1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đáp án 15 câu hỏi triết

21 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 269 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Bản chất sáng tạo: Ý thức được hành thành và phát triển trong hoạt động lđ sáng tạo của con người; ý thức không chụp lại nguyên si sự vật được phản ánh mà quá trình phản ánh sự vật ở

Trang 1

MỤC LỤC

Câu 1: Anh/Chị hãy phân tích bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính

cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học.

Tr

ả lời:

Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học thể hiện ở chỗ:

1/ Giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học từ quan điểm thực tiễn:

- Chủ nghĩa duy vật cũ không nhìn thấy tính năng động sáng tạo của ý thức

- Chủ nghĩa duy tâm nhận thấy tính năng động sáng tạo của ý thức nhưng đã tuyệt đối hóa, thần thánh hóa ý thức thành cái siêu nhiên, thần thánh

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng : vật chất có trước v quyết định ý thức, ý thức con người xâm nhập vào lực lượng vật chất, thông qua đó làm biến đổi hiện thực vật chất theo yêu cầu con người CNDVBC đối lập v CNDV tầm thường v chủ nghĩa duy tâm

3/Tính duy vật triệt để: CNDVBC ko chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn duy vật trong lĩnh vực xã hội, CNDV lịch sử là cống hiến vĩ đại C.Mac trong kho tang tư tưởng loài người:

- CNDV cũ chỉ duy vật trong tự nhiên, còn trong lĩnh vực xã hội hoàn toàn duy tâm

- Mác – Enghen vận dụng CNDVBC vào nghiên cứu lĩnh vực xã hội v tổng kết lịch sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội của loài người trên cơ sở khái quát thực tiễn mới của giai cấp vô sản  CNDV lịch sử ra đời

- Lê nin: “ TH Mác là 1 CNDV hoàn bị, nó cung cấp cho loài người v giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại

- CNDVBC ko chỉ giải thích thế giới mà còn góp phần cải tạo thế giới.

Sức mạnh vật chất (của phép BCDV) có thể đánh đổ lực lượng vật chất bảo thủ và phản động, xây dựng xã hội mới của con người dành cho con người- chủ nghĩa cộng sản

“ Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó xâm nhập vào quần chúng

- CNDVBC khẳng định sự tất thắng của cái mới.

Mọi cái hiện hữu đều tồn tại trong mình sự tự phủ định Cuộc đấu tranh của cái cũ và cái mới là một cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn, phức tạp, cái mới có thế thất bại tạm thới nhưng cuối cùng sẽ thắng lợi

Trang 2

Chủ nghĩa cộng sản là cái mới, sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản-cái cũ.

CNDVBC trở thành công cụ tinh thần để xóa bỏ cái cũ lỗi thời, xây dựng cái mới tiến bộ

- CNDVBC là hệ thống mở, là kim chỉ nam cho hành động.

Cùng với quá trình đào sâu và mở rộng của hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của nhân loại, chủ nghĩa DVBC ko ngừng khái quát các thành tựu khoa học và những kinh nghiệm thực tiễn của nhân loại để bổ sung, hiệu chỉnh nhằm hoàn thiện chính mình

Câu 2: Đảng ta khẳng định: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ

thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Anh/Chị hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học (cơ sở lý luận và cơ sở phương pháp luận) của khẳng định đó.

Trả lời:

Cơ sở lý luận và cơ sở phương pháp luận của khẳng định trên là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, và nguyên tắc khách quan

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn chỉ ra rằng:

1 Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và là tiêu chuẩn của lý luận; lý luận hình thành, phát triển phát xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

- Thực tiễn là cơ sở, là động lực của lý luận: Con người bắt đầu quan hệ với TG không phải

bằng lý luận mà bằng thực tiễn, chính từ hoạt động thực tiễn mà nhận thức ở con người được hình thành và phát triển Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người tác động vào

TG xung quanh buộc chúng phải bộc lộ những đặc điểm, thuộc tính để con người nhận thức Ban đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp khái quát thành tri thức Do đó, có thể nói mọi tri thức của con người dù là kinh nghiệm hay lý luận, là thong thường hay khoa học đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn

- Thực tiễn là mục đích của lý luận: Con người tiến hành nhận thức TG không dừng lại ở

mục đích hiểu biết TG mà quan trọng hơn là cải tạo TG theo mục đích và nhu cầu của mình

Do đó, mọi tri thức của con người chỉ có ý nghĩa khi nó quay trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người

- Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận: Quá trình nhận thức của con người về TG

mang lại kết quả là tri thức, nhưng ngay từ đầu tri thức có khả năng đúng hoặc sai Để biết được tính đúng, sai của tri thức con người phải vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn, thực tiễn chính là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra nhận thức, khẳng định tri thức của con người là đúng hay sai, có đạt đến chân lý khách quan hay không

2 Lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn; thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận.

- Hoạt động thực tiễn của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường Khi lý luận đạt đến chân lý thì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển của các mối quan hệ thực tiễn

- Vận dụng lý luận vào thực tiễn cần phân tích rõ từng tình hình cụ thể, tránh vận dụng lý luận máy móc, giáo điều kinh viện Như vậy chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn

- Từ lý luận xây dựng mô hình thực tiễn phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế những yếu

tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao

- Bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời bổ sung những khuyết điểm của lý luận hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn

Nguyên tắc khách quan

1 Cơ sở lý luận

Vật chất là cái có trước so với ý thức, tư duy Vật chất tồn tại vĩnh viễn, và ở một giai đoạn phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra ý thức, tư duy Do ý thức, tư duy phản ánh TG vật

Trang 3

chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng chúng ta không được xuất phát từ ý thức, từ tư duy, từ

ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng, mà phải xuất phát từ chính bản than đối tượng, từ bản chất của chính nó; không được bắt đối tượng tuân theo ý thức, tư duy, mà phải bắt ý thức, tư duy tuân theo đối tượng

2 Yêu cầu của nguyên tắc khách quan

Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:

- Xuất phát từ hiện thực khách quan để tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được đưa ra những nhận định, đánh giá tuỳ tiện chủ quan

- Biết phát huy tính năng động sang tạo của chủ thể, dám đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả thuyết đó bằng thực nghiệm

Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:

- Xuất phát từ hiện thực khách quan để phát hiện ra những quy luật chi phối nó; cho dù hiện thực khách quan đó có tồn tại như thế nào

- Dựa trên các quy luật khách quan đó vạch ra các chương trình, mục tiêu, kế hoạch; tìm kiếm các biện pháp, công cụ, phương thức để tổ chức thực hiện các chương trình, mục tiêu, kế hoạch đó; kịp thời điều chỉnh, uốn nắn hoạt động của con người theo lợi ích và mục đích được đặt ra

Câu 3: Bằng lý luận và thực tiễn, Anh/Chị hãy chứng minh rằng: “Ý thức con người

không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới”.

Trả lời:

Ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần diễn ra trong đầu óc của con người, phản ánh TG vật

chất xung quanh, được hình thành và phát triển trong quá trình lao động, và được định hình thể hiện

ra bên ngoài bằng phương tiện ngôn ngữ

Ý thức có kết cấu rất phức tạp; nếu theo lát cắt chiều ngang ý thức bao gồm tri thức, tình cảm,

ý chí; nếu theo chiều sâu của TG nội tâm ý thức bao gồm tự ý thức, vô thức, tiềm thức

Ý thức có 2 nguồn gốc đó là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên của ý thức thể hiện ở:

- Ý thức là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của giới tự nhiên, biểu hiện là TG vật chất nói chung và trái đất nói riêng có trước con người và xh loài người

- Ý thức là sản phẩm của dạng vật chất có tổ chức cao nhất của bộ óc người, mà bộ óc của con người lại phát triển và hoàn thiện cùng với quá trình phát triển của giới tự nhiên

- Sự hình thành và phát triển của ý thức gắn liền với thuộc tính phản ánh của TG vật chất mà thuộc tính này phát triển hoàn thiện cùng với quá trình phát triển của giới tự nhiên

- Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này đặc điểm của hệ thống vật chất khác thong qua sự tương tác lẫn nhau giữa chúng Phản ánh là thuộc tính chung của các dạng vật chất có quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ thụ động không lực chọn đến chủ động lựa chọn và phản ánh Trong TG vô cơ có các hình thức phản ánh vật lý, hoá học Khi TG vô cơ phát triển thành giới hữu cơ với trình độ cao thấp khác nhau thì cũng xuất hiện các hình thức phản ánh từ thấp đến cao Ở thực vật có tính kích thích, động vật có hệ thần kinh trung ương xuất hiện hình thức phản ánh tâm lý Khi vượt chuyển biến thành người, bộ óc vượn thành bộ óc người, thì cũng đồng thời xuất hiện hình thức phản ánh cao nhất của TG vật chất là phản ánh ý thức mang tính gián tiếp, khái quát và chủ động lựa chọn vật phản ánh

- Bộ óc người và sự phản ánh TG khách quan vào bộ óc người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Nguồn gốc xh của ý thức biểu hiện ở vai trò của lđ và ngôn ngữ đối với sự hình thành và

Trang 4

con người ra khỏi loài vật Trong quá trình lao động con người tạo ra thành phần thức ăn mới làm cho bộ não người phát triển và hoàn thiện Trong quá trình lao động con người tạo ra các công cụ hiện đại nối dài các giác quan Cũng trong quá trình lao động con người tác động vào TG xung quanh buộc chúng phải bộc lộ những đặc điểm, tính chất để con người nhận thức Nhờ có ngôn ngữ

mà ý thức của con người mới được định hình và thể hiện Ngôn ngữ giúp con người truyền đạt kinh nghiệm, hiểu biết từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Nhờ có ngôn ngữ

mà sự phản ánh ý thức mang tính gián tiếp khái quát và con người có thể trình bày hiểu biết của mình dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật

Bản chất của ý thức bao gồm: Bản tính phản ánh, bản chất sang tạo và bản chất xh.

- Bản tính phản ánh: Ý thức là sự phản ánh TG khách quan vào trong bộ óc của con người

Nội dung của ý thức là biểu thị nội dung nhận được từ sự vật và truyền đi trong quá trình phản ánh

- Bản chất sáng tạo: Ý thức được hành thành và phát triển trong hoạt động lđ sáng tạo của

con người; ý thức không chụp lại nguyên si sự vật được phản ánh mà quá trình phản ánh

sự vật ở đây là quá trình thu nhận, xử lý và chọn lọc thông tin; sự phản ánh ý thức là sự phản ánh mang tính gián tiếp và khái quát

- Bản chất xh: Ý thức được hình thành và phát triển trong hoạt động lđ xh của con người; ý

thức là tồn tại được ý thức mà tồn tại của con người là xh loài người; ý thức xh chịu sự chi phối của tồn tại xh, mặt khác bản than ý thức của mỗi cá nhân luôn mang trong long

nó ý thức xh

Câu 4: Lý luận, phương pháp là gì? Mối quan hệ giữa chúng Anh/Chị hãy phân tích

cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Trả lời:

4.1 Định nghĩa phương pháp luận:

Là học thuyết (lý luận) về phương pháp; nó vạch ra cách thức xây dựng và nghệ thuật vận dụng phương pháp Phương pháp luận còn được coi như “ một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

4.2 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện.

a/ Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện: là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

MLHPB là mối liên hệ giữa các mặt (thuộc tính) đối lập tồn tại trong mọi sự vật, trong mọi lĩnh vực hiện thực

MLHPB mang tính khách quan và phổ biến Nó chi phối tổng quát sự tồn tại , vận động, phát triển của mọi sự vật, quá trình xảy ra trong thế giới; và là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng

Nó được nhận thức trong các cặp phạm trù (mặt đối lập- mặt đối lập; chất-lượng; cái cũ-cái mới; cái riêng-cái chung; nguyên nhân- kết quả; nội dung-hình thức; bản chất- hiện tượng; tất nhiên- ngẫu nhiên; khả năng- hiện thực

• Nội dung nguyên lý :

- Mọi sự vật, hiện tượng hay quá trình (vạn vật) trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau Mối liên hệ tồn tại khách quan, phổ biến và đa dạng

- Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mối liên hệ phổ biến Mối liên hệ phổ biến tồn tại khách quan, phổ biến; chúng chi phối một cách tổng quát quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong thế giới

b/ Những yêu cầu về Phương pháp luận:

- Trong hoạt động nhận thức, chủ thể phải:

Trang 5

o Tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố…) đang chi phối sự tồn tại của bản thân sự vật càng tốt.

o Phân loại để xác định quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố…) nào là bên trong,

cơ bản, tất nhiên, ổn định…; còn những mối liên hệ nào là bên ngoài, ko cơ bản, ngẫu nhiên

o Dựa trên các MLH, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố…) bên trong đế lý giải các MLH, quan hệ còn lại Qua đó, xây dựng hình ảnh về SV như sự thống nhất các MLH; phát hiện ra đặc điểm, tính chất, quy luật (bản chất) của nó

- Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể phải:

o Đánh giá đúng vai trò của từng MLH, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố…) chi phối SV

o Thông qua hoạt động thực tiễn sử dụng nhiều biện pháp thích hợp để biến đổi những MLH, đặc biệt là những MLH bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng…

o Nắm vững sự chuyển hóa các MLH, kịp thời đưa ra các biện pháp bổ sung để phát huy / hạn chế sự tác động của chúng, lái SV theo đúng quy luật và hợp lợi ích chúng ta

4.3 Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn:

→ Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tác toàn diện sẽ khắc phục được chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện, trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình

+ Chủ nghĩa phiến diện: là cách xem xét chỉ thấy ở một mặt, một mối quan hệ, một tính chất hay từ một phương diện nào đó mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối liên hệ nhiều tính chất cúa sự vật

+ Chủ nghĩa chiết trung: là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ nhưng ko rút ra được bản chất, mối liên hệ cơ bản của sự vật mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách vô nguyên tắc, tùy tiện

+ Chủ nghĩa ngụy biện: Cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ bản, cái chủ yếu với cái thứ yếu… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích của mình một cách tinh vi.Trong đời sống xã hội, nguyên tắc toàn diện có vai trò cực kỳ quan trọng Nó đòi hỏi chúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhận thức mà cần phải liên hệ nhận thức với thực tiễn cuộc sống, phải chú ý đến lợi ích của các chủ thể (các cá nhân hay các giai tầng) khác nhau trong xã hội và biết phân biệt đâu là lợi ích cơ bản (sống còn) và lợi ích không cơ bản, phải biết phát huy hay hạn chế mọi tiềm năng hay nguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạt động xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa…)

từ các thành phần kinh tế, từ các tổ chức chính trị - xã hội… để có thái độ, biện pháp, đối sách hành động thích hợp mà không sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dàn đều, tức không thấy được trọng tâm, trọng điểm, điều cốt lõi trong cuộc sống vô cùng phức tạp

Câu 5: Anh/Chị hãy phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt

đối lập và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận của nó Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng quy luật này như thế nào vào công cuộc Đổi mới hiện nay ở nước ta.

Trả lời:

phương pháp luận của nó.

a) Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập:

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (còn gọi là quy luật mâu thuẫn), là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng, nó vạch ra nguồn gốc và động lực của sự phát triển

Nội dung của QL:

- Măt đối lập & mâu thuẫn biện chứng:

• Măt đối lập là các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, tồn tại trong cùng SVHT tạo nên SVHT đó

• Mâu thuẫn biện chứng là khái niệm dùng để chỉ các mặt, các thuộc tính, các khuynh

Trang 6

hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau tạo thành nguồn gốc, động lực của sự phát triển Nó mang những đặc điểm sau: mang tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng, phong phú

- Thống nhất của những mặt đối lập là các mặt đối lập nương tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp, cân bằng, liên hệ, phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau, mang những đặc điểm sau:

• Hai mặt đối lập cùng tốn tại

• Hai mặt đối lập ràng buộc nhau

- Đấu tranh của những mặt đối lập: Các mặt đối lập bài trừ, phủ định lẫn nhau, phát triển theo những khuynh hướng ngược chiều nhau và mang các đặc điểm sau: vừa mang tính liên tục vừa mang tính gián đoạn, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Khi 1 SV mới xuất hiện, các mặt đối lập mới ở những giai đoạn khác nhau nhưng sự đấu tranh giữa chúng đến mức độ nào đó làm cho chúng xung đột gay gắt với nhau Nếu hội đủ những điều kiện cần thiết, mâu thuẫn được giải quyết, SV cũ mất đi, SV mới ra đời SV cũ lại là thể thống nhất của những mặt đối lập mới & chúng lại tiếp tục đấu tranh với nhau tạo thành mâu thuẫn

- Phân loại mâu thuẫn:

- MT bên trong & MT bên ngoài

- MT cơ bản & MT kog cơ bản

- MT chủ yếu & MT thứ yếu

- MT đối kháng & MT ko đối kháng

− Đảng CS Việt Nam cũng nhận biết mâu thuẫn cơ bản của xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với tầng lớp tư sản Tuy nhiên, Đảng ta cũng nhận rõ đây là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, là những mâu thuẫn cục bộ, tạm thời chứ không phải là mâu thuẫn đối kháng như trong các nước TBCN nên phương pháp giải quyết tuyệt đối không dùng bạo lực cách mạng

− Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tồn tại các mâu thuẫn cơ bản sau đây:

 Mâu thuẫn giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường

 Mâu thuẫn giữa lợi ích các nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội

 Mâu thuẫn giữa tính ưu việt của nền kinh tế thị trường với những mặt trái của nó

 Mâu thuẫn giữa sự phát triển tự giác theo con đường đi lên CNXH với khuynh hướng tự phát

đi lên CNTB

− Nhận biết các mâu thuẫn trên, vận dụng quy luật mâu thuẫn:

 Đảng và NN ta đã đưa ra các qui định pháp luật ràng buộc các chủ thể trong xã hội mà đặc biệt là các chủ thể kinh tế thực hiện nghiêm túc các qui định về môi trường như qui định xây dựng hệ thống xử lý nước thải, rác công nghiệp, rác y tế… Tích cực giáo dục tuyên truyền ý thức của các chủ thể kinh tế Đưa vấn đề môi trường vào quá trình lập kế hoạch phát triển quốc gia…

+ ĐCSVN đã và đang vận dụng quy luật vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta

Trang 7

 Đảng luôn xác định mâu thuẫn của thời đại ta, mâu thuẫn của đất nước ta để biết thời đại

ta ra sao, đất nước ta như thế nào, từ đó vạch ra chiến lược, sách lược, cương lĩnh, đường lối Đảng ta xác định mâu thuẫn của đất nước ta là đấu tranh giữa 2 con đường, con đường lên CNXH và con đường lên CNTB, cho dù ưu thế đang thuộc về CNTB, cho dù CNXH đang rơi vào thoái trào nhưng không có nghĩa con đường lên CNXH đã bị tắt, trên cơ sở

đó xác định đúng thời đại, Đảng ta vẫn cương quyết chọn con đường lên CNXH, thời đại

ta hiện nay là đang ở giai đoạn quá độ lên CNXH

 Ví dụ điển hình là đất nước có mâu thuẫn giữa nền sản xuất thấp nhưng nhu cầu thỏa mãn đời sống càng cao, chính mâu thuẫn này, đặt chúng ta phải giải quyết mâu thuẫn này bằng cách thúc đẩy phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần để nền kinh tế phát triển đáp ứng nhu cầu của nhân dân

 Hiện nay, đất nước ta có sự mâu thuẫn của văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại Chúng ta cần phải giải quyết mâu thuẫn này bằng cách đối với văn hóa truyền thống, có cái chúng ta cần phải giữ lại, kế thừa, nhưng có những cái phải đổi mới, phải chấp nhận giá trị bên ngoài Đối với những giá trị hiện đại bên ngoài, chúng ta cần phải tiếp nhận trên cơ sở biến đổi phù hợp với giá trị truyền thống

 Giàu và nghèo?

Câu 6: Anh/Chị hãy phân tích nội dung quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến

những thay đổi về chất và ngược lại, và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận của nó Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng quy luật này như thế nào vào công cuộc Đổi mới hiện nay ở nước ta.

Trả lời:

chất, và ngược lại Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này.

1 Nội dung của quy luật:

* Các khái niệm

Chất là tính quy định vốn có của 1 SVHT , là tổng hợp các thuộc tính để SVHT là nó, khác

với cái khác

Lượng là tính quy định vốn có của 1 sự vật về các mặt: độ lớn, quy mô, trình độ phát triển,

… biểu thị bằng các con số, các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó

* Mối quan hệ biện chứng giữa chất & lượng: Sự vật là 1 thể thống nhất của 2 mặt chất & lượng

Khi SV còn là nó, chất & lượng thống nhất với nhau ở cùng 1 độ

Độ là giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa đủ dẫn đến sự thay đổi về chất.

• Trong cùng 1 độ, 2 mặt chất & lượng ko ngừng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau Quá trình này diễn ra theo xu hướng chung là: Lương thay đổi trước, thay đổi từ từ, đến 1 giới hạn nhất định sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất

• Sự thay đổi về chất được gọi là bước nhảy Còn giới hạn bước nhảy xảy ra gọi là điểm nút

Bước nhảy là quá trình chuyển biến từ chất cũ sang chất mới Điểm nút là giới hạn mà sự

thay đổi về lượng đã đủ dẫn đến sự thay đổi về chất

• Đặc điểm bước nhảy là sự đứt đoạn trong liên tục, vì khi bước nhảy xảy ra sẽ chấm dứt 1 dạng tồn tại, 1 giai đoạn thay đổi từ từ về lượng nhưng ko chấm dứt sự vận động, phát triển nói chung Vì khi bước nhảy xảy ra, SV cũ mất đi, SV mới ra đời SV mới lại là thể thống nhất chất mới, lượng mới Lượng mới lại biến đổi đến điểm nút thì xảy ra bước nhảy Cứ thế tiếp tục

• Sự thay đổi về chất sẽ dẫn đến sự thay đổi về lượng Chất mới ra đời sẽ có lượng mới phù hợp với nó

* Phân loại bước nhảy:

• Nếu dựa vào quy mô của BN; BN toàn bộ & BN cục bộ

• Nếu dưa vào nhịp độ của BN: BN dần dần & BN đột biến

2 Ý nghĩa phương pháp luận:

Trang 8

Nghiên cứu QL này giúp ta tránh được 2 khuynh hướng sai lầm trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn: tả khuynh & hữu khuynh

Tả khuynh: lượng tích lũy chưa đủ mà đã đòi biến đổi về chất  nóng vội, duy ý chí.

Hữu khuynh: lượng tích lũy đã đủ mà chưa chịu biến đổi về chất  chần chừ, bảo thủ, trì

trệ

Phải thấy được tính đa dạng của các bước nhảy, nhận thức được từng hình thức bước nhảy, có thái

độ ủng hộ bước nhảy, tạo mọi điều kiện cho bước nhảy được thực hiện một cách một cách kịp thời

để đẩy nhanh quá trình phát triển

* Phân tích nội dung quy luật

Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại là một trong những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này chỉ rõ tính chất và cách thức của sự phát triển

Sự vật bắt đầu vận động, phát triển bằng sự thay đổi về lượng Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất Sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn là nó chưa trở thành cái khác Trong mối quan hệ giữa chất và lượng thì chất là mặt tương đối ổn đinh, còn lượng là mặt biến đổi hơn Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Song không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại của sự vật Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định (điểm nút) thì mới dẫn đến

sự thay đổi về chất Sự thay đổi căn bản về chất được gọi là bước nhảy Như vậy, khi lựợng biến đổi đến điểm nút thì diễn ra bước nhảy, chất mới ra đời thay thế cho chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ, nhưng rồi những lượng mới này lại tiếp tục biến đổi đến điểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới Cứ như vậy, quá trình vận động, phát triển của sự vật diễn ra theo cách thức từ những thay đổi về lựợng dẫn đến những thay đổi về chất một cách vô tận Đó là quá trình thống nhất giữa tính tuần tự, tiệm tiến, liên tục với tính gián đoạn, nhảy vọt trong sự vận động, phát triển

Sự tác động trở lại của chất đối với lượng Khi chất mới ra đời, nó không tồn tại một cách thụ động, mà có sự tác động trở lại đối với lượng, được biểu hiện ở chỗ, chất mới sẽ tạo ra một lượng mới cho phù hợp với nó để có sự thống nhất mới giữa chất là lượng Sự quy định này có thể được biểu hiện ở quy mô, nhịp độ và mức độ phát triển mới của lượng

nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?

Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng quy luật này vào thực tiễn phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN

Sau năm 1975 khi đất nước được thống nhất, cả nước đi lên CNXH, chúng ta đã nóng vội và nhất loạt xây dựng quan hệ sản xuất một thành phần dựa trên cơ sở công hữu XHCN về tư liệu sản xuất, mọi thành phần kinh tế khác bị coi là bộ phận đối lập với kinh tế XHCN Khi đó, lực lượng sản xuất của chúng ta còn quá thấp kém chưa tích luỹ đủ về lượng (tính chất và trình độ) đã vội vã thay đổi chất (quan hệ sản xuất XHCN) làm cho đất nước lâm vào tình trang khủng hoảng kinh tế –

xã hội

Sau đại hội Đảng lần thứ VI, khắc phục sai lầm trên chúng ta thực hiện xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Chủ trương xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp với bản chất của thời kỳ lịch sử đặc biệt này Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH chính là bước nhảy dần dần từ chất cũ sang chất mới

Như vậy, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một tất yếu khách quan, là sự nhận thức đúng đắn quy luật từ những thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại Điều đó có nghĩa là khi chúng ta chưa tích luỹ được đầy đủ những điều kiện vật chất cho CNXH thì chúng ta chưa thể nóng vội xây dựng quan hệ sản xuất XHCN ngay như trước đây chúng ta đã làm,

mà chúng ta phải tiến hành dần dần, hay nói cách khác, chúng ta phải có một thời kỳ quá độ

Thực tiễn sau chục năm đổi mới đã khẳng định chủ trương xây dựng kinh tế nhiều thành phần là phù họp với phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta Nó đã thực sự giải phóng, phát triển và khơi dậy các tiềm năng của sản xuất Khơi dậy năng lực sáng tạo chủ động của các chủ thể kinh tế trong sản xuất đưa nước ta ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội Trong quá trình tiến hoá cách

Trang 9

mạng, một mặt phải chống khuynh hướng bảo thủ, trị trệ, nhằm tạo ra những bước nhảy để đẩy nhanh sự phát triển, mặt khác, lại phải chống tư tưởng nóng vội, muốn đưa nhanh sự phát triển, tiến hành những bước nhảy khi chưa có điều kiện chín muồi, bất chấp những quy luật khách quan.

Câu 7: Anh/Chị hãy giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt

phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”.

Trả lời:

+ V.I.LêNin ý muốn nói vị trí “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật; quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển, do điều này xuất phát từ qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Thực tế, tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy) đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau, khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, có thể là mâu thuẩn nội tại hoặc giữa nó với sự vật hiện tượng khác – điều này mang tính khách quan và phổ biến

+ Ta nhận thấy, nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập: Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân (điện tích âm và điện tích dương); trong sinh vật có đồng hoá và dị hoá; trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền v v Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập Tuy nhiên, theo phép biện chứng quan niệm, mâu thuẫn để chỉ mối liên hệ thống nhất và đấu tranh, chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các

sự vật, hiện tượng với nhau

+ Do các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng, vì vậy mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên,

xã hội và tư duy Sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập này tạo thành khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại Xét về phương diện nào

đó giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có một số yếu tố giống nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập bao hàm sự đồng nhất của nó

+ Mặt khác khái niệm sự đấu tranh giữa các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng

+ Tóm lại 2 ý này, quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng Sự chuyển hóa của các mặt đối lập diễn ra hết sức phong phú, đa dạng tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối, sự thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện, tạm thời; trong sự thống nhất đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất của chúng

+ Không chỉ dừng lại ở đó, ta thử xét thêm vai trò của mâu thuẫn đối với quá trình vận động

và phát triển của sự vật: Sự liên hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển trong thế giới “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập” Do hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau

Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập Với ý nghĩa đó,” sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm cả sự “ đồng nhất” của các mặt đó Do có sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng Song

đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập

DO ĐÓ:

Trang 10

+ Để thúc đẩy sự vật phát triển thì phải tôn trọng nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn đó là đấu tranh của các mặt đối lập Khi đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với trình độ phát triển mâu thuẫn đồng thời phải tìm ra phương thức, phuơng tiện, lực lượng để giải quyết mâu thuẫn.

+ Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn “đấu tranh” với nhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối liên hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng

PHÁT TRIỂN THÊM:

+ Do bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại mâu thuẫn, nhưng muốn phát hiện ra được mâu thuẫn thì phải tìm ra những mặt những khuynh hướng trái ngược nhau tức là tìm ra mặt đối lập, đồng thời tìm ra mối liên hệ tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn, phải xem xét vị trí vai trò và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn Đồng thời phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng có như thế chúng ta mới hiểu đầy đủ đúng đắn về bản thân sự vật hiện tượng, đúng sự vận động phát triển và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn như thế nào

+ Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được nguồn gốc, bản chất, khuynh hướng của sự vận động phát triển Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú do đó trong việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và phương pháp giải quyết phù hợp Trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất

+ Theo tôi, ý nghĩa phương pháp luận mà V.I.LêNin muốn truyền đạt lại: Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó Mặt khác, V.I.Lênin từng viết:

“ Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức của các bộ phận của nó, đó là thực chất…của phép biện chứng”

• Do đó, khi ta phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng Chỉ có như thế mới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của

sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn

Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không được điều hoà mâu thuẫn.Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với trình độ phát triển của mâu thuẫn Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã chín muồi Một mặt phải chống thái độ chủ quan, nóng vội; mặt khác phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau Phải tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể

Câu 8: Cơ sở nào để khẳng định nguyên tắc lịch sử - cụ thể là “linh hồn” phương

pháp luận của triết học Mác – Lênin? Nêu những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc lịch

sử - cụ thể Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào công cuộc Đổi mới hiện nay ở nước ta.

Trả lời:

Ngày đăng: 04/06/2016, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w