1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.

77 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM Trần Văn Tuyến Tờn đề tài: “NGHIấN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CỦA LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN PSEUDOTSUGA BREVIFOL

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM

Trần Văn Tuyến

Tờn đề tài:

“NGHIấN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC VÀ SINH

THÁI HỌC CỦA LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN

(PSEUDOTSUGA BREVIFOLIA W.C CHENG & L.K.FU, 1975)

TẠI HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG”

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Hệ đào tạo : Chớnh quy

Chuyờn ngành : Quản lý Tài nguyờn rừng

Khoa : Lõm nghiệp

Khúa học : 2010 - 2014

Thỏi Nguyờn - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM

Trần Văn Tuyến

Tờn đề tài:

“NGHIấN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC VÀ SINH

THÁI HỌC CỦA LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN

(PSEUDOTSUGA BREVIFOLIA W.C CHENG & L.K.FU, 1975)

TẠI HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG”

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Hệ đào tạo : Chớnh quy

Chuyờn ngành : Quản lý Tài nguyờn rừng

Khoa : Lõm nghiệp

Khúa học : 2010 - 2014

Giảng viờn hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Thoa Khoa Lõm nghiệp - Trường Đại học Nụng Lõm Thỏi Nguyờn

Thỏi Nguyờn – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên một tài liệu nào, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày tháng 06 năm 2014

XÁC NHẬN CỦA GVHD

Đồng ý cho bảo vệ kết quả Người viết cam đoan

trước Hội đồng khoa học

Th.S Nguyễn Thị Thoa Trần Văn Tuyến

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu

(Ký, họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài này được hoàn thành tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo chính quy của trường Đại học Nông Lâm, chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, khóa 42 (2010-2014)

Trong quá trình học tập cũng như hoàn thiện đề tài, em đã nhận được

sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Lâm Nghiệp và các thầy giáo,

cô giáo thuộc Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Nhân dịp này cho em xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Trước tiên, cho em xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Thị Thoa, Ths Lê Văn Phúc - với tư cách là người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Em cũng xin cảm ơn Ban Giám Đốc và Ban lãnh đạo Hạt Kiểm Lâm huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang là nơi em đã tiến hành thực tập và nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thu thập số liệu ngoại nghiệp để hoàn thành đề tài này

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các bạn lớp 42 - Quản lý Tài nguyên rừng, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành đề tài

Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản đề tài nghiên cứu khoa học này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo, các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Người thực hiện

Trần Văn Tuyến

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 3

1.3 Mục tiêu của đề tài 4

1.4 Ý nghĩa của đề tài 4

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập 4

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4

PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài cây 5

2.1.1 Trên thế giới 5

2.1.2 Ở Việt Nam 6

2.2 Những nghiên cứu về loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) 9

2.2.1 Trên thế giới 9

2.2.2 Ở Việt Nam 10

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 11

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 11

2.3.1.1 Vị trí địa lý 11

2.3.1.2 Địa hình, địa thế 12

2.3.1.3 Đất đai thổ nhưỡng 12

2.3.1.4 Khí hậu thủy văn 12

2.3.1.5 Thảm thực vật 13

2.3.1.6 Tình hình dân sinh kinh tế xã hội 13

2.3.1.7 Dân số lao động 15

2.3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Thài Phìn Tủng 15

2.3.2.1 Địa hình 15

2.3.2.2 Khí hậu 15

Trang 6

2.3.2.3 Thổ nhưỡng 16

2.3.2.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 16

2.3.3 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Sà phìn 17

2.3.3.1 Kinh tế - xã hội xã Sà Phìn 17

2.4 Nhận xét những thuận lợi và khó khăn của địa phương khu vực

nghiên cứu 17

2.4.1 Thuận lợi 17

2.4.2 Khó khăn 18

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 19

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 19

3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu 19

3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu 19

3.3 Nội dung nghiên cứu 19

3.4 Phương pháp nghiên cứu 20

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung 20

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp 21

3.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) 21

3.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) 21

3.4.2.3 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần có loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) phân bố 22

3.4.2.4 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh nơi có loài thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) phân bố 23

3.4.3 Phương pháp nội nghiệp 23

Trang 7

3.4.3.1 Xác định tổ thành loài cây tầng cao 23

3.4.3.2 Mật độ cây tầng cao 25

3.4.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên 25

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 27

4.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) 27

4.1.1 Đặc điểm phân loại của loài trong hệ thống phân loại 27

4.1.2 Đặc điểm rễ, thân cây 27

4.1.3 Đặc điểm hình thái lá 28

4.1.4 Đặc điểm hình thái quả (quả nón) và hạt 29

4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) phân bố 30

4.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) phân bố 32

4.2.1.1 Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tầng cao tại vị trí sườn núi đá vôi nơi có loài thiết sam giả lá ngắn phân bố 32

4.2.1.2 Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tầng cao tại vị trí sườn đỉnh núi đá vôi nơi có loài thiết sam giả lá ngắn phân bố 34

4.2.1.3 Cấu trúc tầng thứ của rừng nơi có loài thiết sam giả lá ngắn

phân bố 35

4.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) 37

4.3.1 Tổ thành và mật độ các loài cây tái sinh tại vị trí sườn và đỉnh núi đá vôi nơi có loài thiết sam giả lá ngắn phân bố 37

4.3.2 Phân bố tái sinh theo cấp chiều cao nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 39

4.3.3 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 40

4.4 Đặc điểm tầng cây bụi và thảm tươi nơi loài thiết sam giả lá ngắn

phân bố 42

Trang 8

4.5 Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài cây Thiết sam

giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) 43

4.5.1 Giải pháp về chính sách 43

4.5.2 Các giải pháp về kỹ thuật 44

4.5.3 Nâng cao ý thức và năng lực của cộng đồng trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học 44

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Kiến nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

I Tài liệu trong nước 48

II Tài liệu nước ngoài 50

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Kích thước cây Thiết sam giả lá ngắn điều tra tại xã Sà Phìn, huyện

Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 28 Bảng 4.2: Kích thước cấy Thiết sam giả lá ngắn điều tra tại xã Thài Phìn

Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 28 Bảng 4.3: Đặc điểm phân bố của loài TSGLN theo độ cao tại xã Thài Phìn

Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 31 Bảng 4.4: Đặc điểm phân bố của loài TSGLN theo độ cao tại xã Sà Phìn

huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 32 Bảng 4.5: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cao nơi loài Thiết sam giả lá ngắn

phân bố tại sườn núi đá 33 Bảng 4.6: Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tầng cao nơi loài Thiết sam giả lá

ngắn phân bố tại vị trí sườn đỉnh 34 Bảng 4.7: Tổ thành và mật độ cây tái sinh tại vị trí sườn và đỉnh núi đá vôi nơi

có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 37 Bảng 4.8: Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao tại vị trí sườn và sườn đỉnh

nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 39 Bảng 4.9: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh tại vị trí sườn và đỉnh núi đá

vôi nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 40 Bảng 4.10: Đặc điểm cây bụi thảm tươi tại các vị trí sườn và sườn đỉnh nơi có

loài thiết sam giả lá ngắn phân bố 42

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát 20

Hình 3.2 Hình dạng, kích thước ÔTC và sơ đồ bố trí ÔDB 23

Hình 4.1: Thân cây Thiết sam 27

Hình 4.2: Gỗ cây thiết sam 27

Hình 4.3: Lá cây Thiết sam giả lá ngắn (mặt trước) 29

Hình 4.4: Lá cây Thiết sam giả lá ngắn (mặt sau) 29

Hình 4.5: Quả nón cây Thiết sam giả lá ngắn 29

Hình 4.6 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao tại vị trí sườn và đỉnh 40

Trang 11

TSGLN : Thiết sam giả lá ngắn

Trang 12

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam được biết đến như một trung tâm đa dạng sinh học của thế giới với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng Các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, biển, núi đá vôi, v.v, Những nét đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoang dã đặc hữu, có giá trị, trong đó có những loài không tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới Việt Nam cũng là nơi được biết đến với nhiều nguồn gen hoang dã

có giá trị, đặc biệt là các cây thuốc, các loài hoa, cây cảnh nhiệt đới, v.v,…

Đa dạng sinh học ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện khác nhau về sinh thái, kinh tế và xã hội Giá trị sinh thái và môi trường thể hiện ở chỗ sự đa dạng sinh học giúp bảo vệ tài nguyên đất và nước, điều hòa khí hậu, phân hủy các chất thải Giá trị kinh tế thể hiện rõ ở

sự đóng góp của các nghành liên hệ mật thiết đến đa dạng sinh học đối với nền kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và du lịch Giá trị nhân văn của đa dạng sinh học là góp phần giáo dục con người, tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã hội

Tuy là một nước có tính đa dạng sinh học cao, nhưng cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái giàu đa dạng sinh học mà nguyên nhân chủ yếu

là do hoạt động của con người gây ra: Việc chuyển đổi từ đất rừng sang đất trồng cây công nghiệp, cây lương thực vẫn diễn ra hàng năm Việc xây dựng cơ sở hạ tầng như: Đường, đập thủy điện đã gây ra sự suy thoái, chia cắt, hình thành rào cản sự di cư và làm mất đi các sinh cảnh tự nhiên Việc khai thác trái phép gỗ, lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là săn bắt, buôn bán các loài động vật hoang dã cũng như khai thác thủy sản bằng các biện pháp hủy diệt, vẫn tồn tại và nó trở thành thách thức đối với các nhà quản lý bảo tồn đa dạng sinh học

Trang 13

Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng Sự mất mát về đa dạng sinh học hiện nay là đáng lo ngại, nhiều loài động thực vật bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý Do đó, việc quản lý tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học là thực sự cần thiết và cấp bách Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của đa dạng sinh học, năm 1993 Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học Năm 1995, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ở Việt Nam” Năm 2007, “Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” được xây dựng và phê duyệt triển khai

Cao nguyên núi đá vôi tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang là một trong những hệ sinh thái đại diện điển hình về hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi Nằm ở cực Bắc nước ta, cao và khá rộng lớn bắt đầu từ phía Tây từ khi kết thúc thung lũng ở phía Đông huyện Yên Minh, về phía Đông đến bờ phải của sông Nho Quế, về phía Nam đến bờ trái của sông Gâm và về phía Bắc đến biên giới Việt Trung Độ cao từ khoảng 1000m đến các đỉnh cao nhất thường không quá 1600m so với mặt nước biển Cao nguyên núi đá vôi huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang được các nhà khoa học trong nước và quốc tế xác định là khu vực cần ưu tiên cho việc bảo tồn đa dạng sinh học trên núi đá vôi Nơi đây đã được các cấp chính quyền của tỉnh Hà Giang, các tổ chức, cá nhân quan tâm thực hiện nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh học, quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển sinh kế cộng đồng Tuy nhiên công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở đây vẫn đang gặp nhiều khó khăn và thách thức, nguyên nhân là do nhu cầu sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học tăng cao, mặt khác do tầm quan trọng và giá trị trực tiếp của đa

Trang 14

dạng sinh học đối với cuộc sống của con người rất lớn Bên cạnh đó do nhận thức của người dân còn thấp và năng lực quản lý của các cơ quan chức năng còn hạn chế, cộng với các giải pháp bảo tồn chưa cụ thể, chưa sâu sát nên hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học chưa cao làm cho tài nguyên đa dạng sinh học tại cao nguyên núi đá vôi huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang ngày càng bị suy giảm thậm chí một số loài có nguy cơ biến mất

Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu,

1975) là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam, có phân bố tự nhiên hiện còn sót lại ở vùng núi đá vôi huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Đây là loài cây gỗ nhỡ, gỗ đẹp và bền, thường mọc trên các đỉnh núi đá vôi

có độ cao từ 500 - 1500m so với mặt nước biển Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và số lượng

cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ

bị đe dọa Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng loài cây gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi Vì vậy tôi

tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang” trên cơ sở đó có thể thấy được các đặc điểm hình thái, sinh thái và

hiện trạng phân bố của loài Thiết sam giả lá ngắn và đề xuất một số giải

pháp nhằm mục đích bảo tồn chúng

1.2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái, tái sinh của loài Thiết

sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) làm

Trang 15

cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

1.3 Mục tiêu của đề tài

Xác định được một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học như: sinh thái, phân bố, hình thái, vật hậu, cấu trúc, tái sinh của Thiết sam giả lá ngắn

(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn,

tỉnh Hà Giang

Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển loài

Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu,

1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập

Quá trình thực hiện đề tài giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn từ các cán bộ quản lý và chuyên môn tại địa phương nhằm nâng cao kiến thức và kĩ năng cho mình để thực hiện tốt công việc sau này

Kết quả thực hiện đề tài có thể làm cơ sở cho giảng viên, sinh viên tiếp tục nghiên cứu khoa học chuyên sâu về loài Thiết sam giả lá ngắn

(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể hơn về công tác quản lý bảo

vệ rừng tại khu vực nghiên cứu, từ đó có những điều chỉnh hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ tài nguyên rừng

Làm cơ sở đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây: Thiết sam

giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) góp phần

nâng cao tính đa dạng sinh học

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài cây

E.P.Odum (1971) [22] đã phân chia sinh thái học thực vật thành sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài Trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý Ngoài ra mối quan hệ giữa yếu tố sinh thái, sinh trưởng có thể định hướng bằng các phương pháp toán học thường mô phỏng, phản ánh các đặc điểm quy luật tương quan phức tạp trong tự nhiên

W.Lacher (1978) đã chỉ rõ vấn đề nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, nhiệt

độ, độ ẩm, khí hậu [6]

Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006,) Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm

hình thái của loài Vối Thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi

tiết về đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự

án trồng rừng [4]

Theo KhamLeck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, khoảng với 900 loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt

Trang 17

đới, song chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt là ở Việt Nam có tới

216 loài và ít nhất là Châu Phi và Vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài [8] Ngoài ra, những nghiên cứu về đặc tính sinh học và sinh thái học cá thể còn được thực hiện bởi nhiều nhà khoa học khác như: I.S.Mankina và I.L.Xeniken (1884, 1980), Uxurai (1891), V.N.Luibimenco (1905,1908), I.Vizner (1907),…

Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung Đó là cơ sở để tôi lựa chọn nội dung nghiên cứu này

2.1.2 Ở Việt Nam

Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài cây bản địa đã được thực hiện, có thể tổng hợp và liệt kê ra đây một số nghiên cứu có liên quan như sau:

Nguyễn Bá Chất (1996) [3] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh,…Tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kĩ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa

Trần Minh Tuấn (1997) [13] đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Nội, ngoài những kết quả về đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này

Vũ Văn Cần (1997) [2] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về đặc điểm phân bố,

Trang 18

hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần,…tác giả cũng đưa

ra những kĩ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi

Nguyễn Thanh Bình (2003) [1] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang Với kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc, tái sinh của loài tác giả còn cho rằng phân bố N - H và N - D đều có một đỉnh, tương quan giữa Hvn và D1.3 có dạng phương trình Logarit

Lê Phương Triều (2003) [16] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài

Vương Hữu Nhi (2003) [10] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học

và kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắk Lắk - Tây Nguyên, từ kết quả nghiên cứu với những kết luận về đặc điểm hình thái, phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên,… tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gây trồng đối với loài cây này

Nguyễn Toàn Thắng (2008) [15] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm

học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis Hickel & A Camus) tại Lâm

Đồng Tác giả đã có những kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng của loài cây này

Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của các loài cây lá kim điển hình có các nghiên cứu sau:

Nghiên cứu về loài Bách xanh Việt Nam (Calocedrus vietnamensis) trên

núi đá vôi ở Phong Nha - Kẻ Bàng của Lê Thị Diên và cs (2007), Du sam đá

vôi (Keteleeria davidiana Beissn) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn của Trần Ngọc Hải (2011), Sa mộc dầu (Cunninhamia konishii) ở

VQG Pù Mát của Bùi Thế Đồi và cs (2013), Trong các nghiên cứu này các tác giả đã nêu đặc điểm hình thái của loài, đặc điểm vật hậu, phân bố và

Trang 19

tình trạng của loài Đặc điểm chung của các loài này đều là những loài quý hiếm, thường sống trên sườn, đỉnh núi đá vôi với những quần thể nhỏ, khả

năng tái sinh tự nhiên kém Bách xanh (Calocedrus macrolepis) thuộc họ

Hoàng đàn (Cupressaceae), là loài cây gỗ lớn thường xanh Trên thế giới Bách xanh có ở Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu và đảo Hải Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, Bách xanh hiện còn ở Ba Vì và Lâm Đồng, phân bố ở

độ cao từ 900m-1500m, chúng thường mọc theo đám, trong kiểu rừng kín thường xanh hỗn hợp cây lá rộng, lá kim cận nhiệt đới núi thấp, có sự phân tầng khá rõ rệt rừng thường có 3 tầng chính Bách xanh là một loài thực vật quý hiếm, ở VQG Ba Vì hiện có 486 cây, là nguồn gen quý giá của quốc gia cần được bảo vệ Phùng Tiến Huy (1996) [7]

Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep) thuộc họ

Hoàng đàn (Cupressaceae), là chi thực vật mới được phát hiện trong hệ sinh thái núi đá vôi tại Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Bát Đại Sơn thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang Đây là một phát hiện hiếm hoi trong thực vật học vì trong vòng 60 năm trở lại đây chỉ có 4 phát hiện tương tự cho lớp Thông (Pinopsida) (Farjon et Al., 2003) Kết quả đánh giá hiện trạng bảo tồn và nghiên cứu nhân giống bằng giâm hom loài bách vàng ở Hà Giang, tác giả Tô Văn Thảo và cộng sự cho thấy: chỉ gặp Bách vàng ở phần đỉnh dông của các núi đá vôi ở độ cao trong khoảng 1.050m đến 1.330m Tổng số cây Bách vàng còn lại ước tính 561 cây, số cây trưởng thành ước tính cho toàn quần thể là 290 cây, tỷ lệ cây con tái sinh ở các điểm dao động từ 10 - 15% Loài này hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng do có khu phân bố hẹp, số lượng cây ít và bị khai thác lấy gỗ bởi người dân địa phương Bách vàng có khả năng nhân giống từ các cây trưởng thành mọc trong tự nhiên Khả năng ra rễ của hom Bách vàng giảm theo kích thước đường kính của cây Qua đó tác giả cũng đã thử nghiệm nhân giống Bách vàng bằng hom nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn chuyển vị và làm cơ sở phát triển loài cây này ra trồng rừng tại địa phương

Trang 20

Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên

là cơ sở tốt để tôi lựa chọn những nội dung và hướng đi thích hợp cho đề

tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”

2.2 Những nghiên cứu về loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

2.2.1 Trên thế giới

Trên thế giới, những nghiên cứu có liên quan đến chi và loài Thiết sam giả lá ngắn đều tập trung vào nghiên cứu phân loại và hình thái, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đề cập đến các đặc tính sinh thái học của loài

Có thể kể đến một số công trình chủ yếu như:

Công trình nghiên cứu của Carriere (1867) [27] tập trung vào việc mô

tả Chi Hoàng sam (Pseudotsuga) với các đại linh sam Douglas Bắc Mỹ Có

22 loài và 3 giống đã được mô tả, nhiều loài trong số này được phân biệt bởi Flous (1937) trên cơ sở của sự phân biệt tinh tế trong giải phẫu lá nhưng phần lớn đã không được chấp nhận Chi Hoàng sam (Pseudotsuga)

là một chi của các loài cây lá kim thường xanh lớn trong họ Thông

(Pinaceae) Tên thường gọi là Linh sam Douglas, Oregon Thông, cây Douglas, và cây linh sam Douglas Có 2 loài Pseudotsuga có nguồn gốc ở

Tây Bắc Mỹ và 4 loài ở miền Đông Châu Á (ba loài ở Trung Quốc và một loài ở Nhật Bản)

Nhà thực vật học người Mexico (Martínez 1963) [21] có xu hướng

phân loại Pseudotsuga menziesii var.glauca ở Mexico ra thành 4 loài cô lập

đó là: Pseudotsuga macrolepis, Pseudotsuga rehderi, Pseudotsuga guinieri

và Pseudotsuga flahaultii

Công trình nghiên cứu của Farjon (1990) [18] công nhận chỉ có 4 loài

Pseudotsuga là: Pseudotsuga macrocarpa từ miền nam California, Pseudotsuga menziesii từ Canada đến nam trung Mexico, Pseudotsuga

Trang 21

japonica từ miền nam Nhật Bản và Pseudotsuga sinensis từ Trung Quốc Ngoài ra có sự phát hiện thêm loài Pseudotsuga wilsoniana từ Đài Loan Ngoài Pseudotsuga wilsoniana, một số loài khác cũng được đề nghị đưa tách biệt khỏi Pseudotsuga sinensis (Pseudotsuga forrestii, Pseudotsuga salvadorii, Pseudotsuga gaussenii, Pseudotsuga brevifolia, Pseudotsuga xichangensis) nhưng đã không được chấp nhận rộng rãi

Mối quan hệ giữa các loài này được chấp nhận rộng rãi sau nghiên cứu của Strauss et al (1990) [24] sử dụng các mảnh vỡ hạn chế DNA Gernandt

và Liston (1999) [20] sử dụng DNA ribosome hạt nhân

Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung sắp xếp, mô tả loài và ghi chú về khu vực phân bố phục vụ mục đích phân loại là chủ yếu Chưa có công trình nào tiến hành điều tra chi tiết về đặc tính sinh thái học của loài như tái sinh, tổ thành,… đây chính là động lực giúp tôi chọn vấn đề nghiên

cứu này

2.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, những tài liệu đề cập về loài Thiết sam giả lá ngắn là rất hiếm và hầu như chưa có công trình nghiên cứu cụ thể và chi tiết nào về loài cây này Trong sự hiếm hoi về tài liệu đề cập đến loài Thiết sam giả lá ngắn, tôi đã cố sưu tầm và có thể kể đến một số công trình sau:

Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật (2007) [9] đã đề cập đến tình trạng bảo tồn của 8 loài thuộc họ Thông (Pinaceae), trong đó có loài Thiết sam

giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu) Loài này được

ghi nhận là có nguồn gen quý hiếm được xếp hạng: VU A1a,c,d, B1+2b,e -

Loài sẽ nguy cấp Tài liệu cũng chỉ ra rằng ở Việt Nam, loài này mới chỉ được ghi nhận bắt gặp ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như: Hà Giang, Cao bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn với số lượng cá thể ít nguy cơ đe dọa rất cao Trong cuốn sách cây lá kim Việt Nam (Nguyễn Đức Tố Lưu và Philip Ian Thomas, 2004) [5] đề cập đến 30 loài cây lá kim của Việt Nam trong đó có

cây Thiết sam giả lá ngắn: Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C

Trang 22

Cheng & L.K.Fu, 1975) là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam, có phân bố tự nhiên hiện còn sót lại ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn Đây là vùng phân bố cực nam của chi Thiết sam giả

(Pseudotsuga) ở Châu Á Loài này mới được bổ sung vào hệ thực vật Việt Nam Trong tài liệu thực vật Trung Quốc loài có tên P sinensis Dode var brevifolia (W.C.Cheng & L.K.Fu) Farjon & Silba được dùng để mô tả cây

có lá ngắn hơn 2 cm Cây này cũng được ghi nhận có ở Cao Bằng và Hà Giang Ở Việt Nam, Thiết sam giả lá ngắn chỉ được tìm thấy trên núi đá vôi, cây thường nhỏ hơn những cây ở Trung Quốc nơi mà cây mọc ở những điều kiện thuận lợi hơn

Tóm lại, những nghiên cứu về loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) ở nước ta còn rất ít Do nhiều

nguyên nhân khác nhau mà số lượng của loài cây có giá trị này đang bị giảm sút và bị đe dọa Tùy vào từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác do nhiều nguyên nhân Vì vậy cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh thực trạng của loài Thiết sam giả lá

ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) ở từng vùng cụ

thể và đánh giá thường xuyên nhằm bảo tồn và phát triển loài cây có giá trị này

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

2.3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Đồng Văn có vị trí địa lý trong tọa độ từ 23°06’06’’ đến 23°21’17’’ vĩ độ Bắc, 105°07’35’’ đến 105°24’40’’ kinh độ Đông Phía Bắc và Tây giáp Trung Quốc, phía Nam giáp huyện Yên Minh, phía Đông giáp huyện Mèo Vạc Huyện có đường biên giới quốc gia là 52,5km Trên địa bàn huyện có Quốc lộ 4C chạy qua là tuyến giao thông quan trọng của tỉnh Hà Giang, trung tâm huyện cách thành phố Hà Giang 100km về phía Bắc Yên Minh vừa là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Hà Giang, vừa là một

Trang 23

điểm trên trục trung chuyển giữa vùng cao Đồng Văn - Quản Bạ với Trung Quốc và thành phố Hà Giang Vị trí đó vừa là lợi thế, vừa là thách thức đối với huyện Yên Minh trong xu thế hội nhập nền kinh tế của cả huyện nói riêng và cả tỉnh Hà Giang nói chung với nền kinh tế của cả nước

2.3.1.2 Địa hình, địa thế

Diện tích tự nhiên là 44.666ha, trong đó 11.837ha là đất sản xuất nông nghiệp Diện tích núi đá chiếm 73,49% Địa hình phức tạp, có nhiều núi cao, vực sâu chia cắt Nhiều ngọn núi cao như Lũng Táo 1.911m Độ cao trung bình 1.200m so với mực nước biển Địa hình thấp dần từ Tây sang

Đông

2.3.1.3 Đất đai thổ nhưỡng

Thổ nhưỡng của Hà Giang rất phong phú với 9 nhóm đất chính, trong

đó nhóm đất xám chiếm diện tích lớn nhất với 585.418 ha, chiếm 74,28% diện tích tự nhiên Các nhà khoa học đã xác định và phân chia các khu vực thổ nhưỡng chính của Hà Giang như sau: Khu vòm nâng sông Chảy, lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền 2 nhóm đá chính là macma axit và đá biến chất Địa hình nơi đây được xếp vào kiểu núi khối tảng dạng vòm trên nền nguyên sinh phân cắt mạnh Khu vực này có lượng mưa trung bình hàng năm khá lớn (3.000 mm) Với những điều kiện như vậy, đã tạo nên ở đây

một lớp phủ thổ nhưỡng đa dạng

2.3.1.4 Khí hậu thủy văn

* Khí hậu: Khí hậu ở huyện Đồng Văn mang tính ôn đới và phân ra nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau Một năm chia ra thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), thường có sương mù, sương muối, thời tiết khô hanh Lượng

mưa trung bình khá cao, khoảng 1.600 - 2.000mm/năm Ở một vài tiểu

vùng nhiệt độ có lúc xuống tới 4-5°C như ở Lán Xì, Phó Bảng,… thời tiết

khí hậu khắc nghiệt vào mùa đông

Trang 24

* Thủy văn: Đồng Văn có sông Nho Quế và các dòng suối nhỏ ở Lũng Táo, Phó Bảng, Phố Là chảy qua

2.3.1.5 Thảm thực vật

Những đặc điểm về địa hình và khí hậu khiến cho Hà Giang có các loại rừng nhiệt đới Sử sách ghi chép rằng, cho đến cuối thế kỷ XIX, trên đất Hà Giang rừng rậm phủ kín mọi khu vực từ vùng thấp đến vùng cao Rừng có nhiều loại cây cho gỗ quý như đinh, lim, sến, táu, Dược liệu quý như Tam thất, Đỗ trọng, Xuyên khung,… Nhiều loại cây cho củ, cho quả,

có thể nuôi sống con người, có loại cây cho nhựa làm chất gắn, chất thắp sáng, làm chất nhuộm cùng với các loại tre, trúc, mây Các động vật quý hiếm như hổ, báo, sơn dương cùng nhiều loại chim quý

Như vậy, tài nguyên rừng tại Hà Giang là cả một quần thể thực vật, động vật phong phú Song các loại rừng kể trên đến nay chỉ còn lại rất ít, được phân bố không đều ở vùng cao, vùng xa dân cư, ở những nơi núi thấp chỉ còn lại các vạt rừng tre, nứa, hoặc được bao phủ bởi lau, sậy, cỏ tranh

2.3.1.6 Tình hình dân sinh kinh tế xã hội

Hiện nay, huyện Đồng Văn bao gồm 17 xã và 2 thị trấn là: Thị trấn Phó Bảng, thị trấn Đồng Văn và các xã: Lũng Cú, Ma Lé, Lũng Táo, Phố Là, Thài Phìn Tủng, Sủng Là, Sà Phìn, Tả Phìn, Tả Lủng, Phố Cáo, Sính Lủng, Sảng Tủng, Lũng Thầu, Hố Quáng Phìn, Vần Chải, Lũng Phìn, Sủng Trái Người Lô Lô (chia làm 2 nhánh Lô Lô đen và Lô Lô hoa) thường làm nhà dựa lưng vào núi, nhìn ra thung lũng, hầu hết người Lô Lô đều làm kiểu nhà đất trình tường Phụ nữ Lô Lô đen mặc áo cổ vuông chui đầu có các mảng hoa văn hình chim vòng quanh thân áo Tay áo rộng được ghép bằng nhiều vòng vải màu khác nhau, áo kết hợp với váy và mảnh vải hình chữ nhật dài chùm phía sau hông, xà cạp quấn chân Phụ nữ Lô Lô Hoa thường mặc áo cánh cổ tròn, xẻ ngực Không giống như nhóm Lô Lô đen, phụ nữ

Lô Lô hoa mặc áo tay cắt chẽn, quần có trang trí hoa văn chứ không mặc váy Tuy nhiên trang phục nữ giới của 2 nhóm Lô Lô đều trang trí các loại

Trang 25

hoa văn hình tam giác, hình vuông, hình quả thảo quả, hình chim ngó bá, Phụ nữ Lô Lô thường đeo những đồ trang sức bằng bạc, nhôm có sắc trắng, sáng lấp lánh

Nhân dân các dân tộc huyện Đồng Văn có đời sống văn hóa, tinh thần khá phong phú, đa dạng Mỗi dân tộc có những nét văn hóa truyền thốngriêng biệt, khẳng định sự trường tồn trong quá trình hình thành phát triển của dân tộc mình như: Trống đồng Lô Lô, trống đồng Pu Péo, tiếng khèn của dân tộc Mông, các làn điệu dân ca của dân tộc Tày, Nùng, Dao, Giấy,… cùng tồn tại và phát triển trong nền văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam Bên cạnh những nét riêng biệt mang đậm bản sắc dân tộc, trong quá trình giao tiếp văn hóa các dân tộc có sự đan xen lẫn nhau càng tăng thêm vẻ đẹp phong phú, đa dạng của văn hóa các dân tộc tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

Khí hậu Đồng Văn mang tính ôn đới, thích hợp trồng các loại cây ăn quả như: Lê, đào, mận, táo,… và các loại cây dược liệu quý như: Đỗ trọng, huyền xâm, xuyên khung, ý dĩ, thảo quả,… Đồng Văn có giống chè ngon nổi tiếng phù hợp với vùng đất Lũng Phìn Rừng Đồng Văn có thảm thực vật phong phú, thích hợp cho sự phát triểu nhiều loài như: dẻ, sồi, thông đá, pơ mu,… Động vật gồm các loài như: sóc, gà lôi, nhím, trăn, rắn, tê tê,… Cây trồng nông nghiệp chủ yếu là ngô, một số vùng trồng lúa và các loài cây họ đậu

Các loài vật nuôi tại huyện Đồng Văn rất phong phú, người dân nuôi các loại gia súc như: bò, dê, ngựa để lấy thịt, dùng sức kéo và vận chuyển hàng hóa Đồng Văn nổi tiếng với cột cờ Lũng Cú được dựng từ thời Lý, phố cổ Đồng Văn, Hang Mây, hang Sảng Tủng, cổng trời Sà Phìn, làng văn hóa Lô

Lô Chải, cửa khẩu Phó Bảng, di tích kiến trúc nghệ thuậtnhà vương,…ngoài ra, còn có chợ phiên Đồng Văn họp vào sáng chủ nhật hàng tuần cùng nhiều phiên chợ khác của các xã

Huyện Đồng Văn có các món đặc sản như: Mèn mén, cháo ấu Tẩu, ấu trùng ong, mật ong hoa bạc hà, chè Lũng Phìn, thắng cố

Trang 26

2.3.1.7 Dân số lao động

Theo niên giám thống kê năm 2012 Dân số toàn huyện là 65.421 người, mật độ dân số 147 người/km2, Đồng Văn là địa bàn sinh sống của 16dân tộc như: Lô Lô, Pu Péo, Cờ Lao, Dao, Giáy, Tày, Kinh, Hoa,…trong

đó dân tộc Mông chiếm tới 88%

2.3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Thài Phìn Tủng

Xã Thài Phìn Tủng nằm ở sườn và thung lũng cao nguyên đá vôi thuộc huyện Đồng Văn, một huyện biên giới vùng cao cực Bắc của tỉnh Hà Giang và của Việt Nam Thài Phìn Tủng Nằm trên trục đường Quốc lộ 4C

đi từ thị xã Hà Giang lên Đồng Văn, cách thị xã Hà Giang 140km và cách thị trấn Đồng Văn 11km

Thài Phìn Tủng có tọa độ địa lý: từ 23o15’ đến 23o17’ độ vĩ Bắc và từ

105o16’ đến 105o18’ độ kinh Đông

Ranh giới hành chính:

+ Phía Bắc giáp xã Ma Lé

+ Phía nam giáp xã Sính Lủng và xã Sà Phìn

+ Phía Đông giáp xã Tà phìn và một phần xã Đồng Văn

+ Phía Tây giáp xã Lũng Táo

2.3.2.1 Địa hình

Thài Phìn Tủng có địa hình núi đá vôi cao trung bình 1000 - 1200m so với mực nước biển, có đỉnh cao nhất 1.614m là đỉnh Tà Tủng Chứ Một số đỉnh cao trên 1500m như Thài Phìn Tủng (1545m), Hapuda B (1535m), Phín Tủng B (1569m),…

2.3.2.2 Khí hậu

Nhiệt độ trung bình năm 18oC, một năm có tới 7 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20oC Mùa đông tương đối lạnh và khô, có ngày nhiệt độ thấp dưới 0oC Mùa hè khí hậu mát mẻ Lượng mưa trung bình năm 1000 - 1500mm, trong đó mùa khô khoảng 150 - 200mm (có 30 - 50 ngày mưa) và mùa mưa khoảng 1000 - 1300mm (tối đa có 100 ngày mưa) Nơi đây có hai

Trang 27

mùa là mùa mưa và mùa khô rõ rệt: Mùa khô từ tháng 4 - 10 lượng mưa trung bình của tháng mưa nhiều nhất (tháng 8) là 324mm

2.3.2.3 Thổ nhưỡng

Xã Thài Phìn Tủng mang đặc trưng của đất trên núi đá vôi Núi dốc hầu như dựng đứng nên đất thường chỉ tích tụ trong các hốc đá hoặc do sản phẩm phong hóa từ trên trôi xuống Mặt đất lởm chởm, gồ ghề vì các tảng

đá vôi nổi lên Đất thường nằm xen với đá và chiếm diện tích rất hẹp Một

số thung lũng nhỏ có đất bậc thang hẹp

2.3.2.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

Theo báo cáo của UBND xã Thài Phìn Tủng tính đến tháng 6 năm

2009 toàn xã có 15 thôn bản với diện tích 2500 ha đất tự nhiên, với 9 ha rừng( rừng nằm ở sườn giữa và sườn đỉnh núi đá vôi)

Dân số: có 4085 người , chủ yếu là dân tộc mông chiếm 99%, mật độ

khoảng 2 người/1ha

Sản xuất nông nghiệp: Bình quân diện tích đất trồng trọt là 3,6 người/ha 55% đất có cây bụi và thảm cỏ, 15% diện tích núi đá lộ và 19% diện tích đất nông nghiệp, 75% số hộ có diện tích từ 500 - 2000m2, 18% số hộ có diện tích đất canh tác nhỏ hơn 500m2

Phần lớn đất nương rẫy được trồng ngô địa phương, trồng xen canh hoặc luân canh rau cải, đậu hà lan hoặc đậu răng ngựa

Về chăn nuôi: Tổng đàn gia súc, gia cầm hiện có: 11485 con, trong đó:

1129 con bò, 38 con trâu, 1337 con lợn, 797 con dê, 12 con ngựa, 8172 con gia cầm các loại Tính ra có 85% số hộ chăn nuôi bò, 93% số hộ chăn nuôi lợn hoặc dê ( trung bình 2-5 con/hộ) 95% số hộ chăn nuôi gia cầm, trung bình 10-20 con gia cầm/hộ

Về giáo dục và y tế: Có 1 trường tiểu học, trung học cơ sở và mấu giáo với hơn 50 giáo viên Xã có 1 trạm y tế 2 tầng khang trang, làm công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, khám chữa bệnh thông thường và thường xuyên tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình cho cộng đồng dân cư địa phương

Trang 28

2.3.3 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Sà phìn

Sà phìn là xã thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Xã cách thị trấn Đồng Văn khoảng 14km và cách thị xã Hà Giang khoảng 145km Là xã biên giới có 11 xóm với 2.264 dân, dân tộc H’mông chiếm đa số Trung tâm của xã là thung lũng Sà Phìn nổi tiếng với di tích nhà Vương và cao

tế đã được xây dựng kiên cố, các thôn bản đã có trụ sở sinh hoạt và đặc biệt tính bình quân tại xã Sà Phìn mỗi hộ dân đã có gần 2 bể nước phục vụ sinh hoạt, bộ mặt của xã ngày càng được xây dựng khang trang Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường qua các năm học đều tăng, năm học 2004-2005 đạt 98,2% Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao phát triển tương đối rộng khắp Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thường xuyên được chú trọng, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 1,81%

2.4 Nhận xét những thuận lợi và khó khăn của địa phương khu vực nghiên cứu

2.4.1 Thuận lợi

Trang 29

Cao nguyên núi đá huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang có hệ động thực vật phong phú đa dạng Có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới Là cơ sở cho việc bảo tồn nguồn gen động thực vật quý hiếm

Thảm thực vật rừng trên các cao nguyên núi đá vôi mang một ý nghĩa lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ ngồn nước, chống xói mòn, sạt lở đất đá,

Vùng có tiềm năng về du lịch sinh thái với nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh

Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, đặc biệt là dịch vụ du lịch đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân Hệ thống giao thông hầu như đã đến các trung tâm

xã, cơ sở hạ tầng đang từng bước phát triển, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, điện lưới hầu hết các xã đều được sử dụng điện lưới quốc gia, người dân ý thức được tầm quan trọng của rừng, nhờ công tác dân vận tốt, cùng với sự nỗ lực của các cấp chính quyền địa phương nên nhân dân không phá rừng, tác động đến sinh trưởng và phát triển của loài Thiết sam

giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

2.4.2 Khó khăn

Dân cư sinh sống trong khu vực chủ yếu là dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn thấp, đời sống còn nhiều khó khăn chủ yếu sống dựa vào tài nguyên rừng nên đã có tác động không nhỏ đến nguồn tài nguyên rừng nơi

đây

Cơ sở hạ tầng tuy phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được sự phát triển của thực tiễn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, địa bàn rộng, địa hình phức tạp, dân cư sống rải rác gây nhiều bất lợi cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ

tầng cũng như việc tuyên truyền giáo dục ý thức cho người dân

Trang 30

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài cây

Thiết sam giả lá ngắn (pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu tại xã Thài Phìn Tủng và xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 02 năm 2014 đến tháng 05 năm 2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đáp ứng được mục tiêu đưa ra, đề tài nghiên cứu các nội dung sau:

Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Thiết sam giả lá ngắn

(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái loài Thiết sam giả lá

ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố

Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Thiết sam giả lá ngắn

(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

Trang 31

Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo vệ và phát triển loài cây Thiết

sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung

Cây rừng luôn sinh trưởng, phát triển theo thời gian và phụ thuộc vào điều kiện lập địa Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài cây là vấn đề rất phức tạp phải có thời gian lâu dài thì mới có thể xác định được đặc tính sinh vật học, sinh thái học của chúng Chính vì vậy,

phương pháp tiếp cận của đề tài dựa trên nguyên tắc “Lấy không gian thay thế thời gian” để làm cơ sở nghiên cứu cho đối tượng Thiết sam giả lá

ngắn Sơ đồ các bước nghiên cứu như sau:

Hình 3.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát

Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả NC

Thu thập, kế thừa các tài liệu, số liệu đã có

Điều tra, thu thập số liệu tại hiện

trường nghiên cứu

Đặc điểm hình thái:

Rễ, thân, lá, hoa, quả

Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp

Mật độ, tổ thành, chất lượng, nguồn gốc tái sinh

Trang 32

Đề tài áp dụng phương pháp kế thừa số liệu của các công trình đã công

bố kết hợp với điều tra khảo sát, bố trí thí nghiệm ngoài thực địa, phân tích trong phòng, sử dụng thống kê toán học trong lâm nghiệp để xử lý và phân tích các số liệu với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 13.0 và Excel trên máy

vi tính(Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh và Ngô Kim Khôi, 2006) [17]

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp

Sử dụng phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn (ÔTC) điển hình tạm thời nơi có Thiết sam giả lá ngắn phân bố ở các vị trí độ cao khác nhau

để điều tra nghiên cứu các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Căn cứ vào điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đề tài điều tra trên 2 vị trí cụ thể: Sườn và sườn đỉnh

3.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

Hình thái : Áp dụng phương pháp kế thừa số liệu và điều tra khảo sát

bổ sung ngoài hiện trường: Trên mỗi vị trí quan sát 5 cây mẹ Thiết sam giả

lá ngắn trung bình (cây tiêu chuẩn) đại diện cho các cây ở khu vực nghiên cứu, cây sinh trưởng tốt, thân thẳng, không cong queo, sâu bệnh Tiến hành quan sát, đo đếm, mô tả các đặc điểm hình thái: Rễ, thân, lá, hoa, quả của loài Thiết sam giả lá ngắn

3.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

Kế thừa các công trình nghiên cứu về phân bố và sinh thái của Thiết sam giả lá ngắn và bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng của tỉnh Hà Giang, tiến hành điều tra tại hiện trường về vùng phân bố của Thiết sam giả lá ngắn, định vị trên máy GPS, thu thập số liệu về vị trí địa lý, địa hình, độ cao, độ dốc, loại rừng,… Thu thập số liệu khí hậu thủy văn tại các trạm

quan trắc của khu vực nghiên cứu tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

Trang 33

3.4.2.3 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần có loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) phân bố

Điều tra cây gỗ lớn trên các vị trí sườn và sườn đỉnh nơi có Thiết sam giả

lá ngắn phân bố, mỗi vị trí điều tra lập các ÔTC điển hình tạm thời, vị trí các ÔTC được định vị bằng máy GPS, do địa hình dốc, khó khăn ở vùng núi đá vôi chúng tôi tiến hành lập các ÔTC có diện tích 500m2 (10m x 50m) chiều dài trải theo đường đồng mức của địa hình, ÔTC được chọn ngẫu nhiên và đại diện cho các khu vực khác nhau trong phạm vi nghiên cứu Tiến hành điều tra các thông tin trong ô tiêu chuẩn theo phương pháp điều tra lâm học (Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan, 2005) [12] Số liệu thu thập được ở các ÔTC được ghi chép theo các mẫu biểu lập sẵn

Các chỉ tiêu cần xác định là: Đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố, loài cây ưu thế tầng cây cao, tầng cây bụi và tình hình tái sinh của loài Dụng cụ và thiết bị hỗ trợ: GPS, máy ảnh, thước dây, thước kẹp, thước đo cao, bảng biểu lập sẵn

Tại các ÔTC tiến hành mô tả các chỉ tiêu cần thiết phục vụ cho các nội dung nghiên cứu của đề tài như độ dốc, hướng phơi, độ cao, sau đó xác định tên loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây tầng cao:

+ Đường kính thân cây (D1.3, cm) được đo bằng thước kẹp kính hai chiều hoặc thước dây

+ Chiều cao vút ngọn (Hvn, m) và chiều cao dưới cành (HDC, m) được

đo bằng thước đo cao Hvn của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, HDC được xác định từ gốc cây đến cành cây đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng

+ Đường kính tán (Dt, m) được đo bằng thước dây, đo hình chiếu tán

lá trên mặt phẳng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân

Trang 34

3.4.2.4 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh nơi có loài thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) phân bố

Điều tra cây tái sinh được tiến hành đồng thời với điều tra ÔTC Trong mỗi ÔTC thiết lập 5 ô dạng bản (ÔDB) diện tích 25m2 (5m x 5m), các ÔDB được bố trí như sau: Thiết lập 4 ÔDB ở 4 góc của ÔTC và 1 ÔDB ở giữa ÔTC, tiến hành điều tra các tiêu chí sau: Loài cây, Hvn, phẩm chất cây, nguồn gốc cây tái sinh

Hình 3.2 Hình dạng, kích thước ÔTC và sơ đồ bố trí ÔDB

Trên các ÔDB đã lập trên ÔTC 500m2, chúng tôi tiến hành đo đếm

đồng thời cả cây bụi và thảm tươi

Điều tra cây bụi (shrubs) theo các chỉ tiêu: Tên loài chủ yếu, số lượng

khóm (bụi), chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình của từng loài trên

ÔDB, kết quả ghi vào phiếu điều tra cây bụi

Điều tra thảm tươi (ground cover vegettation) theo các chỉ tiêu: Loài

chủ yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình của loài và tình hình sinh trưởng của thảm tươi trên ÔDB

3.4.3 Phương pháp nội nghiệp

3.4.3.1 Xác định tổ thành loài cây tầng cao

Tổ thành loài được tính theo phương pháp của Curtis Mc Intosh, 1951

(dẫn theo Bảo Huy, 1993, 1997) Tổ thành loài cây được xác định theo phần trăm (%) giá trị quan trọng IVIi (Importance Value) của một loài cây

Trang 35

nào đó trong tổ thành của rừng Theo Daniel Marmilod thì những loài có giá trị IVIi ≥ 5% là loài cây ưu thế trong tổ thành của lâm phần

Trị số IVIi (%) được tính theo công thức:

(3.1) Trong đó:

- IVIi (%) là chỉ số mức độ quan trọng (tỉ lệ tổ thành) của loài thứ i

- Ni (%) là độ phong phú tương đối của loài thứ i

+ Gi: là tiết diện thân của loài thứ i

+ S: là số loài trong quần xã

i

(3.4)

Trong đó :

+ Di: là đường kính 1 3 m (D 1.3 ) của cây thứ i

+ S: là số loài trong quần hợp

- RFi (%) là tần xuất xuất hiện tương đối của loài thứ i :

RFi(%) = 100

1

x Fi

iloµicña éMËt

Gi

=

=

Trang 36

+ S: là số loài trong quần xã

Fi= số lượng các loài thứ i xuất hiệntổng số ô mẫu nghiên cứu x100 (3.6)

3.4.3.2 Mật độ cây tầng cao

Cấu trúc mật độ là chỉ tiêu biểu thị số lượng cá thể của từng loài hoặc của tất cả các loài tham gia trên một đơn vị diện tích (thường là 1 ha), phản ánh mức độ tận dụng không gian dinh dưỡng và vài trò của loài trong quần xã thực vật rừng

- Công thức xác định mật độ cây tầng cao như sau:

3.4.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên

- Xác định mật độ tái sinh được tính theo công thức:

N (cây/ha) = (3.8)

Trong đó:

+ n: Là số cây tái sinh điều tra được

+ S: Là tổng diện tích các ÔDB điều tra tái sinh (m 2 )

- Xác định tỷ lệ tổ thành và hệ số tổ thành của từng loài được tính theo công thức:

ni% (3.9)

Nếu:

+ n i% ≥ 5% thì loài i được tham gia vào công thức tổ thành

+ n i% < 5% thì loài i không được tham gia vào công thức tổ thành

.100n

n

m

1 i

Trang 37

- Hệ số tổ thành:

(3.10)

Trong đó:

+ K i : Hệ số tổ thành loài thứ i, + n i : Số lượng cá thể loài i, + N: Tổng số cá thể điều tra

- Phân bố số cây tái sinh theo chiều cao

Đề tài chia chiều cao theo 3 cấp: Cấp I (H < 0,5m); Cấp II (0,5-

1m); Cấp III (>1m)

- Chất lượng cây tái sinh và nguồn gốc tái sinh

Số cây tái sinh ở từng cấp chất lượng và nguồn gốc được tính

n

i = ×

100 N

n

×

Trang 38

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

4.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Thiết sam giả lá ngắn

(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

4.1.1 Đặc điểm phân loại của loài trong hệ thống phân loại

Sắp xếp của loài cây Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia

W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) cứu trong hệ thống phân loại:

- Họ Thông (Pinaceae)

- Phân họ (Laricoideae)

- Chi Hoàng Sam (Pseudotsuga)

- Loài (Phân loài) Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C

Cheng & L.K.Fu, 1975)

4.1.2 Đặc điểm rễ, thân cây

* Đặc điểm rễ cây:

- Rễ cây có rễ trụ ăn sâu vào đất đá và hệ rễ bám rất phát triển giúp

cây đứng chắc trên các sường dốc đá treo leo

- Các rễ ngang phân bố ngay cổ rễ

* Đặc điểm thân cây:

- Thân cây: Cây thân gỗ, không cao quá 15m, ít nhiều vặn vẹo, vỏ mầu nâu nứt dọc, gỗ giác mầu nâu nhạt, gỗ lõi mầu nâu đỏ.(Hình 4.1 - 4.2)

Hình 4.1: Thân cây Thiết sam

giả lá ngắn

Hình 4.2: Gỗ cây thiết sam giả lá ngắn

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Sơ đồ nghiên cứu tổng quát - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Hình 3.1. Sơ đồ nghiên cứu tổng quát (Trang 31)
Hình 3.2. Hình dạng, kích thước ÔTC và sơ đồ bố trí ÔDB - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Hình 3.2. Hình dạng, kích thước ÔTC và sơ đồ bố trí ÔDB (Trang 34)
Hình 4.1: Thân cây Thiết sam - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.1 Thân cây Thiết sam (Trang 38)
Hình 4.3: Lá cây Thiết sam giả lá - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.3 Lá cây Thiết sam giả lá (Trang 40)
Hình 4.4: Lá cây Thiết sam giả lá - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.4 Lá cây Thiết sam giả lá (Trang 40)
Bảng 4.3: Đặc điểm phân bố của loài TSGLN theo độ cao tại xã Thài - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.3 Đặc điểm phân bố của loài TSGLN theo độ cao tại xã Thài (Trang 42)
Bảng 4.4: Đặc điểm phân bố của loài TSGLN theo độ cao tại xã Sà - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.4 Đặc điểm phân bố của loài TSGLN theo độ cao tại xã Sà (Trang 43)
Bảng 4.5: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cao nơi loài Thiết sam giả - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.5 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cao nơi loài Thiết sam giả (Trang 44)
Hình 4.6. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao tại vị trí sườn và đỉnh - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.6. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao tại vị trí sườn và đỉnh (Trang 51)
Bảng 4.10: Đặc điểm cây bụi thảm tươi tại các vị trí sườn và sườn đỉnh - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.10 Đặc điểm cây bụi thảm tươi tại các vị trí sườn và sườn đỉnh (Trang 53)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm