Tuy nhiên, nguồn tài nguyên cây hoang dại hữu ích useful wild plants - UWP [121]hiện đang bị đe dọa do thảm thực vật tự nhiên bị tàn phá, bị khai thác quá mức và bị sửdụng một cách lãng
Trang 1NGUYỄN CHÍ HIỂU
VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG CÂY BÒ KHAI
(ERYTHROPALUM SCANDEN BLUME)
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN, BẮC KẠN
Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số: 62.62.01.01
LUẬN ÁN TIÉN SĨ NÔNG NGHIỆP
2 PGS.TS Đặng Kim Vui
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêutrong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Chí Hiểu
Trang 3Luận án được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và cơ quannghiên cứu trong nước Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đặng VănMinh, PGS.TS Đặng Kim Vui, với cương vị người hướng dẫn khoa học, đã có nhiều đónggóp to lớn cho nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án Tác giảcũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự động viên và giúp đỡ nhiệt tình của GS.TS.Nguyễn Thế Đặng, PGS.TS Nguyễn Ngọ c Nông, TS Lê Sỹ Lợi, PGS.TS Đào ThanhVân, TS Hoàng V ăn Hùng, TS Đặng Quý Nhân, TS Trần Minh Quân, TS Dương VănThảo, TS Hà Văn Thuân trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án tại Trường Đạihọc Nông Lâm Thái Nguyên.
Tác giả chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của ban lãnh đạo Sở Nông nghiệp & Pháttriển nông thôn, Sở Khoa học & Công nghệ, Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh TháiNguyên và tỉnh Bắc Kạn Cảm ơn phòng Nông nghiệp các huyện Bạch Thông, Ba Bể, Thị
xã Bắc Kạn, BQL VQG Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn; phòng Nông nghiệp các huyện Đại Từ,Đồng Hỷ, Võ Nhai, Thành phố Thái Nguyên, KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng - tỉnhThái Nguyên trong việc cung cấp tài liệu và thông tin liên quan đến đề tài, hợp tác trongđiều tra, bố trí thí nghiệm đồng ruộng, triển khai xây dựng mô hình trồng rau Bò Khai có
sự tham gia của nông dân
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án, nghiên cứu sinh đã nhận được sựgiúp đỡ của cán bộ, công nhân viên Khoa Nông học, Khoa Tài nguyên và môi trường,Trung tâm Môi trường và tài nguyên miền núi - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên;Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, Trung tâmnghiên cứu sinh thái và môi trường rừng - Viên Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam; Việnsinh thái và tài nguyên sinh vật - Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam Nhân dịp này,tác giả xin chân thành cảm ơn các cơ quan trên Xin trân trọng cảm ơn Ban Đào tạo SauĐại học - Đại học Thái Nguyên, Phòng QLĐT Sau đại học - Trường Đại học Nông lâmThái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi để nghiên cứu sinh hoàn thành luận án của mình
Thái Nguyên, ngày 12/5/ 2012 NCS Nguyễn Chí Hiểu
Trang 4* Ý nghĩa của luận án 3
* Những đóng góp mới của luận án 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Các vấn đề về bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích 5
1.1.1 Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích và công tác bảo tồn trên thế giới 5
1.1.2 Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích và việc bảo tồn ở Việt Nam 13
1.2 Một số nghiên cứu về thực vật hoang dại hữu ích 19
1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 19
1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 23
1.3 Tổng quan về loài cây nghiên cứu 27
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp luận và nội dung nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp tiếp cận 32
2.2.2 Nội dung nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp điều tra, phân tích về điều kiện tự nhiên và các kiến thức bản địa về khai thác, trồng trọt và sử dụng cây Bò khai 33
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của cây Bò khai 33
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm một số biệnpháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Bò khai 35
2.3.4 Xây dựng mô hình thử nghiệm sản xuất rau Bò khai 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1 Điều tra, phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các kiến thức bản địa về cây bò khai 41
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 41
3.1.2 Kết quả điều tra kiến thức bản địa về khai thác, sử dụng và gây trồng cây Bò khai 45
Trang 53.1.3 Tri thức bản địa về sự phân bố sinh thái của cây Bò khai 47
3.2 Đặc điểm sinh thái của cây bò khai 48
3.2.1 Một số đặc điểm thực vật và thành phần dinh dưỡng 48
3.2.2 Đặc điểm sinh thái học 50
3.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống,trồngtrọtcây bò khai 75
3.3.1 Kết quả thí nghiệm nhân giống bằng hom 75
3.3.2 Ảnh hưởng của chế độ ánh sáng tới sinh trưởng của cây Bò khai 86
3.3.3 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau tới sinh trưởng của cây Bò khai 91
3.4 Xây dựng mô hình thử nghiệm sản xuất rau bò khai và bổ sung hoàn thiện đề xuất kỹ thuật gây trồng 96
3.4.1 Xây dựng mô hình sản xuất rau Bò khai 96
3.4.2 Đề xuất kỹ thuật trồng và chăm sóc cây rau Bò khai 98
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 105
4.1 Kết luận 105
4.2 Đề nghị 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BÓ 118
PHỤ LỤC 119
Trang 6Viết tắt Viết đầy đủ
BGCI Tổ chức các Vườn thực vật Quốc tế
CBD Công ước đa dạng sinh học
CITES Công ước về chống buôn bán các loài động thực vật có nguy cơ
bị tiêu diệtCREDEP Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển cây thuốc Dân tộc Cổ truyền
FAO Tổ chức Lương Nông thế giới
FRLHT Quĩ khôi phục các nền y học địa phương
IPR Quyền sở hữu trí tuệ
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
KTXH Kinh tế xã hội
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
MPSG Nhóm chuyên gia về thực vật làm thuốc
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TWINSPAN Phép phân tích hai chiều loài chỉ thị
UNCED Hội nghị môi trường và phát triển của Liên hợp quốc
VH-LS-MT Văn hóa, lịch sử, môi trường
Trang 7Tran g
42 45 46 46 47 50 51 52
Kết quả điều tra khai thác và sử dụng cây Bò khai
Tình hình khai thác cây Bò khai các thời kỳ
Tình hình gây trồng cây Bò khai
Kiến thức bản địa về sự phân bố cây Bò khai
Thành phần dinh dưỡng trong rau Bò Khai
Sự xuất hiện và tình hình sinh trưởng
của cây bò khai tại các ÔTC
Kết quả phân tích các mẫu đất tại các ÔTC
Quan hệ tuyến tính giữa các chỉ tiêu về tính chất đất đai, cây Bò
Khai (tại Võ Nhai) với 3 trục chính (PCA ) đầu tiên
Quan hệ tuyến tính giữa các chỉ tiêu về tính chất đất đai, cây Bò
Khai (tại Ba Bể) với 3 trục chính (PCA ) đầu tiên
Quan hệ tuyến tính giữa các chỉ tiêu về sinh thái và cây Bò Khai
(tại Võ Nhai) với 3 trục chính (PCA ) đầu tiên
Quan hệ tuyến tính giữa các chỉ tiêu về sinh thái cây Bò Khai (tại
Ba Bể) với 3 trục chính (PCA ) đầu tiên
Tỷ lệ ra rễ của các công thức có và không dùng thuốc giâm hom
Khả năng ra rễ tại các CT có và không dùng thuốc giâm sau 65
Trang 8Số Bảng Tên Bảng TrangBảng 3.17 Số hom ra rễ TB của các công thức giá thể
Bảng 3.18 Tỉ lệ ra rễ của các công thức giá thể theo thời gian 82Bảng 3.19 Các chỉ tiêu về ra chồi của các công thức giá thể 82Bảng 3.20 Số cây sống và tỷ lệ xuất vườn
Bảng 3.21 Kết quả theo dõi về thời gian ra rễ của các loại hom 84
Bảng 3.23 Cường độ ánh sáng thực tế ở các công thức che bóng 86Bảng 3.24 Tốc độ ra chồi theo lứa hái của cây ở các mức che bóng 87Bảng 3.25 Tốc độ tăng trưởng chiều dài chồi
Bảng 3.26 Tốc độ tăng trưởng đường kính chồi
Bảng 3.28 Năng suất thực thu của cây rau bò khai ở cácmức che bóng 90Bảng 3.29 Sự tăng trưởng chiều dài và đường kính thân
Bảng 3.30 Ảnh hưởng của phân bón tới khả năng ra chồi của cây Bò khai 93
Bảng 3.31 Trọng lượng chồi TB/cây ở các công thức bón phân 95Bảng 3.32 Mức độ sâu hại Bò khai của các công thức bón phân 95
Bảng 3.34 Năng suất thống kê tại các mô hình qua 2 năm 97
DANH MỤC CÁC HÌNH
về dinh dưỡng đất (Võ Nhai)
Trang 9giữa các ô tiêu chuẩn (Võ Nhai)
Hình 3.4 Các yếu tố có quan hệ với cây Bò Khai (Võ Nhai) 54Hình 3.5 Mức độ quan hệ của các yếu tố với cây Bò Khai (Võ Nhai) 55Hình 3.6 Các nhóm ô tiêu chuẩn tương đồng về dinh dưỡng đất (Ba Bể) 56
giữa các ô tiêu chuẩn (Ba Bể)
Hình 3.8 Các yếu tố có quan hệ với cây Bò Khai (Ba Bể) 58Hình 3.9 Mức độ quan hệ của các yếu tố với cây Bò Khai (Ba Bể) 58Hình 3.10 Các nhóm ô tiêu chuẩn tương đồng về sinh thái (Võ Nhai) 59Hình 3.11 Quan hệ giữa cây Bò Khai và các yếu tố sinh thái (Võ Nhai) 60Hình 3.12 Các nhóm ô tiêu chuẩn tương đồng về sinh thái (Ba Bể) 61Hình 3.13 Quan hệ giữa cây Bò Khai và các yếu tố sinh thái (Ba Bể) 62
thực vật thảm tươi (Võ Nhai)
Hình 3.15 Mức độ quan hệ giữa cây Bò Khai và các loài 65
thảm tươi (Võ Nhai)
Hình 3.16 Quan hệ giữa các ÔTC về thành phần loài cây bụi (Võ Nhai) 66
và các loài cây bụi (Võ Nhai)
cây tái sinh (Võ Nhai)
Hình 3.19 Mức độ quan hệ giữa cây Bò Khai và các loài tái sinh (V õ Nhai) 67
cây cao tán (Võ Nhai)
Hình 3.21 Mức độ quan hệ giữa cây Bò Khai và các loài 68
cây cao tán (Võ Nhai)
thành phần loài (Võ Nhai)
Hình 3.23 Mức độ quan hệ giữa các loài và với cây Bò khai (Võ Nhai) 69
thực vật thảm tươi (Ba Bể)
Trang 10Hình 3.25 Mức độ quan hệ giữa cây Bò Khai và các loài 70
thảm tươi (Ba Bể)
Hình 3.26 Quan hệ giữa các ÔTC về thành phần loài cây bụi (Ba Bể) 71Hình 3.27 Mức độ quan hệ giữa cây Bò Khai và các loài 71
cây bụi (Ba Bể)
Hình 3.28 Quan hệ giữa các ÔTC về thành phần loài cây tái sinh (Ba Bể) 71Hình 3.29 Mức độ quan hệ giữa cây Bò Khai và các loài 71
tái sinh (Ba Bể)
Hình 3.30 Quan hệ giữa các ÔTC về thành phần loài cây cao tán (Ba Bể) 72Hình 3.31 Mức độ quan hệ giữa cây Bò Khai và các loài 72
cây cao tán (Ba Bể)
Hình 3.32 Các nhóm ô tiêu chuẩn tương đồng về thành phần loài (Ba Bể) 73Hình 3.33 Mức độ quan hệ giữa các loài và với cây Bò khai (Ba Bể) 73Hình 3.34 Biểu đồ tỷ lệ ra rễ đợt đầu (16 ngày sau giâm) 76
Hình 3.36 Biểu đồ tỉ lệ ra chồi của các công thức giá thể theo thời gian 83Hình 3.37 Biểu đồ tỷ lệ hom ra rễ của các loại hom qua các kỳ theo dõi 84
Hình 3.39 Biểu đồ năng suất trung bình ở các công thức che bóng 90Hình 3.40 So sánh năng suất giữa các mô hình ở hai loại đất khác nhau 97
Trang 11MỞ ĐẦU
Tổ chức Quĩ thiên nhiên toàn Thế giới (WWF) đã ước tính: trên thế giới có khoảng35.000 - 70.000 loài trong số 250.000 - 270.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích làmthực phẩm và chữa bệnh [128] Kho tàng nguồn tài nguyên thực vật vô giá này đã và đangđược các cộng đồng khác nhau trên thế giới khai thác và sử dụng thường xuyên, nguồn lợi
từ thực vật đã góp phần lớn trong công cuộc phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên cây hoang dại hữu ích (useful wild plants - UWP) [121]hiện đang bị đe dọa do thảm thực vật tự nhiên bị tàn phá, bị khai thác quá mức và bị sửdụng một cách lãng phí, tri thức về khai thác, sử dụng và bảo tồn các loài cây hữu ích bảnđịa bị mai một do không được tư liệu hoá, thế hệ trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến họctập kinh nghiệm của thế hệ trước, v.v Ngày nay, nhiều cây hoang dại hữu ích đang đối mặtvới nguy cơ bị tuyệt chủng nhưng lại có rất ít nỗ lực bảo tồn Trong khi đó các nỗ lực lại tậptrung quá nhiều vào việc khám phá các loài có ích mới [13]
Do đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện khí hậu và cấu trúc địa hình đa dạng nên ViệtNam là một trong những quốc gia có hệ động thực vật rất phong phú Theo báo cáo tại hộinghị khoa học về đa dạng sinh học do Tổng cục môi trường tổ chức tháng 11/2010,[12] trênlãnh thổ Việt Nam, ở các hệ sinh thái trên cạn, đã thống kê và xác định được trên 13.200loài thực vật, hơn 10.000 loài động vật Khoảng hai thập kỷ gần đây, rất nhiều loài động,thực vật mới được phát hiện và mô tả, trong đó có nhiều chi và loài mới Việt Nam là quốcgia có nguồn tài nguyên cây hoang dại hữu ích phong phú, với khoảng 3.800 loài cây hoangdại hữu ích đã được phát hiện [8] Đây là cơ sở rất quan trọng để chúng ta tiếp tục phát hiện,chọn lọc và phát triển các loài cây hoang dại trong tự nhiên có tiềm năng cho giá trị kinh tếcao, vừa góp phần bảo tồn các nguồn gen giống quý vừa hướng tới mục tiêu xoá đói giảmnghèo và nâng cao mức sống của người dân, đặc biệt là người dân miền núi
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam đang thay đổinhanh chóng về mọi mặt Do nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống ngày một tăng, nguồntài nguyên cây hoang dại hữu ích ở nước ta đang bị đe dọa do bị khai thác quá mức, tri thức
sử dụng các loài cây bản địa ngày càng bị mai một Nhiều loài cây đang bị đe
dọa nhưng lại rấtthiếuthông tinvề các quá trình xẩyra ở cộng
đồng liên quan đến sử dụng, bảo tồn và phát triển các loài cây đó Do đó việc phát triển hệthống phương pháp luận, cách tiếp cận và kỹ thuật thích hợp nhằm quản lý, bảo tồn sửdụng và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây hoang dại hữu ích trong tình hình mới ởViệt Nam là việc làm hết sức cấp thiết
Một trong những lợi ích quan trọng của thực vật bản địa đối với con người là cung
Trang 12cấp nguồn thức ăn tại chỗ như rau xanh, củ, quả v.v Đây là một phần không thể thiếutrong bữa ăn hàng ngày của con người Khoa học dinh dưỡng đã phân tích và xác định trongrau quả có hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người [4] Ăn nhiều rau, quả giúp
cơ thể tránh được các bệnh về tim, đột qụy, ổn định huyết áp và ngăn ngừa một số bệnh ungthư Một chế độ ăn uống khoa học, và an toàn thì không thể thiếu rau xanh và các loại hoaquả trong mỗi bữa ăn [27]
Do vậy việc nghiên cứu phát triển nghề trồng rau luôn là hướng đi đúng đắn trongphát triển nông nghiệp Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách, chương trình hỗ trợphát triển nghề trồng rau trên địa bàn toàn quốc như các chương trình sản xuất rau, quả antoàn.cùng với đó là chiến lược đầu tư nghiên cứu phát triển sản xuất các loại rau bản địa đặcsản tại các vùng, địa phương trên cả nước, như dự án” Liên kết để đa dạng hoá thu nhập từcác cây trồng ít sử dụng”, chương trình bảo tồn và phát triển cây rau bản địa như cây rausắng tại vườn quốc gia Xuân Sơn [88]
Tại khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, gần đây cây rau Bò khai được biết đến nhưmột loài rau xanh sạch, ngon và có nhiều giá trị Cây Bò khai có tên khoa học là
Erythropalum scandens Blume [94], là một loại dây leo có tua cuốn, chúng thường mọc ven
các rừng thứ sinh hoặc rừng đang phục hồi Loài rau này vừa có tác dụng làm thực phẩm thức ăn, vừa có tác dụng làm thuốc chữa bệnh, và còn được đánh giá là một loại thực phẩmchức năng quý Theo Tạ Minh Hoà - Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản Việt Nam [35]:Rau Bò khai là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, gồm các thành phần chủ yếu sau(tính trong 100g lá non): nước 78,8g; Protein 06g; Gluxit 6,1g; Xơ 7,5g; tro 1,6g; can xi138mg; phốt pho 40,7 mg; ca-rô-ten 2,6mg; vitamin C 60mg Chính vì vậy, Bò khai đượccoi là một loài cây lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng và có thể phát triển để góp phần xoá đóigiảm nghèo cho đồng bào địa phương các tỉnh miền núi phía Bắc
-Từ lâu, người dân các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam đã biết khai thác loại raurừng này để làm thức ăn hàng ngày Ban đầu chỉ là vào rừng khai thác nguồn rau sẵn cótrong tự nhiên đem về ăn, sau đó nhận thấy giá trị nhiều mặt của loài rau này nên người dâncác địa phương đã vào rừng khai thác nhiều hơn, vừa để ăn và vừa để đem bán, cùng vớiviệc diện tích rừng ngày một giảm nên số lượng cây Bò khai tự nhiên hiện không còn nhiều
Vì vậy để bảo tồn và phát triển loài cây này cần có biện pháp để khôi phục cả trong tự nhiên
và nhân tạo Việc nghiên cứu gây trồng được coi là hướng đi chủ đạo, có thể đem lại cơ hộithành công cho việc duy trì phát triển loài cây đặc sản có giá trị này Góp phần tạo nguồnhàng hoá có giá trị trên thị trường, hình thành nghề trồng rau mới - một cơ hội sinh kế lâudài cho người dân, góp phần bảo vệ nguồn gen của những loại thực vật rừng quý hiếm đang
Trang 13có nguy cạn kiệt trong tự nhiên (Bò khai thuộc họ đơn chi, và cũng là chi đơn loài).
Thời gian qua, một số cơ quan nghiên cứu cũng đã có những thử nghiệm bước đầu
về nhân giống đối với cây Bò khai và khuyến cáo một số kỹ thuật gây trồng đơn giản đốivới loại cây này Tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ mang tính thử nghiệm chủ yếu là giớithiệu cây Bò khai là một loài cây lâm sản ngoài gỗ mới, có tiềm năng Hiện chưa có nghiêncứu cơ bản nào tập trung đi sâu tìm hiểu các đặc điểm sinh thái và xác định những biện pháp
kỹ thuật trồng trọt phù hợp để bảo tồn và phát triển loại rau đặc sản nhiều tiềm năng này
Từ thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học và biện pháp kỹ
thuật trồng cây Bò khai (Erythropalum Scandens Blume) tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn”
được thực hiện với mục đích tổng quát là: Xác định được một số cơ sở khoa học để pháttriển sản xuất cây rau Bò khai làm thực phẩm chức năng, đồng thời góp phần bảo tồn đadạng sinh học
* MỤC TIÊU CỦA LUẬN ÁN
- Đánh giá thực trạng việc khai thác, sử dụng và một số kiến thực bản địa liên quanđến cây Bò khai
- Xác định một số đặc điểm sinh thái học của cây Bò khai, làm cơ sở cho địnhhướng phát triển sản xuất loài cây này
- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Bòkhai theo hướng thâm canh
* Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
- Bổ sung phương pháp luận trong việc nghiên cứu bảo tồn nguồn gen câyhoang dại và khai thác tiềm năng kinh tế của tài nguyên đa dạng sinh học
- Góp phần phát triển cây Bò khai trở thành loại thực phẩm chức năng sạch đượcdùng phổ biến hơn, đáp ứng nhu cầu của người dân, góp phần nâng cao thu nhập và xoá đóigiảm nghèo
- Những kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảngdạy cho các nhà định hướng chiến lược phát triển cây rau, các nhà khoa học, các cán bộ kỹthuật nông nghiệp, học sinh, sinh viên, nông dân về đặc tính sinh thái học, kỹ thuật gâytrồng theo hướng thâm canh cây Bò khai
* NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu các kiến thức bản địa về sự phân bố, tình
hình khai thác và sử dụng cây Bò khai (Erythropalum Scandens Blume) tại tỉnh Thái
Nguyên và Bắc Kạn
- Đã nghiên cứu các đặc điểm sinh thái tự nhiên của cây Bò khai làm cơ sở
Trang 14cho việc định hướng bảo tồn và phát triển loài cây này.
- Là Công trình nghiên cứu một cách hệ thống về kỹ thuật nhân giống và trồng trọtcây Bò khai Từ đó bổ sung và hoàn thiện một số biện pháp kỹ thuật nhằm phát triển loàirau bản địa tiềm năng này trong sản xuất nông lâm nghiệp
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CÁC VẤN ĐỀ VỀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT HOANG DẠI HỮUÍCH
1.1.1 Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích và công tác bảo tồn trên thế giới
1.1.1.1 Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích
Nói về thực vật hoang dại hữu ích là nói đến nguồn tài nguyên cây cỏ phong phú trênhành tinh, đó là những loài thực vật có giá trị đối với loài người, chúng đã và đang được conngười khai thác và sử dụng hàng ngày, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của mình Trong đó,các sản phẩm phi gỗ được khai thác ngày càng nhiều, nhu cầu khai thác các cây lâm sảnngoài gỗ (LSNG) để làm thực phẩm và làm thuốc chữa bệnh luôn là quan trọng nhất, đồngthời hai nhu cầu này lại thường song hành với nhau Hầu hết các loài thực vật hoang dạiđược khai thác từ rừng, hoặc thuần hóa để gây trồng làm thức ăn cho con người đều có ýnghĩa như những vị thuốc quan trọng, vì nó giúp cơ thể tăng cường sức khỏe, từ đó tăng sức
đề kháng và chống lại bệnh tật Mặt khác, có rất nhiều loài cây thuốc ngày nay được conngười sử dụng hàng ngày như những loại thực phẩm thiết yếu
Nguồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích và kho tàng tri thức sử dụng cây hoangdại của các nền văn hoá khác nhau đang được khai thác triệt để và nghiên cứu nhằm phục vụcông tác chăm sóc sức khoẻ và phát triển kinh tế Ở mức độ toàn cầu thực vật hoang dại hữuích phục vụ cho 4 nhu cầu chính là (i) các hệ thống chăm sóc sức khoẻ truyền thống, (ii)công nghiệp dược, (iii) cá nhân những người hành nghề y truyền thống và (iv) phụ nữ đểchăm sóc sức khoẻ trong gia đình [107],[112]
Theo số liệu của FAO, ước tính có khoảng 80% dân số trong các nước đang pháttriển sử dụng các loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa nhằm đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ
và dinh dưỡng Vài triệu hộ gia đình trên toàn thế giới sống nhờ vào các sản phẩm này đểđáp ứng các tiêu dùng thiết yếu hàng ngày hay là tạo thu nhập Hiện nay, có ít nhất 150 loàithực vật hoang dại hữu ích bản địa đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thương mại quốc
tế, ước tính tổng giá trị thương mại quốc tế của các loài thực vật hoang dại hữu ích bản địahàng năm khoảng 5 - 11 tỷ USD (Mohammad Iqbal - 1993) International trade in NWFPs:
an overview) [74]
Ngày nay, ước lượng có khoảng 35.000 - 70.000 loài trong số hơn 250.000 loài thựcvật bậc cao được sử dụng vào mục đích làm thực phẩm chức năng, chăm sóc sức khỏe vàchữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới [128] Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài [119]
Ấn Độ có khoảng 7.500 - 8.000 loài [97], [113], Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia
có khoảng 2.000 loài [82] Nepal có hơn 700 loài [114] Sri Lanca có khoảng 550 - 700 loài
Trang 16[110] Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong y học truyền thống [109].Châu Mỹ La tinh, nơi có chứa lới 1/3 số loài thực vật trên thế giới, cũng có truyền thống sửdụng cây cỏ bản địa thực phẩm và làm thuốc chữa bệnh, đặc biệt là ở người dân bản địaSchule đã phát hiện gần 2.000 loài thực vật hoang dại hữu ích được sử dụng ở vùng Amazonthuộc Colombia Các quốc gia ở Châu Phi có số loài thực vật hoang dại hữu ích ít hơn nhưSomalia có 200 loài [114] Botswana có 314 loài [104].
Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal có ở Iraq từ 60.000 năm trước
đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như Cỏ
thi (Achillea), Cúc bạc (Chrysanthemum sinense Sabine) vv Người dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mehico (Opuntia Spp) mà ngày nay
được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn [122]
Mức độ sử dụng thực vật hoang dại hữu ích ở các nước công nghiệp ngày càng tăng.Ngày nay, có khoảng 40% dân số ở các nước công nghiệp phát triển sử dụng các dạng thuốc
bổ sung [100] Tổng giá trị thuốc có nguồn gốc cây cỏ trên thị trường châu Âu, Mỹ và NhậtBản vào năm 1985 là 43 tỉ USD [92]
Tonga Noweg và cộng sự (2003)[123] nghiên cứu những loài cây làm rau lấy từ rừngcủa các cộng đồng trong khu vực Vườn quốc gia Crocker Range, Sabah, Malaysia cho thấy
có đến 70,6% cộng đồng dân cư có lấy các loài rau từ rừng, 82% phụ nữ tham gia lấy cácloại rau rừng phục vụ cho gia đình 18% vừa lấy để dùng vừa đem bán ở các chợ địa phương
Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự (2006) [126] đã nghiên cứu phân bố các loài cây
ăn được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ biến và được dân
cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây ăn được thuộc trong 26 họ
Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp theo là các họ Asteraceae (5loài),Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài)
Trên thế giới có 12 trung tâm đa dạng sinh học cây trồng là Trung Quốc - Nhật Bản,Đông Dương - Indonesia, Châu Úc, Ấn Độ, Trung Á, Cận Đông, Địa Trung hải, Châu Phi,Châu Âu - Siberi, Nam Mexico, Nam Mỹ và Bắc Mỹ Nhiều loài Thực vật hoang dại hữu ích
đã được thuần dưỡng và trồng trọt từ lâu đời ở các trung tâm đó như Gai dầu, Nhân sâm,Đinh hương, Nhục đậu khấu, Quế Xây Lan, Bạc hà, Đan sâm, Canh kina vv [77]
Các loài cây lâm sản ngoài gỗ đã được người dân gây trồng, khai thác sử dụng cáchđây hàng nghìn năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đới như: Trung Quốc, NhậtBản, Ấn Độ, Indonesia, hiện nay các nhà khoa học, các nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầuquan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu, gây trồng và phát triển các loài cây LSNG gắn với bảotồn và phát triển rừng [121] Đây cũng là mốc đánh dấu sự chuyển biến nhận thức về tầm
Trang 17quan trọng, vai trò của cây LSNG trong xã hội, nó được coi là nguồn tạo thu nhập quantrọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, nângcao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi,vừa góp phần vào quá trình bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng.
1.1.1.2 Công tác bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích
* Các mối đe dọa đối với tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích
Nguồn tài nguyên thựcvật hoang dại hữu ích trên thế giới bị đe doạ bởi cácnguyên nhân sau:
Tàn phá thảm thực vật: Thảm thực vật bị tàn phá do áp lực của dân số và các hoạt
động phát triển như mở rộng đất canh tác, khai thác gỗ, làm đường, xây dựng các công trìnhthuỷ điện vv [114]
Hoạt động du canh: Hoạt động du canh đã xuất hiện và tồn tại từ lâu trong điều kiện
dân số thấp Đến nay, do áp lực dân số ngày càng cao trong khi quĩ đất để du canh càng ít đi,dẫn đến chu kỳ quay vòng càng ngắn Kết quả là tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyênthực vật hoang dại hữu ích nói riêng ngày càng bị tàn phá và mất môi trường sống [114]
Khai thác quá mức: Có đến 80% thực vật làm thuốc sử dụng ở Trung Quốc và 95%
loài cây thuốc ở Ấn Độ được khai thác từ hoang dại Việc khai thác quá mức tài nguyên thựcvật hoang dại hữu ích gây ra bởi áp lực tăng dân số và nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng,không những cho nhu cầu trong nước mà còn để xuất khẩu Điều này dẫn đếnlượng tài
[114], [110],
Lãng phí tài nguyên thực vật có ích: Gây ra bởi (i) thói quen sử dụng hoang phí, (ii)
hoạt động thu hái mang tính chất hủy diệt, (iii) điều kiện bảo quản kém, (iv) thiếu cácphương tiện vận chuyển và thị trường thích hợp [110] ,
Nhu cầu sử dụng thực vật hoang dại hữu ích tăng lên: Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc
ở nhiều nước tăng lên do chính sách khuyến khích phát triển các nền y học truyềnthống [107]
Khai thác không có kế hoạch.
Thay đổi cơ cấu cây trồng.
Tri thức sử dụng không được tư liệu hoá: Hầu hết tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc
của các cộng đồng truyền thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác hay từ ngườidạy sang người học nghề Ngày nay, do nhu cầu phát triển kinh tế, một bộ phận thế hệ trẻkhông quan tâm đến việc thừa kế tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc từ thế hệ trước [127]
Sự sụp đổ và mất các nền văn hoá truyền thống.
Trang 18* Quan điểm và cách tiếp cận trong bảo tồn tài nguyên thực vật có ích
Trước hội nghị Chiang Mai (1988) các quan điểm, cách tiếp cận và nội dung công tácbảo tồn thực vật hoang dại hữu ích đã được nhiều nhà chuyên môn trên thế giới xây dựng vàphát triển, nhưng còn tản mạn và chưa có hệ thống O Hamann cho rằng để bảo tồn thực vậthoang dại hữu íchcần nắm vững về phân bố, hiện trạng của chúng để thiết lập các khu bảotồn nguyên vị và chuyển vị Theo O Akerel, bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ởcác quốc gia chính là sự nhận biết và bảo tồn giá trị sử dụng của chúng trong các nền vănhóa ẩm thực và y học truyền thống [92]
Sau hội nghị Chiang Mai, tổ chức y tế thế giới (WHO) phối hợp với tổ chức bảo tồnthiên nhiên thế giới (IUCN) và quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) lần đầu tiên đưa ranội dung công tác bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích một cách có hệ thống vàđầy đủ nhất [127] Nội dung công tác bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích baogồm:
(1) Nghiên cứu cơ bản :
Nghiên cứu tri thức sử dụng cây cỏ truyền thống trong việc chăm sóc sứckhỏe của các cộng đồng, trong đó Thực vật dân tộc học đóng vai trò quan trọng
Nội dung hoạtđộng bao gồm: (i) xác định và hỗ trợ một tổ chức để xây dựng
kế hoạch, điều phối và tiến hành điều tra về thực vật dân tộc học (ii) tiến hành điều tra sửdụng cây cỏ làm thuốc trên qui mô toàn quốc bằng nhóm nghiên cứu đa ngành và với sựtham gia thực sự của những người hành nghề y truyền thống ở địa phương,
(iii) phân loại và phân tích dữ liệu về thực vật dân tộc học qua chương trình điều tra,
(iv) đưa các phương thuốc cổ truyền đã được chứng minh vào các chương trình chăm sócsức khoẻ ban đầu của quốc gia, (v) thành lập tổ chức của những người hành nghề y truyềnthống ở cấp quốc gia để tham gia vào hoạt động chăm sóc sức khỏe
Xác định (tên khoa học) thực vật có ích, xác định sự phân bố và đánh giá mức độphong phú của chúng, trong đó: (i) xây dựng ít nhất một phòng tiêu bản quốc gia,
(ii) lập danh mục tất cả các loài cây được sử dụng ở trong nước, (iii) xác định loài thực vậthoang dại hữu ích bị đe dọa trong tự nhiên nhằm đưa ra ưu tiên trong các chương trình bảotồn và (iv) xây dựng cơ sở dữ liệu máy tính hoá về thực vật hoang dại hữu ích
theo tiêu chuẩn quốc tế để, lưu trữ và truy cập thông tin
Trang 19thác thực vật hoang dại hữu ích từ hoang dại, (ii) nghiêm cấm thu hái các loài thực vật hoangdại hữu ích đang bị đe doạ, (trừ việc thu thập vật liệu nhân giống với lượng nhỏ, theo cáchkhông làm nguy hại đến, loài thực vật hoang dại hữu ích đó) (iii) kiểm soát hoạt động buônbán thực vật hoang dại hữu ích và các sản phẩm của chúng.
- Nghiên cứu và phát triển trồng thực vật hoang dại hữu ích, bao gồm: (i) thiếtlập các vườn ươm thực vật hoang dại hữu ích, (ii) cải thiện mặt nông học các loài thực vậthoang dại hữu ích được trồng và trồng các loài thực vật hoang dại hữu ích có nhu cầu nhưngchưa được trồng trước đây, (iii) chọn tạo các giống thực vật hoang dại hữu ích thuần chủng,
có năng suất và chất lượng cao, (iv) hạn chế sử dụng thuốc hóa học trong trồng thực vậthoang dại hữu ích, (v) đào tạo và cung cấp thông tin về kỹ thuật trồng trọt thực vật hoang dạihữu ích, đặc biệt là cho cộng đồng
- Cải tiến kỹ thuật thu hái, bảo quản, sử dụng và sản xuất hàng hóa
(3) Bảo tồn:
nước như các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.vv hay duy trì, khôi phục các khu vựcđược bảo vệ không chính thức của các cộng đồng
Nội dung hoạt động bao gồm: (i) xây dựng chính sách quốc gia về bảo tồn và sử dụngthực vật hoang dại hữu ích ở các khu vực được bảo vệ (ii) đánh giá phạm vi bao gồm cácloài thực vật hoang dại hữu ích trong hệ thống các khu vực được bảo vệ trong toàn quốc (iii)xác định các động cơ kinh tế và xã hội thúc đẩy việc duy trì các nơi sống tự nhiên và các loàihoang dại, (iv) bảo đảm hoạt động bảo tồn và khai thác thực vật hoang dại hữu ích được kếthợp chặt chẽ trong kế hoạch quản lý, (v) trồng lại các loài thực vật hoang dại hữu ích bị thuhái quá mức vào các khu vực nguyên sản của chúng
Bảo tồn chuyển vị (Ex situ): Được thực hiện tại các vườn thực vật (VTV), vườn sưu
tầm, ngân hàng hạt, nhà kính vv Bảo tồn chuyển vị có thể bao hàm cả việc trồng trọt khôngchính thức các loài cây hoang dại ở các vườn ươm, vườn gia đình hay VTV cộng đồng
Nội dung bảo tồn chuyển vị bao gồm: (i) thiết lập VTV hoạt động, (ii) thiết lập ngânhàng hạt thực vật hoang dại hữu ích bản địa và được trồng trong nước, hay (iii) sử dụng cácgiải pháp khác như ngân hàng trên đồng ruộng (Field Genebank), ngân hàng gen in vitro
(4) Truyền thông và hợp tác:
Bao gồm: (i) xây dựng (cơ chế) hỗ trợ công cộng cho hoạt động bảo tồn thực vậthoang dại hữu ích thông qua truyền thông và hợp tác, (ii) thiết lập chiến lược truyền thông,(iii) xác định những người tham gia, kể cả từ bên trong và ngoài tổ chức bảo tồn, (iv) xác
Trang 20định đối tượng truyền thông, (v) xác định nội dung cần thực hiện đối với đối tượng truyềnthông.
Theo WHO, công tác bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích cần phải có sựtham gia của các ngành khác nhau, không những của các nhà khoa học, nhà quản lý, nhàkinh tế mà còn cần có sự tham gia của người dân Sự tham gia của người dân phải là sự thamgia tích cực chứ không phải là "đối tượng nghiên cứu” [127]
Theo WB, bước đầu tiên trong bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thực vậthoang dại hữu ích là tư liệu hoá, sử dụng chúng và thiết lập các chương trình trồng thực vật
hoang dại hữu ích với ngườinông dân và các trạm/trại nghiên cứunông nghiệp [107],
Theo nhóm chuyên gia về thực vật làm thuốc (MPSG) việc bảo tồn tàinguyên cây thuốc trên thế giới có thể thực hiện được thông qua (i) xác định các bậc phân loại(taxa) bị đe dọa và các khu vực ưu tiên trên thế giới, (ii) xác định nguyên nhân, giải pháp vàphương pháp nghiên cứu trong bảo tồn và (iii) khuyến khích sử dụng bền vững [110],
* Một số hoạt động bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích
Năm 1988, hội thảo (consultation) quốc tế về bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích đãđược tố chức ở Chiang Mai Thái Lan với sự tham gia của 24 chuyên gia y tế và bảo tồn cây
cỏ đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới (trừ Australia và Nam Mỹ).Kết quả là "Tuyên ngôn Chiang Mai” (Chiang Mai declaration) đã ra đời [127], bản tuyênngôn đánh giá cao tầm quan trọng của thực vật hoang dại hữu ích trong chăm sóc sức khỏeban đầu, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây cỏ đối với việc tìm ra các loại thực phẩm vàthuốc mới Đồng thời báo động về việc mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hoátrên thế giới có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm loài hoang dại hữu ích mới mang lại lợi íchtoàn cầu Tuyên ngôn Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần hợp tác ở mức độ toàn cầu đểthiết lập các chương trình bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích Sau hội thảo, lần đầu tiên mộtbản hướng dẫn bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích trên thế giới đã ra đời
Theo WB, trong số tất cả tri thức truyền thống ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinthì tri thức truyền thống về y học là dễ bị đe doạ nhất Tri thức này đang bị mất có lẽ với tốc
độ nhanh hơn các di sản trí tuệ bản địa khác [107] Ước tính trên thế giới có ít nhất 1.000loài thực vật hoang dại hữu ích đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng trong đó có khoảng
120 loài ở Ấn Độ [107], 77 loài Ở Trung Quốc, 75 loài ở Maroco, 61 loài ở Thái Lan [116],
35 loài ở Bangladesh [105] vv Các loài đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng có thể kể
đến là Noratodytesfoetida ở nam Ấn Độ và Sri Lanka, được dùng làm thuốc chống ung thư ở
Trang 21châu âu: Saussurea lappa ở Ấn Độ, được dùng làm thuốc trị các chứng rối loạn da mãn tính:
Fritillaria cirrhosa ở Trung Quốc, được dùng chữa viêm nhiễm đường hô hấp [110]: Coptis teeta ở Ấn Độ được khai thác hàng chục tấn bán sang các nước Đông Á trước đây [93].v.v
Nhằm bảo tồn các nguồn đa dạng sinh vật cũng như tạo ra và duy trì mối quan hệ hợptác, bảo vệ quyền lợi của các quốc gia trong việc bảo tồn và phát triển các nguồn lợi đa dạngsinh vật, đã có 3 công ước toàn cầu được ký kết là Công ước đa dạng sinh học (CBD), Côngước về chống buôn bán các loài động thực vật có nguy cơ bị tiêu diệt (CITES), Công ướcRamsa về bảo vệ đất ngập nước và chim di cư Với công ước CBD, lần đầu tiên thế giới đãchuyển các nguồn tài nguyên sinh học từ một di sản chung của nhân loại thành tài sản quốcgia Mặc dù vậy, hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học (trong đó có thực vật hoang dại hữuích) đang gặp phải mối thách thức kép là: (i) mối thách thức của bản thân việc bảo tồn đadạng sinh học, (ii) bảo vệ tri thức truyền thống về sử dụng các nguồn tài nguyên khỏi sự khaithác mang tính chất thương mại trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, (iii) phát triển cácsản phẩm từ đa dạng sinh học và bản quyền tri thức cộng đồng [1] Khái niệm về Quyền sởhữu trí tuệ (IPR) được thừa nhận trong luật pháp quốc tế và được sự bảo vệ của các đạo luậtquốc gia khác nhau
Tại Ấn Độ, việc trồng thực vật hoang dại hữu ích được giới hạn ở các vườn đơn lẻtrong các giai đoạn lịch sử trước đây Việc trồng trọt một cách có hệ thống được công tyĐông Ấn du nhập vào năm 1787 Năm 1930, chính phủ đã thành lập chương trình trồng cây
thuốc và cây có tinh dầu trên cơ sở khoa học, các loài được trồng như Digiralis lanata,
Hyoscyamus sp, Atropa belladona vv Sau ngày giành được độc lập, chính phủ Ấn Độ đã
thành lập nhiều tổ chức sử dụng và trồng các loại thực vật hoang dại hữu íchchưa được khámphá trước đây Hàng loạt tổ chức nhà nước và cá nhân tham gia các chương trình nghiên cứubảo tồn và trồng thực vật hoang dại hữu ích như Viện nghiên cứu làm vườn, Trung tâmnghiên cứu quốc gia, Hội đồng trung ương nghiên cứu các hệ thống y học Ấn Độ, Bộ nônglâm nghiệp, các trường đại học nông nghiệp.v.v Nghiên cứu trong vòng 40 năm cuối củathế kỷ XX đã xác định được 144 loài thực vật hoang dại hữu ích có thể trồng trọt và tậptrung vào 40 loài thực vật hoang dại hữu ích cung cấp nguyên liệu cho công nghiệpdược[107]
Tại Trung Quốc, nhiều chương trình dài hạn đã được thiết lập nhằm bảo tồn thực vậthoang dại hữu ích và nâng cao giá trị sử dụng của chúng thông qua trồng trọt Có khoảng
200 loài được trồng với diện tích trồng tăng từ 300.000 ha vào năm 1986 tăng lên 440.000 havào năm 1995 và cung cấp đến 40% nguyên liệu thô cho công nghiệp chế biến nông lâm sản
và dược liệu Nhiều loài đã được trồng thành công như: Glycyrrhiza uralensis; Rheum
Trang 22palmatum; Cistanche deserticola; Dioscorea nipponica vv Một số loài như Lithospermum erythrorhizon, Panax quinquefolium, Corydalis yanhuosu, Scopolia tangutica đã được
nhân giống nhờ công nghệ sinh học như nuôi cấy mô Năm 1994 bộ atlas màu về thực vậthoang dại hữu ích bản địa Trung Quốc đã được VTV Bắc Kinh và VTV Nam Ninh xuất bản[74] trong đó có kỹ thuật nhân giống và trồng trọt
Năm 1989, Tổ chức Bảo tồn các Vườn thực vật Quốc tế (BGCI - Botanic GardensConservation International) đã phối hợp với tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) Vàquỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) Xây dựng “Chiến lược bảo tồn ở các VTV” BGCI
đã ưu tiên bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích trong các VTV trong tương lai [107] Trêntoàn thế giới, có khoảng 1.500 VTV đã được Xây dựng, trong đó có 152 vườn của 33 quốcgia chuyên trồng thực vật hoang dại hữu ích hay trồng thực vật làm thuốc kết hợp với cácloài cây kinh tế khác Các quốc gia có nhiều vườn thực vật hoang dại hữu ích hay các vườn
có bộ sưu tầm thực vật hoang dại hữu ích là Liên Xô (cũ) (31 vườn), Nhật Bản (26), Mỹ(13), Ba Lan (10), Pháp (10), Ấn Độ (6) Trung Quốc (5), Italia (5).v.v [101]
Tại Ấn Độ, một "Mạng lưới phân phối cơ sở dữ liệu thực vật có ích” đã được thànhlập với sự đóng góp thông tin của 9 tổ chức "nút" Mạng lưới này đã thu thập, bảo tồn, nhângiống và sử dụng hơn 8.000 loài thực vật hoang dại hữu ích trong 48 cơ sở bảo tồn nguyên vị
và chuyển vị [107]
Tại Trung Quốc, đã có khoảng 50 loài thực vật hoang dại hữu ích thuộc diện quíhiếm được thu thập và trồng trong các VTV và vườn cây thuốc Một số VTV đáng lưu ý làVTV Quảng Tây thành lập năm l959, rộng 240 ha, hiện trồng lưu trữ 2.400 loài; Vườn thựcvật Bắc Kinh của Viện Phát triển thực vật hoang dại hữu ích, có 1.300 loài; VTV Nam Ninh(Quảng Tây), trồng 800 loài [56] Việc nghiên cứu thành công quá trình trồng và lưu giữ đãdẫn đến kết quả là nhiều thực vật hoang dại hữu ích được phát triển ở các địa phương
Các VTV có trồng thực vật hoang dại hữu ích khác trên thế giới có thể kể đến làVườn thực vật hoang dại hữu ích ở Tokyo (Nhật Bản) được thành lập năm 1945 hiện trồngkhoảng 1.600 loài; VTV dân tộc (Mexico) được thành lập năm 1979 với diện tích 4 ha; VTV
và vườn cây gỗ Waimea (Hawai, Mỹ) tập trung trồng các mẫu cây có nguồn gốc Hawai;VTV Devonia (Canada) thu thập và nghiên cứu các cây được người bản địa sử dụng Vườnthực vật hoang dại hữu ích cũng rất phổ biến tại các nước Đông Âu, nơi có truyền thống sửdụng cây cỏ làm thuốc, như Liên Xô (cũ), Bungari, Hungari, Séc, Ba Lan.v.v [101] Hiện
có rất ít loài cây cỏ được sử dụng trong các nền y học truyền thống được bảo tồn trong cácngân hàng hạt Ngân hàng gen Gatersleben (Đức) có khoảng 2.000 trong số 60.000 mẫu(acession) là thực vật hoang dại hữu ích [101]
Trang 231.1.2 Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích và việc bảo tồn ở Việt Nam
1.1.2.1 Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ở Việt Nam
Việt Nam có diện tích phần lục địa rộng 35 triệu ha, một phần gắn liền với lục địa vàmột phần thông với đại dương, kéo dài từ bắc xuống nam hơn 1.650 km Phân bố từ vĩ độ
8030' đến 2302' bắc và từ kinh độ 102010' đến 109024' đông Lãnh thổ Việt Nam chịu sự chiphối về hoạt động địa chất của hai địa khối Indonesia (từ Mường Tè, Điện Biên Phủ ở cựcTây bắc đến Trung bộ và Nam bộ) và Hoa Nam (vùng Bắc bộ) [76] Địa hình đa dạng vàphức tạp với hai vùng đồng bằng lớn là châu thổ Sông Hồng ở phía bắc và Sông Cửu long ởphía nam, có hai dãy núi lớn là Hoàng liên sơn và Trường sơn với nhiều vùng có độ cao trên2.000m và các cao nguyên nhỏ như Đồng Văn, Mộc Châu - Sơn La, Gia Lai - Kon Tum -Đắc Lắc, Di Linh vv Việt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với tổnglượng bức xạ đạt 110 - 120 calo/cm2/năm, nhiệt độ trung bình hằng năm khác nhau giữamiền Bắc (23,40C - Hà Nội) và miền Nam (270C - TP Hồ Chí Minh), lượng mưa trung bìnhhàng năm vượt 1500mm nhưng phân bố không đều trong năm, lượng mưa thường lớn hơn 2lần lượng nước bốc hơi Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh ở miền Bắc (từ vỹtuyến 18 trở ra) và khí hậu nhiệt đới gió mùa ở phía Nam
Các yếu tố địa chất, địa hình và khí hậu đa dạng như vậy dẫn đến Việt Nam có thảmthực vật phong phú, từ rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh, rừng rậm nhiệt đới mưa mùa nửarụng lá, đến rừng á nhiệt đới ẩm thường xanh, á nhiệt đới hơi khô, sa van nhiệt đới khô, rừngngập mặn, rừng lá kim, rừng lùn núi cao vv
Việt Nam còn là nơi giao lưu của các dân tộc và các nền văn hoá, trong đó quan trọngnhất là hai luồng văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ [76], là ngôi nhà chung của 54 dân tộc, thuộc
3 họ ngôn ngữ và 8 nhóm khác nhau là Việt-Mường, Môn- Khme, Tày-Thái, H'mông-Dao,Kha đai, Malayo-polynesian, Hán, Tạng-Miến [25], [96] Trong đó cộng
đồngngười Việt(Kinh) có dân sốlớnnhất, chủ yếu phân bố ởcác vùng châu thổ Các dân tộc còn lại chủ yếu phân bố ở các khu vực đồi núi, nơi chiếm đến3/4 diện tích đất nước, có thành phần đa dạng, bao gồm các nhóm dân tộc Tày-Thái,H'mông-Dao, Tạng - Miến.v.v Ở miền núi phía bắc hiện còn bà con đang sinh sống Ở namTrung Quốc, Lào, Thái Lan, Miến Điện Các nhóm dân tộc sinh sống ớ miền Trung và miềnNam thuộc nhánh ngôn ngữ Môn-khmer có bà con sinh sống ở Lào, Campuchia, TháiLan.v.v Nhóm các dân tộc sinh sống dọc ven biển miền Trung và Tây Nguyên có quan hệ
họ hàng với những dân cư đang sinh sống ở Malaysia và Indonesia [25] Các dân tộc sinhsống ở Việt Nam tạo nên một hình ảnh thu nhỏ của khu vực Đông Nam Á Mỗi dân tộc có
Trang 24ngôn ngữ phong tục, tập quán, niềm tin và tri thức sử dụng cây cỏ khác nhau.
Với điều kiện tự nhiên và xã hội như vậy, Việt Nam là một trong những quốc gia cótính đa dạng sinh vật cao với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao [33] Cũng như sự phongphú về tri thức sử dụng cây cỏ Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây hoang dại hữu ích [17]được sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ, nhuộm.vv Khoảng 3.200 loài cây cỏ và nấm đãđược ghi nhận là có giá trị hay có tiềm năng làm thuốc [16] Nguồn tài nguyên cây cỏ tậptrung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là (i) Đông bắc, (ii) Hoàng LiênSơn, (iii) Cúc Phương, (iv) Bạch Mã, (v) Tây Nguyên, ( vi ) Cao nguyên Đà Lạt [19]
1.1.2.2 Hoạt động bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ở Việt Nam
*Ban hành các chính sách và luật pháp liên quan:
Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ thiênnhiên bằng việc ban hành nhiều luật lệ và chính sách nhằm bảo vệ thiên nhiên và môi trườngnhư sắc lệnh bảo vệ rừng (1972), Chiến lược bảo tồn (1985), Kế hoạch quốc gia về môitrường và phát triển bền vững giai đoạn 1991- 2000 (1991).v.v
Trong bối cảnh môi trường và nguồn tài nguyên sinh vật đang bị đe dọa trên khắp thếgiới, cần thiết phải xây dựng chiến lược và chương trình hành động ớ mức toàn cầu, địnhhướng cho các quốc gia xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động riêng của mình Sau hộinghị của Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển ở Reo de Janeiro (1992), nhà nước đãphê chuẩn "Công ước Đa dạng sinh học” (1994), xây dựng "Kế hoạch hành động đa dạngsinh học của Việt Nam" (1995) [19]
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Việt Nam (12/8/1991) nhấn mạnh, việc khai tháccác loại thực vật rừng, săn bắt động vật rừng phải tuân theo quy định của Nhà nước về quản
lý, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng Những loại thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếmphải được quản lý, bảo vệ theo chế độ đặc biệt [67]
Năm 1997, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã ban hành "Quy chế quản lý vàBảo tồn nguồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật" trong đó nội dung công tác quản lý vềbảo tồn, lưu giữ nguồn gen bao gồm: (i) điều tra, khảo sát và thu thập các nguồn gen (ii) bảotồn lâu dài và an toàn các nguồn gen đã thu thập được,
(iii) đánh giá các nguồn gen theo các chỉ tiêu sinh học cụ thể, (iv) tư liệu hoá nguồn gen (saukhi đã được đánh giá), (v) trao đổi thông tin tư liệu và nguồn gen, đồng thời định hướng
"Đối tượng cần được đưa vào bảo tồn bao gồm: (i) ưu tiên các nguồn gen quí, hiếm, đặc thùcủa Việt Nam và đang có nguy cơ bị mất, (ii) các nguồn gen đã được đánh giá chỉ tiêu sinhhọc, (iii) các nguồn gen cần cho công tác nghiên cứu lai tạo giống và phục vụ đào tạo, (iv)các nguồn gen được nhập từ nước ngoài đã được ổn định và thuần hoá ở Việt Nam, có ý
Trang 25nghĩa quan trọng trong sản xuất.
Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả phòng, trừ sinh vật gâyhại tài nguyên thực vật, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại, bền vững, bảo vệsức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường và giữ gìn cân bằng hệ sinh thái Ngày 25 tháng 7năm 2001, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 10 đã ban hành Pháp lệnh số 36/2001/PL-UBTVQH10 quy định về bảo vệ và kiểm dịch thực vật [85] Ngày 24 tháng 3 năm 2004, Ủyban thường vụ Quốc hội khóa 11 đã ban hành Pháp lệnh số 15/2004/PL-UBTVQH11 quyđịnh về quản lý và bảo tồn nguồn gen cây trồng; nghiên cứu, chọn, tạo, khảo nghiệm, kiểmđịnh, kiểm nghiệm, công nhận, bảo hộ giống cây trồng mới; bình tuyển, công nhận cây mẹ,cây đầu dòng, vườn giống, rừng giống; sản xuất, kinh doanh giống cây trồng; quản lý chấtlượng giống cây trồng [86] Cũng trong năm 2004 Quốc hội khóa 11 đã thông qua Luật Bảo
vệ và phát triển rừng (thay thế Luật ban hành năm 1991), sau đó Chính phủ đã ban hànhNghị định số 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng [20] Luật Đa dạngsinh học đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ
tư, thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2009 [69] Đây là những văn bản pháp lý quan trọng đối với công tác bảo tồn và phát triểncác nguồn tài nguyên đa dạng sinh học nói chung, cũng như đối với nguồn tài nguyên thựcvật hoang dại hữu ích tại Việt Nam
Đã có 138 loài, thuộc 60 họ, 3 ngành thực vật bậc cao đã được xác định thuộc diệnquí hiếm hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau (dựa trên bộ tiêu chuẩnphân hạng cũ của IUCN), trong đó có 23 loài thuộc diện nguy cấp (E), 21 loài sắp bị nguycấp (V), 53 loài thuộc diện hiếm (R), 36 loài thuộc diện bị đe dọa (T) và 5 loàichưađượcbiết
đầy đủ;102 loài thực vật hoang dại hữu ích đãđượcpháp luật bảo vệ bằng cách đưa vào "Sách đỏ Việt Nam” (SĐVN) [7]; 60 loài đã được bảotồn bằng hình thức ex situ tại các VTV, vườn thực vật hoang dại hữu ích trong nước [75]
Mặc dù vậy, công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ởViệt Nam còn gặp nhiều khó khăn xuất phát từ chính sách và luật pháp Mối quan hệ quản lýtài nguyên thực vật hoang dại hữu ích giữa ngành với ngành, với quản lý lãnh thổ chưa thoảđáng Theo các văn bản, việc xác định nhu cầu dược liệu, lập kế hoạch nuôi trồng hàng năm
do ngành Y tế chịu trách nhiệm, nhưng công tác điều tra cơ bản, trồng trọt lại do ngành Nông
- Lâm nghiệp thực hiện Thực vật hoang dại hữu íchtồn tại và phát triền cùng với hệ sinh tháirừng, hệ sinh thái nông nghiệp và nông thôn trong khi đó rừng, đất rừng, đất nông nghiệp lạithuộc quyền quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, của chính quyền tỉnh,
Trang 26thành phố Thực tế chưa thật rõ ai quản lý tài nguyên thực vật có ích.
* Nghiên cứu cơ bản tài nguyên thực vật có ích:
Hoạt động nghiên cứu cơ bản được thực hiện từ sớm ở Việt Nam đặc biệt là sau ngàyhòa bình lập lại, ở các trường Đại học, Viện nghiên cứu, hệ thống trạm nghiên cứu, cáclương y vv Ngày nay, hoạt động nghiên cứu cơ bản được thực hiện ở 45 cơ sở nghiên cứukhác nhau, bao gồm trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, tổ chức phichính phủ, vv Trong đó có 16 cơ sở có chức năng nghiên cứu trực tiếp đến tài nguyên thựcvật hoang dại hữu ích [125] Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào điều tra da dạngsinh vật, tư liệu hoá, nghiên cứu đặc tính sinh vật và sinh thái, tác dụng dược lý, hoá thực vật
và sàng lọc thực vật có ích Phần lớn các nghiên cứu là để khai thác và phát triển
Trong các đợt điều tra sưu tầm được thực hiện trong giai đoạn từ 1961 đến nay, đãphát hiện 3.800 loài thực vật có tác dụng làm thực phẩm chức năng và làm thuốc [8] Trong
số đó có đến 3/4 là các loài cây mọc hoang dại, phân bố chủ yếu ở các vùng rừng núi, đồi vàtrung du [15] Đồng thời, cũng có khoảng 300 loài thuộc hơn 40 họ thực vật đã
đượcnhậpvào ViệtNamtừ nhiềuvùng khác nhau trên thếgiới Trong số đó có khoảng 70 loài có thể sinh trưởng và phát triển, trên 20 loài đã trở thànhcây thuốc như Đương qui, Sinh địa, Bạch chỉ, Bạch truật, Vân mộc hương, Bạc hà.vv [5]
Tại Hội thảo về "Xây dựng mạng lưới hoạt động giữa các tổ chức hoạt động trong cáclĩnh vực liên quan đến tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích" [49],[51],[125], các thành viêncủa nhóm bảo tồn đã đề xuất một kế hoạch hành động tập trung vào các hoạt động nghiêncứu đa dạng sinh vật, điều kiện sinh thái, xác định các mối nguy cơ, xác định loài ưu tiên bảotồn, các vấn đề chính sách và luật pháp, đào tạo và tăng cường năng lực và nghiên cứu cácmẫu hình bảo tồn nguyên vị
* Hoạt động bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích:
ha, chiếm khoảng 9% diện tích lãnh thổ [2]
Với chức năng bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái, thực vật hoang dại hữu ích trongcác VQG có thể an toàn hơn Tuy nhiên các VQG và KBTTN mới quan tâm bảo vệ tổng thể
hệ sinh thái, chú trọng nhiều tới tầng cây gỗ, chưa chú ý đến các sản phẩm rừng phi gỗ,
Trang 27nhiệm vụ bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích chưa được đặt ra cụ thể, tài nguyên thực vậthoang dại hữu íchchưa được khảo sát, kiểm kê đầy đủ, việc kiểm soát và bảo vệ thực vậthoang dại hữu íchcòn bị xem nhẹ [6].
Thực hiện "Kế hoạch hành động da dạng sinh học của Việt Nam”, nhà nước đã phêduyệt đề án "Xây dựng hệ thống quốc gia bảo tồn đa dạng sinh học nguồn cây thuốc cổtruyền", do Viện Dược liệu chủ trì Dự án đã được triển khai từ năm 1996 tại các địa phương
là Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn - Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì, Bạch Mã, Cát Tiên với nộidung là: (i) khảo sát, kiểm kê cây làm thuốc, xác định tình trạng quí hiếm và tiến hành bảotồn in situ, (ii) phối hợp xây dựng VTV trong vườn quốc gia, (iii) khảo sátphương
thức vừa bảo tồn vừakhai thác hợp lý và phát triển tàinguyên cây thuốc [15]
Trong giai đoạn từ 1997-2000, dự án "Bảo tồn nguồn tài nguyên cây hoang dại hữuích ở Vườn quốc gia Tam Đảo” (do Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển cây thuốc Dân tộc
Cổ truyền (CREDEP), Tổ chức các Vườn thực vật Quốc tế (BGCI) và Vườn quốc gia TamĐảo thực hiện) đã tiến hành kiểm kê thực vật có ích, xác định mức bảo tồn, phân bố và điềukiện sinh thái của thực vật hoang dại hữu ích ở Vườn quốc gia Tam Đảo Kết quả là đã xácđịnh được 361 loài thực vật có ích, trong đó có 25 loài ưu tiên bảo tồn Dự án cũng nghiêncứu phương pháp nhân giống bằng hom của 11 loài thực vật hoang dại hữu ích [22], [62]
Trong thời gian từ 1999-2000, dự án "Bảo vệ đa dạng sinh học cây hoang dại hữu ích
ở VQG Ba Bể (Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc Dân tộc Cổ truyền (CREDEP)
và Vườn quốc gia Ba Bể thực hiện) đã tiến hành kiểm kê thực vật có ích, xác định ưu tiênbảo tồn và nghiên cứu giâm hom thực vật hoang dại hữu ích của cộng đồng người Tày Kếtquả là đã xác định được 432 loài thực vật có ích, trong đó có 12 loài ưu tiên bảo tồn [124]
+ Bảo tồn chuyển vị
So với bảotồn nguyên vị, bảo tồn chuyển vị được quan tâm và thực hiệnmuộn hơn Đề án "Lưu giữ nguồn gen, giống cây thuốc và cây tinh dầu làm thuốc" (do ViệnDược liệu chủ trì) đã được phê duyệt và thực hiện từ năm 1988 đến nay với sự tham gia của
14 đơn vị, cơ quan khác nhau trong toàn quốc [6] và đã xây dựng được mạng lưới các cơquan bảo vệ nguồn gen và giống thực vật hoang dại hữu ích ở
11 cơ sở khoa học với 250 loài được trồng bảo tồn, theo dõi, đánh giá, trao đổi, cung
cấp giống cho nhu cầu nghiên cứu, sản xuất Đề án đã đề xuất 500 loài thực vậthoang dại hữu ích cần ưu tiên bảo tồn trong giai đoạn 2001-2005 [87]
Đã có 12 loài thực vật hoang dại làm thực phẩm chức năng và làm thuốc thuộc diệnquí hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau được nghiên cứu về mặt sinh
Trang 28học và trồng thử là Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus), Biến hoá (Asarum
caudigerum), Hoàng liên gai (Berberis iulianae B wallichiana), Hoàng đằng (Fibraurea tincroria), Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus),
Hoàng tinh vòng (polygonatum kingianum), Ba gạc (Rauvolfia verticillata), Thông thảo
(Tetrapanax papyriferus), Các loài này có triển vọng đưa vào bảo tồn ex situ [15],[74].
Bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích ngoài các khu vực được bảo vệ (Vườnquốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên) cũng đã được thực hiện bước đầu trong dự án "Bảo tồn đadạng sinh vật rừng Ở Phú Lương - Thái Nguyên" thời gian từ 19971999 (do Hiệp hội nghiêncứu và Hỗ trợ môi trường Australia (AREA) và CREDEP, Trường Đại học Nông lâm TháiNguyên thực hiện), Dự án đã tiến hành kiểm kê thực vật hoang dại hữu ích và nghiên cứugiâm hom 14 loài cây thuốc và thực phẩm
Nhìn chung, công tác bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích đã được quantâm sớm ở Việt Nam nhưng còn lẻ tẻ ở các cơ quan và đơn vị nghiên cứu khác nhau Trongcông tác quản lý, việc ban hành, triển khai, cụ thể hoá các văn bản còn chậm, kể cả trongviệc triển khai các công ước quốc tế đã được ký kết: chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cácngành và chỉ đạo thống nhất, mối quan hệ giữa ngành y tế, nông nghiệp và lâm nghiệp mới
tồn tại trên vănbản Về phương pháp luận vàcách tiếp cận, hầu hết các hoạt động bảo tồn mới tập trung vào một số vấn đề của khía cạnh
tự nhiên như đa dạng sinh vật, tư liệu hoá.vv Trong khi đó còn ít nghiên cứu về điều kiệnsinh thái, trữ lượng, khả năng gây trồng, tri thức bản địa vv của các loài cây hoang dại làmthực phẩm và làm thuốc, chưa quan tâm đến các khía cạnh xã hội, nhân văn, chưa huy độngđược sự tham gia của các cộng đồng Phương pháp nghiên cứu còn đang được các cơ quannghiên cứu, các trường đại học tìm tòi và thử nghiệm
1.2 MỘT SÓ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC VẬT HOANG DẠI HỮU ÍCH
1.2.1Nghiên cứu ở nước ngoài
Hội nghị môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (UNCED), họp tại Rio deJanero năm 1992, đã nhận thức được tầm quan trọng của các loài thực vật hoang dại hữu íchphi gỗ nằm trong nhóm các sản phẩm “lâm sản ngoài gỗ” (LSNG), từ đó thông qua Chươngtrình nghị sự 21 và các nguyên tắc về rừng, đã xác định LSNG là một đối tượng quan trọng,một nguồn lợi môi trường cho phát triển lâm nghiệp bền vững cần được chú nhiều hơn nữa
Từ đó đến nay, việc phát triển LSNG được các nhà khoa học bàn luận sôi nổi, cả trong lĩnhvực nghiên cứu lý luận lẫn thực tiễn sản xuất
1.2.1.1 Một số nghiên cứu về nhân giống
Theo cuốn Hướng dẫn bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích của WHO, IUCN và
Trang 29WWF Nhân giống thực vật hoang dại hữu ích là một hoạt động quan trọng trong công tácbảo tồn, nhằm tạo giống thực vật hoang dại hữu ích phục vụ hoạt động trồng trọt, bảo tồnchuyển vị, bảo tồn nguyên vị, phục tráng giống thực vật hoang dại hữu ích vv
Nhân giống bằng hom (Cutting propagation): là một phương pháp nhân giống sinhdưỡng với hom là một đoạn thân, cành, rễ được đặt trong điều kiện môi trường thích hợp sẽphát triển rễ bất định và mọc thành cây độc lập [98] Đây là một hình thức nhân giống sinhdưỡng, dựa trên khả năng sinh sản sinh dưỡng của cây, trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm
Tế bào mẹ sinh ra tế bào con có bộ nhiễm sắc thể giống hệt mình Do vậy sinh sản sinhdưỡng duy trì được các đặc tính di truyền của cơ thể mẹ và ổn định qua nhiều thế hệ Phươngpháp này được áp dụng để duy trì các dòng vô tính để tăng số lượng các cá thể cây hiếm hayduy trì các genotyp quan trọng của cây mẹ [22],[98]
Nhân giống bằng hom đã được các nhà làm vườn và trồng cây cảnh ở các nơi khácnhau trên thế giới sử dụng từ lâu đời và áp dụng trong sản xuất lâm nghiệp cách đây hàngtrăm năm, được nghiên cứu ở các nước trên thế giới như Liên Xô (cũ), Trung Quốc, ThuỵĐiển, Australia, Pháp, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Công Gô vv đặc
biệt từkhi conngười tổng hợpđược các chấtđiều hoà sinhtrưởng nhân tạo [80], [81], [90]
Ở Liên Xô (cũ) việc nhân giống bằng hom đã được tiến hành trên 50 năm trước, đãthí nghiệm nhân giống 260.000 hom của 240 loài cây thuộc 55 họ, 111 chi trong đó có 47loài lá kim, 113 loài lá rộng cho các loài cây rừng, cây làm cảnh, làm thuốc, cây công nghiệp
và cây ăn quả Tại Thụy Điển, hàng năm công ty Hylles hog sản xuất 4.000.000 cây homVân sam Năm l993 vườn ươm Toolara tại bang Quensland (Australia), sản xuất 700.000 câyhom thông lai Nhật Bản hàng năm sản xuất 49 triệu hom cây Lãnh sam Ở Trung Quốc, chiriêng với nghiên cứu sản xuất chế phẩm ABT, người ta đã nghiên cứu thực nghiệm 1.270loài cây gỗ, cây ăn quả, cây hoa, cây nông nghiệp, thực vật có ích vv Riêng Quảng Đông(Trung Quốc) có 4 xưởng sản xuất cây bằng hom, trong đó có 3 xưởng cấp huyện, đạt côngsuất 1 triệu cây/năm [83] Tại Malaysia, 75 loài cây họ Quả hai cánh đã được nhân giốngbằng hom Tại Thái Lan, 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổi có thể sản xuất 200.000 cây hom
đủ trồng 400-500 ha rừng [57]
1.2.1.2 Một số nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Khi nghiên cứu và thử nghiệm các kỹ thuật gây trồng đối với các loài thực vật hoangdại hữu ích bản địa, các nhà nghiên cứu thường phải quan tâm tìm hiểu rất kỹ về đặc điểmsinh thái nơi phân bố của loài cây đó trong tự nhiên, nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng vàphát triển của nó tương ứng với sự biến động các yếu tố sinh thái trong điều kiện cụ thể
Trang 30ngoài thực địa Với nhiều loài thực vật nhiệt đới, các yếu tố sinh thái chi phối quan trọng cóthể kể đến như: ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ không khí, tính chất đất đai (hàm lượng các yếu tốdinh dưỡng, độ dày tầng đất, thành phần
cơ giới đất, độ pH, mùn, ẩm độ đất ) Đây chính là cơ sở khoa học quyết định
thành công của các nghiên cứu vườn hóa thực vật hoang dại hữu ích bản địa
Theo Odum E.P (1983) [115] Với các loài cây thân gỗ và cây bụi sống nhiều nămtrong các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới, nhu cầu về ánh sáng thường thay đổi qua các giaiđoạn phát triển khác nhau Đây là yếu tố sinh thái hết sức quan trọng góp phần quyết địnhđến sự phân bố, khả năng sinh trưởng, phát triển và tạo ra năng suất sinh vật học của cây.Cùng với ánh sáng thì các đặc điểm về tính chất đất đai, đặc biệt là hàm lượng các yếu tốdinh dưỡng trong đất cũng đóng vai trò chi phối quan trọng đến khả năng chonăngsuất
củacây Chính vìvậynghiên cứu về ảnh
hưởng của yếu tố ánh sáng, đất đai và phân bón tới sinh trưởng, phát triển của cây là nhữngnội dung không thể thiếu trong nỗ lực nghiên cứu bảo tồn và phát triển các loài thực vậthoang dại hữu ích bản địa
Ánh sáng là một trong những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng lớn nhất đến cây trồng
Nó ảnhhưởng đến hầu hết các hoạt động sống của cây như quá trình quanghợp, sự hút khoáng, vận chuyển các chất trong cây, sự thoát hơi nước, từ đó ảnh hưởngtrực tiếp đến năng suất và phẩm chất cây trồng Nhà sinh lý học thực vật người ngaTimiriazep đã nói: “Hạt diệp lục là tiêu cự trong không gian một đầu kéo theo năng lượngánh sáng mặt trời, đầu kia bắt nguồn với mọi hoạt động sống của sinh vật” Ông đã phát hiện
ra vai trò tích cực của hạt diệp lục ở cây xanh, đó là loại vật chất thường xuyên hấp thụ nănglượng ánh sáng mặt trời, đồng hoá khí CO2 và nước tạo ra các vật chất hữu cơ Cây xanhhấp thụ các tia sáng một cách chọn lọc, chủ yếu các tia trong nhóm ánh sáng trông thấy (A, =0,39 - 0,76ụ,m) [72]
Kết quả nghiên cứu của Học viện Timiriazep cho thấy khi cây cải bắp sinh trưởngđầy đủ dùng phương pháp nhân tạo rút ngắn thời gian chiếu sáng còn 10h/ngày trong 3 nămliên tục cây cải bắp không ra hoa Đối với cây sắn là cây cần ánh sáng ngày ngắn nên trongđiều kiện ngày ngắn sẽ thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của củ Còn trong điều kiệnngày dài sẽ làm tăng số lượng củ, thuận lợi cho sự phát triển cành lá nhưng không thuận lợicho củ lớn lên Trong điều kiện thiếu ánh sáng không ảnh hưởng đến sự ra lá của chuốinhưng nếu thiếu hoàn toàn phiến lá có màu trắng nhạt, bẹ lá vươn dài nhanh Điều kiện trongvườn chuối thiếu ánh sáng cây sẽ vươn cao, nếu cường độ ánh sáng quá mạnh và đột ngột sẽlàm bỏng chỗ cong của cổ buồng và quả chuối [36]
Trang 31Theo kết quả nghiên cứu của (V.A.A lecxcếp, 1973) [36] đã cho thấy khi tuổi lớpcây tái sinh tăng lên thì nhu cầu ánh sáng của nó cũng tăng theo Các loại cây ưa sáng yêucầu ánh sáng lớn hơn, tái sinh của các loại cây này sẽ chết ở điều kiện ánh sáng 10 - 12% ởtuổi nhỏ (dưới 2 tuổi) và điều kiện ánh sáng 25 - 30% ở tuổi lớn hơn (5-10 tuổi).
Thực tế đã chứng minh những cây mọc lẻ hoặc mọc ở bìa rừng sẽ ra hoa kết quả sớmhơn, số lượng và chất lượng hạt quả cao hơn Ngay ở trên cùng một cây cũng vậy ở phầnphía trên tán thường cho quả hoa nhiều và tốt hơn (to nặng và chín đều) Do ánh sáng kìmhãm sự nảy mầm của hạt nên có nơi người ta đã cất trữ hạt bằng cách dùng ánh sáng mạnh
để giảm khả năng nảy mầm của hạt trong mỗi giới hạn thời gian nhất định (Vũ Trung Tạng,2003) [73]
Từ những nhận thức về tầm quan trọng của các loài thực vật hoang dại hữu ích bảnđịa, nên chúng đã được chú ý phát triển trong các chiến lược phát triển ở nhiều Quốc gia nhưTrung quốc, Ấn Độ, Pêru, Indonesia, và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thựchiện ở nhiều nước đặc biệt là các nước có nguồn tài nguyên rừng nhiệt đới để làm cơ sở choviệc định hướng phát triển trong tương lai Tuy nhiên, các công trình tập trung chủ yếu vàocác lĩnh vực như phân loại, đánh giá vai trò, giá trị kinh tế, xã hội và môi trường, công dụng,
kỹ thuật gây trồng, thị trường, như các công trình của Mendelsohn (1989); Heinzman(1990); Falconer (1993) Đa số các công trình đều khẳng định các loài thực vật hoang dạihữu ích bản địa có vai trò quan trọng, cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xâydựng đồng thời là nguồn thu nhập lớn (khoảng 20 - 30% cơ cấu thu nhập) của các
hộ gia đình miền núi ở các nước này [24]
Nhìn chung, việc nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, sinh thái, công dụng, tầmquan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển các loài thực vật hoangdại hữu ích trên thế giới đã có nhiều kết quả Các kết quả đều khẳng định việc gây trồng,phát triển, sử dụng hợp lý và bền vững thì những loài hoang dại hữu ích này sẽ có vai trò tolớn trong việc tạo thu nhập cho người dân miền núi, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng caođời sống, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồng thời đóng góp rất lớn trong quátrình bảo vệ và phát triển rừng
1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Các tư liệu, tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến các loài thực vậthoang dại hữu ích bản địa hiện nay phần lớn giới thiệu về sự đa dạng, khái niệm, phân loại,vai trò, giá trị sử dụng và kỹ thuật gây trồng cho một số loài cây chủ yếu, điển hình là một sốcông trình nghiên cứu phân theo các vấn đề sau đây:
1.2.2.1 Nghiên cứu về sinh thái, phân loại và bảo tồn
Trang 32Nhận thức được tầm quan trọng của các loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa, ngay
từ những năm đầu thế kỷ XX, Lecomte - một nhà nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác địnhđược nhiều loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa có giá trị trong cuốn “Thực vật chí đạicương Đông Dương” trong đó có ở Việt Nam.[108]
Đỗ Tất Lợi (1991) [53] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - tái bản lần 3
có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa làm thuốc, trong
đó có nhiều bài thuốc hay
Theo Hà Thu Chử (1996) [21] tới nay Việt Nam đã thống kê được 5 chi và 30 loàicây song bao gồm: Chi mây nếp (Calamus) có 19 loài và 1 loài phụ; chi hèo (Daemonrops)
có 4 loài; chi phướn (Korthalsia) có 2 loài; chi mây rúp (Myriapis) có 1 loài; chi song lá bạc(Plectocomia) có 2 loài và chim song voi (Plecomomiopsis) có 1 loài Ngoài ra tác giả và cáccộng sự [21] đã đưa ra định nghĩa, phân loại các loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa, giớithiệu về một số nhóm các loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa có giá trị ở Việt Nam, tổchức và quản lý các loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa, những thuận lợi, khó khăn trongquá trình phát triển các loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa
Theo Triệu Văn Hùng và cộng sự (2007) [40] ở Việt Nam có thể có đến 200 loài tretrúc, bước đầu xác định có 22 chi với 122 loài đã được giảm định tên, trong đó có rất nhiềuloài có giá trị sử dụng và kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển
Tác giả đã giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng về phân bổ, đặc điểm hình thái, sinh thái vàcông dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) [57] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái phân
bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát độ, Điềm trúc và Tạp giao cóxuất xứ từ Trung Quốc
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [40], đã mô tả hình thái, phân bố, côngdụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài thực vật hoang dạihữu ích bản địa Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loàimây và 8 loài khác); Nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); Nhómthực vật làm thuốc (76 loài); Nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); Nhóm Tanin, thuốc nhuộm(19 loài); Nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và câybóng mát thân gỗ)
1.2.2.2 Nghiên cứu về nhân giống
Ở Việt Nam, nhân giống bằng hom cây lâm nghiệp và cây ăn quả một cách có hệthống mới được tiến hành vài thập kỷ nay tại hầu hết các trường đại học, viện nghiên cứu,trung tâm nghiên cứu, cơ sở sản xuất, vườn quốc gia vv Từ những năm 1986 đến nay,
Trang 33Phòng nghiên cứu giống cây rừng (nay là Trung tâm nghiên cứu nhân giống thuộc Phân việnlâm nghiệp Miền Nam), Trung tâm Phát triển Lâm nghiệp Phù Ninh, Trường Đại học Lâmnghiệp, Trung tâm Nghiên cứu giống cây trồng (thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp) đã tiếnhành nghiên cứu giâm hom thành công nhiều loài cây lấy gỗ phục vụ công tác trồng rừng[43], [44], [45], [47], [57] trong đó có một số loài quí hiếm như Pơ mu, Bách xanh, Tùng,thông đỏ, Tùng tháp, vv [41],[42],[48],[56],[89]; Một số loài cây cảnh như Đỗ quyên, Hảiđường Chè rừng, Dạ hợp vv [22], [89]; Một số loài cây hoang dại hữu ích bản địa có tácdụng làm thực phẩm như Tai chua, Dọc, Trám đen, Rau sắng, Giâu gia đất [22].
Nhờ có các nỗ lực nghiên cứu trên, hiện nay Việt Nam đã có thể nhân giống bằnghom một số loài ở quy mô sản xuất lớn cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và một số cây ănquả cũng như cây cảnh khác phục vụ công tác bảo tồn, phủ xanh đất trống đồi trọc, phát triểnkinh tế tại các nông trại, vườn hộ gia đình [83], [84]
Nhân giống bằng hom có tiềm năng và tầm quan trọng lớn vì nó góp phần nhânnhanh các vật liệu nhân giống quí, hiếm, nguồn gen của các loài bị khai thác quá mức, cácloài không cho hạt vv Do đó, nhân giống bằng hom có ý nghĩa to lớn trong công tác bảo tồn
và phát triển tài nguyên thực vật có ích [37] Nghiên cứu nhân giống thực vật hoang dại hữuích bằng phương pháp giâm hom ở Việt Nam có thể được chia thành 2 giai đoạn:
* Giai đoạn trước thập kỷ 90 của thế kỷ XX
Nghiên cứu nhân giống thực vật hoang dại hữu íchbằng phương pháp giâm hom đượcthực hiện ở mức độ đơn giản cả về kỹ thuật cũng như khả năng áp dụng các chất kích thích
ra rễ Việc nhân giống thường được thực hiện trực tiếp trong điều kiện thường, mà chưa qua
hệ thống vườn ươm với các kỹ thuật phức tạp
Đỗ Tất Lợi đã nghiên cứu trồng Bạc hà (Mentha arvensis) bằng cành có tuổi 45 ngàysau khi trồng, với chiều dài hom 15-20cm Hom có thể được xử lý bằng 2.4D với nồng độ1/10.000 [52] Trạm Nghiên cứu Dược liệu Hải Hưng đã nghiên cứu nhân giống cây Camthảo Hungari bằng phương pháp nhân giống vô tính có sử dụng hormon kích thích sự nảymầm [79]
Nhằm mục đích bảo tồn, Tạ Quang Nhiệm và cs, đã thăm dò khả năng nhân giốngbằng hom cây Ba gạc bốn lá (Rauvolfia vomitoria) Ở Phú Thọ, với các hom dài 40-50cm,vùi xuống đất sâu 20-25cm Kết quả cho thấy các hom có khả năng ra rễ và nẩy chồi nhưng
tỷ lệ sống ít (< 10% ), các hom ngắn hơn, dài từ 10-20cm không có khả năng ra rễ [60]
Phạm Duy Hùng và cs, đã thăm dò phương pháp giâm cành và rễ cây Ba gạc hoa đỏ
(Rauvolfia serpentina), có sử dụng chất kích thích ra rê Kết quả cho thấy các cành giâm đều
chết và không ra rễ, trong khi đó các hom rễ có khả năng ra rễ tốt khi không sử dụng chất
Trang 34kích thích ra rễ [38].
* Giai đoạn từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay
Việc nghiên cứu nhân giống bằng hom thực vật hoang dại hữu ích được thực hiện có
hệ thống hơn trong các hệ thống vườn ươm hoàn thiện của ngành lâm nghiệp, hay tự xâydựng theo các mô hình khác nhau Kỹ thuật cắt hom, xử lý và duy trì hom cũng được pháttriển ở mức cao hơn Nhiều loài đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom thành công Mặc
dù vậy, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ ở qui mô thí nghiệm hay thử nghiệm trong địaphương hẹp
Ngô Thị Minh Duyên đã nghiên cứu giâm hom cây Quế (Cinnamomum cassia) sử
dụng chế phẩm kích thích ra rễ ABT1 dạng bột và dung dịch, kết quả cho tỷ lệ ra rễ 66.7%với dung dịch ABT1 và 86.7% với ABT1 dạng bột 1%, so với tỷ lệ ra rễ 40% ở lô đối chứng[28]
Ngô Quốc Luật đã thí nghiệm giâm cành cây Đỗ Trọng (Eucommia ulmoides) ở Trạithuốc Sa Pa (Lào Cai) trong vụ xuân với các chất điều hoà sinh trưởng là
ABT1 ABT2 và NAA Kết quà cho thấy tỷ lệ ra rễ là 0%, mặc dù trong thời gian 10
- 30 ngày đầu hom có ra mầm Tuy nhiên hom rễ có ra rễ với tỷ lệ từ 10-20% [54]
Phạm Văn Tuấn đã xử lý bằng IBA (1%) trong thời kỳ đầu hè để giâm hom Quế đạt
tỷ lệ ra rễ cao và sử dụng phương pháp ghép nêm ngọn Quế cho tỷ lệ sống cao nhất so vớighép mắt và ghép cành (70 - 77%) [83]
1.2.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Năm 2003 Cục Lâm nghiệp đã ban hành tài liệu hướng dẫn qui trình trồng và nuôiđộng vật dưới tán rừng Theo Võ Đại Hải (2003) [30] Gừng là cây ưa sáng xong trồng dướitán rừng có độ tàn che từ 0,5 trở xuống vẫn phát triển bình thường, ở nơi rợp quá hoặc trênđất quá ẩm sẽ cho sản phẩm củ gừng chất lượng kém (củ chứa ít tinh dầu hơn); Cây bình vôithích hợp ở độ tàn che từ 0,4 - 0,5; Cây Hà thủ ô đỏ (rau đằng) là cây ưa sáng nhưng cũng cókhả năng chịu bóng tốt ở độ tàn che là 0,3 - 0,4
Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) [3] đã tuyển chọn 3 loài tre nhập nội trồng để lấy
măng: Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii) và Tạp giao với
13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú Thọ và Thanh Hoá Đề tài đã đưa ra được một số biệnpháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài: Mật độ trồng, phân bón, điều chỉnh cây mẹ,đồng thời đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh, kỹ thuật khai thác măng và một
số biện pháp sơ chế bảo quản măng
Đỗ Văn Bản (2005) [3] cũng đã thống kê được hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nộilấy măng đang được gây trồng gồm Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông Đề tài đã
Trang 35thống kê được diện tích trồng Điềm trúc tính đến năm 2003 là 2.700 ha Ngoài ra, đề tài còncung cấp những thông tin về đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc vàkinh nghiệm gây trồng của nhân dân.
Tóm lại, thực vật hoang dại hữu ích bản địa có vai trò rất quan trọng đối với ngườidân miền núi sống ở gần rừng và trong rừng Ở một số địa phương, thực vật hoang dại hữuích bản địa là nguồn thu nhập chủ yếu để nâng cao đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèocho người dân [31], [32] Phát triển thực vật hoang dại hữu ích bản địa dưới tán rừng tựnhiên vừa tăng thêm thu nhập vừa bảo vệ được tầng cây gỗ của rừng, đồng thời bảo vệ đượcmôi trường sống cho loài người [71] Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu còn tản mạn chưatập trung và chưa hệ thống, chú yếu tập trung thống kê, phân loại các loài thực vật hoang dạihữu ích bản địa; một số công trình khác cũng chỉ tập trung nghiên cứu về nhân giống, điềukiện gây trồng, chế biến và bảo quản cho một hay một số loài cụ thể Vì thế chưa thể pháttriển các loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa trên quy mô lớn để tạo thành hàng hoá vàchưa tạo được thị trường Để thực hiện tốt chương trình phát triển thực vật hoang dại hữu íchbản địa nói riêng và phát triển tài nguyên rừng nói chung cần thiết phải đánh giá được thựctrạng và kỹ thuật gây trồng các loài thực vật hoang dại hữu ích bản địa hiện nay để làm cơ sởquy hoạch cũng như xây dựng kế hoạch phát triển một cách bền vững [91]
1.3 TỔNG QUAN VỀ LOÀI CÂY NGHIÊN CỨU
Cây Bò khai còn có tên khác là Dây hương và có tên khoa học là Erythropalum
Scandens Blume thuộc họ Dây hương- Erythropalaceae [94] Ngoài ra còn có tên khác là
rau Hiến, Khau hương, Phắc hiến (Tày), Nèo tùm (Nùng), Lò châu sói (Dao) [35]
Theo Tạ Minh Hòa [35] Cây Bò khai có mặt phổ biến ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam.Cũng gặp ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên và duyên hải nam Trung bộ; tập trung nhiều
ở khu Đông Bắc bao gồm các tỉnh : Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, BắcKạn, Thái Nguyên Loài cây này cũng phân bố ở Nam Trung Quốc, Lào và Campuchia
Tại miền Bắc Thái Lan, Cây Bò khai được gọi là krlìing, người Kammu bản địa rất
quen thuộc với loài rau hoang dại này, họ cho biết loài cây này thường mọc ven các sườn
núi Người bản địa ở đây thường thu hái krlìing từ rừng về chế biến một số món ăn hàng ngày, đặc biệt có 2 món đặc sản được chế biến cùng với krlìing là “Hoa chuối rừng hầm với
krlìing” và “Soup măng đắng - trứng kiến - krlìing” , theo người Kammu các món ăn đặc
sản này rất tốt cho sức khỏe của họ [120]
Ở Việt Nam Bò khai là loài cây thường mọc hoang ven rừng thứ sinh, rừng đangphục hồihoặc rừng nghèo bị tác động mạnh của kiểu rừng thường xanh ẩmnhiệt đới, tập trung nhiều ở ven rừng, mọc trên núi đá vôi; cây ưa ẩm mọc nhanh, hầu như ra
Trang 36chồi mọc lá quanh năm chỉ trừ một vài tháng mùa đông nhiệt độ thấp Cây tái sinh bằng hạthay chồi Giai đoạn cây non Bò khai là loại dây leo chịu bóng, thích hợp nơi có nhiều ánhsáng tán xạ, ẩm độ cao và không quá nóng; Song giai đoạn trưởng thành cây ưa sáng, câysinh trưởng phát triển tốt (phát triển nhanh, ra nhiều chồi ) trong điều kiện ánh sáng toànphần Khoảng nhiệt độ thích hợp cho rau Bò khai sinh trưởng phát triển vào khoảng 25-300C; tuy nhiên giai đoạn đầu yêu cầu cây con cần nhiệt độ và ẩm độ thấp hơn Độ cao phân bốcủa cây từ 100 -1500m [29].
Theo Hoang Sam Van, Pieter Baas and Paul J A Keßler [103] Loài Erythropalum
scandens Blume (Bò Khai) là một trong 64 loài cây được người dân thường xuyên khai thác
để sử dụng và là một trong 38 loài thực vật thường được khai thác cho mục đích thương mại(đem bán) tại Vườn Quốc gia Bến En - Thanh Hóa 34% các hộ dân trong vùng khi được hỏicho biết họ đã từng thu hái sử dụng hoặc đem bán các loại rau rừng trong đó có rau Bò Khai
Cây Bò khai được coi là một loại rau cổ truyền của người dân tộc Người ta thườnglấy lá và ngọn non thái nhỏ, vò kỹ, rửa sạch để khử mùi khai rồi nấu canh, luộc hay xào ăn
có mùi thơm ngon nên có tên Rau hương; nhưng khi đi tiểu thì nước tiểu rất khai nên có tên
là Dây Bò khai, Rau khai [29]
Những năm trước đây khi rau Bò khai mới được khai thác như là một thứ rau dại mọc
tự nhiên trong rừng, người dân hái rau này về ăn như là một thứ rau bình thường trong bữa
ăn của người dân vùng cao, từ khi phát hiện được những giá trị quý báu của rau Bò khai vànhất là do nhu cầu thị trường tăng lên, con người ta đã nghĩ đến việc đem rau về nhà trồngtrong vườn gia đình Loài rau này đang được đánh giá là có tiềm năng khá lớn, trên thịtrường hiện nay loại rau này có giá từ 15 ^ 20.000đ/ kg ngọn non Khoảng gần mười nămnay, rau Bò khai được bán nhiều ở các chợ thành phố Lạng Sơn, thị xã Cao Bằng, Bắc Kạn
và trở thành món ăn đặc sản được nhiều người ưa thích [35] Tuy vậy nguồn gốc của rau bántrên thị trường chủ yếu vẫn là được thu hái từ rừng
Là một loại rau đa tác dụng: vừa làm thực phẩm, vừa có tác dụng như những vị thuốcchữa bệnh về gan, thận, tiết niệu [29], có giá trị kinh tế cao, nên rau Bò khai đã được conngười quan tâm tìm hiểu và thử nghiệm nhằm mục tiêu phát triển loài rau rừng đa dụng nàytrở thành loài rau vườn nhà, hình thành và phát triển nghề trồng rau mới, góp phần xóa đóigiảm nghèo cho đồng bào địa phương các tỉnh miền núi phía Bắc
Trong những năm qua, đã có một số nghiên cứu về cây Bò khai như sau:
Theo Dương Hữu Phùng [64] Cây Bò khai có 2 lứa quả trong năm, lứa đầu ra hoatháng 6, chín tháng 8, kết quả gieo thử nghiệm hạt từ lứa quả này cho tỷ lệ mọc 47,5% Lứaquả thứ 2 của cây là ra hoa tháng 9, quả chín tháng 11, kết quả thử nghiệm gieo hạt của lứa
Trang 37quả này đạt tỷ lệ nảy mầm cao hơn (82,6%) Sự chênh lệch về tỷ lệ hạt nảy mầm của 2 lứaquả được cho là vì chất lượng hạt giống ở hai lứa là khác nhau, mặt khác thời vụ gieo hạtvào tiết Đông - Xuân cũng phù hợp hơn Cũng theo kết quả nghiên cứu của Dương HữuPhùng, cây Bò khai trong tự nhiên có khả năng phát tán thấp là do quả của loại cây này khichín có mùi vị hấp dẫn một số loài chim, thú đến ăn và phá hại.
Ngoài khả năng nhân giống từ hạt, Bò khai cũng là loài cây có thể nhân giống bằng
biện pháp vô tính Nếu chiết cành thì sau chừng 6 - 7 tháng có thể đem trồng (Dương Hữu
Phùng và cs, 1999) [64] Độ dài cành chiết khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ và xuất vườn khác
nhau Cành dài 30-40cm (3lá) cho tỷ lệ ra rễ 88,5% Cành dài 10-20cm (1 lá) chỉ cho tỷ lệ ra
rễ 74,2% Về khả năng giâm cành, thời vụ giâm có ảnh hưởng lớn đến thời gian ra rễ và tỷ lệmọc của hom giâm Vụ giâm tháng 11 cho kết quả xuất vườn đạt tỷ lệ 83%, thời gian từ khigiâm đến mọc là 24 ngày Vụ giâm tháng 1 chỉ cho tỷ lệ xuất vườn đạt 75,3%, thời gian từkhi giâm đến mọc là 36 ngày [65] Các loại cành giâm khác nhau (bánh tẻ, trung bình, già)cũng cho kết quả khác nhau, loại cành trung bình và bánh tẻ cho tỷ lệ sống cao (84,1 -85,2%), loại cành già chỉ đạt tỷ lệ sống là 56,2%.[65]
So sánh về sự sinh trưởng của 2 loại cây (cây gieo hạt và cây giâm cành) ở tuổi 1 chothấy: Trong năm đầu cây trồng từ hạt thể hiện sinh trưởng yếu hơn cây giâm cành, số ngọntrung bình là từ 2,6 - 10,3 ngọn/cây/tháng Trong khi đó cây giâm cành đạt 3,8-14,2ngọn/cây/tháng Tuy vậy sang đến năm thứ 2 thì sự sai khác nhỏ dần và cân bằng, sau đó câygieo hạt lại thể hiện sinh trưởng mạnh hơn, số ngọn trung bình là từ 6,8 - 21,5ngọn/cây/tháng Trong khi đó cây giâm cành chỉ đạt 5,619,2 ngọn/cây/tháng [65]
Theo Trần Văn Dũng (2007) [27] Cây rau Bò khai là cây không quá khó trồng, có thểthích ứng tốt trong điều kiện trồng trọt tại Thái Nguyên Cây Bò khai ưa đất ẩm nhưngkhông chịu được úng ngập, thích hợp đất nhiều mùn Khi triển khai trồng tại vườn rau tănggia của tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 601 - Quân khu I, các chiến sĩ ở đây đã cho vào mỗi gốccây một tảng đá vôi (nguyên khai) lớn so sánh với những cây không cho tảng đá như vậy thìthấy cây trồng với các tảng đá sinh trưởng tốt hơn, lá màu xanh thẫm và mướt hơn
Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cũng đãnghiên cứu thử nghiệm nhân giống cây Bò khai tại Hoành Bồ Quảng Ninh, bước đầu thànhcông bằng cách giâm hom, đồng thời giới thiệu một số kỹ thuật gây trồng cơ bản [29], [35]
Tác giả Phạm Quang Thắng - Trường Đại học Tây Bắc với “ Nghiên cứu kỹ thuậtgây trồng và phát triển rau Bò khai, rau Sắng tại Sơn La”, cho thông tin về kết quả nghiêncứu bước đầu như sau: Nhân giống bằng phương pháp giâm hom có sử dụng chất kích thíchsinh trưởng cho tỉ lệ nảy mầm khá cao, biến động từ 65 - 85% tuỳ vào loại thuốc kích thích
Trang 38(IAA, IBA, NAA) và thời vụ giâm hom Qua kết quả
thử nghiệm ban đầu chothấy IBA tỏ ra khá hiệu quả đối với việc kích thích ra rễhom giâm cây Bò khai (thông tin mở trên website Đại học Tây Bắc, 2011)
Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi - Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnhBắc Kạn cũng đã và đang tiến hành khảo nghiệm giâm cành rau Bò khai và bước đầu đã đạtmột số kết quả khả quan
Theo Trần Ngọc Cường (2010) [23], cây Bò khai có thể lấy hom để giâm từ gốc lênhết phần bánh tẻ cây mẹ 3 tuổi trở lên Cắt thân thành nhiều đoạn hom, mỗi hom dài 20 -25cm, to trên 3mm, có từ 1-3 lóng gồm 2-4 mắt, cắt bỏ hết lá Cắt hom đến đâu đem giâmđến đó.Giâm hom lên luống đã chuẩn bị theo rạch sâu 10cm, rạch nọ cách rạch kia 30cm.Làm giàn che và tưới đủ ẩm cho cây, sau 20-25 ngày hom ra rễ ở phía dưới và nảy chồi ở cácđốt phía trên Tiêu chuẩn cây con xuất vườn phải cao 20-25 cm, rễ dài 5-6cm, có 5-6 cặp látrở lên, cây sinh trưởng tốt Thời vụ trồng là xuân hoặc thu Chọn ngày râm mát hoặc cómưa, có thể trồng dưới tán rừng tự nhiên, trồng dưới tán rừng trồng, trồng nơi có cây chebóng phù trợ trên đất sau nương rẫy còn tốt, trồng dưới tán cây ăn quả trong các vườn nhà,hoặc trồng thuần theo hướng thâm canh ở các đất đồi, bãi
Hiện tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp Việt Nam cũng đã
và đang tiến hành dự án phát triển cây rau bò khai tại tỉnh Bắc Kạn trong khung dự án CoDI
“Liên kết để đa dạng hóa thu nhập từ cây trồng ít sử dụng” giai đoạn 2008-2011 do Trungtâm Nghiên cứu và phát triển hệ thông nông nghiệp phối hợp với Viện nghiên cứu Rau quảViệt nam và các tổ chức của Ấn Độ cùng thực hiện, kết quả bước đầu của dự án cũng đãkhẳng định cây Bò khai có thể nhân giống bằng phương pháp giâm hom, các thử nghiệm vềchăm sóc sau trồng cũng đang có những tín hiệu tích cực [59]
Do nhu cầu về rau Bò khai ngày càng lớn nên nhiều gia đình ở các xóm làng vùng sâu
ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang đã biết bảo vệ, gìn giữ những khu rừng có cây Bò khaiphân bố tự nhiên Một số chủ vườn rừng đã bắt đầu để tâm nghiên cứu, trồng thử để dần dầnđưa Bò khai vào vườn cây của mình Cây Bò khai có thể trồng bằng hạt hoặc bằng hom, cáchthức mà người dân ở đây thường sử dụng để nhân giống là cắt dây Bò khai từ rừng đem vềgiâm trồng trực tiếp xuống đất trong vườn nhà [35]
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu, do vậy kết quả có thể cònnhiều vấn đề phải bàn luận, để có những kết luận chính xác và đầy đủ hơn cần phải có thờigian và những tìm hiều sâu, rộng hơn
Căn cứ vào kết quả các công trình nghiên cứu đã được tổng quan trên đây, trong khuôn khổ luận án này sẽ tiến hành nghiên cứu bổ sung một số vấn đề sau:
Trang 39- Các kiến thức bản địa về cây Bò khai
- Một số đặc điểm sinh thái học của cây Bò khai
- Một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và trồng trọt cây Bò khai
Trang 40CHƯƠNG 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐÓI TƯỢNG VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Cây Bò khai - Erythropalum scandens Blume
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của cây Bò khai tựnhiên và thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt theo hướng thâm canh trongđiều kiện canh tác thông thường tại tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên
2.2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp tiếp cận
Do đối tượng nghiên cứu là một loài cây bản địa đa tác dụng, vừa làm thực phẩm,vừa làm thuốc, vì vậy việc bảo tồn và phát triển loài cây này cần phải tiếp cận nghiên cứutrên các khía cạnh sau: (i) Đặc điểm và điều kiện tồn tại của loài Bò khai, (ii) tri thức bảnđịa về khai thác, sử dụng loài cây Bò khai , và (iii) kỹ thuật gây trồng Từ đây, các nghiêncứu sẽ liên quan đến cả lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội - nhân văn, cần phải sử dụng
kỹ thuật của nhiều chuyên ngành, có sự tham gia của cộng đồng Nội dung luận án có ápdụng theo cuốn "Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc” của WHO, WWF và IUCN, là tài liệuhướng dẫn trên phạm vi toàn cầu Các kỹ thuật nghiên cứu áp dụng trong luận án là triểnkhai nghiên cứu trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, bao gồm các kỹ thuật nghiên cứu liên
quan đến (i) Sinh thái học; (ii) Nông học; (iii) Lâm học; (iv) Kinh tế tài nguyên.
2.2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung I: Điều tra, phân tích về điều kiện tự nhiên và các kiến thức bản địa (về
khai thác, trồng trọt và sử dụng cây Bò khai) liên quan đến việc nghiên cứu và phát triểnsản xuất cây Bò khai của tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn
Nội dung II: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái tự nhiên của cây Bò khai Nội dung III:
Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Bò khailàm rau xanh (Kỹ thuật nhân giống bằng hom; ảnh hưởng của chế độ che sáng đối với cây
ở giai đoạn đầu; ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón tới sinh trưởng và năng suất của
cây)
Nội dung IV: Xây dựng mô hình thử nghiệm và bổ sung hoàn thiện đề xuất một số
biện pháp kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất cây rau Bò khai tại Bắc Kạn và Thái Nguyên2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp điều tra, phân tích về điều kiện tự nhiên và các kiến thức bản địa về