập mang tính bình quân của các

phương án đầu tư trong nền kinh tế, là cột mốc để so sánh với các mức tỷ suất lợi nhuận của các ngành khác và nó cũng là nhân tố kích thích những nguồn tiết kiệm trong dân cư

đi tìm hoạt động đầu tư và cũng là nhân tố kích thích những nguồn tiết kiệm trong dân cư

đi tìm nơi trú ngụ an toàn của mình

+ Mức lợi nhuận từ những hoạt động đầu tư như sản xuất, kinh doanh dịch vụ hoặc

những hoạt động đầu tư tài chính như kinh doanh địa ốc, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại hối cũng là những nhân tố tác động đến nhu cầu đầu tư

- Nhu cầu về tiền dành cho tiêu dùng sẽ phụ thuộc vào nhân tố đầu tiên là mức thu nhập vì nếu nền kinh tế có tăng trưởng, thu nhập quốc dân tăng lên để từ đó tác động đến thu nhập của từng thành viên trong xã hội theo chiều hướng thu nhập bình quân đầu người tăng thì mức cầu về tiêu dùng mới có cơ sở nâng cao

+ Nhân tố thứ hai ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng đó là giá trị của những hoạt

động giao dịch Ở đây nếu chúng ta giả sử các nhân tố khác như số lần và số lượng giao dịch trong một thời gian nhất định không đổi thì sự biến động của hệ thống giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến mức cầu tiêu dùng

+ Nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng là lãi suất Trong điều kiện những tác động khác của đời sống kinh tế là không đổi thì lãi suất tăng sẽ làm giảm mức

cầu tiền tệ trong quỹ các doanh nghiệp hoặc trong tay các tầng lớp dân cư, người ta sẽ kiềm chế bớt nhu cầu tiêu dùng, mua sắm để tăng nguồn tích luỹ nhằm sinh lời cho đồng

tiền.

Về phương diện lý thuyết, trong hơn một thế kỷ qua, vấn đề tính toán khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông đã được các nhà kinh tế đưa ra nhiều công thức đề xác định:

* Quan điểm của K.Marx:

Khi nghiên cứu về nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản K.Marx đã dày công nghiên

cứu về sự vận động của tiền tệ và rút ra quy luật lưu thông tiền tệ Nội dung quy luật là:

“Khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông sẽ bằng tổng số giá cả hàng hóa cần lưu thông chia cho tốc độ luân chuyển trong một thời gian nhất định (thường tính cho 1 năm)”

Kc = H/V Với Kc: Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông

KT: Khối lượng tiền thực tế trong lưu thông

H: Tổng số giá cả hàng hóa

* Nếu KT < Kc (Thiếu tiền), trường hợp này hàng hóa lớn hơn tiền hay nhu cầu có khả năng thanh toán bằng tiền của dân cư nhỏ hơn quỹ hàng hóa xã hội cung cấp, tức là yêu cầu của của quy luật lưu thông tiền tệ bị vi phạm, làm cho sản xuất và lưu thông hàng hóa

bị trì trệ do thiếu phương tiện thanh toán

Biện pháp khắc phục là tăng thu nhập bằng tiền của dân cư, giảm giá hàng, giảm

thuế, tăng cường xuất khẩu

* Nếu KT > Kc (Thừa tiền), trường hợp này tiền lớn hơn hàng hay nhu cầu có khả năng thanh toán bằng tiền lớn hơn khả năng cung cấp hàng hóa cho xã hội, do vậy có một bộ

phận thu nhập bằng tiền của dân cư không có hàng hóa thỏa mãn, tức là yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ không được tôn trọng

Trang 9

Biện pháp khắc phục là rút bớt lượng tiền thừa trong lưu thông và gia tăng số sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của dân cư.

* Nếu KT = Kc (Tiền hàng cân đối)

Như vậy, để đảm bảo tôn trọng quy luật lưu thông tiền tệ, theo quan điểm của Marx đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt nhu cầu về tiền trong lưu thông, qua đó đưa tiền vào lưu thông cho phù hợp, nói cách khác, cầu về tiền tệ thực sự đóng vai trò chủ động và nguồn cung về tiền tệ thường có tính thụ động, nó sẽ tăng, giảm và được chúng ta điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu về tiền tệ

* Quan điểm của lrving - Fisher ( 1887 - 1947)

Nửa đầu thế kỷ 20, một trong những đại biểu của thuyết số lượng tiền tệ đầu tiên là I.Fisher nhà kinh tế học người Mỹ đã đưa ra phương trình trao đổi nổi tiếng với vế phải là tổng giá cả các loại hàng hóa và dịch vụ tham gia giao dịch và vế trái là tổng khối lượng chi trả:

-Y: Tổng lượng hàng hóa và dịch vụ được trao đổi

Với phương trình trên đầu tiên I.Fisher nêu lên lý thuyết “sức mua tiền tệ” và cho rằng: sức mua của tiền tệ được đo bằng P, nếu P tăng nghĩa là sức mua của đồng tiền giảm, tiền mất giá và P giảm nghĩa là sức mua của đồng tiền được nâng cao

Mặt khác, Fisher cho rằng V là nhân tố gần như bất biến trong một thời gian ngắn vì

nó phụ thuộc vào những thói quen của cá nhân trong giao dịch và sau đó Fisher nêu lên học thuyết về số lượng tiền tệ:

Số lượng thu nhập danh nghĩa P.Y được quyết định bởi số lương tiền tệ, khi M tăng, M.V tăng và P.Y sẽ tăng với tỷ lệ tương ứng, từ đó, mức giá cả hàng hóa biến động tùy thuộc số lượng tiền tệ trong lưu thông

Trên quan điểm V là một hằng số, M = (1/V) P Y

Gọi K=1/V là thời gian trung bình mà người dân giữ tiền mặt

P.Y: Mức thu nhập danh nghĩa

Fisher đi đến kết luận: Cầu về tiền tệ là một hàm số được xác định bởi:

- Mức thu nhập danh nghĩa

- Thói quen tiến hành các giao dịch của dân chúng và nguồn cung ứng tiền vào lưu thông tăng hay giảm là do chính sách phát hành của ngân hàng trung ương và chính sách cưng ứng tín dụng của các ngân hàng thương mại

5.1.3.Quan điểm của trường phái Cambridge.

Với những đại biểu như A.Marshall, A.C Pigou cũng nghiên cứu học thuyết về cầu tiền tệ Theo họ, sở dĩ người ta muốn giữ tiền vì:

- Tiền là phương tiện trao đổi

- Tiền là phương tiện cất giữ tài sản

Và nêu lên hàm số biểu thị cầu về tiền tệ:

M = K.P.Y

Hàm số này các nhân tố M, P, Y cũng giống như của I.Fisher với quan điểm chung

là M tỷ lệ với P.Y nhưng khác với Fisher chỉ nhấn mạnh ở các nhân tố kỹ thuật và không

Trang 10

đề cập đến nhân tố lãi suất có thể ảnh hưởng đến cầu tiền tệ Trường phái Cambridge nhấn mạnh rằng:

Cá nhân có sự linh hoạt trong việc quyết định giữ tiền đồng thời không loại trừ ảnh hưởng của lãi suất đến mức cầu về tiền tệ Tuy nhiên, với quan niệm K là hằng số vì V là hằng số đã làm hạn chế tính thuyết phục của I.Fisher cũng như những nhà kinh tế thuộc trường phái Cambridge

5.1.4 Quan điểm của J.M Keynes (1883 - 1946)

Trên cơ sở phát huy tư tưởng của trường phái Cambridge, Keynes nêu lên học thuyết về ưa thích tiền mặt, với 3 nhân tố tác động đến mức cầu về tiền tệ là:

- Động cơ giao dịch

- Động cơ dự phòng

- Động cơ đầu cơ

Trong đó hai nhân tố đầu sẽ tỷ lệ với mức thu nhập, trong phạm vi cả nước là thu nhập quốc dân, trong phạm vi cá nhân là tiền lương và lợi nhuận, nhân tố thứ 3 sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi lãi suất

Lập luận của Keynes có phần cụ thể hơn so với trường phái Cambride về lý do người ta muốn giữ tiền Ngoài ra, Keynes cũng không thừa nhận quan điểm về tính bất biến của V và cho rằng V sẽ biến động cùng với lãi suất

* Quan điểm thuyết số lượng tiền tệ hiện đại

Từ giữa những năm 50 trở lại đây, M Friedman nhà kinh tế thuộc trường phái Chicago đã làm hồi sinh học thuyết số lượng tiền tệ với tên "Chủ nghĩa tiền tệ mới".

Theo Friedman, số cung tiền tệ hoặc được xác định bằng số lượng tiền kim loại đưa vào lưu thông hoặc bởi số lượng tiền tệ do nhà nước hoặc hệ thống ngân hàng tạo ra Nhu cầu về tiền là hàm số với nhiều biến số trong đó có thu nhập, giá cả, lãi suất, cơ cấu tài sản và sự ưa thích cá nhân

Luận điểm của M.Friedman được diễn tả bằng công thức sau:

M = K P Y

Với: M là số lượng tiền tệ

K là tương quan của thu nhập tiền tệ trong thu nhập

P là chỉ số giá cả

Y là thu nhập quốc dân tính theo giá không đổi

Từ đó rút ra kết luận là sự thay đổi của M có thể dẫn đến hoặc là sự thay đổi của thu nhập quốc dân hoặc là sự gia tăng của giá cả

* Quan điểm của P.A.Samuelson

P.A.Samuelson được coi là người phát huy xuất sắc học thuyết tiền tệ trong thời đại ngày nay, ông cho rằng mức cầu tiền tệ phụ thuộc vào hai nhân tố:

Mức cầu giao dịch từ phía các doanh nghiệp, từ nhân dân cần tiền làm phương tiện giao dịch Mức cầu về giao dịch sẽ chịu tác động lớn từ lãi suất nếu trong điều kiện những tác động khác của đời sống kinh tế là không đổi thì lãi suất tăng sẽ làm giảm mức cầu về tiền tệ Nghĩa là lãi suất trở thành một công cụ hấp dẫn để giảm lượng tiền trong tay dân cư hoặc trong quỹ của các doanh nghiệp

Bên cạnh giữ tiền đảm bảo nhu cầu giao dịch người ta còn giữ tiền để tích lũy nhằm

dự phòng những khoản chi trong tương lai Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển ngày nay, người ta không dại gì cất giữ tiền tại quỹ riêng vì dễ gặp rủi ro như mất cắp, hỏa hoạn mà với khoản tiền tích lũy người ta thường tìm biện pháp để sinh lời

Trang 11

thực hiện đầu tư vào nhiều lĩnh vực vừa phân tán rủi ro vừa đa dạng hình thức sử dụng vốn.

Trên cơ sở mức cầu về tiền tệ, trong từng thời kỳ nhà nước sẽ chủ động cung ứng tiền vào lưu thông và vận dụng những công cụ điều tiết vĩ mô để cân đối cung - cầu như

lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay thực hiện nghiệp vụ thị trường mở

Qua các quan điểm nêu trên chúng ta thấy rằng vấn đề cung - cầu về tiền tệ là vấn

đề đã được đặt ra và gây nhiều tranh luận giữa các nhà kinh tế qua các thời đại Vì vậy, đối với mỗi quốc gia việc nghiên cứu và vận dụng một cách khoa học các học thuyết tiền

tệ là điều cần thiết khách quan trong quá trình xây dựng và thực hiện một chính sách tiền

tệ phù hợp với hoàn cảnh của mỗi nước

Ở Việt Nam theo thông tư hướng dẫn thực hiện quyết định của ngân hàng nhà nước

về "Chế độ tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ trong hệ hóng ngân hàng" đã nêu rõ nguồn cung ứng tiền tăng thêm mỗi năm sẽ được dựa trên các căn cứ sau đây:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm: Nghĩa là ở đây chúng ta vẫn thừa nhận mối liên

hệ thực tiếp giữa nhu cầu về tiền tệ với khối lượng hàng hóa dịch vụ trong lưu thông và với mục đích bảo đảm cân đối tiền hàng, ngân hàng trung ương sẽ chủ động đưa tiền vào lưu thông, phù hợp với nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa

- Chỉ số trượt giá của hàng hóa

- Mức thâm hụt cán cân ngân sách

- Mức thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế

Hiện nay, trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ ngân hàng nhà nước Việt nam

đã từng bước vận dụng linh hoạt các công cụ như: Tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín

dụng, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tín dụng nhằm điều tiết cung - cầu tiền tệ Việc làm

này đã đóng góp tích cực trong quá trình kìm giữ và đẩy lùi lạm phát ở nước ta trong những năm qua

4 Mức cung về tiền tệ

Xuất phát từ chức năng của ngân hàng Trung ương là độc quyền phát hành tiền vào

lưu thông nên việc cung ứng tiền vào lưu thông thường do ngân hàng trung ương đảm

nhiệm Nói cách khác, quá trình điều tiết khối cung tiền tệ hoàn toàn quyết định thông qua quá trình xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương mỗi nước đều thiết lập phép đo các khối tiền trong lưu thông, như vậy vấn đề đặt ra là sẽ phải lựa chọn khối tiền nào; M1, M2 hay M3 làm đối tượng để xử lý cân đối cung cầu tiền tệ

Vào những thập niên 70, 80 của thế kỷ XX nhiều nước đã chọn M1 làm đối tượng

xử lý, song trên thực tế bên cạnh các loại tiền trong kết cấu của M1 thì các tài sản tài chính trong kết cấu khối M2 cũng đáp ứng khá kịp thời cho các quan hệ giao dịch trong nền kinh tế Từ đó, khuynh hướng phổ biến từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay đa số

ngân hàng trung ương các nước đều chọn M2 làm đối tượng để xử lý cung cầu tiền tệ.

Hàng năm trên cơ sở tính toán nhu cầu tiền trong lưu những biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số trượt giá của nền kinh tế, mức thâm hụt ngân sách nhà nước, thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngân hàng trung ương sẽ lên kế hoạch cung ứng tiền vào lưu thông qua các kênh chủ yếu là:

+ Kênh tín dụng

+ Kênh thị trường mở

+ Kênh thị trường hối đoái

+ Kênh ngân sách.

Trang 12

Qua các kênh trên, ngân hàng trung ương sẽ trực tiếp làm thay đổi bộ phận thiết yếu của quá trình cung ứng tiền là cơ số tiền tệ (MB), cơ số tiền tệ còn được gọi là tiền có quyền lực cao bao gồm: tổng số tiền mặt đang lưu hành cộng với tổng lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng Và để biết được lượng tiền cung ứng thay đổi bao nhiêu đối với một thay đổi đã cho của cơ số tiền tệ thì phải xác định biến số m gọi là Số nhân tiền.

Số nhân tiền phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: Tỉ lệ dự trữ bắt buộc, mức độ rò rỉ

tiền mặt từ ngân hàng ra lưu thông, tỉ lệ dự trữ quá mức tại các ngân hàng thương mại

Vì vậy, số nhân tiền còn được gọi là bội số tiền gửi, nếu lượng tiền gửi gia tăng sẽ góp phần mở rộng cơ số tiền tệ Do đó, nếu gọi m là lượng tiền cung ứng thì mối liên hệ giữa M với cơ số tiền tệ và số nhân tiền m là :

M = m x MB

Vấn đề điều tiết cung ứng tiền của ngân hàng TW luôn có quan hệ hữu cơ với điều tiết kinh tế nhằm đạt mục tiêu kinh tế của chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn là cung ứng tiền phù hợp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

nào là vấn đề hàng đầu trong cuộc tranh luận về chính sách kinh tế Vậy lạm phát là gì?

Do đâu có lạm phát? Tại sao người ta lại quan tâm nhiều đến lạm phát? Chương này sẽ

giải đáp tất cả các câu hỏi đó

I Khái niệm, phân loại lạm phát

1.1 Khái niệm

Lạm phát đã được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế Trong mỗi công trình của mình, các nhà kinh tế đã đưa ra các khái niệm khác nhau về lạm phát, nhưng nói chung chưa có một sự thống nhất hoàn toàn có quan điểm cho rằng lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt quá dự trữ vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành Cụ thể, người ta dựa vào tỷ lệ đảm bảo của tiền tệ để xem xét có lạm phát hay không Chẳng hạn, nếu pháp luật ấn định rằng tỷ lệ đảm bảo tối thiểu của tiền tệ là 40%, khi tỷ lệ đó xuống dưới mức pháp định tức là ngân hàng đã phát hành tiền quá mức Quan điểm này quá coi trọng cơ sở đảm bảo của tiền tệ

Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hoá Lạm phát xảy ra khi mức giá chung của giá cả và chi phí tăng Theo quan điểm này thì giá cả tăng

lên cho dù bất cứ nguyên nhân nào đều gây ra lạm phát Lạm phát và giá cả tăng đều

cùng một ý nghĩa Thật ra giá cả đồng loạt tăng lên chỉ là một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát mà thôi

Vậy lạm phát là gì? lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu

cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hoá tăng lên đồng loạt Lạm phát có những đặc trưng cơ bản:

- Hiện tượng gia tăng quá mức của số lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá

- Mức giá cả chung tăng lên

Trang 13

Chính vì vậy, khi tính mức độ lạm phát, các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá cả Chỉ

số giá cả thường được sử dụng nhất là chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index – CPI)

- Lạm phát cao

Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hoá tăng ở mức độ hai con số hàng năm

(từ 10% - 100% một năm) Lạm phát cao còn được gọi là lạm phát phi mã Thật ra, cũng

có một số nhà kinh tế cho rằng lạm phát phi mã bao gồm cả lạm phát ở mức độ ba con số

(như 100% - 200% ) Lạm phát phi mã gây nhiều tác hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội

- Siêu lạm phát

Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hoá tăng ở mức độ ba con số hàng năm trở

lên Siêu lạm phát còn được gọi là lạm phát siêu tốc Không có điều gì tốt khi nền kinh tế rơi vào tình trạng siêu lạm phát Người ta thường ví siêu lạm phát như căn bệnh ung thư gây chết người, có những tác hại rất lớn đến nền kinh tế - xã hội Lịch sử lạm phát của

thế giới đã ghi nhận những tác hại của siêu lạm phát xảy ra ở Đức năm 1920 - 1923, ở Nga sau mạng tháng 10, ở Trung Quốc sau thế chiến thứ hai

đã trực tiếp làm tăng khối cung tiền Vay mượn của nước ngoài cũng làm tăng khối tiền

tệ Khối tiền tệ tăng làm cho tổng số chi trả tăng, do đó gây ra áp lực lạm phát

Tốc độ lưu thông tiền tệ gia tăng chủ yếu là do hệ thống chính trị khủng hoảng, kinh

tế suy thoái làm cho lòng tin của dân chúng vào chế độ tiền tệ nhà nước bị xói mòn, từ đó gây tâm lý chạy trốn đồng tiền mất giá

Trang 14

thường là dài hạn và khó thay đổi Ngoài ra, các cuộc khủng hàng về nhiên liệu, nguyên vật liệu cơ bản cũng làm cho giá cả của nó tăng lên và đẩy chi phí sản xuất tăng lên dẫn

đến sức ép làm tăng giá bán

2.3 Lạm phát do những nguyên nhân liên quan đến sự thiếu hụt mức cung

Khi nền kinh tế đạt đến mức toàn dụng, nghĩa là các yếu tố sản xuất: nhân công,

nguyên vật liệu gần như đã được khai thác tối ưu Khi đó, mức cung hàng hoá và dịch

vụ trên thị trường có khuynh hướng giảm dần Bên cạnh đó, tình trạng tắc nghẽn của thị trường cũng làm giới hạn mức cung hàng hoá Đó là tình trạng mất cân đối các yếu tố sản xuất giữa các khu vực nhưng thị trường lại không tạo cơ chế điều phối có hiệu quả, khiến cho khối lượng hàng hoá không đáp ứng tết nhu cầu tăng lên của thị trường Hàng hoá

khan hiếm làm cho giá cả tăng lên, đó là hậu quả tất yếu.

III TÁC động của lạm phát

1 Lạm phát và lãi suất

Từ thực tế diễn biến lạm phát của các nước trên thế giới, các nhà kinh tế cho rằng, lạm phát cao và triền miên có ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị

và xã hội của một quốc gia

Tác động đầu tiên của lạm phát là tác động lên lãi suất

Để duy trì và ổn định sự hoạt động của mình, hệ thống ngân hàng luôn phải duy trì tính hiệu quả của cả tài sản nợ và tài sản có của mình, tức là luôn luôn phải giữ cho lãi suất thực ổn định Ta biết rằng:

Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát.

Do đó, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, nếu muốn cho lãi suất thực ổn định, lãi suất danh

nghĩa phải tăng lên cùng tỷ lệ lạm phát Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả

mà nền kinh tế phải gánh chịu là suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng

2 Lạm phát và thu nhập thực tế

Trong trường hợp thu nhập danh nghĩa không đổi, lạm phát xảy ra sẽ làm giảm thu nhập thực tế của người lao đông

Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thực của những tài sản không có lãi (tức là tiền

mặt) mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi, tức là làm giảm thu nhập

thực từ các khoản lãi, các khoản lợi tức.

3 Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng

Trong quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, khi lạm phát.tăng cao,

người cho vay sẽ là người chịu thiệt và người đi vay sẽ là người được lợi Điều này đã tạo

nên sự phân phối thu nhập không bình đẳng giữa người đi vay và người cho vay Hơn thế nữa, nó còn thúc đẩy những người kinh doanh tăng cường thu hút vốn tiền vay để đầu cơ

kiếm lợi Do vậy, càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nền kinh tế, đẩy lãi suất lên cao.

Lạm phát tăng cao còn khiến những người thừa tiền và giàu có, dùng tiền của mình

vơ vét và thu gom hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, tình trạng này càng làm mất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường, giá cả hàng hoá cũng lên cơn sốt cao cuối cùng, những người dân nghèo càng trở nên khốn khó hơn Họ thậm chí không mua nổi những hàng hoá tiêu dùng thiết yếu, trong khi đó, những kẻ đầu cơ đã

vơ vét sạch hàng hoá và trở nên càng giàu có hơn Tình trạng lạm phát như vậy sẽ có thể gây nên những rối loạn trong nền kinh tế và tạo khoảng cách lớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu và người nghèo

4 Lạm phát và nợ quốc gia

Trang 15

Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân,

nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn Chính phủ được lợi trong nước nhưng sẽ bị thiệt với nợ nước ngoài

IV Những biện pháp kiềm chế lạm phát

Ngày nay, trong thời đại lưu thông tiền giấy bất khả hoán, lạm phát hầu như là một hiện tượng tất yếu ở các nước song chỉ khác nhau ở mức độ cao, thấp Trải qua lịch sử lạm phát hiện đại hầu như chưa có một nước nào có thể dập tắt hoàn toàn lạm phát, mà chỉ có thể kiềm chế, kiểm soát lạm phát ở mức độ phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh

tế, giải quyết công ăn việc làm

Các biện pháp kiềm chế lạm phát rất đa dạng; tuỳ theo điều kiện của mỗi quốc gia

mà có thể áp dụng những biện pháp khác nhau Có thể chia các biện pháp kiềm chế lạm pháp thành hai loại:

1 Những biện pháp cấp bách

Những biện pháp cấp bách còn được gọi là biện pháp tình thế Áp dụng những biện pháp này với mục đích giảm tức thời cơn sốt lạm phát để có cơ sở để áp dụng những biện háp ổn định tiền tệ lâu dài

Khi nền kinh tế xảy ra tình trạng lạm phát cao hoặc siêu lạm phát, để kiềm chế lạm

phát các nước thường áp dụng các biện pháp tình thế sau:

- Biện pháp về chính sách tài khoá

Áp dụng biện pháp về chính sách tài khoá có ý nghĩa quan trọng và then chốt vì trong nhiều trường hợp ngân sách nhà nước bị thâm hụt là nguyên nhân chính của lạm phát, do đó nếu dập tắt được nguyên ngân này thì tiền tệ sẽ được ổn định, lạm phát sẽ được kiềm chế Khi lạm phát tăng ở mức độ phi mã hoặc siêu tốc, nhà nước có thể thực hiện các biện pháp như:

* Tiết kiệm triệt để trong chi tiêu ngân sách nhà nước, cắt giảm những khoản chi chưa

* Nâng cao lãi suất tín dụng

Lãi suất tiền gửi tăng, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm có tác dụng thu hút tiền mặt của dân cư và doanh nghiệp vào ngân hàng một tai biến có thể xảy ra là nếu lãi suất tiền gửi cao hơn lợi tức đầu tư thì các nhà kinh doanh sẽ không đầu tư cho sản xuất nữa mà tìm cách đưa vốn của mình vào ngân hàng vì nó đưa tới lợi tức cao mà không chịu sức ép của rủi ro lớn Mặt khác, lãi suất cho vay tăng cũng làm giảm khả năng mở rộng tín dụng của các ngân hàng

Quản lý và hạn chế thật mạnh khả năng “tạo tiền” của các ngân hàng thương mại bằng cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Trang 16

- Biện pháp kiềm chế giá cả

Để chống lại sự tăng giá của hàng hoá, nhà nước có thể thực hiện chính sách kiềm giữ giá cả bằng nhiều biện pháp khác nhau như:

* Nhập hàng hoá của nước ngoài để bổ sung cho khối lượng hàng hoá trong nước tạo ra một sự cân bằng giữa cung và cầu hàng hoá Đây là biện pháp “chữa cháy” tuy rất hữu hiệu trong việc chặn đứng sự khan hiếm hàng hoá, nhưng có nhiều mặt hạn chế

* Nhà nước bán vàng và ngoại tệ nhằm thu hút tiền mặt trong lưu thông, ổn định giá vàng, ổn định giá cả các mặt hàng khác

* Quản lý thị trường, chống đầu cơ tích trữ

- Biện pháp đóng băng lương và đóng băng giá

Ở đây trước hết cần có sự cam kết của các lãnh tụ công đoàn chấp nhận đóng băng lương vì việc tăng lương không giúp ích gì thực sự cho giới có đồng lương cố định, thông thường sau khi tăng lương thì giá cả cũng tăng Mặt khác, đại diện hiệp hội các chủ doanh nghiệp cũng phải cam kết đóng băng giá Thoả hiệp đó phải được nhà nước công nhận và về phần mình nhà nước cam kết cố gắng hết sức giữa các yếu tố khác không diễn biến xấu hơn như không làm tăng thêm số thiếu hụt của nhà nước Cố gắng giảm thiểu số thiếu hụt đó Đạt được một sự thoả hiệp như vậy là một yếu tố rất quan trọng trong tiến trình kiềm chế lạm phát

- Biện pháp cải cách tiền tệ

Đây là biện pháp tình thế bắt buộc khi lạm phát ở mức độ cao mà việc vận dụng các biện pháp trên không đưa lại kết quả mong muốn Ở đây nhà nước huỷ hoặc thu hồi tiền

cũ, phát hành tiền mới để lập lại trật tự mới trong lưu thông tiền tệ

2 Những biện pháp chiến lược

Đây là biện pháp nhằm tác động một cách đồng bộ lên mọi mặt hoạt động của nền kinh tế, với ý tưởng tạo ra một sức mạnh về tiềm lực kinh tế của đất nước, tạo cơ sở để

ổn định tiền tệ vững chắc Trong thực tiễn, những biện pháp thường được áp dụng là:

- Xây dụng và thực hiện chiến lược phát triển tinh tế - xã hội đúng đắn

Do lưu thông hàng hoá là tiền đề của lưu thông tiền tệ nên nếu quỹ hàng hoá được tạo ra có số lượng lớn, chất lượng cao, chủng loại phong phú thì đây là tiền đề vững chắc nhất để ổn định lưu thông tiền tệ, nhằm huy động tốt các nguồn lực để phát triển kinh tế cần xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, trong đó cần chú trọng điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển ngành mũi nhọn xuất khẩu

- Soát xét thường xuyên chính sách thu chi của nhà nước

Chính sách thu phải khai thác và quản lý chặt chẽ các nguồn thu, tăng cường thu thuế chủ yếu dựa trên cơ sở mở rộng và nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu có hiệu quả

Ngân sách nhà nước phải đảm bảo tính hiệu quả và tiết kiệm Thực hiện cân đối ngân sách tích cực làm cơ sở cho các cân đối khác trong nền kinh tế

- Thực hiện chiến lược thị trường cạnh tranh hoàn toàn

Ở đây các nhà kinh tế chủ trương cần xoá bỏ mọi ngăn cản đối với hoạt động của thị trường Nếu quá trình cạnh tranh được nâng lên ở mức độ hoàn hảo thì giá cả sẽ có xu hướng giảm xuống Mặt khác, cạnh tranh thúc đẩy các nhà kinh doanh cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý, giảm được giá bán hàng hoá Dùng lạm phát để chống lạm phát

Đối với các quốc gia còn nhiều tiềm năng về lao động, đất đai, tài nguyên nhà nước có thể tăng chỉ số phát hành để chi phí cho việc mở rộng đầu tư và hy vọng các

công trình đầu tư này mang lại hiệu quả và góp phần kiềm chế lạm phát Áp dụng biện

Trang 17

pháp này đòi hỏi phải có một tiềm lực mạnh về các yếu tố sản xuất, có trình độ khoa học

kỹ thuật tiên tiến, trình độ quản lý kinh tế cao thì mới có thể thành công được

Trang 18

CHƯƠNG II TÀI CHÍNH VÀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

( 6 TIÊT )

I SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH:

* Sự hình thành những quan hệ kinh tế là cơ sở của sự ra đời của hoạt động tài chính

Trao đổi của cải vật chất trong đời sống xã hội giữa con người có mầm mống từ xã hội nguyên thủy, có nghĩa là mặc dù trình độ và tính chất của những hình thức trao đổi ấy như thế nào thì chúng đều là những quan hệ kinh tế đã xuất hiện cùng với sự xuất hiện và

phát triển của trao đổi.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự ra đời và phát triển của phân công lao động

xã hội làm hình thành và phát triển quan hệ phân phối sản phẩm.

Sự ra đời tiền tệ nhanh chóng trở thành cơ sở đo lường tất cả mọi hoạt động của nền

kinh tế, làm thước đo hữu hiệu trong mọi quan hệ trao đổi, phân phối của cải vật chất, tài

nguyên trong nền kinh tế Sự ra đời của tiền thúc đẩy nhanh chóng mọi hoạt động giao lưu kinh tế xã hội

Tiền tệ trở thành thước đo giá trị trong mọi quan hệ kinh tế của sản xuất, phân phối

và tiêu dùng của cải vật chất, tài nguyên kinh tế đáp ứng yêu cầu của quá trình tích tụ tập trung hóa sản xuất và do đó phạm trù tài chính ra đời và phát triển

* Sự ra đời và phát triển của tài chính Nhà nước

Chế độ tư hữu ra đời, xã hội phân chia thành giai cấp, nhà nước đầu tiên ra đời: Đó

là nhà nước của chế độ nô lệ Nhà nước ra đời làm xuất hiện một cỗ máy chính trị với

đầy đủ cấu trúc thượng tầng chính trị, quân đội cảnh sát, nhà tù nhằm duy trì quyền lực

và lợi ích của giai cấp thống trị, những tài nguyên của cải được tập trung vào giai cấp

thống trị bằng cống nộp, thuế khoá, quan hệ trao đối bất công Hình thành nên hệ thống những quan hệ kinh tế giữa giai cấp thống trị mà đại diện là nhà nước với các tầng lớp nhân dân lao động và những quan hệ kinh tế giữa các nhà nước đại diện cho các quốc gia Quá trình này làm xuất hiện tài chính Nhà nước

* Tài chính là gì?

Là hệ thống những mối quan hệ giữa các thực thể tài chính, phát sinh trong quá trình hình thành phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính, nhằm thu được lợi nhuận, đáp ứng nhu cầu xã hội khác, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

*Tài chính là một phạm trù kinh tế, ra đời, phát triển gắn liền với sự ra đời phát triển của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ.

- Quan hệ kinh tế: Là những quan hệ trong quá trình sản xuất, phân phối trao đổi và tiêu

dùng của cải vật chất, tài nguyên.

- Những thực thể tài chính: Là những tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân thành viên xã

hội, Chính phủ đại diện Nhà nước tham gia vào những quan hệ sản xuất lưu thông

phân phối và tiêu dùng của cải vật chất (tài nguyên kinh tế) trong nền kinh tế thị trường

- Những nguồn lực tài chính: Quá trình tái sản xuất mở rộng không ngừng của nền kinh

tế, tài nguyên kinh tế luôn vận động, chuyển hoá giữa các lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng, với không gian và thời gian khác nhau giữa các thực thể tài chính Tiền tệ với thức do giá trị là phương tiện đắc lực nhất cho sự vận động và chuyển hoá những tài nguyên kinh tế

này, tạo ra hệ thống những mối quan hệ kinh tế Những tài nguyên kinh tế này được gọi

Trang 19

là những nguồn lực tài chính thể hiện dưới dạng tiền tê, của cải xã hội, tài sản quốc gia,

tổng sản phẩm quốc dân, nguồn nhân lực tồn tại dưới dạng vật chất, tiềm năng luân

chuyển theo những kênh khác nhau trong nền kinh tế xã hội

* Đặc trưng cơ bản của tài chính

- Tài chính không phải là tiền, nhưng nhờ chức năng thước đo giá trị mà tiền trở thành phương tiện của các thực thể tài chính trong các quan hệ kinh tế mà nhờ đó những

dòng nguồn lực tài chính vận động được thuận lợi.

- Tài chính không phải là sản phẩm của Nhà nước mà là sản phẩm của sự phát triển của lịch sử nhân loại gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ và thị trường

- Tài chính gồm hệ thống những quan hệ kinh tế trong phân phối những nguồn lực

tài chính của quá trình tái sản xuất kinh tế xã hội, phản ánh những quan hệ lợi ích kinh tế giữa người với người trong quá trình phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính

- Tài chính là một khoa học độc lập về các quy luật và tính quy luật của sự vận động trong quá trình tạo lập, sử dụng các nguồn lực sản xuất, về sự lựa chọn giữa nhu cầu của thị trường, của xã hội của con người và khả năng cho phép để đưa ra các quyết định sử dụng những nguồn lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh tiết kiêm hiệu quả

- Là công cụ thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước

* Đối tượng nghiên cứu của môn khoa học tài chính:

- Đối tương nghiên cứu của tài chính không phải là tiền, mà là những quan hệ kinh tế trong qua trình hình thành, phân phối và sử dụng những nguồn lực tài chính vào tái sản

xuất nền kinh tế xã hội Nghiên cứu những quy luật và tính quy luật của quá trình hình thành, tập trung, phân phối và sử dụng những tài nguyên kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu quá trình tái sản xuất nền kinh tế và những nhu cầu khác của xã hội, với mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế xã hội.

II NHỮNG CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH

2.1 Chức năng phân phối.

Chức năng phân phối của tài chính biểu hiện bản chất của phạm trù tài chính và được vận dụng vào đời sống kinh tế xã hội để phân phối của cải vật chất thông qua tiền tệ

Phân phối của tài chính là sự phân chia các nguồn tài chính mà chủ yếu là tổng sản phẩm quốc dân theo những tỷ lệ và xu hướng nhất định cho tiết kiệm và tiêu dùng nhằm tích tụ, tập trung vốn để đầu tư phát triển kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu chung của nhà nước, xã hội và dân cư.

Đối tượng phân phối của tài chính là các nguồn tài chính mà chủ yếu là tổng sản phẩm quốc dân (GNP) Quá trình phân phối của tài chính chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị và luôn luôn gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế

* Quy trình phân phối của tài chính

Phân phối của tài chính bao gồm quá trình phân phối lần đầu và quá trình phân phối lại, trong đó phân phối lại là chủ yếu

Phân phối lần đầu sản phẩm xã hội: Là sự phân phối được tiến hành trong lĩnh vực sản

xuất kinh doanh và dịch vụ cho những chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất hay thực hiện các dịch vụ, phân phối lần đầu nguồn tài chính được tạo ra trong khu vực kinh doanh hình thành những bộ phận của các quỹ tiền tệ như sau:

Trang 20

- Phần bù đắp những chi phí vật chất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh Phần này hình thành quỹ khấu hao tài sản cố định và quỹ bù đắp vốn lưu động đã ứng ra.

- Phần hình thành quỹ tiền lương để trả lương, tiền công cho người lao động

- Phần đóng góp vào việc hình thành các quỹ bảo hiểm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thương mại

- Một phần là thu nhập cho các chủ sở hữu và vốn hay nguồn tài nguyên

Như vậy, kết quả phân phối lần đầu các nguồn tài chính của xã hội dưới hình thức

giá trị mới chỉ hình thành nên những phần thu nhập cơ bản của các chủ thể, hình thành

các khoản thu cho các quỹ tiền tệ Dừng lại ở đó chưa thể đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của

toàn xã hội Do đó, nảy sinh yêu cầu khách quan của xã hội đối với tái phân phối

* Phân phối lại là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản được hình thành trong

phân phối lần đầu ra phạm vi toàn xã hội để đáp ứng nhu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội

Phân phối lại được thực hiện bằng 2 phương pháp:

- Huy động, tập trung một phần thu nhập của các tổ chức và dân cư vào các quỹ tiền

tệ dưới các hình thức: thuế, các khoản vốn nhàn rỗi gửi vào hệ thống tín dụng ngân hàng, mua các loại bảo hiểm phí, các loại cổ phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá

- Sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hội

* Khi vận dụng chức năng phân phối của tài chính vào thực tiễn để phân phối các nguồn tài chính đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau đây:

- Trước hết phân phối của tài chính phải xác định quy mô, tỷ trọng của đầu tư trong tổng sản phẩm quốc dân phù hợp với khả năng và sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi thời kỳ nhất định

- Phân phối vốn của tài chính phải đảm bảo giải quyết mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng

- Phân phối của tài chính phải giải quyết thỏa đáng các quan hệ về lợi ích kinh tế

của những chủ thể tham gia phân phối

2.2.Chức năng giám đốc của tài chính.

* Giám đốc của tài chính

Chức năng giám đốc của tài chính bắt nguồn từ sự cần thiết khách quan phải theo dõi, kiểm soát tiến trình thực hiện các quan hệ tài chính trong phân phối các nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân

Chức năng giám đốc của tài chính được thực hiện dựa vào sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân để kiểm tra việc phân phối các nguồn tài chính và tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ, được thực hiện thông qua sự vận động của tiền vốn nhưng không phải với tất cả các chức năng của tiền tệ mà chỉ sử dụng chức năng thước đo giá trị và

phương tiện trao đổi của đồng tiền.

- Sử dụng chức năng thước đo giá trị của tiền tệ để kiểm tra sự ăn khớp giữa giá trị với mức độ tiêu dùng và với mức độ lao động

- Sử dụng chức năng tiền tệ là phương tiện trao đổi khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính, thực hiện các hợp đồng kinh tế cho mục đích xác định Sự vận động thực tế của tiền vốn được chuyển từ người có nghĩa vụ thanh toán đến người nhận

Trang 21

Giám đốc bằng đồng tiền của tài chính được thực hiện không những đối với sự vận động của các nguồn tài chính mà còn đối với sự vận động của các quỹ hiện vật và lao động.

Như vậy, đối tượng giám đốc của tài chính là giám đốc phân phối các nguồn tài chính trong xã hội, giám đốc việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ ở tất cả các khâu của hệ thống tài chính

Đặc điểm giám đốc tài chính là giám đốc bằng đồng tiền đối với các hoạt động tài chính Ở đâu có sự vận động của tiền tệ thuộc phạm trù tài chính thì ở đó có giám đốc tài chính

Mục đích của giám đốc tài chính nhằm thúc đẩy phân phối các nguồn tài chính của

xã hội cân đối và hợp lý, phù hợp với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ theo mục đích đã định với hiệu quả cao, thúc đẩy chấp hành tết luật tài chính

Chức năng giám đốc của tài chính có hai khía cạnh:

- Thực hiện việc kiểm tra các mặt hoạt động tài chính - mặt kiểm tra kiểm soát thuần túy của tài chính Cho chúng ta nắm được một cách tổng quát kết quả thực tế của hoạt động tài chính cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả này trong một thời gian nhất

định

- Trên cơ sở thực hiện kiểm tra các mặt hoạt động của tài chính, đặc biệt trên cơ sở phân tích tài chính và thẩm tra tài chính cho phép đề ra những biện pháp cải tiến các hoạt động tài chính trong thời gian tiếp theo và như vậy sẽ tạo tiền đề cho quá trình phân phối sau diễn ra tết hơn, phù hợp với các quy luật và đáp ứng yêu cầu xã hội

Chức năng giám đốc tài chính không phải là một sắc lệnh hay pháp lệnh được ấn định từ trên đưa xuống và phải thực hiện, tức không xuất phát từ ý thức chủ quan của con người Đây là chức năng vốn có tồn tại trong phạm trù tài chính và chức năng này phát huy tác dụng khi được con người vận dụng trong thực tiễn

III HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

3.1 Hệ thống tài chính

Hệ thống tài chính gồm những khâu tài chính trong những lĩnh vực khác nhau, có mối liên hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính Là một bộ phận của hệ thống tài chính mỗi khâu tài chính phải được thỏa mãn các điều kiện:

- Gắn liền với sự vận động của các luồng tiền tệ để hình thành các tụ điểm tài chính

và luôn luôn gắn với sự hình thành các quỹ tiền tệ tương ứng

- Thể hiện tính đồng nhất về hình thức các quan hệ tài chính và tính mục đích của quỹ tiền tệ trong những lĩnh vực hoạt động

- Gắn với sự hoạt động của các chủ thể phân phối, điều hành tổ chức quản lý nhất định

3.2 Cấu trúc của hệ thống tài chính

Cấu thành hệ thống tài chính trong cơ chế kinh tế thị trường ở Việt Nam bao gồm các khâu: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính hộ gia đình và và các tổ chức

xã hội Hệ thống tài chính được khái quát hóa bằng sơ đồ sau đây:

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

Trang 22

*Tài chính Nhà nước

Tài chính nhà nước gồm các hoạt động kinh tế tài chính gắn liền với các chức năng của nhà nước, là bộ phận tài chính tập trung với hạt nhân là quỹ NSNN

- Chức năng

a) Phân phối nguồn lực tài chính trong nền kinh tế

Cung cấp những nguồn lực tài chính để thỏa mãn những yêu cầu về hàng hóa dịch

vụ công cộng mà những khu vực tài chính khác không thể đáp ửng được, nhằm tạo ra sự cân bằng về hàng hóa dịch vụ giữa các khu vực kinh tế và tạo ra sự phối hợp hài hòa trong việc phân bố những nguồn vốn của nền kinh tế

b) Điều chỉnh thu nhập

Tài chính nhà nước sử dụng những cơ chế chính sách vĩ mô, những công cụ phân

phối lần đầu và phân phối lại để thực hiện điều chỉnh những mặt mất công bằng trong phân phối thu nhập của nền kinh tế xã hội

c) Ổn định kinh tế vĩ mô

Tài chính nhà nước sử dụng những cơ chế chính sách vĩ mô, những công cụ điều tiết vĩ mô như chính sách thuế, chính sách ngân sách, chính sách tín dụng ngân hàng v.v.v , thiết lập môi trường kinh doanh, cơ chế thị trường vận hành có hiệu quả đảm bảo

sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế xã hội

- Hệ thống tài chính

+ Ngân sách Nhà nước

+ Hệ thống thuế

+ Tài chính các tổ chức kinh tế nhà nước và dịch vụ công cộng.

* Tài chính doanh nghiệp

+ Tài chính doanh nghiệp là gì: Gồm những quan hệ kinh tế vận hành theo cơ chế

kinh doanh và dịch vụ, đáp ứng yêu cầu nguồn lực tài chính cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp, nhu cầu của Nhà nước và nhu cầu khác của

xã hội

+ Vai trò: Là tụ điểm tích tụ và tập trung những nguồn lực tài chính gắn với sản xuất sản

phẩm và cung ứng dịch vụ xã hội Là cơ sở hình thành những nguồn lực tài chính của nền kinh tế, nền tảng của nền tài chính quốc gia

* Tài chính khu vực tài chính

+ Tài chính khu vực tài chính là gì: Là tài chính thuộc các trung gian tài chính:

Gồm các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, các HTX tín dụng, công ty bảo

hiểm các tổ chức môi giới

+ Chức năng của tài chính khu vực tài chính

- Tập trung những nguồn lực tài chính nhàn rỗi tạm thời của tất cả các tổ chức cá nhân mọi thành viên trong xã hội đưa vào đầu tư cho nền kinh tế

- Thực hiện các chức năng của tài chính

+ Vai trò của tài chính khu vực tài chính

TC Quốc tế TC tư và hộ

gia đình

TC các

tổ chức

xã hội

Trang 23

Là khâu quan trọng của hệ thống tài chính, cầu nối cung cầu về nguồn lực tài chính giữa các thực thể tài chính với nhau và với thị trường tài chính

* Tài chính khu vực tư nhân và các hộ gia đình

- Tài chính tư

Là tài chính gắn với các hoạt động kinh doanh, dịch vụ của các doanh nghiệp tư

nhân, các cá nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần

- Chức năng của tài chính tư

Tạo lập và sinh lời vốn Được hình thành từ các nguồn thu nhập khác nhau sử dụng

cho mục đích tiêu dùng đời sống sinh hoạt, sinh lời qua đầu tư hoạt động kinh doanh,

hoạt động tài chính

- Vai trò của tài chính tư

Là tụ điểm vốn quan trọng, nguồn tài trợ quan trọng cho ngân sách nhà nước, cung ứng vốn cho nền kinh tế

- Vai trò của tài chính các tổ chức xã hội

Là một kênh tích tụ và tập trung vốn quan trọng góp phần quan trọng vào hoạt động của hệ thống tài chính Nguồn vốn hình thành chủ yếu từ các nguồn kinh phí đóng góp của các hội viên, một số từ hỗ trợ ngân sách nhà nước,

IV VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯƠNG

4.1 Công cụ phân phối sản phẩm quốc dân (GNP)

- Xác định quy mô,tỷ trọng của đầu tư trong tổng sản phẩm quốc dân cho phù hợp với khả năng và sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi thời kỳ nhất định

Nhà nước tiến hành thông qua các chính sách, các công cụ tài chính theo hướng: ưu tiên cho tích lũy để ổn định và phát triển nền kinh tế xã hội Chi tiêu từ tích lũy của Nhà nước chủ yếu vào đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hội, dự trữ nhà nước

- Giải quyết các quan hệ lợi ích kinh tế của những chủ thể tham gia phân phối

+ Thông qua công cụ tài chính thực hiện phân phối theo lao động, theo lượng vốn

đóng góp, hình thành thu nhập của các cá nhân thành viên trong xã hội

+ Bảo đảm duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, an ninh quốc phòng

- Giải quyết quan hệ cân đối nền kinh tế quốc dân và từng ngành

+ Bảo đảm cung cấp các nguồn lực thỏa mãn nhu cầu hàng hóa công cộng mà

những lĩnh vực khác không thể đáp ứng

- Tạo lập và chu chuyển nguồn vốn, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội thuận lợi.

+ Nhà nước phân phối những nguồn lực tài chính cho sự phát triển nền kinh tế.

- Giải quyết quan hệ cân đối NSNN với cán cân xuất nhập khẩu

+ Thông qua thực hiện các chức năng của tài chính Nhà nước.

- Công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

4.2 Mục tiêu can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường.

- Khắc phục những khuyết tật vốn có của cơ chế thị trường

- Sử dụng mặt tích cực của thị trường giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội của đất nước

Trang 24

+ Tăng trưởng kinh tế.

+ Giải quyết việc làm

+ Kiềm chế lạm phát

+ Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

4.3 Các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế:

I BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG

1.1 Khái niệm

Tài chính là một phạm trù kinh tế, sự ra đời và tồn tại của tài chính gắn liền với sự

ra đời và tồn tại của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ Còn tài chính nhà nước ra đời và tồn tại gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ và nhà nước Đối với tài chính nhà nước cổ điển, nó được xem là một phạm trù lịch sử, còn tài chính nhà nước hiện đại là một phạm trù kinh tế đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử Bởi lẽ cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ, tài chính nhà nước đã tham gia vào quản lý nền kinh tế Tức là nhà nước đã tận dụng phạm trù tài chính để điều hành nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển

Tài chính nhà nước bao gồm các bộ phận:

- Ngân sách nhà nước

- Ngân sách nhà nước trung ương

- Dự trữ nhà nước

- Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước

- Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước

- Tài chính các doanh nghiệp nhà nước

Tài chính công là một bộ phận và là bộ phận quan trọng nhất của tài chính nhà nước Nói cách khác tài chính công là bộ phận tài chính nhà nước gắn liền với các hoạt động thuộc chức năng quản lý, điều hành và phục vụ của nhà nước

Trong số các nội dung nêu trên, tài chính công bao quát toàn bộ các bộ phận cấu thành của tài chính nhà nước, chỉ trừ tài chính doanh ngghiệp nhà nước Tài chính công khác với tài chính nhà nước ở hai điểm sau:

- Tài chính công không gắn liền với các hoạt động mang tính kinh doanh thu lợi nhuận, tài chính nhà nước bao gồm cả các hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước

Trang 25

- Tài chính công gắn với nhiệm vụ chi tiêu phục vụ thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước Tài chính nhà nước không chỉ phục vụ các chức năng của nhà nước mà còn bao gồm các hoạt động chi tiêu phục vụ việc cung ứng những hàng hóa và dịch vụ thông thường tại các doanh nghiệp nhà nước.

Từ việc phân tích trên, có thể rút ra khái niệm về tài chính công như sau:

Tài chính công: là thuật ngữ dùng để chỉ “các hoạt động thu, chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng vốn có (không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận) của nhà nước đối với xã hội

Khái niệm trên chỉ ra rằng:

- Xét về tính chất, tài chính công là những quan hệ tài chính gắn với sở hữu tài sản công; xét về nội dung vật chất là những quỹ tiền tệ thể hiện tài sản công

- Các quỹ tiền tệ thuộc tài chính công rất đa dạng, phong phú, trong đó quan trọng nhất là các quỹ của nhà nước; bên cạnh đó còn có các quỹ của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các tổ chức tôn giáo tín ngưỡng, các quỹ của người lao động đóng góp, các quỹ của các pháp nhân và thể nhân đóng góp

- Các quỹ đó phục vụ cho lợi ích chung ở phạm vi lớn nhỏ khác nhau, nhưng không bao giờ vì lợi ích tư riêng của một cá nhân, một tư nhân

Khi xây dựng khái niệm tài chính công, phải dựa trên tổng thể các tiêu thức cấu thành tài chính công (từ việc phải xuất phát từ khái niệm tài chính để phân biệt tài chính với tín dụng đến việc nhận thức đầy đủ các mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ "công" trong tài chính công)

Như vậy, tài chính công trước hết là tài chính và là tài chính của nhà nước, của các cấp chính quyền địa phương, của các đơn vị tổ chức công như hệ thống bảo hiểm và an sinh xã hội, các đơn vị hành chính, đơn vị sự nghiệp ở trung ương và địa phương Tài chính công phản ánh các quan hệ kinh tế - tiền tệ phát sinh trong quá trình hình thành và

sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của các chủ thể công - khác biệt với tài chính của các chủ thể là cá nhân, hộ gia đình, hoặc doanh nghiệp - Tài chính công phục vụ các hoạt động vì lợi ích cộng đồng và chịu sự điều chỉnh của hệ " luật công" Hoạt động tài chính công là hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với các chủ thể công mà trong đó ngân sách nhà nước là bộ phận cấu thành quan trọng nhất

Khái niệm luật công và luật tư mới được hình thành và chưa thông dụng ở nước ta Trong các nước công nghiệp phát triển, tất cả các loại hình doanh nghiệp khi tổ chức hoạt động kinh doanh kiếm lời đều thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tư "(Ví dụ như luật

doanh nghiệp, luật kinh doanh chứng khoán, luật ngân hành tín dụng ) Các hoạt động

của nhà nước trung ương, của các cấp chính quyền địa phương, của các tổ chức xã hội,

tập thể mà không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận, vì lợi ích chung của cộng đồng, thuộc

sở hữu của nhà nước, của chính quyền, của cộng đồng, ảnh hưởng đến quyền lợi của công chúng thì thuộc phạm vi điều chỉnh của hệ luật công"

1.2.Vai trò của tài chính công

Tài chính công là công cụ để nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý và điều hành đất nước Do vậy có các chức năng sau:

- Thứ nhất, vai trò tài chính công trong huy động nguồn lực tài chính để đảm bảo tăng trưởng kinh tế thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế hiện vật, vai trò tài chính nói chung,

tài chính công nói riêng không được phát huy, nguồn tài chính của ngân sách nhà nước

Trang 26

huy động được rất có hạn và phải bao cấp cho tất cả các lĩnh vực, trong khi đó thì các nguồn tài chính khác chưa được huy động.

Trong nền kinh tế thị trường và kinh tế mở, các nguồn thu nhập, các tài sản tài nguyên đều được tiền tệ hóa, nhu cầu vốn phát triển kinh tế, thực hiện CNH - HĐH rất lớn Nhưng nền kinh tế thị trường cũng tạo ra khả năng và điều kiện để huy động được nguồn vốn ngày càng lớn hơn Vấn đề đặt ra là phải phát huy vai trò của tất cả các khâu tài chính: NSNN, ngân hàng tín dụng, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm xã hội, dân cư và hộ gia đình để huy động vốn trong đó tài chính công đóng vai trò quan trọng nhất

- Thứ hai, vai trò tài chính công trong điều chỉnh kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô và khuyến khích kinh tế vi mô phát triển

Tài chính công được hình thành và sử dụng vì lợi ích công cộng trước hết là lợi ích tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân, phát triển y tế, chống đói nghèo những vấn đề to lớn trên của đất nước, tài chính tư

dù có lớn mạnh đến bao nhiêu cũng không thể giải quyết được và chính ở đó cần vai trò tài chính công

- Thứ ba, vai trò của tài chính công trong việc đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước

Nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước được tài chính công đảm bảo Nhà nước dùng quyền lực của mình (trước hết là quyền lực chính trị, sau nữa là quyền lực về kinh

tế, uy tín đối ngoại ) để phân phối một phần của cải xã hội về tay mình nhằm đáp ứng

nhu cầu duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước Các nguồn lực tài chính động viên vào tay nhà nước cả ở trong nước và ngoài nước, nhưng chủ yếu là ở trong

nước; từ mọi lĩnh vực hoạt động, mọi thành phần kinh tế, mọi chủ thể kinh tế xã hội, dưới

nhiều hình thức khác nhau, trong đó thuế là hình thức phổ biến, nguồn thu chủ yếu

Các nguồn lực trong tay nhà nước được sử dụng để trả lương cho bộ máy công chức, công an, quân đội nhà nước; quản lý hành chính; xây dựng trụ sở; mua sắm thiết bị cho hoạt động của các cơ quan nhà nước đồng thời đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước

- Thứ tư, vai trò của tài chính công trong hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc dân

Vai trò của tài chính công trong hệ thống tài chính quốc dân là do việc phát huy các chức năng của nó cùng với vai trò lãnh đạo của nhà nước và vai trò kinh tế nhà nước quyết định cụ thể, nó có vai trò chi phối; vai trò hướng dẫn; vai trò điều chỉnh đối với hoạt động tài chính của các chủ thể kinh tế - xã hội khác

Thông qua việc thực hiện các khoản thu, chi, nhà nước có thể khuyến khích, trợ giúp các thành phần kinh tế phát triển một cách có hiệu quả, hướng dẫn hoạt động kinh tế- tài chính khu vực tư nhân; nhờ kiểm tra của tài chính công có thể phát hiện những bất hợp lý trong phân phối các nguồn tài chính giữa tài chính và các chủ thể khác, từ đó có biện pháp điều chỉnh hoạt động kinh tế - tài chính trong nền kinh tế quốc dân

- Thứ năm, vai trò của tài chính nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế

- xã hội của nhà nước

+Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nền kinh tế phát triển

có hiệu quả

+Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội.+Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Trang 27

II HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CôNG

2.l Ngân sách nhà nước

Khi nhà nước xuất hiện trong thời kỳ sơ khai của lịch sử, tầng lớp thống trị xã hội là nhà nước xuất hiện -> cần có chỉ tiêu cho sự tồn tại của bộ máy chính trị, quân sự Nhà nước đầu tiên nay đã đặt ra những chế độ thu nộp của cải vật chất bằng thuế khoá, cống nộp hình thành nên quỹ tiền tệ vật chất của nhà nước, đầu tiên nhà nước sử dụng vào việc nôi dưỡng viên chức, quân đội, sau đó phạm vi sử dụng được mở rộng sang phúc lợi

xã hội và kinh tế

- Cùng với sự phát triển của xã hội, sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, nhà nước được phát triển và hoàn thiện vai trò và chức năng của nhà nước tăng

lên, nhà nước phải can thiệp vào quản lý vĩ mô nền kinh tế, tất cả tình hình đó làm cho

chi tiêu của Nhà nước gia tăng nhanh chóng và đồng thời nhà nước phải đa dạng hóa hình

thức thu nộp vào quỹ tiền tệ của Nhà nước để đảm bảo cho việc chi tiêu của nhà nước

- Quỹ tiền tệ được hình thành và phát triển như vậy đó là ngân sách nhà nước

* Ngân sách nhà nước là gì ?

Là toàn bộ các khoản dự toán về nguồn lực tài chính của một quốc gia, được hình

thành trên cơ sở quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, được cơ quan

nhà nước có thẩm quyền cao nhất quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực thi các chức năng nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước

Ngân sách nhà nước dự toán hàng năm được gọi là năm tài chính hoặc tài khóa, là giai đoạn mà trong đó dự toán thu chi nguồn lực tài chính được quốc hội phê chuẩn có

hiệu lực thi hành

Năm ngân sách của Việt Nam bắt đầu từ 01/01 và kết thúc vào 31 tháng 12 hàng năm

- Hoạt động tài chính đối ngoại

2.1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường

- Vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước

Vai trò về mặt tài chính này của ngân sách nhà nước được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục

đích xác định Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước phải được thỏa mãn từ các nguồn thu

bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế Đây là vai trò lịch sử của ngân sách nhà nước được xuất phát từ nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào, ngân sách nhà nước đều phải thực hiện và phát huy

Để phát huy vai trò của ngân sách nhà nước trong quá trình phân phối, huy động một bộ phận các nguồn tài chính vào ngân sách nhà nước cần thiết phải xác định:

* Mức động viên các nguồn tài chính từ đơn vị cơ sở đến hình thành nguồn thu của ngân sách nhà nước Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện các khoản chi của ngân sách nhà nước

* Tỷ lệ động viên (Tỷ suất thu) của ngân sách nhà nước trên GDP

- Vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội của ngân sách nhà nước.

Đây là vai trò của ngân sách nhà nước được xuất phát từ những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể trong một giai đoạn phát triển nhất định Trong cơ chế kinh tế thị trường ở Việt Nam, nhà nước có vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội và nhà nước đã sử dụng các công cụ kinh tế tài chính trong đó có ngân sách nhà nước để thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo 3 nội dung cơ bản:

Trang 28

* Kích thích sự tăng trưởng kinh tế:

Để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước đã sử dụng các công cụ bộ phận của ngân sách nhà nước là thuế và chi đầu trữ ngân sách của nhà nước để hướng dẫn, kích thích và tạo sức ép đối với các chủ thể trong hoạt động kinh tế

Với việc phối hợp vận dụng thuế trực thu và thuế gián thu, vận dụng thuế suất thích hợp có tác dụng hướng dẫn, khuyến khích thúc đẩy các thành phần kinh tế mở rộng hoạt động kinh doanh, tạo môi trường cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư và định hướng đầu tư của khu vực doanh nghiệp

Mặt khác tác dụng định hướng, điều chỉnh sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế còn được thực hiện thông qua các khoản chi của ngân sách nhà nước vào cơ sở kinh tế hạ tầng, vào các ngành kinh tế trọng điểm và mũi nhọn Các khoản chi đầu tư của ngân sách nhà nước có tác dụng định hướng hình thành cơ cấu kinh tế ở nước ta và là động lực thúc đẩy sự ra đời của các cơ sở kinh tế mới

* Điều tiết thị trường, giá cả và chống lạm phát.

Hai yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chí phối mạnh sự hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ

tác động đến giá cả, làm cho giá cả tăng hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường Để đảm bảo lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng, nhà nước sử dụng

ngân sách nhà nước để can thiệp vào thị trường thông qua các khoản chi của ngân sách nhà nước dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ nhà nước về hàng hóa và dự trữ tài chính

Trong quá trình điều chỉnh thị trường, ngân sách nhà nước còn tác động đến sự hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn và trên cơ sở đó thực hiện giảm lạm phát, kiểm soát lạm phát Điều này được thể hiện khi nhà nước áp dụng các biện pháp tích cực như: giải quyết cân đối ngân sách nhà nước, khai thác các nguồn vốn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia trên thị trường vốn với tư cách là người mua và bán chứng khoán

* Diều tiết thu nhập của dân cư để góp phần thực hiện công bằng trong xã hội.

Ngân sách nhà nước là một công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập của dân cư Ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến phân phối thu nhập trên phạm vi toàn xã hội ở cả hai mặt thi và chi bằng việc áp dụng thuế trực thu, thuế gián thu, chi phúc lợi công cộng, chi trợ cấp đối với bộ phận dân cư nằm trong diện thực hiện chính sách xã hội của nhà nước

2.1.3 Hệ thống ngân sách nhà nước

2.1.3.1 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước

Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong

quá trình thực hiện huy động quản lý và sử dụng nguồn thu và nhiệm vụ chi của mỗi cấp

ngân sách

Hệ thống NSNN Việt nam hiện nay bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương NS địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính có cấp hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân Cơ cấu hệ thống NSNN được mô tả theo sơ đồ:

Ngân sách

Nhà nước

Ngân sách Trung ương

Trang 29

Theo sơ đồ trên, hệ thống NSNN Việt nam hiện nay gồm 4 cấp:

+ Ngân sách trung ương

+ Ngân sách cấp tỉnh và cấp tương đương

+ Ngân sách cấp huyện và cấp tương đương

+ Ngân sách cấp xã và cấp tương đương

Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc:

+ Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn

thu và nhiệm vụ chi cụ thể

+ Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách nào do ngân sách đó cân đối.

+Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngành

* Vai trò của ngân sách các cấp

+ Vai trò của ngân sách Trung ương

- Tác động có tính tổ chức và xác định phương hướng hoạt động đối với các cấp trong hệ thống ngân sách

- Tập trung phần lớn các nguồn thu và bảo đảm nhu cầu chi để thực hiện những nhiệm vụ kinh tế xã hội trong toàn quốc

- Điều hòa vốn cho các cấp ngân sách địa phương tạo điều kiện cho các cấp ngân sách hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội thống nhất của nhà nước

+ Vai trò của ngân sách địa phương

- Là công cụ tài chính của các cấp chính quyền địa phương đảm bảo việc thực hiện

các nhiệm vụ kinh tế xã hội của các cấp chính quyền đã được phân cấp quản lý.

- Đảm bảo các nguồn vốn để thỏa mãn nhu cầu xây dựng kinh tế và các hoạt động văn hóa xã hội trên phạm vi địa phương

- Đảm bảo huy động, quản lý một phần vốn của NSTƯ hoạt động trên địa bàn địa phương

- Điều hòa vốn về NSTƯ trong những trường hợp cần thiết đẻ cân đối trong toàn bộ

hệ thông ngân sách

* Nguyên tắc quan hệ giữa ngân sách các cấp.

- Phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể

+ Thực hiện bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới bảo đảm công

bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới

+ Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý

Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó

+ Không dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác.

Ngân sách Địa phương

Ngân sách Tỉnh và TP

Ngân sách Huyện, quận

Ngân sách Xã, Phường, Thị trấn

Trang 30

2.1.4 Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước

* Thống nhất quản lý ngân sách

- Chỉ có một ngân sách tổng hợp tất cả các khoản thu - chi

- Thống nhất hệ thống báo biểu, mẫu biểu tài chính

- Thống nhất các nghiệp vụ thu, chi, kiểm tra hoạt động tài chính

* Đầy đủ và toàn bộ.

- Toàn bộ thu - chi phải được phản ảnh đầy đủ không để ngoài ngân sách các khoản thu chi, dẫn đến lãng phí tham nhũng

* Trung thực.

- Thể hiện chính xác các nghiệp vụ tài chính, tính chất của các khoản thu, chi

- Phù hợp giữa dự toán đã phê duyệt và thực tế thi hành

* Công khai

- Công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng về nội dung, số lượng các khoản thu chi chủ yếu Điều 3 luật NSNN, NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai có phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ NSNN, phê chuẩn quyết toán NSNN

2.l.5 Nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước.

Ngân sách nhà nước phải được cân đối theo nguyên tắc:

Tổng thu về thuế và phí > Tổng số chi thường xuyên (giành một phần tích lũy)Trường hợp ngân sách nhà nước có bội chi thì số bội chi ngân sách nhà nước phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, có nghĩa là khoản bội chi này cũng chính là khoản tăng chi cho đầu tư phát triển Vay bù đắp bội chi phải đảm bảo nguyên tắc không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển

Các ngành các cấp khi sử dụng khoản vay này phải có kế hoạch thu hồi vốn vay và bảo đảm cân đối ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn Ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt qua tổng số thu, trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) có nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm mà vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh thì chỉ được phép huy động vốn đầu tư trong nước theo quyết định của thủ tướng chính phủ theo từng công trình và phải cân đối ngân sách cấp tỉnh để chủ động trả

nợ khi đến hạn

Vay trong nước được thực hiện dưới hình thức phát hành trái phiếu chính phủ để bù đắp bội chi, mức và thời điểm phát hành do Bộ tài chính quy định để đáp ứng nhu cầu chi ngân sách Đối với địa phương huy động vốn đầu tư trong nước theo quyết định của thủ tướng chính phủ, thực hiện thông qua phát hành trái phiếu công trình, huy động sự đóng

góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân Các khoản vay nợ, huy động để xử lý bội chi

được đưa vào cân đối ngân sách, là khoản thu của ngân sách các cấp, được theo dõi như các khoản thu khác

2.2 THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

2.2.l Khái niệm

Để thực hiện các chức năng của mình nhà nước phải huy động một bộ phận nguồn tài chính của xã hội tập trung vào ngân sách nhà nước Bộ phận nguồn tài chính này được tập trung vào quỹ tiền tệ của nhà nước bằng những phương thức và hình thức khác nhau Hình thức cổ truyền từ trước cho đến nay để tạo nguồn thu ngân sách nhà nước đó là

Trang 31

thuế Ngoài ra nhà nước còn có nguồn thu từ hoạt động kinh tế nhà nước, các khoản thu huy động được nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách và một số khoản thu khác.

Tùy theo cách phân loại dựa trên những căn cứ khác nhau mà thu của ngân sách có thể bắt nguồn từ trong nước hay từ nước ngoài; có thể là các khoản thu thường xuyên hay thu bù đắp hoặc các khoản thu mang tính chất cưỡng chế hay tự nguyện Thu ngân sách phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của nhà nước

Như vậy thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa nhà nước

và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động các nguồn lực tài chính để hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của nhà

nước

2.2.2 Đặc điểm:

- Chỉ gồm những khoản nhà nước huy động vào ngân sách

- Không ràng buộc trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho người nộp

- Phần lớn mang tính cưỡng bức

- Không bao gồm những khoản nhà nước đi vay

2.2.3 Cơ cấu thu ngân sách

a Thuế.

* Khái niệm về thuế

Là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật định đối với các pháp nhân

và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước

* Đặc điểm:

-Mang tính bắt buộc

-Không hoàn trả trực tiếp cho người nộp

-Đo pháp luật quy định, nhà nước là chủ thể duy nhất ban hành và sửa đổi luật thuế, đặt ra các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu chi tiêu của nhà nước

- Bản chất kinh tế: thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước với các pháp nhân, thể nhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện phân phối tài chính

* Phân loại thuế

Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, quản lý và tổ chức có thể tiến hành phân loại thuế căn cứ vào các tiêu thức sau:

- Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế.

Với cách phân loại này toàn bộ số thuế trong xã hội được phân thành hai loại: Thuế trực thu và thuế gián thu

+Thuế trực thu: Là loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp vào các thể nhân và pháp nhân khi có thu nhập hoặc tài sản được quy định nộp thuế

Thuế trực thu là một hình thức đánh thuế theo địa chỉ: một cá nhân, một hộ gia đình hay một doanh nghiệp Quan hệ giữa người nộp thuế và nhà nước thể hiện một cách rõ ràng, người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế phải gánh chịu toàn bộ số thuế theo luật định mà không có khả năng chuyển số thuế ấy sang cho một người nào khác gánh chịu

Bằng thuế trực thu nhà nước thực hiện phân phối và điều tiết thu nhập của người nộp thuế vào lúc phát sinh thu nhập

Trang 32

Thuế trực thu thường đụng chạm trực tiếp tới lợi ích kinh tế của người nộp thuế, dễ

gây tâm lý bất bình trong xã hội Vì vậy nhà nước phải xác định mức thu hợp lý, phù hợp với khả năng đóng góp của người nộp thuế

+Thuế gián thu: Là một loại thuế đánh vào việc tiêu thụ hàng hóa dịch vụ trên thị trường và được ấn định trong giá cả hàng hóa hoặc cước phí dịch vụ

Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng, nó thể hiện mối quan hệ gián tiếp giữa nhà nước và người nộp thuế Thông qua cơ chế giá cả thuế gián thu được chuyển cho người tiêu dùng gánh chịu; người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ thu hộ thuế gián thu cho nhà nước

- Phân loại theo đối tượng đánh thuế

Theo cách phân loại này thuế được thu vào các đối tượng sau:

+Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ

+Thuế đánh vào hàng hóa

+Thuế đánh vào thu nhập

+Thuế đánh vào tài sản

* Các yếu tố cơ bản cấu thành luật thuế

Luật thuế bao giờ cũng bao hàm những chuẩn mực pháp lý đặc thù mà thiếu chúng thì sẽ mất hẳn tính hiệu lực Các yếu tố cơ bản của luật thuế bao gồm:

- Tên gọi của thuế:

Bất kỳ loại thuế nào cũng có tên gọi Tên gọi của thuế xác định nội dung kinh tế của thuế Thông thường người ta dựa vào đối tượng đánh thuế để đặt tên cho một loại thuế Khi đặt tên cho thuế cần ngắn gọn, dễ hiểu, từ dùng mang tính phổ thông

- Người nộp thuế

Người nộp thuế là những pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định

- Đối tượng của thuế

Đối tượng đánh thuế là mục tiêu tác động của thuế Thông thường đối tượng đánh thuế là thu nhập, tài sản thuộc sở hữu của người nộp thuế được luật thuế quy định làm căn cứ để tính thuế

Xác định đối tượng của thuế là xác định nguồn vật chất mà người ta tính toán trên

đó số tiền thuế phải nộp

- Đơn vị tính thuế

Là đơn vị đo lường đối tượng chịu thuế được luật thuế quy định

- Biểu thuế, thuế suất.

Trong các luật thuế biểu thuế quy định các hoạt động ngành nghề thuộc diện chịu thuế, các loại hàng hóa, tài sản, thu nhập thuộc diện chịu thuế và tương ứng áp dụng các loại thuế suất khác nhau

Thuế suất là mức thuế (số tiền thuế) được ấn định trên mỗi đơn vị của đối tượng đánh thuế

Thuế suất có ba loại:

+ Thuế suất cố định tuyệt đối: Là mức thuế ổn định tính bằng số tuyệt đối cho mỗi

đơn vị của các đối tượng chịu thuế Loại thuế suất này áp dụng đơn giản, người nộp thuế tính được số thuế phải nộp cho nhà nước đồng thời nhà nước dễ dàng kiểm soát nguồn thu thuế của ngân sách

Trang 33

Tuy nhiên, thuế suất cố định tuyệt đối không thích ứng kịp thời với sự biến động của giá cả và mức độ lạm phát trong nền kinh tế quốc dân.

+ Thuế suất tỷ lệ cố định: Là mức thuế được tính bằng phần trăm cho mỗi đơn vị

của đối tượng chịu thuế nhất định Thuế suất này vừa phát huy được ưu điểm đồng thời

lại vừa khắc phục được nhược điểm của thuế suất cố định tuyệt đối và được sử dụng phổ

biến ở các quốc gia cũng như ở Việt Nam

+ Thuế suất lũy tiến: Là loại thuế suất tỷ lệ nhưng có đặc điểm là thuế suất tăng dần

lên theo mức tăng lên của đối tượng tính thuế

Thuế suất lũy tiến có hai loại cơ bản:

Thuế suất lũy tiến từng phần: là một hệ thống thuế suất lũy tiến gồm nhiều bậc áp dụng cho từng phần thu nhập khác nhau của đối tượng chịu thuế

Thuế suất lũy tiến toàn phần: Là loại thuế suất lũy tiến áp dụng phần trăm tăng lên theo

toàn bộ thực thu nhập tăng lên của đối tượng chịu thuế.

Một doanh nghiệp có doanh thu chịu thuế là 5.OOO.OOOVND

b.Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước

- Thu từ bán tài sản của nhà nước trong quá trình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

- Thu từ bán tài sản của nhà nước đã cho các chủ thể trong xã hội thuê trước đây

- Thu từ sử dụng vốn thuộc nguồn của ngân sách nhà nước

- Thu từ bán lại các cơ sở kinh tế của nhà nước cho các thành phần kinh tế

- Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên

Ví dụ: Lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, lệ phí công chứng

Lệ phí mang tính chất pháp lí, thường do các cơ quan hành chính các cấp ban hành

theo sự phân cấp của nhà nước Khoản thu này gắn liền với việc nhà nước cung cấp lợi

ích hoặc dịch vụ chuyên dùng nào đó, vì vậy nó mang tính chất hoàn trả trực tiếp.

* Phí: Là khoản thu mang tính bù đắp một phần chi phí thường xuyên và bất thường

về các dịch vụ công cộng hoặc bù đắp chi phí cho các hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ cho người nộp phí

Phí có hai loại :

- Các loại phí mang tính phổ biến

- Các loại phí mang tính địa phương

d.Vay nợ và viện trợ của chính phủ

* Vay nợ chính phủ

Để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước và đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển kinh

tế nhà nước thực hiện huy động vốn bằng cách vay nợ trong nước và nước ngoài Vay nợ chính phủ phản ánh bằng việc vận dụng tín dụng nhà nước, tín dụng nhà nước là một hoạt động thuộc lĩnh vực tài chính tiền tệ, gắn liền với hoạt động của ngân sách nhà nước.Huy động vốn bằng vay nợ chính phủ gồm có hai loại:

- Vốn ngắn hạn: vay ngắn hạn để bù đắp các khoản bội chi tạm thời của ngân sách

nhà nước Thời hạn vay thường dưới 1 năm Nguồn trả nợ của tín dụng nhà nước ngắn hạn là các khoản thu ngân sách được thực hiện trong tương lai.

Trang 34

- Vốn trung hạn và dài hạn: vay trung hạn và dài hạn nhằm huy động vốn cho đầu

tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng mà hiệu đủ mang lại sau một thời gian khá dài

Thời hạn vay thường từ 1 năm đến 10 năm đối với vay trung hạn và từ 10 năm đến 20

năm đối với vay dài hạn Nguồn trả nợ được thu được từ phí và giá dịch vụ và từ nguồn thu của ngân sách nhà nước

+ Vay nợ trong nước

Vay nợ trong nước được thực hiện bằng cách phát hành công trái Công trái phiếu là chứng chỉ nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán nhà nước do nhà nước phát hành để vay dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội và ngân hàng Công trái phiếu có nhiều tên gì khác nhau như: Công phiếu quốc gia, trái phiếu nhà nước, chứng chỉ đầu tư

Ở Việt Nam chính phủ ủy nhiệm cho kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu chính phủ dưới ba hình thức:

- Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, thời hạn dưới 1 năm, được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối tạm thời của ngân sách nhà nước trong năm tài chính

- Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, thời hạn trên một năm, được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách nhà nước xuất phát từ yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế

- Trái phiếu công trình: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, thời hạn trên một năm được phát hành để huy động vốn cho các công trình xác định đã được duyệt và ghi trong kế hoạch đầu tư của nhà nước

Việc phát hành trái phiếu chính phủ vào thị trường được thực hiện bằng ba phương thức sau:

- Phương thức đấu thầu: Với phương thức phát hành này người đấu thầu phải có một số vốn nhất định và khi trúng thầu trong thời hạn qui định phải nộp tiền vào kho bạc nhà nước để nhận trái phiếu tiêu thụ Phương thức này làm cho việc tiêu thụ trái phiếu nhanh, chi phí giá trị và nhà nước tập trung nhanh chóng vốn vay vào ngân sách nhà nước

- Phương thức tiêu thụ qua các đại lý: các ngân hàng thương mại, các công ty tài hính là những tổ chức có thể làm đại lý tiêu thụ trái phiếu cho nhà nước Phương thức này làm giảm chi phí tiêu thụ nhưng tiến độ tập trung vốn vào ngân sách nhà nước không nhanh chóng bằng phương thức trên

- Phương thức phát hành trực tiếp: Kho bạc nhà nước tự tổ chức tiêu thụ thông qua

hệ thống hoạt động của mình ở trong nước và văn phòng đại diện ở nước ngoài Phương thức này có nhược điểm là chi phí cho việc tiêu thụ rất cao, tốn kém sức người, sức của, tiến độ huy động chậm và bị động nhiều mặt

+ Vay nợ nước ngoài

Cùng với việc huy động nguồn vốn trong nước, việc vay nợ nước ngoài là một phương thức của tín dụng nhà nước Vay nợ nước ngoài của chính phủ thường biểu hiện dưới ba hình thức :

- Hiệp ước hoặc hiệp đình vay nợ giữa hai chính phủ

- Hiệp định vay mượn giữa chính phủ với các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới.

- Phát hành trái phiếu chính phủ ra nước ngoài

* Viện trợ quốc tế không hoàn lại

Trang 35

Viện trợ quốc tế không hoàn lại là một hình thức đầu tư quốc tế gián tiếp Là nguồn

vốn quan trọng bổ sung cho kênh huy động vốn ở trong nước, là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cấp cho chính phủ một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội

2.3 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

2.3.1 Chi thường xuyên

(1) Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục,

sự nghiệp khoa học, công nghệ, môi trường, những sự nghiệp khác do trung ương quản lý (Trường phổ thông dân tộc nội trú, đào tạo sau đại học, đại học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp đào tạo nghề, những hình thức đào tạo bồi dưỡng khác)

- Phòng bệnh, chữa bệnh, sự nghiệp y tế khác

- Các trại phòng chống tệ nạn xã hội, các hoạt động nghệ thuật, xã hội

- Thông tin, phát thanh, truyền hình

- Bồi dưỡng huấn luyện viên, vận động viên các đội tuyển quốc gia, giải thi đấu quốc gia, quốc tế, quản lý các cơ sở thi đấu TDTT

- Nghiên cứu khoa học và công nghệ

- Các hoạt động về môi trường

- Những sự nghiệp khác

(2) Chi các hoạt động sự nghiệp kinh tế do các cơ quan trung ương quản lý

- Giao thông

- Nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp lâm nghiệp

- Điều tra cơ bản và đo đạc địa giới hành chính các cấp, vẽ bản đồ, đo đạc và cắm mốc biên giới, đo đạc lập, lưu trữ bản đồ hồ sơ địa chính

- Định canh, định cư, kinh tế mới

(3) Chi quốc phòng, an ninh, trật tư và an toàn xã hội.

3-1: Quốc phòng

+ Đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần, chính sách cho toàn quân.

+ Đào tạo, huấn luyện, nghiên cứu khoa học,mua sắm trang thiết bị vũ khí và các

phương tiện quan sự cho toàn quân chính quy và địa phương

+ Đảm bảo trang thiết bị vũ khí cho dân quân tự vệ, quân nhân dự bị.

+ Chuẩn bị tài liệu, thiết kế, công nghệ, hướng dẫn triển khai kỹ thuật, các loại dụng cụ chuyên dùng, các loại trang thiết bị đặc chủng quốc phòng

+ Diễn tập dài ngày ( > 5 ngày) của các đơn vị dự bị động viên thuộc bộ đội chủ lực + Điều động các đơn vị dân quân tự vệ, quân nhân dự bị từ tỉnh này sang tỉnh khác + Xây dựng mới sửa chữa các công trình quân sự đặc biệt,các công trình chiến đấu,

trụ sở làm việc, doanh trại, kho tăng của cơ quan quân sự từ cấp huyện trở lên

3-2 An ninh, trật tư an toàn xã hội

+ Đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần, chính sách xã hội cho lực lượng công an

nhân dân

+ Đào tạo, huấn luyện, nghiên cứu khoa học

+ Mua sắm trang thiết bị vũ khí và các phương tiện nghiệp vụ cho lực lượng công

an nhân dân

+ Quản lý và cải tạo phạm nhân.

+ Phòng cháy và chữa cháy

Trang 36

+ Xây dựng mới, sửa chữa các công trình, đặc biệt, doanh trại, trụ sở làm việc,

doanh trại, kho tăng của lực lượng công an nhân dân, sửa chữa trại giam,trại cải tạo phạm nhân từ cấp huyện trở lên

(4) Chi hoạt động của quốc hội, chủ tịch nước, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, hệ thống tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân

(5) Chi hoạt động của các cơ quan Trung ương của Đảng CSVN

(6) Chi hoạt động các cơ quan Trung ương mặt trận tổ quốc VN, Đoàn TN-CS HCM, Hội cự chiến binh VN, Hội liên hiệp phụ nữ VN, Hội nông dân VN, Hoạt động của Tổng liên đoàn Lao động VN

(7) Chi Trợ giá theo chính sách của Nhà nước

(8) Chi cho các chương trình quốc gia do Trung ương quản lý

(9) Chi hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ ,

(l0) Chi thực hiện các chính sách đối với thương bính, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, gia

đình có công với cách mạng và các đối tượng chính sách xã hội khác

(11) Tài trợ cho các tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở trung ương theo luật định

(12) Trả lãi tiền vay của chính phủ

(13) Viện trợ

(14) Những chi khác theo luật định

2.3.2 Chi đầu tư phát triển

1) Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn

do trung ương quan lý

2) Đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước góp vốn cổ phần, liên doanh vào các DN thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo luật đinh

3) Chi quỹ hỗ trơ đầu tư quốc gia, hỗ trơ phát triển các chương trình, dư án phát triển kinh tế

- Kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước

Qúa trình ngân sách nhà nước cho thấy toàn bộ hoạt động của một ngân sách từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc để chuyển sang ngân sách của năm tài chính mới Thời gian của quá trình ngân sách dài hơn so với năm tài chính (còn được gọi là năm ngân sách hay tài khóa) Điều đó thể hiện ở chỗ giai đoạn hình thành ngân sách được bắt dầu trước năm tài chính, giai đoạn quyết toán ngân sách được thực hiện sau năm tài chính

Qúa trình ngân sách ở các nước cũng như ở nước ta được tiến hành theo luật định,

đó là luật ngân sách nhà nước

a Hình thành ngân sách

Hình thành ngân sách nhà nước là giai đoạn mở đầu xác định các mục tiêu và nhiệm

vụ động viên, phân phối tối ưu các nguồn vốn.

Giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính vững chắc và chính

xác của ngân sách do đó mà tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tết quá trình chấp hành

Trang 37

ngân sách nhà nước, phát huy tác dụng chủ đạo của ngân sách nhà nước đối với các khâu tài chính khác.

Qúa trình hình thành ngân sách nhà nước bao gồm các bước:

* Lập ngân sách

* Phê chuẩn ngân sách ở quốc hội

* Công bố ngân sách nhà nước

- Hệ thống tổ chức thu ngân sách nhà nước hiện nay ở nước ta có các cơ quan thuế và các

cơ quan khác được giao nhiệm vụ thu

- Quản lý quỹ ngân sách nhà nước do kho bạc nhà nước thực hiện

* Chấp hành chi ngân sách nhà nước: Là quá trình tổ chức chi ngân sách nhà nước và quản lý các khoản chi của ngân sách nhà nước

Việc cấp vốn, kinh phí của ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định:

+ Căn cứ vào dự toán ngân sách nhà nước được giao, các đơn vị thụ hưởng lập kế hoạch

chi gửi cơ quan tài chính cùng cấp và kho bạc nhà nước nơi giao dịch để được cấp phát vốn kinh phí

+ Cơ quan tài chính xem xét kế hoạch chi của đơn vị, căn cứ vào khả năng ngân sách để

bố trí số chi hàng quý thông báo cho đơn vị thụ hưởng và kho bạc nhà nước để thực hiện.+Trên cơ sở kế hoạch chi do cơ quan tài chính thông báo, thủ trưởng đơn vị thụ hưởng ra lệnh chuẩn chi, kho bạc nhà nước kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết và hực hiện cấp phát, thanh toán

+ Mọi khoản chi của ngân sách nhà nước được thực hiện trực tiếp từ kho bạc nhà nước

cho các đối tượng được thụ hưởng

c Kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước

Nội dung của giai đoạn quyết toán ngân sách nhà nước là phản ánh, đánh giá và kiểm tra lại quá trình lập và chấp hành ngân sách nhà nước

Khi kết thúc năm tài chính cùng với việc khóa sổ của các tổ chức hoạt động gắn liền với quỹ ngân sách nhà nước đòi hỏi phải lập quyết toán ngân sách nhà nước theo số thực thu, thực chi Do đó cuối mỗi năm ngân sách Bộ tài chính hướng dẫn việc khóa sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán ngân sách theo đúng các nội dung ghi trong dự toán năm được duyệt và theo mục lục ngân sách nhà nước

Trang 38

CHƯƠNG IV TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

(8 TIẾT)

I KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp :

Ở nước ta, theo luật định một đơn vị được gọi là doanh nghiệp, khi đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau :

- Được luật pháp nhà nước thừa nhận về tư cách pháp nhân

- Được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh.Trong nền kinh tế thị trường, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú Căn cứ vào phương thức tạo thu nhập, ta có thể phân chia các doanh nghiệp thành hai loại:

- Doanh nghiệp tài chính (là các đơn vị chuyên kinh doanh tiền tệ - tín dụng) bao

gồm: các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng, quỹ đầu tư

- Doanh nghiệp phi tài chính: bao gồm các đơn vị kinh doanh lấy sản xuất, kinh

doanh hàng hóa, dịch vụ làm hoạt động chính Trong phạm vi chương này chỉ đề cập đến

hoạt động của những doanh nghiệp phi tài chính, một bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế cơ sở - là nơi sáng tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho nền kinh tế quốc dân

Ra đời và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ các doanh nghiệp đều có đặc điểm chung nổi bật là khi tiến hành hoạt động kinh doanh với bất kỳ quy mô nào đều phải có một khối lượng vốn tiền tệ nhất định Đây chính là điều kiện tiên quyết để cho doanh nghiệp tồn tại, hoạt động và phát triển

Số vốn tiền tệ đó có thể được tạo lập bởi nhiều nguồn tài chính khác nhau và luôn

có sự vận động không ngừng để thực hiện các yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp

Trong kinh doanh, sự vận động của vốn tiền tệ được diễn ra rất đa dạng - đó là sự dịch chuyển các luồng giá trị có thể diễn ra trong cùng phạm vi của một doanh nghiệp hoặc làm thay đổi hình thái biểu hiện giá trị của một quá trình kinh doanh.

Chúng ta có thể khái quát một cách cơ bản sự vận động vốn tiền tệ của các doanh nghiệp qua các sơ đồ sau :

T - H ( TLSX - SLĐ ) -> SX - H - T

Hoặc đối với các doanh nghiệp thương mại :

T-H-T’

Cũng cần thấy rằng, chính từ sự vận động của vốn tiền tệ trong quá trình kinh doanh

đã làm nảy sinh hàng loạt quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị và chúng đã cấu thành nên bản chất của phạm trù tài chính doanh nghiệp Cụ thể các quan hệ kinh tế đó là :

- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước

Mối quan hệ kinh tế này thể hiện: trong quá trình hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo luật định và ngược lại nhà nước

Trang 39

cũng có sự tài trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp để thực hiện chính sách kinh tế

vĩ mô của mình

- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với thị trường

Kinh tế thị trường có đặc trưng cơ bản là các mối quan hệ kinh tế đều thực thi thông qua hệ thống thị trường: Thị trường hàng hóa tiêu dùng, thị trường hàng hóa tư liệu sản xuất, thị trường tài chính và do đó, với tư cách là người kinh doanh, hoạt động của doanh nghiệp không thể tách rời hoạt động của thị trường, các doanh nghiệp vừa là người mua các yếu tố của hoạt động kinh doanh, người bán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; đồng thời vừa là người tham gia huy động mua và bán các nguồn lực tài chính nhàn rỗi của xã hội

- Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp

Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không đơn thuần chỉ phát sinh các mối quan hệ kinh tế với ngân sách nhà nước, thị trường mà còn phát sinh những mối quan hệ thanh toán, tạm ứng giữa các phòng ban trong doanh nghiệp; quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hòa giữa các đơn vị trực thuộc trong nội bộ doanh nghiệp với Tổng công ty; và những quan hệ về chi trả tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt giữa doanh nghiệp với người lao động

Nhìn chung, các quan hệ kinh tế nêu trên đã khái quát hóa toàn bộ những khía cạnh

về sự vận động vốn tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đặc trưng của sự vận động vốn tiền tệ là luôn luôn gắn liền chặt chẽ với quá trình phân phối các nguồn tài chính của doanh nghiệp và xã hội nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền

tệ chuyên dùng của doanh nghiệp phục vụ cho quá trình kinh doanh

Tóm lại, từ những phân tích trên ta có thể hiểu tài chính doanh nghiệp trên các khía cạnh sau:

- Về mặt hiện tượng: tài chính doanh nghiệp biểu hiện sự vận động, chuyển dịch các luồng giá trị phục vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Về mặt bản chất: tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.Vai trò của tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan trong nền kinh tế

hàng hóa - tiền tệ Sự vận động của nó một mặt phải tuân theo những quy luật kinh tế

khách quan, mặt khác do tài chính doanh nghiệp là các quan hệ nằm trong hệ thống những quan hệ kinh tế gắn liền với hoạt động kinh doanh nên tài chính doanh nghiệp còn phải chịu sự chi phối bởi các mục tiêu và phương hường kinh doanh của các chủ thể

doanh nghiệp Nhưng đến lượt mình, tài chính doanh nghiệp lại có tác động theo hướng

thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động kinh doanh Trên góc độ này tài chính doanh nghiệp được xem là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong quản lý kinh doanh.Như vậy, để phát huy vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với các hoạt động kinh doanh, đòi hỏi:

- Người quản lý phải có trình độ nhất định trong việc sử dụng công cụ tài chính doanh nghiệp để tạo nguồn tài chính và tổ chức phân phối, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính đó

- Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước cần hướng vào tạo lập môi trường

kinh tế - xã hội sao cho các doanh nghiệp có được những thuận lợi về mặt tài chính.

Trang 40

Nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, có sự giao lưu

mở cửa với kinh tế nước ngoài và nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, cho nên tài chính doanh nghiệp đã được trả về đúng vị trí khách quan và vai trò của nó được đề cao trên các mặt sau đây :

* Huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sử đụng vốn có hiệu quả cao nhất

- Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung duy trì một cơ chế tài chính tập trung cao độ

và bao cấp tràn lan không tách bạch rõ ràng giữa tài chính nhà nước và tài chính doanh nghiệp Ngân sách nhà nước đã làm thay các chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của tài chính doanh nghiệp, xem nhẹ tính tự chịu trách nhiệm và làm suy yếu vai trò then chốt của tài chính doanh nghiệp, đã tạo ra khoảng cách ngày càng lớn giữa nhu cầu về vốn và khả năng hoàn vốn, giữa nha cầu đầu tư và khả năng huy động vốn

Chuyển sang cơ chế thị trường, phạm vi hoạt động giữa tài chính nhà nước và tài chính doanh nghiệp đã được phân biệt rành mạch Vai trò đảm bảo nguồn vốn hoạt động kinh doanh của tài chính doanh nghiệp ngày càng đặt ra như một vấn đề có tính cấp bách.Trong nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đã hình thành thị trường vốn các doanh nghiệp phải biết chủ động khai thác, thu hút có hiệu quả các nguồn tài chính trên thị trường để phục vụ kịp thời và đầy đủ cho yêu cầu kinh doanh, phát triển của mình

Tuy nhiên, tính hiệu quả của việc huy động vốn còn phụ thuộc vào trình độ của người quản lý trong việc:

+ Xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần huy động.

+ Lựa chọn nguồn tài trợ.

+ Lựa chọn các phương thức và đòn bẩy kinh tế để huy động vốn.

- Song song với quá trình huy động vốn, đảm bảo vốn tài chính doanh nghiệp còn

có vai trò tổ chức sử dụng vốn để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất - đây là vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trong quá tình cạnh tranh khắc nghiệt theo cơ chế thị trường Trong kinh doanh, tính hiệu quả của việc sử dụng vốn được biểu hiện:

+ Về mặt kinh tế: vốn của các doanh nghiệp không ngừng được bảo toàn và phát

triển

+ Về mặt xã hội: các doanh nghiệp không chỉ làm tròn nghĩa vụ của mình đối với

nhà nước mà còn không ngừng nâng cao mức thu nhập của người lao động

* Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh

Tài chính doanh nghiệp có vai trò kích thích và điều tiết hoạt động tính doanh đó là kết quả tổng hợp của việc vận dụng chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp vào

trong việc giải quyết lợi ích kinh tế đối với nhiều chủ thể khác nhau trong đó có doanh

nghiệp

Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp thuộc về bản tính vốn có của một phạm trù kinh tế khách quan, chức năng này có phát huy tác dụng như thế nào đối với

hoạt động kinh doanh là tùy vào khả năng vận dụng của người quản lý.

- Người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp qua việc tạo lập được cơ chế phân phối thu nhập, phân phối các quỹ tiêu dùng cơ chế xây dựng giá phù hợp với quy luật sẽ làm cho tài chính doanh nghiệp trở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra động lực kinh tế tác động tới tăng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy tăng vòng quay vốn,

kích thích tiêu dùng xã hội

Ngày đăng: 06/06/2016, 09:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ : - bai giang môn tài chính tiền tệ
Sơ đồ : (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w