1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

159 396 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chủ trương của Đại hội IX về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị khóa IX về hội nhập kinh tế quốc tế; chủ trương của Đạ

Trang 1

LÊ MAI TRANG

§æi Míi C¤NG T¸c TUY£N TruyÒn Cña §¶ng

§¸p øng Y£U CÇu Héi NhËp Quèc TÕ

ë ViÖt NAM HiÖn NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC

Mã số: 62 31 20 01

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS LÊ MINH QUÂN

2 TS ĐOÀN TRƯỜNG THỤ

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Mai Trang

Lê Mai Trang

Trang 3

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYÊN

TRUYỀN CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

2.1 Những vấn đề lý luận về tuyên truyền và công tác tuyên

2.2 Những vấn đề lý luận về hội nhập quốc tế và yêu cầu của hội

nhập quốc tế đối với công tác tuyên truyền của Đảng 34

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG

TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 58 3.1 Thực trạng công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu

3.2 Vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền của Đảng đáp

ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay 97

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG

TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 102 4.1 Phương hướng đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp

4.2 Giải pháp về đổi mới công tác tuyên truyền đáp ứng yêu cầu

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG

Trang 4

ANQP : An ninh quốc phòng

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội

CTTT : Công tác tuyên truyền

CU : Liên minh thuế quan

FTA : Khu vực mậu dịch tự do

HNQT : Hội nhập quốc tế

PTA : Thỏa thuận thương mại ưu đãi WTO : Tổ chức Thương mại thế giới XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác tuyên truyền (CTTT), từ góc độ của khoa học chính trị, nhất

là chính trị học, là hình thức hoạt động quan trọng và cần thiết của một đảng chính trị nhằm thực hiện nhiệm vụ giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước Đó là do CTTT - một bộ phận cấu thành quan trọng của công tác tư tưởng - có nhiệm vụ truyền bá hệ tư tưởng và đường lối cách mạng trong quần chúng; xây dựng thế giới quan, niềm tin chính trị, tập hợp và

cổ vũ quần chúng hoạt động cách mạng Vai trò của CTTT là làm cho lý luận thâm nhập sâu vào quần chúng, tạo nên sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động và thông qua đó biến lý luận thành thực tiễn

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, CTTT của Đảng không chỉ phương thức truyền bá hệ tư tưởng chính trị, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội; mà còn trở thành phương thức cầm quyền của Đảng - tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Hơn nữa, CTTT của Đảng còn trở thành một nội dung, một mắt khâu quan trọng của chu trình chính sách công - từ nghị trình chính sách đến quyết định, thực thi và đánh giá chính sách

Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Đảng) và dân tộc ta, CTTT trở thành công tác cách mạng và là công tác cách mạng đầu tiên của của Đảng CTTT có vai trò hết sức to lớn trong việc truyền bá, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã hội, trước hết là trong các lực lượng xã hội tiên tiến, khơi dậy tinh thần yêu nước, tính sáng tạo của quần chúng, động viên lực lượng quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng CTTTcủa Đảng đã cổ vũ toàn dân tộc theo Đảng, làm nên Cách mạng Tháng Tám, lập nên Nhà nước dân chủ cộng hòa, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Trang 6

Sau khi giành được chính quyền và trở thành đảng cầm quyền, CTTT trở thành một trong những phương thức cầm quyền của Đảng, đóng góp to lớn vào việc xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng Trong thời kỳ đổi mới, CTTT của Đảng

đã có nhiều đổi mới, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, góp phần vào việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế (HNQT)

Trong mối quan hệ giữa CTTT của Đảng và HNQT, với tính cách là trường hợp nghiên cứu hay đối tượng nghiên cứu của luận án này, có thể thấy CTTT của Đảng đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình và HNQT ở nước ta CTTT của Đảng về HNQT đã tích lũy được những bài học kinh nghiệm bước đầu quý báu, làm cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thành chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền đáp ứng yêu cầu của HNQT ở nước ta hiện nay và những năm tới

Tuy nhiên, CTTT Đảng trong điều kiện HNQT cũng bộc lộ nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Về khách quan, đó là những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội, điểm xuất phát thấp của đất nước khi tham gia HNQT, sự biến động phức tạp của tình hình thế giới Về chủ quan, CTTT của Đảng về HNQT còn ít sức hấp dẫn, chưa cập nhật, chưa chủ động Phương pháp CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT cơ bản vẫn một chiều, còn biểu hiện chủ quan, giáo điều, hình thức, ít đối thoại, tranh luận, thảo luận dân chủ Việc định hướng thông tin còn chậm, để có thông tin không chính thống, thông tin xấu lan tràn nhanh rộng trong xã hội, tác động không tốt đến tư tưởng của cán bộ và nhân dân Việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái còn bị động, nội dung chưa sắc bén, chưa kịp thời thu hút

Trang 7

được đông đảo các lực lượng xã hội tham gia Phạm vi tác động của CTTT của Đảng còn hạn hẹp, phương tiện thông tin còn thiếu thốn và lạc hậu Tổ chức bộ máy CTTT của Đảng chưa tinh gọn, thiếu tính chuyên nghiệp Đội ngũ cán bộ làm CTTT của Đảng còn nhiều hạn chế về năng lực và trách nhiệm, trình độ công nghệ thông tin còn hạn chế

Công tác tuyên truyền của Đảng còn những bất cập nhất định như trình

độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng cao; yêu cầu và mức độ cập nhật thông tin của cán bộ đảng viên và nhân dân ngày càng nhanh chóng và đa chiều; chủ thể và đối tượng của CTTT của Đảng ngày càng đa dạng và phức tạp; phạm vi và giới hạn của CTTT của Đảng ngày càng rộng rãi, không chỉ tuyên truyền ở trong nước mà còn tuyên truyền ra với thế giới

Thực hiện chủ trương của Đại hội IX về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị (khóa IX) về hội nhập kinh tế quốc tế; chủ trương của Đại hội X về chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác và Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa X) ngày 05/02/2007 về một

số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; chủ trương của Đại hội XI về HNQT, Nghị quyết Bộ Chính trị (Khóa XI) ngày 10/4/2013 về HNQT, đã đánh giá những thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt ra đối với quá trình HNQT, trong đó có CTTT của Đảng

Nghị quyết Bộ Chính trị (Khóa XI) ngày 10/4/2013 về HNQT xác định:

"Tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về yêu cầu hội nhập quốc tế, về các cơ hội và thách thức, về phương hướng, nhiệm vụ trọng yếu của hội nhập quốc tế trong từng ngành, từng lĩnh vực, để thống nhất nhận thức và hành động, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình hội nhập quốc tế" [35] là một trong những định hướng chỉ yếu của HNQT ở nước ta hiện nay Theo đó, CTTT của Đảng cần phải được đổi mới về vị trí

Trang 8

và chức năng, nội dung và hình thức, phương pháp và phương tiện, tổ chức

bộ máy và cán bộ

Công cuộc đổi mới nói chung, HNQT nói riêng đang đặt ra cho CTTT của Đảng những yêu cầu mới - dân chủ,khách quan, kịp thời, chủ động, đa chiều, CTTT của Đảng không chỉ là sự thuyết phục bằng lý luận mà còn phải được chứng minh bằng thực tiễn sinh động Nếu trước kia chỉ cần coi trọng một mặt “Đảng nói, dân tin”, nhưng ngày nay phải chú trọng hơn mặt thứ hai “Đảng làm, dân theo”, “Dân nói, Đảng nghe”

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án tiến sĩ Chính trị học của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về đổi mới CTTT của Đảng Luận

án phân tích thực trạng và đề xuất nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng được yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay góp phần cho hội nhập thành công

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan hình hình nghiên cứu có liên quan:

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cần thiết, có liên quan về CTTT của Đảng và CTTT của Đảng trước yêu cầu của HNQT của Việt Nam hiện nay

- Làm rõ thực trạng (kết quả, hạn chế, nguyên nhân, kinh nghiệm và vấn

đề đặt ra) của CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay

- Đề ra những quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đổi mới CTTT của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

Khách thể nghiên cứu của luận án là các văn kiện của Đảng và Nhà nước có liên quan; các báo cáo thực tế của các cơ quan có liên quan; nghiên cứu, tham khảo các tài liệu thứ cấp khác

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về góc độ tiếp cận nghiên cứu, CTTT của Đảng được nghiên cứu dưới góc độ chính trị học, với tính cách một phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng ở Việt Nam hiện nay

- Về thời gian luận án nghiên cứu, CTTT của Đảng trong quá trình HNQT từ năm 2007 (khi Việt Nam gia nhập WTO) cho đến 2015

- Về không gian, luận án tập trung khảo sát, nghiên cứu ở Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, một số bộ, ngành, đoàn thể, báo, đài ở Trung ương; Ban Tuyên giáo một số tỉnh, thành phố mang tính đại diện cho các vùng, miền trong cả nước

- Về nội dung nghiên cứu, luận án nghiên cứu các hoạt động nội dung của CTTT của Đảng trên các lĩnh vực về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội,

an ninh quốc phòng (ANQP) đối ngoại

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng về CTTT của Đảng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Các phương pháp công cụ cho việc nghiên cứu của luận án là phân tích, tổng hợp, lịch sử, lô gíc, so sánh và các phương pháp khác

5 Những đóng góp về khoa học

Thứ nhất, bổ sung và phát triển một số vấn đề lý luận về CTTT và đổi

mới CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay từ góc độ chính trị học

Trang 10

Thứ hai, làm rõ nội hàm của khái niệm CTTT của Đảng với tính cách

một phương thức cầm quyền của Đảng và những đặc điểm của nó

Thứ ba, làm rõ những yêu cầu của HNQT đối với CTTT của Đảng ở

Việt Nam hiện nay

Thứ tư, đánh giá thực trạng của CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT

ở Việt Nam hiện nay (theo những tiêu chí về chủ thể, khách thể, đối tượng, phạm vi, mức độ, hiệu quả, v.v.)

Thứ năm, đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới CTTT

của Đảng đáp ứng yêu cầu HNQT ở Việt Nam hiện nay và những năm tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả luận án góp phần cung cấp luận cứ khoa học - thực tiễn cho việc xây dựng chủ trương, chính sách, lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai CTTT của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh HNQT ở Việt Nam hiện nay

Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy các môn khoa học chính trị, khoa học tuyên truyền

và nhất là chính trị học về những vấn đề của CTTT và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương, 8 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về CTTT nói chung và CTTT của đảng chính trị nói riêng - từ đảng chính trị nói chung đến đảng lãnh đạo, đảng cầm quyền với nhiều góc độ (góc độ tiếp cận nghiên cứu) và phương diện (mặt, khía cạnh, nội dung) khác nhau Các công trình nghiên cứu

về CTTT của đảng chính trị đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn từ nội dung đến hình thức và phương pháp của CTTT của đảng, xác định các quan điểm khoa học - thực tiễn và các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả CTTT của đảng Tuy nhiên, do yêu cầu và đặc điểm về nội dung của luận án này, CTTT được nghiên cứu với tính cách một lĩnh vực hoạt động của Đảng Cộng sản, hơn nữa lại là Đảng Cộng sản cầm quyền, do vậy phần lớn các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án là của các tác giả Liên Xô trước đâyvà Trung Quốc cho đếnnay

1.1.1 Những vấn đề lý luận chung về công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản

Thứ nhất, về mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ của công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản

Tác phẩm "Làm gì?" của V.I.Lênin [119] đã kế thừa, phát triển một

cách toàn diện những luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về CTTT Tác phẩm đã phân tích, luận giải vị trí, tầm quan trọng của CTTT; khái niệm tuyên truyền cổ động; lực lượng, đối tượng, phương pháp tuyên truyền của Đảng của giai cấp công nhân Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đưa ra những đánh giá sâu sắc về xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ tuyên truyền đến hôm nay vẫn còn nguyên tính thời sự: “Hàng tuần nên tổ chức giảng cho họ vài bài

và biết kịp thời điều động họ đến những thành thị khác, nói chung tổ chức cho những người có khả năng tuyên truyền đi thăm các thị trấn” [119, tr.115]

Trang 12

Tác phẩm "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" của C.Mác - Ph.Ăngghen [42]

là tác phẩm lý luận đầu tiên đề cập đến CTTT và cổ động của giai cấp vô sản cách mạng Tác phẩm này này đã chỉ ra mục đích của CTTT là xóa bỏ chế độ

tư hữu về tư liệu sản xuất, “tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ

sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản thành chính quyền” [42, tr.42]; chỉ ra đối tượng tuyên truyền không chỉ là tập hợp quần chúng vô sản mà còn lôi kéo các tầng lớp khác đi theo giai cấp mình; nêu ra khẩu hiệu hành động cách mạng: “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!” [42, tr.75]

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô trước đây, có nhiều công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng, một số đã được dịch ra tiếng Việt Khi nghiên cứu về cơ sở của hoạt động tuyên truyền tư tưởng của Đảng Cộng sản, các nhà khoa học đi sâu phân tích làm rõ các đặc điểm và những yêu cầu dưới góc độ tâm lý học, giáo dục học đối với

hoạt động này Tác phẩm "Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa" của

M.I.Calinin [91] đã nêu những nguyên lý cộng sản dưới hình thức đơn giản nhất: trung thực, có học thức, có lòng yêu Tổ quốc; còn giáo dục và bồi dưỡng những phẩm chất cao quý là một yếu tố hết sức quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cộng sản M.I.Calinin khẳng định: “Cần phải đến với từng người, đánh giá họ, làm nổi bật những mặt tốt của họ bởi vì không thể chỉ giáo dục dựa trên mặt tiêu cực” [91] Nhà giáo dục Xô Viết V.A.Cruchetxki viết:

Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục cuộc sống là hình thành thế hệ trẻ niềm tin và tình cảm cộng sản chủ nghĩa vững chắc và hành vi đạo đức dựa trên cơ sở niềm tin vào tình cảm đó Chỉ có thể giải quyết được nhiệm vụ đó bằng cách dựa trên những trí thức về quy luật tâm lý của sự hình thành nhân cách tích cực và có mục đích, về những quy luật phát triển đạo đức của nó cũng như sự hiểu biết đầy

đủ những đặc điểm cá nhân [118]

Trang 13

Ở Trung Quốc, trong quá trình cải cách, mở cửa, xây dựng CNXH, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã rất coi trọng CTTT và xác định rõ nhiệm vụ

cơ bản của CTTT là nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng “ba đại diện” quan điểm “phát triển khoa học”, coi “phát triển khoa học” là cơ sở

để xây dựng “xã hội hài hòa”, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tích cực cải tiến các hình thức tuyên truyền, giáo dục đa dạng và phong phú để nâng cao nhận thức, làm cho cán bộ và quần chúng giữ vững niềm tin đối với chủ nghĩa Mác

và công cuộc xây dựng CNXH đặc sắc của Trung Quốc

Về mục đích của CTTT, cuốn: "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc

[21] chỉ rõ: CTTT tư tưởng phải tạo ra động lực tinh thần to lớn, tạo nên sự ủng hộ bằng trí tuệ, bảo đảm về tư tưởng và môi trường dư luận lành mạnh cho công cuộc cải cách, mở cửa, xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN một xã hội tiến bộ toàn diện

Thứ hai, về nội dung và hình thức công tác tuyên truyền của Đảng

Cộng sản

Trong quá trình cải cách, mở cửa, xây dựng CNXH đặc sắc ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc rất coi trọng CTTT tư tưởng Đặc biệt,

cuốn: "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" của Trần Khang và

Lê Cự Lộc dịch [71] đã tổng kết một cách có hệ thống những kinh nghiệm cơ bản trong CTTT tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó chỉ rõ vai trò đặc biệt quan trọng của CTTT Trên các mặt trận lãnh đạo của Đảng thì tuyên truyền tư tưởng là mặt trận hết sức quan trọng Trong các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng thì chính quyền làm CTTT tư tưởng là hết sức quan trọng, còn trong hàng ngũ cán bộ của Đảng thì những người làm CTTT tư tưởng là lực lượng hết sức quan trọng

Đảng Cộng sản Trung Quốc coi tuyên truyền tư tưởng của Đảng là phương tiện giáo dục, vận động quần chúng và mang tính chính trị rất cao có

Trang 14

đặc điểm là công khai, kịp thời, nhanh nhạy, có thể đưa đường lối chủ trương, chính sách của Đảng vào trong quần chúng nhanh nhạy nhất, rộng rãi và biến thành hành động thực tế của quần chúng Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân chỉ rõ: "Tăng cường và cải tiến công tác chính trị, tư tưởng của Đảng trong tình hình mới là một việc lớn của toàn Đảng, cũng là nhiệm vụ nặng nề về công tác tuyên truyền tư tưởng" [47] Trong bài

"Tổng kết công tác xây dựng Đảng Cộng sản Trung Quốc trong 30 năm cải cách mở cửa", tác giả Tập Cận Bình đã nêu:

Trước sau như một, Đảng coi việc học tập và vận dụng chủ nghĩa Mác, đặc biệt là những thành quả mới nhất của sự nghiệp Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác là nội dung trung tâm giáo dục, bồi dưỡng cho đảng viên và cán bộ, v.v ra sức thúc đẩy việc đưa vào giáo trình, giảng đường, tuyên truyền giáo dục những tư tưởng chói lọi quan trọng như lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng “Ba đại diện” và quan điểm phát triển khoa học, để giúp đông đảo cán bộ, đảng viên xác định chắc chắn thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm giá trị chủ nghĩa Mác, tỉnh táo và kiên định chính trị, duy trì và phát triển tính tiên tiến của người đảng viên cộng sản [trích theo 33, tr.10]

Trong tình hình mới, việc giữ vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin đặc biệt chú ý không ngừng tăng cường sức thuyết phục sức chiến đấu của Chủ nghĩa Mác Muốn vậy, phải tăng cường hai mặt: Kịp thời tổng kết kinh nghiệm, rút ra những nhận thức mới về tư tưởng, lý luận mà đời sống đặt ra; đồng thời vận dụng quan điểm mác - xít để đấu tranh chống lại các quan điểm sai lầm, góp phần giữ vững nhận thức

Thứ ba, về đối tượng và phương pháp công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản

Tác phẩm: "Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa" của M.I.Calinin [91] đã

nhấn mạnh phương pháp CTTT quan trọng là sự đa dạng và phát huy hiệu quả vai trò của giáo dục với ý thức con người

Trang 15

Ở Trung Quốc, bàn về đối tượng CTTT, trong bài: "Làm thế nào để làm công tác tư tưởng trong thời kỳ mới" của tác giả Phạm Vân Như và các cộng

sự (Trần Khang, Lê Cự Lộc dịch) [71] cho rằng: đối tượng CTTT là con người và để làm tốt công tác tư tưởng cho quần chúng cần thích ứng cụ thể của quần chúng, áp dụng phương pháp khoa học Theo tác giả Điền Trung Mẫn, phương châm CTTT là lấy dân làm gốc, bám sát thực tế, bám sát quần chúng nhân dân, cố gắng vận dụng nhiều hình thức

1.1.2 Những vấn đề về đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản

Cuốn giáo trình: "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới"

của tác giả Bùi Phương Dung [47] đã góp phần bổ sung, làm rõ lý luận về CTTT; phân tích khái niệm, phương pháp, phương thức tiến hành CTTT, các loại hình cơ bản của công tác điều tra, nghiên cứu thông tin và xây dựng đội ngũ những người làm CTTT

Những yêu cầu đặt ra đối với CTTT cũng được bàn bạc sâu sắc trong

bài: "Cơ sở tư tưởng hệ của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc" của tác

giả B.Mozias [40] đã nhấn mạnh những yêu cầu CTTT của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó bộ máy tuyên truyền Đảng Cộng sản từng bước “cấy” những giá trị thị trường mới vào khuôn khổ hệ tư tưởng hiện thời, làm cho chúng trở nên dễ hiểu và dễ chấp nhận đối với quần chúng nhân dân

Ở Trung Quốc, các tác giả Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi đã đi sâu làm

rõ những quan niệm về hiệu quả CTTT và tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả - trình độ hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ý thức, niềm tin cộng sản chủ nghĩa và tính tích cực

xã hội (tiêu chuẩn quyết định công tác tư tưởng, CTTT) Các tác giả cũng chỉ

ra các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để nâng cao hiệu quả CTTT Theo đó, điều kiện khách quan là lối sống xã hội, chế độ dân chủ và môi trường xã hội Nhân tố chủ quan bao gồm trình độ lãnh đạo của của Đảng đối

Trang 16

với CTTT, năng lực của cán bộ tuyên truyền, thường xuyên cải tiến các hình thức, phương pháp; phát huy vai trò của các cơ quan tuyên truyền và các tổ chức xã hội [109]

Các tác giả Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi còn chỉ ra tính tất yếu của việc đổi mới CTTT của Đảng Cộng sản, các tác giả này xác định rõ sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác tư tưởng và phương hướng đổi mới CTTT Trên

cơ sở nghiên cứu nguyên nhân khiến Liên Xô, Đông Âu thay đổi chế độ, các tác giả cho rằng, không được để khoảng trống trên trận địa văn hóa, tư tưởng

Từ việc nhận thức rõ vai trò của các phương pháp, phương tiện - những binh chủng của CTTT như báo chí, truyền thông, dư luận xã hội, v.v các tác giả còn chỉ rõ vai trò của những phương tiện đó để nâng cao hiệu quả của CTTT -

đó là “xây dựng cơ chế phản hồi nhanh dư luận, tạo ra kênh thông tin thông suốt cho quyết sách của Đảng và Chính phủ” [109, tr.83]

Có thể nói, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm

1917, với sự ra đời và phát triển của các Đảng Cộng sản cầm quyền trên thế giới, những nghiên cứu về CTTT của Đảng Cộng sản đã được quan tâm nghiên cứu Các công trình trên đã góp phần làm rõ lý luận về CTTT như khái niệm, đặc điểm, phương pháp, phương tiện, nguyên tắc của CTTT; đồng thời cũng chỉ rõ tính tất yếu khách quan, những giải pháp của việc đổi mới, nâng cao hiệu quả CTTT trong mỗi giai đoạn lịch sử Đó là những nguồn tư liệu quý báu cho CTTT của Đảng ở Việt Nam hiện nay

Tuy nhiên, với những nét đặc thù về chế độ chính trị - xã hội, truyền thống văn hóa giàu bản sắc của Việt Nam thì việc làm cần thiết là tiếp tục nghiên cứu, làm giàu những tri thức xung quanh đề tài này và vận dụng cho phù hợp với điều kiện nước ta sẽ nâng cao hiệu quả CTTT, góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đất nước vững bước đi lên trên con đường hội nhập và phát triển CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT và trước yêu cầu HNQT cần thực hiện như thế nào để đạt được hiệu quả mong muốn là vấn đề cần được làm rõ

Trang 17

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu (hội thảo, đề tài khoa học, giáo trình, giáo khoa, luận văn, luận án và bài tạp chí khoa học, v.v.) có liên quan đến lĩnh vực CTTT của Đảng nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng từ những khía cạnh khác nhau và thể hiện ở một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về vị trí và vai trò của CTTT của Đảng nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng, có các công trình nghiên cứu như:

Cuốn sách "Một số vấn đề về công tác tuyên truyền" của tác giả Đào

Duy Tùng [117] đã khẳng định rất cụ thể vị trí, vai trò và nhiệm vụ lớn lao của CTTT trong tiến trình cách mạng Việt Nam nói chung và trong công tác xây dựng Đảng nói riêng; những bài học kinh nghiệm và phương châm chỉ đạo của CTTT; những nội dung và biện pháp của CTTT nhằm chống lại những ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, phong kiến, nâng cao chất lượng và hiệu quả của CTTT

Cuốn sách "Nguyên lý công tác tư tưởng" tác giả Lương Khắc Hiếu

[64] đã đề cập đến những vấn đề chung nhất của CTTT như đối tượng, bản chất, hình thái, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châm hoạt động và vai trò CTTT; những nội dung cơ bản của công tác giáo dục tư tưởng về thế giới quan, những vấn đề về phương pháp, hình thức, phương tiện

và sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTT như hệ thống giáo dục lý luận chính trị, các phương tiện truyền thông đại chúng, xây dựng đội ngũ cán bộ tư tưởng Tác giả nêu ra hai nhóm nâng cao hiệu quả CTTT Nhóm thứ nhất là thiết lập các điều kiện cho công tác tư tưởng gồm: môi trường sống, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tồn tại xã hội nói chung Nhóm thứ hai là tác động vào các yếu tố công tác tư tưởng gồm: nắm vững đối tượng, xác định mục đích, nội dung, phương thức phù hợp; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, kiện toàn bộ máy CTTT Cuốn sách là tài

Trang 18

liệu rất cơ bản giúp nghiên cứu sinh làm tài liệu tham khảo và sử dụng để trình bày những vấn đề lý luận của luận án Tuy nhiên, nội dung hai cuốn sách chỉ dừng lại ở những vấn đề lý luận chung về công tác tư tưởng nói chung, trong đó có CTTT

Công trình: "Đổi mới công tác tư tưởng của Đảng ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Trương Minh Tuấn [116] đã đề cập đến việc

đổi mới CTTT ở Tây Nguyên trong bối cảnh HNQT Việc nhận thức sâu sắc

về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của CTTT sẽ góp phần ổn định chính trị -

xã hội ở Tây Nguyên, đây là cơ sở để phát triển bền vững một trong những địa bàn trọng điểm của đất nước trong HNQT hiện nay

Cuốn sách: "Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới"

của tác giả Phạm Tất Thắng [108] đã đề cập sâu về công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, trong đó đưa ra những biện pháp đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm phát huy sức mạnh của nền dân chủ XHCN, của đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế

Về tuyên truyền thi đua yêu nước, cuốn sách viết: “Đổi mới cách viết, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, các phong trào thi đua yêu nước theo hướng thiết thực, không hình thức, không phô trương, lãng phí, phù hợp với điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” [108]

Bài viết: "Tạo bước chuyển biến căn bản trong tổ chức hoạt động đối ngoại" của tác giả Xuân Anh [4] đã chỉ rõ trong bối cảnh nước ta HNQT ngày

càng sâu rộng, CTTT của Đảng có vai trò quan trọng làm cho thế giới hiểu rõ

và hiểu đúng về Việt Nam, qua đó tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kỷ yếu khoa học: "Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020" của Ban Chỉ đạo Trung

ương [8] đã tập hợp báo cáo của Ban Chỉ đạo và tham luận của các bộ, ngành

Trang 19

Trung ương, các tỉnh, thành phố, các huyện, xã và doanh nghiệp tiêu biểu, đánh giá cao vai trò của CTTT trong xây dựng nông thôn mới và đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn tham gia có hiệu quả vào quá trình HNQT Tham luận của các đại biểu Hà Nội nêu rõ:

Thành phố đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức: tổ chức Lễ phát động "Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới" Thông qua các lớp học tập nghị quyết, chuyên đề, lồng ghép công tác chuyên môn gắn với xây dựng nông thôn mới, tuyên truyền lưu động, xây dựng phim tài liệu, phóng sự, tiểu phẩm, thơ ca, tổ chức các cuộc tọa đàm, phát tờ rơi tuyên truyền, khẩu hiệu, panô, áp phích, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, v.v [8]

Thứ hai, về thực trạng CTTT của Đảng nói chung và CTTT của Đảng

trong điều kiện HNQT nói riêng, có các công trình nghiên cứu như:

Cuốn sách: "Giáo trình chuyên ngành công tác tư tưởng" của Ban Tuyên giáo Trung ương [11]; "Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta" của Ban Tuyên giáo Trung ương [13] đã chỉ ra

những nhược điểm, hạn chế của CTTT nói chung và tuyên truyền kinh tế nói riêng là “chậm đổi mới phương thức hoạt động để phù hợp với tình hình mới

và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới đất nước; công tác tuyên truyền về lĩnh vực kinh tế chưa được chú trọng đúng mức” [13]

Bài viết: "Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tuyên giáo" của tác giả Lê Hồng Anh [2] đã chỉ rõ thực trạng CTTT hiện nay

Bên cạnh kết quả đạt được là cơ bản đã góp phần nâng cao nhận thứ, niềm tin trong các tầng lớp nhân dân về con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn Tuy nhiên, tác giả cũng đã chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại trong CTTT về nội dung còn "đơn điệu, nghèo nàn", biện pháp còn "sơ cứng", chưa tạo hiệu quả sau và rõ nét Từ đó, tác giả đã đề cập tới một số giải pháp cho là khả thi để nâng cao hơn hiệu quả CTTT của Đảng

Trang 20

Thứ tư, về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới CTTT của Đảng

nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng, có các công

trình nghiên cứu như:

- "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010" của Ban Tuyên giáo Trung ương [12] đã đánh giá kết quả và đề ra giải

pháp tuyên truyền sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Cuốn sách: "Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng" của tác giả Hà Học Hợi [69] đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn

của việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả CTTT của Đảng trong bối cảnh của những năm đầu thế kỷ XX, góp phần tạo ra sự thống nhất hơn nữa trong Đảng và đồng thuận trong xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trên cơ sở làm rõ tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả CTTT, dự báo tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân trong giai đoạn mới, tác giả đã đề xuất các phương pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả là: Đổi mới và nâng cao chất lượng tuyên truyền, cổ động, đảm bảo bộ máy làm CTTT Cuốn sách đã góp phần triển khai thực hiện nghị quyết Trung ương lần thứ năm khóa IX (tháng 2/2002) về nhiệm vụ chủ yếu của CTTT, lý luận trong tình hình mới

Các cuốn sách chuyên khảo như: "Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác tư tưởng" của Trần Thị Anh Đào [59]; "Công tác tư tưởng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của tác giả Trần Thị

Anh Đào [60] các công trình này đã đề cập khá toàn diện về mặt lý luận của công tác tư tưởng nói chung và CTTT nói riêng, trong đó có luận giải về phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, CTTT và nhất là vấn đề đào tạo cán bộ tư tưởng từ thực tiễn của Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 21

Kỷ yếu hội thảo khoa học: "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Hội nhập quốc tế - nhìn từ thực tế" của Tỉnh ủy Quảng Ninh [110], trong kỷ yếu này,

tác giả Vũ Văn Phúc cho rằng, Đảng cần đẩy mạnh CTTT, vận động, giáo dục, thuyết phục, thực hiện công khai, dân chủ trong Đảng và xã hội; tác giả

Lê Hữu Nghĩa với bài viết: "Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với

Việt Nam trong điều kiện một Đảng cầm quyền” [110]; tác giả Hà Đăng với

bài: "Đổi mới phương thức công tác tư tưởng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" [110]; tác giả Trần Khắc Việt với bài: "Phương thức lãnh đạo của Đảng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế" [110] đã đánh giá tình hình thực tế CTTT của Đảng và làm rõ hơn CTTT của Đảng trong điều kiện đẩy mạnh HNQT ở Việt Nam

Thứ tư, về giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của CTTT của

Đảng nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng, có các công trình nghiên cứu như:

- "Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong quá trình chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới" của Ban Tuyên giáo Trung ương [14] đã đề cập tới

một số nội dung hình thức cho CTTT của Đảng khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế

- "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin - tuyên truyền trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân trong tình hình mới" của Ban Đối ngoại Trung ương Đảng [9] đã đề cập một số nội dung, hình thức thông tin ra nước

ngoài về sự phát triển kinh tế đất nước

- "Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của các “sản phẩm thông tin đối ngoại” của tác giả Lê Hồng Anh [1] đã đề cập đến các nội dung của

thông tin đối ngoại trong đó đã nhấn mạnh phải đổi mới nội dung tuyên truyền cho phù hợp với yêu cầu mới Theo đó tuyên truyền về chủ trương,

Trang 22

đường lối, chính sách của Việt Nam, thành tựu đổi mới, hình ảnh đất nước và con người Việt Nam nhằm mục tiêu để bạn bè quốc tế và đồng bào ta ở nước ngoài hiểu biết đầy đủ và đúng đắn hơn về sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; qua đó huy động được sự ủng hộ, hợp tác của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trọng tâm

là phản ánh kịp thời, đầy đủ quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước; chủ trương và chính sách của Nhà nước, tiềm năng và cơ hội đầu tư

Nhận xét chung, các công trình nghiên cứu đã:

Thứ nhất, đã luận bàn một số quan điểm cơ bản về nguyên lý công tác

tuyên truyền, yêu cầu, nội dung, phương thức công tác tuyên truyền của Đảng

và những vấn đề cơ bản của HNQT Khẳng định CTTT của Đảng trong những năm qua đã tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về HNQT, giúp nhân dân định hướng rõ nét hơn con đường phát triển của Việt Nam trong thời kỳ HNQT, động viên cổ vũ nhân dân tham gia HNQT, góp phần vào thành công chung của công cuộc đổi mới

Thứ hai, đã chỉ ra một số kết quả, hạn chế, thách thức và các giải pháp

nhất định nhằm đổi mới CTTT của Đảng góp phần đưa đất nước HNQT thành công Đã đề cập đến một số tác động (tích cực và tiêu cực) của HNQT đối với CTTT của Đảng, xác định việc đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả CTTT của Đảng là việc cần thiết, là nhiệm vụ quan trọng, nhưng khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài và bền bỉ

Tuy nhiên, xung quanh việc nghiên cứu các đề tài, bài viết và sách đã

nêu còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận về CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT cũng như những vấn đề mà HNQT đặt ra với CTTT như:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã có, mới dừng lại ở vấn đề

chung về lý luận cũng như thực tiễn chung của quốc tế, mà chưa phân tích một cách kỹ càng, thấu đáo tính đặc thù của Việt Nam khi hội nhập Các công trình đã có mới tập trung vào ảnh hưởng CTTT tới sự phát triển kinh tế quốc

Trang 23

tế mà chưa bàn sâu đến tác động của CTTT tới các lĩnh vực khác Việc tìm hiểu tác động của quá trình HNQT đến CTTT của Đảng chưa nhiều

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về CTTT của Đảng trong điều kiện

HNQT ở góc độ khoa học chính trị nói chung và chính trị học nói riêng còn ít Trong khi CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT rất cần được nghiên cứutheo chiều sâu và nghiên cứu từ góc độ của chính trị Dưới góc độ chính trị học, việc tiếp cận CTTT của Đảng đang còn là vấn đề cần được nghiên cứu nhiều hơn, góp phần nâng cao năng lực trong thực thi quyền lực của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay

Thứ ba, các công trình nghiên cứu CTTT của Đảng chủ yếu là đề xuất

nâng cao chất lượng CTTT của Đảng trong HNQT mà thiếu đi những bài viết, những nghiên cứu sâu về các yêu cầu mới của HNQT, các tác động của HNQT để từ đó đòi hỏi CTTT của Đảng phải nâng cao hơn nữa về chất lượng như thế nào để đáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam

Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, “tìm kiếm câu trả lời” cần thiếtvà có thể cho những vấn đề chưa được làm rõ về CTTT của Đảng và đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu HNQT ở Việt Nam hiện nay, luận án này xác định ba nhóm vấn đề chủ yếu cần nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, CTTT của Đảng xem xét từ góc độ chính trị học là gì? CTTT

của Đảng với tính cách là một phương thức thực thi quyền lực chính trị của Đảng cầm quyền là gì và có những đặc điểm, yêu cầu gì? HNQT ở Việt Nam cho đến nay đặt ra yêu cầu gì đối với CTTT của Đảng (với tính cách Đảng cầm quyền)?

Thứ hai, thực trạng và vấn đề đặt ra của CTTT Đảng trong điều kiện

HNQT ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Nguyên nhân và bài học của CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay là gì?

Thứ ba, CTTT của Đảng cần phải đổi mới như thế nào (quan điểm, giải

pháp và kiến nghị đổi mới) để đáp ứng các yêu cầu của HNQT?

Trang 24

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN VÀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG

2.1.1 Tuyên truyền và công tác tuyên truyền

2.1.1.1 Khái niệm tuyên truyền

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ tuyên truyền đã được nhà thờ

La Mã sử dụng từ gần 400 năm trước, dùng để chỉ hoạt động của các nhà truyền giáo với mục đích thuyết phục, lôi kéo những người khác đi theo đạo Ki-tô Về sau, thuật ngữ tuyên truyền dược sử dụng một cách rộng rãi, để biểu đạt các hoạt động nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng người khác và định hướng hành động của họ theo một khuynh hướng nhất định

Tiếng La tinh tuyên truyền (prapaganda) có nghĩa là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền có hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là

sư truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học nghệ thuật, v.v nhằm phổ biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là tuyên truyền tư tưởng, tuyên truyền chính trị mà mục đích của nó là hình thành trong đối tượng tuyên truyền một thế giới quan, một kiểu xã hội nhất định và

cổ vũ tính tích cực xã hội của con người

Theo Từ điển Hán - Việt, “tuyên” có nghĩa là tản khắp mọi nơi; “truyền”

có nghĩa là đem của người này trao cho người khác [75] Theo Từ điển Chính trị, “Tuyên truyền là giải thích phổ biến một tư tưởng, một học thuyết, một lý luận chính trị nào đó” [41] để thuyết phục, vận động mọi người làm theo

Trang 25

Có thể hiểu: tuyên truyền là phổ biến, giải thích một học thuyết, một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượng tuyên truyền truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống,thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ, tính tích cực của con người

trong thực tiễn xã hội

2.1.1.2 Khái niệm công tác tuyên truyền

Khi nhận thấy tầm quan trọng của tuyên truyền đối với đời sống xã hội, con người đã hình thành cho mình một quy trình thực hiện đầy đủ, toàn diện

và hiệu quả hơn việc tuyên truyền và đã hình thành công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền với tư cách là một hành động góp phần thực hiện nhiệm vụ giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị; đây là hoạt động đặc thù bởi nó tác động vào đối tượng vốn rất phức tạp là nhận thức, tư tưởng của con người Chính vì thế, CTTT vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, phản ánh một cách tập trung những cách thức làm thay đổi nhận thức thức, thái độ và hành

vi vốn rất phức tạp của con người

Công tác tuyên truyền xuất hiện và tồn tại trong xã hội loài người, là một hoạt động xã hội, cả chủ thể và khách thể tham gia đều là con người Đối tượng tác động của nó là ý thức con người và rộng hơn là ý thức xã hội Hoạt động tuyên truyền là hoạt động của con người tác động đến con người Tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ phát triển xã hội (với nghĩa rộng) và cũng chịu ảnh hưởng từ môi trường xã hội Tuyên truyền phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, khi xã hội phát triển sẽ tạo những điều kiện và yêu cầu mới cho hoạt động tuyên truyền, làm cho hoạt động tuyên truyền phát triển Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ và phương tiện truyền thông từ sơ khai đến hiện đại (với máy tính, internet, vệ tinh nhân tạo, cáp quang ) tuyên truyền ngày càng giúp cho con người tiếp cận các nguồn thông tin to lớn và nhanh chóng hơn

Trang 26

Từ những cách lý giải khắc nhau về thuật ngữ CTTT cho thấy CTTT có

những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, tuyên truyền là phổ biến, giải

thích một tư tưởng, một chủ trương hay một vấn đề nào đó của chủ thể tuyên

truyền với đối tượng tuyên truyền Thứ hai, tuyên truyền nhằm tác động vào nhận thức của đối tượng tuyên truyền để củng cố hoặc làm thay đổi Thứ ba,

tuyên truyền nhằm tác động vào nhận thức của đối tượng tuyên truyền để củng cố hoặc làm thay đổi nhận thức của đối tượng tuyên truyền, qua đó, xây dựng thế giới quan nhất định ở đối tượng tuyên truyền phù hợp với lợi ích của

chủ thể tuyên truyền Thứ tư, tuyên truyền phải đạt tới hiệu quả là kích thích,

cổ vũ đối tượng hành động theo quan điểm, đường lối, mục đích của chủ thể tuyên truyền

Có thể hiểu: CTTT là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và

cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó [65]

2.1.2 Công tác tuyên truyền của Đảng

2.1.2.1 Khái niệm công tác tuyên truyền của Đảng

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, CTTT của Đảng của giai cấp công nhân (Đảng Cộng sản) là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược cho quần chúng xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó

C.Mác cho rằng, CTTT nói chung và của chính đảng của giai cấp vô sản nói riêng có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản Theo C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể

bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng

Trang 27

vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [44] Vai trò của CTTT là làm cho “lý luận thâm nhập vào quần chúng” để qua đó trở thành lực lượng vật chất” [64]

V.I.Lênin cho rằng, CTTT của Đảng của giai cấp công nhân có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ trong cuộc đấu tranh giành chính quyền,

mà còn trong công cuộc xây dựng CNXH Người xác định:

Họ (những người làm CTTT - giải thích của tác giả luận án) đi trước phong trào tự phát, chỉ đường cho nó, khi nào họ biết giải quyết trước người khác, tất cả các vấn đề lý luận, chính trị, sách lược và các vấn đề tổ chức mà những yếu tố vật chất của phong trào húc phải một cách tự phát [122]

Trong thời kỳ NEP, V.I.Lêninxác định CTTT của Đảng phải gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cách mạng và do vậy phải không ngừng được đổi mới Người cho rằng:

Phương pháp tuyên truyền theo lối cũ thường giải thích thế nào là chủ nghĩa cộng sản và đưa ra những ví dụ Nhưng hiện nay, là lúc phải lấy thực tiễn mà vạch rõ xem nên xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào, thì phương pháp tuyên truyền đó đã trở thành hoàn toàn

vô dụng Mọi công tác tuyên truyền của chúng ta đều phải lấy kinh nghiệm chính trị trong công cuộc xây dựng kinh tế làm cơ sở Đó là nhiệm vụ chủ yếu bậc nhất của chúng ta, và nếu ai muốn hiểu điều

đó theo nghĩa cũ thì người đó sẽ lạc hậu và sẽ không thể tiến hành được công tác tuyên truyền trong quần chúng công nông [121]

Hồ Chí Minh cho rằng: “Tuyên truyền (hay là công tác tuyên truyền của Đảng - giải thích của tác giả luận án) là đem một việc gì đó cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm” [84] Theo Người, tuyên truyền bao gồm các hoạt động chính sau: Cung cấp thông tin để “dân biết”; phân tích, làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng được thông tin, qua tin đó để “dân hiểu” để từ đó “dân

Trang 28

tin theo”; liên hệ với thực tiễn, có các hình thức để khắc họa trong ý thức của người dân để “dân nhớ”; hướng dẫn cách thực hiện vì lợi ích của người dân

để “dân làm” Khái quát theo Hồ Chí Minh, tuyên truyền có ba nhiệm vụ chủ yếu là: thông tin (gồm cả định hướng thông tin); giáo dục và vận động quần chúng; tổ chức quần chúng đi tới hành động Theo Người, tuyên truyền phải tôn trọng sự thật, “Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực Có nói sự thực thì việc tuyên truyền củamình mới có nhiều người nghe” [80]

Theo Hồ Chí Minh, CTTTcủa Đảng bao gồm các hoạt động chính là:

Thứ nhất, cung cấp thông tin để “dân biết” Thứ hai, phân tích, làm rõ bản

chất của sự việc, hiện tượng được thông tin, qua tin đó để “dân hiểu” để từ đó

“dân tin theo” Thứ ba, liên hệ với thực tiễn, có các hình thức để khắc họa trong ý thức của người dân để “dân nhớ” Thứ tư, hướng dẫn cách thực hiện

vì lợi ích của người dân, để “dân làm” CTTT của Đảng có ba nhiệm vụ chủ yếu là thông tin (gồm cả định hướng thông tin), giáo dục và vận động quần chúng và tổ chức quần chúng đi tới hành động cách mạng Hơn nữa, CTTT phải cụ thể, thiết thực để mọi người hiểu đúng chủ trương của Đảng, pháp luật nhà nước Khi định nghĩa về tuyên truyền, trong tuyên truyền cán bộ tuyên truyền cần xác định rõ ràng nội dung, đối tượng, mục đích và phương pháp như tuyên truyền cái gì, tuyên truyền cho ai và tuyên truyền như thế nào

Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, CTTT của Đảng là một trong ba bộ phận cấu thành công tác tư tưởng của Đảng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, các quan điểm, tư tưởng của Đảng đến với quần chúng nhằm tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, cổ vũ, động viên quần chúng thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng CTTT cùng với công tác lý luận

và công tác cổ động là ba hình thái cấu thành công tác tư tưởng của Đảng CTTT của Đảng có vai vai trò quan trọng là truyền bá, phổ biến hệ tư tưởng

Trang 29

cách mạng trong xã hội, trước hết là trong các lực lượng xã hội tiên tiến; khơi dậy tính sáng tạo cách mạng của quần chúng; cổ vũ, động viên quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng, góp phần tổ chức các phong trào cách mạng; chuẩn bị tiền đề tư tưởng, lý luận và con người cho các cuộc cách mạng Vì vậy, công tác tuyên truyền trở thành một công tác cách mạng và là công tác cách mạng đầu tiên của bất kỳ giai cấp và tổ chức cách mạng nào

Khái quát, theo tác giả luận án này, có thể hiểu: CTTT của Đảng là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, là hoạt động vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng nhằm hiện thực hóa các mục tiêu, lý tưởng của Đảng Trong điều kiện là đảng lãnh đạo, CTTT của Đảng là một phương thức lãnh đạo của Đảng; trong điều kiện đảng cầm quyền, CTTT của Đảng là một phương thức cầm quyền của Đảng

2.1.2.2 Các yếu tố cấu thành của công tác tuyên truyền của Đảng

- Chủ thể của công tác tuyên truyền của Đảng:

Để thực hiện CTTT của Đảng cần xác định đúng các chủ thể tham gia công tác này là tổ chức đảng, nhất là các tổ chức (cơ quan) chuyên trách về công tác tư tưởng, CTTT của Đảng và đảng viên Đảng đề ra chủ trương, đường lối, nội dung và phương thức của CTTT, trên cơ sở đó các tổ chức đảng, nhất là các tổ chức (cơ quan) chuyên trách về công tác tư tưởng, CTTT của Đảng và đảng viên tổ chức thực hiện Đảng cũng là cơ quan kiểm tra, đánh giá kết quả của CTTT của Đảng từ đó điều chỉnh đường lối, chủ trương

để phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn

Trong điều kiện đảng cầm quyền, Đảng còn lãnh đạo Nhà nước và các

tổ chức chính trị - xã hội tham gia CTTT của Đảng Là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước trong việc quản lý (quản lý nhà nước) đối với hoạt động của CTTT của Đảng nói riêng và CTTT nói chung; Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện CTTT của Đảng CTTT của Đảng là bộ phận nòng cốt và tiên phong trong CTTT của toàn bộ hệ thống chính trị Vấn đề là ở chỗ xác định rõ

Trang 30

vị trí, vai trò của từng bộ phận cấu thành nên hệ thống đó, trong đó nhấn mạnh vị trí lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với CTTT, tránh trùng lặp, mâu thuẫn, hạn chế sức mạnh tổng hợp của CTTT của các tổ chức trong hệ thống chính trị

Mặt khác, vấn đề ở chỗ Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý CTTT như thế nào trong điều kiện xã hội dân sự ngày càng phát triển Những sự kiện có tính chất lan tỏa rộng lớn đều được các trang thông tin điện tử, trang mạng điện tử cá nhân chia sẻ nhanh chóng, đem lại hiệu quả rất cao trong việc tuyên truyền, hoặc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, các hành vi vi phạm pháp luật, đây có thể là một chủ thể quan trọng trong CTTT hiện nay cần có

- Khách thể của công tác tuyên truyền của Đảng:

Khách thể đối tượng của CTTT Đảng là những cá nhân và cộng đồng người (quần chúng nhân dân) thuộc các giai tầng xã hội, các dân tộc (tộc người), các tôn giáo; là các cộng đồng người thuộc một dân tộc (quốc gia) sống ở trong hay ngoài nước và những người có liên quan khác Đó là công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ; cựu binh; đồng bào tôn giáo, dân tộc; người định cư ở nước ngoài và người nước ngoài có liên quan Nói cách khác, khách thể của CTTT của Đảng là cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước Trong điều kiện HNQT, khách thể của CTTT của Đảng còn là nhân dân, bạn bè, đối tác ở các nước trên thế giới

Trong điều kiện HNQT, CTTT của Đảng còn tác động đến nhận thức của nhân dân thế giới về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, tranh thủ sự ủng hộ của thế giới, thu hút đầu tư, ủng hộ, tôn trọng của Việt Nam khi giải quyết các vấn đề thế giới và khu vực CTTT của Đảng phải làm cho nhân dân thế giới nhận thức đúng đắn về của Việt Nam, phản bác những luận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta CTTT của Đảng thúc đẩy việc mở rộng ngoại giao của Việt Nam với các nước

Trang 31

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể của CTTT của Đảng luôn có tính tương đối, ở mối quan hệ này là chủ thể nhưng ở mối quan hệ khác lại là khách thể của CTTT của Đảng Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, đối tượng CTTT cũng có thể là những chủ thể tuyên truyền và cũng là đối tượng của HNQT Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, mối

quan hệ giữa chủ thể và đối tượng của CTTT của Đảng có đặc điểm là: Thứ nhất, mối quan hệ chi phối, trong đó chủ thể tác động lên đối tượng nhằm làm

thay đổi nhận thức và hành vi của đối tượng theo mục đích của chủ thể; là mối quan hệ phối hợp, tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng để đạt được mục đích của chủ thể CTTT nói chung và của của Đảng nói riêng thực chất là công việc xử lý mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhằm đạt được mục

đích nhất định Thứ hai, về lý thuyết chủ thể và đối tượng là hai thành tố kém

khu biệt lẫn nhau, còn trong thực tế sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng chỉ

có tính tương đối Thứ ba, trong những hoàn cảnh cụ thể một tổ chức, cá nhân

có thể vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của CTTT; người tuyên truyền cũng là người được hay bị tuyên truyền, thậm chí được hay bị tuyên truyền trước (Chẳng hạn, về một vấn đề mới (một chủ trương, chính sách mới nhất định), trước tiên các cấp ủy và đội ngũ cán bộ tuyên truyền phải là đối tượng được tuyên truyền để hiểu và nắm vững vấn đề, sau đó họ sẽ là người phổ biến, giải thích những quan điểm đó tới cán bộ, đảng viên và nhân dân Mặt khác, trong quá trình tuyên truyền, những cán bộ tuyên truyền phải cập nhật kiến thức từ thực tiễn phong phú, lắng nghe ý kiến của đối tượng tuyên truyền, tiếp thu kinh nghiệm quý trong thực tiễn đời sống sản xuất của nhân dân để bổ sung, làm giàu thêm nội dung, phương thức tuyên truyền của mình Đây là vấn đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn để đề ra giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền kinh tế một cách phù hợp, mang tính khả thi) Như vậy, ở một số mặt, mối quan hệ này cũng có sự đồng tốc nhất định, đó là sự phát triển nhanh của CTTT giúp cho việc nắm bắt các nội dung của HNQT cập nhật, điều này góp

Trang 32

phần cho HNQT thuận lợi hơn Tuy nhiên, nhiều khi chủ thể tuyên truyền lại

đi sau, không kịp nắm bắt xu hướng, trong khi đó đối tượng tuyên truyền lại cập nhật nhanh và chính xác thông tin hơn Vô hình chung điều này đã làm cản trở sự phát triển và tham gia HNQT của đất nước

- Nội dung của công tác tuyên truyền của Đảng:

Nội dung của CTTT của Đảng là: Thứ nhất, truyền bá hệ tư tưởng của

giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, biến hệ

tư tưởng ấy thành hệ tư tưởng thống trị đời sống xã hội Thứ hai,tuyên

truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng

và bảo vệ tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH và

HNQT Thứ ba, tuyên truyền đấu tranh chống các luận điệu sai trái của các

thế lực thù định

- Hình thức của công tác tuyên truyền của Đảng:

Các hình thức của CTTT Đảng bao gồm tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền trực tiếp và tuyên truyền gián tiếp CTTT của Đảng bao gồm tuyên truyền chính trị, tuyên truyền kinh tế, tuyên truyền văn hóa, tuyên truyền xã hội, tuyên truyền đối nội, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền cá biệt (cho một người), tuyên truyền nhóm (cho một số người) và tuyên truyền đại chúng (cho đông người)

2.1.2.3 Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền của Đảng

Một là, Đảng xác định mục tiêu, phương hướng, kế hoạch tuyên truyền

Xác định mục tiêu, phương hướng, kế hoạch tuyên truyền là khâu then chốt thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền Việc xác định mục tiêu, phương hướng, kế hoạch tuyên truyền phải căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội, Hội nghị Đảng các cấp đề ra; ngoài ra còn phải căn cứ vào đặc điểm, nhu cầu thông tin của đối tượng; căn

cứ vào tình hình thực tiễn trong từng giai đoạn cụ thể

Trang 33

Hai là, Đảng phối hợp các yếu tố trong và ngoài hệ thống tuyên truyền trong quá trình tổ chức các hoạt động tuyên truyền Với phương thức là Đảng

cầm quyền, Đảng đã thực hiện CTTT bằng mục tiêu, pháp lý, khoa học, tiên tiến Đảng phải lãnh đạo quá trình tổ chức tuyên truyền trong mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống tuyên truyền và các điều kiện khách quan tác động đến hoạt động tuyên truyền Đảng chỉ đạo, phối hợp hoạt động tuyên truyền của các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội Quan tâm chỉ đạo nội dung tuyên truyền chính trị của các binh chủng tuyên truyền: các cơ quan báo chí, xuất bản, hoạt động của báo cáo viên, tuyên truyền viên, các hoạt động văn hóa - văn nghệ

Ba là, Đảng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyên truyền Công tác

tuyên truyền là một loại hình hoạt động xã hội đòi hỏi người cán bộ phải có trình độ cao và năng lực nghề nghiệp vững vàng Theo Lênin, những người có năng khiếu làm công tác này không nhiều và muốn có năng lực thực sự họ cần phải được học tập nhiều, thu thập kinh nghiệm thường xuyên và phải được chuyên môn hóa công tác Do vậy Đảng phải quan tâm lãnh đạo từ khâu tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến khâu sử dụng, đãi ngộ đối với đội ngũ cán

bộ tuyên truyền

2.1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền của Đảng

- Tính chất của hệ tư tưởng của Đảng:

Tính chất khoa học hay không khoa học, cách mạng hay không cách mạng của hệ tư tưởng quy định nội dung tuyên truyền, phươngthức tuyên truyền, tổ chức các hoạt động tuyên truyền của Đảng và trong xã hội Đồng thời, ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối chính sách của Đảng cầm quyền và sự phát triển của cách mạng Đối với CTTT của Đảng Cộng sản, hệ tư tưởng vô sản có tính chất cách mạng và khoa học làm cho tuyên truyền của Đảng có tính chiến đấu, lý luận gắn liền với thực tiễn, có tính khoa học, khách quan và tính nhân dân, dân tộc

Trang 34

- Đường lối, chính sách, trình độ và năng lực của Đảng:

Đường lối, chính sách của Đảng là yếu tố đầu tiên tác động trực tiếp đến CTTT Đường lối, chính sách của Đảng quy định nhiệm vụ chính trị; là nội dung cơ bản, quan trọng của tuyên truyền và nó quy định phương thức tuyên truyền Đường lối, chính sách đúng đắn thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên, giành thắng lợi Cách mạng thắng lợi sẽ cải thiện đời sống của nhân dân, vì vậy họ sẽ phấn khởi, tin tưởng vào Đảng và quyết tâm thực hiện nhiệm

vụ do Đảng đề ra Trình độ, năng lực của Đảng cũng là yếu tố quan trọng, trực tiếp quyết định mục đích, nội dung và công tác tổ chức tuyên truyền

- Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên truyền của Đảng:

Đội ngũ cán bộ tuyên truyền là người trực tiếp quyết định kết quả tuyên truyền Đội ngũ có trình độ cao, có quan điểm tư tưởng đúng đắn, sáng tạo sẽtuyên truyền có hiệu quả và ngược lại Ý thức trách nhiệm, năng lực của cán bộ tuyên truyền quyết định đến hiệu quả tuyên truyền Cán bộ tuyên truyền phải có năng lực và phẩm chất chính trị vững vàng, kiên định tư tưởng, tin tưởng vào hệ tư tưởng của Đảng; có bản lĩnh, kinh nghiệm và nhạy bén chính trị; có trách nhiệm, tâm huyết, đạo đức và có trình độ nghiệp vụ

- Trình độ và đặc điểm của khách thể tuyên truyền:

Trình độ dân trí, tâm lý, thói quen và con đường tiếp nhận thông tin của khách thể tuyên truyền ảnh hưởng rất lớn đến CTTT của Đảng Nếu không thể tuyên truyền có trình độ và điều kiện giao lưu sẽ thuậnlợi cho tuyên truyền, giúp họ nhận thức nhanh chóng và sâu sắc những nội dung tuyên truyền Dân trí càng cao càng làm cho người dân hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình, tích cực tham gia vào hoạt động xã hội, giúp họ có nhu cầu và điều kiện được tiếp thu nội dung tuyên truyền

- Điều kiện và môi trường xã hội (môi trường tuyên truyền):

Điều kiện và môi trường xã hội trong nước: Nếu chính trị và xã hội ổn định, nhân dân tin tưởng vào Đảng, đội ngũ cán bộ trách nhiệm cao, thực hiện

Trang 35

tốt nhiệm vụ được giao, gương mẫu là điều kiện thuận lợi cho CTTT Trình

độ và mức độ công khai, dân chủ trong xã hội tạo nên nhiều kênh thông tin, nội dung thông tin phong phú, đa dạng, sẽ có tác động nhiều đến tư tưởng, tình cảm, phát huy được tính tích cực của quần chúng Về kinh tế càng phát triển càng có điều kiện về tâm lý xã hội thuận lợi và cơ sở vật chất, phương tiện tốt cho hoạt động tuyên truyền

Điều kiện và môi trường quốc tế và thời đại: Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa đang ngày càng thâm nhập sâu rộng vào tất cả các quốc gia Xu hướng này lôi kéo tất cả các nước tham gia vào quá trình hội nhập, tác động lẫn nhau, không có một quốc gia nào có thể ra khỏi quá trình toàn cầu hóa, khiến các nước phụ thuộc nhiều vào nhau, xích lại gần nhau, và bắt tay, hợp tác với nhau trên các lĩnh vực để giải quyết các vấn đề liên quan đến toàn thế giới Khi tham gia vào xu hướng toàn cầu hóa, thì công tác tuyên truyền càng

bị toàn cầu hóa cuốn theo, phải tuân thủ đúng luật chơi và theo chuẩn mực quốc tế Do đó, CTTT cần phải có sự đổi mới, bổ sung cho mình nội dung lẫn các hình thức để phù hợp với xu hướng này Hơn nữa, cần khai thác truyền thông, những thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới để thúc đẩy hiệu quả CTTT trong nước Đặc biệt, trong tình hình hiện nay khi ở Việt Nam đã bước đầu hình thành hệ thống lý luận cơ bản về CNXH, chiến lược bảo vệ Tổ quốc

và HNQT CTTT, công tác giáo dục, lý luận được định hướng với nội dung, hình thức đa dạng, phong phú hơn Tuy nhiên, công tác lý luận còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn Nhiều vấn đề nghiên cứu về tình hình thế giới, khu vực và thời đại chưa sâu sát Kết quả nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh còn dàn trải, tính hệ thống chưa cao Chính vì vậy, khi những vấn đề lý luận trên chưa được giải đáp thì CTTT lại ngày càng khó khăn trong nâng cao nhận thức góp phần định hướng rõ nét con đường HNQT của Việt Nam Đó là chưa kể đến CTTT, giáo dục, bồi dưỡng, bồi dưỡng lý luận hạn chế, CTTT

Trang 36

chưa theo kịp yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ HNQT, đặc biệt điều kiện bùng

nổ thông tin và phát triển mạng thông tin toàn cầu

2.1.2.5 Công tác tuyên truyền với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng

- Khái niệm CTTT của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng:

Đảng cầm quyền là “đảng nắm chính quyền” bằng những người đại diện của Đảng trực tiếp thực hiện công việc quản lý trong bộ máy nhà nước Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, công tác kiểm tra, công tác cán bộ; bằng thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và sự gương mẫu của đảng viên

Để giữ vững địa vị cầm quyền, đòi hỏi Đảng phải giữ vững địa vị lãnh đạo, tức là Đảng luôn có vị trí tiên phong trong toàn xã hội, để nhân dân tin tưởng và đồng tình ủng hộ Mặt khác, để có và giữ vững vai trò cầm quyền, thì ngoài việc Đảng phải thường xuyên nâng cao năng lực, tức nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách đảm bảo đúng đắn, hợp lòng dân; làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền trong nhân dân; tạo sự đồng thuận cao trong Đảng và toàn xã hội; làm tốt sứ mệnh “người đầy tớ trung thành của nhân dân” Để làm được nhiệm vụ này Đảng cần thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền của mình thông qua vai trò của Đảng tham gia gia vào bộ máy Nhà nước, công tác này thể hiện ở việc làm tốt CTTT góp phần đảm bảo hiệu quả cao trong quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Từ phân tích trên, theo tác giả của luận án này, có thể hiểu: CTTT của Đảng với tính cách một phương thứ cầm quyền của Đảng không chỉ là truyền

bá chủ trương, đường lối của Đảng mà còn là truyền bá chính sách, pháp luật của Nhà nước (sự cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước) đến quần chúng nhân dân nhằm thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Trang 37

- Đặc điểm của công tác tuyên truyền của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng, theo tác giả luận án này, là:

Tuyên truyền có tính tiên phong (dẫn dắt, định hướng): Trong điều Đảng cầm quyền, CTTT của Đảng có tính tiên phong (dẫn dắt, định hướng) đối với toàn xã hội nói chung và hệ thống tuyên truyền của hệ thống chính trị,

của Nhà nước nói riêng Tính tiên phong của CTTT của Đảng thể hiện ở: Thứ nhất, tính khoa học, khách quan, trung thực; Thứ hai, tính chính đáng, tính giá trị; Thứ ba, tính chủ động, kịp thời, trách nhiệm; Thứ tư, tính dự báo, định hướng, vượt trước; Thứ năm, tính nhạy bén, năng động, sáng tạo, của CTTT

của Đảng

Tuyên truyền có tính chính thống: Tính chính thống của CTTT của

Đảng thể hiện ở: Thứ nhất, tính đại diện; Thứ hai, tính hợp pháp; Thứ ba, tính công khai; Thứ tư, tính trách nhiệm của CTTT; Thứ năm, CTTT của Đảng

được thực hiện không chỉ trong trong khuôn khổ quy định, điều lệ Đảng, mà còn trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Trong điều kiện Đảng cầm quyền, CTTT của Đảng đa dạng và phức tạp hơn, không chỉ hướng đến sự giác ngộ, sự đoàn kết, nhất trítrong nội bộ giai cấp cầm quyền,mà còn hướng tới sự giác ngộ, sự đoàn kết, nhất trí trong toàn xã hội; chủ thể và đối tượng, phạm vi và mức độ của CTTT của Đảng được mở rộng; nội dung và hình thức, phương pháp và phương tiện công tác tuyên truyền tuyên truyền của Đảng phong phú hơn; yêu cầu và chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của CTTT của Đảng đòi hỏi cao hơn; điều kiện và năng lực, cơ hội và thách thức đối với CTTT của Đảng lớn hơn

Tuyên truyền có tính tổng hợp: Khi chưa giành được chính quyền, CTTT của Đảng tập trung vào việc giành chính quyền, do đó CTTT của các Đảng còn giới hạn về mục đích, nội dung, hình thức, đối tượng và phạm vi tuyên truyền Khi trở thành Đảng cầm quyền (nhất là một Đảng duy nhất cầm quyền), CTTT của Đảng được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

Trang 38

xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến xã hội và hiện nay là cả vấn đề về môi trường; từ đối nội đến đối ngoại; từ an ninh đến quốc phòng

Vai trò của công tác tuyên truyền đối với Đảng cầm quyền:

Công tác tuyên truyền của Đảng phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân; tuyên truyền định hướng phát triển kinh tế - xã hội, giúp cho nhân dân nhận thức và thực hiện tốt các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao nhận thức, niềm tin vào đường lối của Đảng; giáo dục đạo đức, lối sống; bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng hành động cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; uốn nắn những lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái; xây dựng con người mới

Công tác tuyên truyền của Đảng là kênh quan trọng để các cấp ủy đảng, chính quyền tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước;

bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách; xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động; kiểm tra, giám sát, giáo dục, rèn luyện cán bộ, công chức

Công tác tuyên truyền của Đảng là công cụ để cho nhân dân tiếp cận đến các chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, cho người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dục; bảo tồn, phát triển và khai thác các di sản văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Công tác tuyên truyền của Đảng là công cụ phục vụ đối ngoại, ở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới, tranh thủ sự ủng hộ của các nước đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ YÊU CẦU CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG

2.2.1 Hội nhập quốc tế

2.2.1.1 Khái niệm hội nhập quốc tế

Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” (tiếng Anh là international integration) được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc

Trang 39

tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ XIX ở Châu Âu trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng Châu Âu

Có nhiều cách tiếp cận “hội nhập quốc tế”, nhưng cách tiếp cận phù hợp nhất là xem xét hội nhập như là một quá trình xã hội có nội hàm toàn diện và thường xuyên vận động hướng tới mục tiêu nhất định Theo đó, HNQT được hiểu như là một quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế (Cho đến nay,

có ba cách tiếp cận “hội nhập quốc tế” chủ yếu là: Cách tiếp cận thứ nhất, thuộc về trường phái theo chủ nghĩa liên bang, cho rằng hội nhập là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá trình Sản phẩm đó là sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ Để đánh giá sự liên kết, những người theo trường phái này quan tâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế Cách tiếp cận thứ hai, với Karl W Deutsch là trụ cột, xem hội nhập trước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu như thương mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa từ đó hình thành dần các cộng đồng an ninh Theo Deutsch, có hai loại cộng đồng an ninh - loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa Kỳ, và loại cộng đồng

an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu Cách tiếp cận thứ hai này xem xét hội nhập vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm cuối cùng Cách tiếp cận thứ

ba, xem xét hội nhập dưới góc độ là hiện tượng/ hành vi các nước mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau trên cơ sở phân công lao động quốc

tế có chủ đích, dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục tiêu theo đuổi)

Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất,

Trang 40

phạm vi và hình thức khác nhau Bản chất của HNQT chính là sự gắn kết của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các thành viên quan hệ với nhau theo các nguyên tắc, quy định chung Đó

là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế - tài chính quốc tế, tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại đầu

tư ở các lĩnh vực

2.2.1.2 Những nội dung cơ bản của hội nhập quốc tế

- Hội nhập quốc tế về kinh tế:

Hội nhập quốc tế về kinh tế (hội nhập kinh tế quốc tế) là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra nhiều mức độ khác nhau (Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA) - khu vực mậu dịch tự do (FTA) - liên minh thuế quan (CU) - thị trường chung (hay thị trường duy nhất))

- Hội nhập quốc tế về chính trị:

Hội nhập quốc tế về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi chung Hội nhập chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ chia sẻ với nhau

về các giá trị cơ bản (tư tưởng chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và đặc biệt là quyền lực Ở giai đoạn thấp của hội nhập chính trị, liên kết giữa các thành viên còn hạn chế và các thành viên vẫn cơ bản giữ thẩm quyền định đoạt chính sách riêng (ASEAN khi trở thành cộng đồng ASEAN năm

2015 Giai đoạn hội nhập chính trị cao đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị

và độ tin cậy hoàn toàn của các thành viên Về mặt tổ chức quyền lực, các thành viên chỉ giữ lại một số thẩm quyền nhất định ở cấp quốc gia và trao các quyền lực còn lại cho một cơ cấu siêu quốc gia Thông thường hội nhập chính trị là

Ngày đăng: 24/06/2016, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hồng Anh (2012), "Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của các “sản phẩm thông tin đối ngoại”", Tạp chí Thông tin đối ngoại, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của các “sản phẩm thông tin đối ngoại”
Tác giả: Lê Hồng Anh
Năm: 2012
2. Lê Hồng Anh (2014), "Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tuyên giáo", Tạp chí Tuyên giáo, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tuyên giáo
Tác giả: Lê Hồng Anh
Năm: 2014
4. Xuân Anh (2012), "Tạo bước chuyển biến căn bản trong tổ chức hoạt động đối ngoại", Tạp chí Thông tin đối ngoại, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo bước chuyển biến căn bản trong tổ chức hoạt động đối ngoại
Tác giả: Xuân Anh
Năm: 2012
5. Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
6. Ban Chỉ đạo đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của Trung ương (2003), Chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của Trung ương (2003), "Chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa
Tác giả: Ban Chỉ đạo đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của Trung ương
Năm: 2003
7. Ban Chỉ đạo Trung ương (2010), Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020
Tác giả: Ban Chỉ đạo Trung ương
Năm: 2010
8. Ban Chỉ đạo Trung ương (2014), Sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 2010-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 2010-2020
Tác giả: Ban Chỉ đạo Trung ương
Năm: 2014
9. Ban Đối ngoại Trung ương Đảng (2008), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin - tuyên truyền trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin - tuyên truyền trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Ban Đối ngoại Trung ương Đảng
Năm: 2008
10. Ban Tuyên giáo Trung ương (2002), Nguyên lý tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý tuyên truyền
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2002
11. Ban Tuyên giáo Trung ương (2002), Giáo trình chuyên ngành công tác tư tưởng (Thông tin cổ động), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chuyên ngành công tác tư tưởng (Thông tin cổ động)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2002
12. Ban Tuyên giáo Trung ương (2004), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2004
13. Ban Tuyên giáo Trung ương (2004), Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2004
14. Ban Tuyên giáo Trung ương (2004), Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong quá trình chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong quá trình chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2004
15. Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Tiếp tục đổi mới, nâng cao tính chiến đấu, sự sắc bén, chất lượng và hiệu quả công tác tuyên giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới, nâng cao tính chiến đấu, sự sắc bén, chất lượng và hiệu quả công tác tuyên giáo
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2008
16. Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Sổ tay báo cáo viên năm 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay báo cáo viên năm 2009
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2009
17. Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Tập trung trí tuệ, tâm huyết, phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện có hiệu quả công tác tuyên giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập trung trí tuệ, tâm huyết, phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện có hiệu quả công tác tuyên giáo
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2009
18. Ban Tuyên giáo Trung ương (2010), Sổ tay báo cáo viên năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay báo cáo viên năm 2010
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2010
19. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Sổ tay báo cáo viên năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay báo cáo viên năm 2011
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2011
20. Ban Tuyên giáo Trung ương (2015), Báo cáo tổng kết năm 2010-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2010-2015
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2015
21. Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2010), Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới
Tác giả: Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w