1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Tổng hợp văn mẫu lớp 11, Văn mẫu THPT

51 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 76,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp văn mẫu lớp 11, Văn mẫu THPT,nhung bai van hay lop 11 hoc ki 2,bai van mau lop 11 hoc ki 2,phan tich kho tho dau bai voi vang,cac bai van phan tich lop 11 ki2,van 11,nhung bai van hay lop 11 ve nghi luan van hoc,bài văn cảm nhận thiên nhiên và cái tôi trữ tình của xuân diệu trong 11 câu thơ đầu bài thơ vội vàng,nhan đề bài thơ tràng giang (18) phân tích nhan đề tràng giang (13) nhan đe trang giang (12) ý nghĩa nhan đề bài thơ trang giang (11) giải thích nhan đề tràng giang (10) phan tich loi de tu trong bai trang giang (8) nhung bai van hay lop 11 hk2 (3) phan tich kho tho dau tac pham vội vàng (3) đời thừa (47) đời thừa nam cao (35) phân tích đời thừa (17) doi thua cua nam cao (15) doi thua nam cao (12) Doi thừa (12) những bài văn hay 11 (11) phan tích khổ đầu bài thơ vội vàng (3)

Trang 1

TỔNG HỢP TẤT CẢ BÀI VĂN MẪU LỚP 11( BÀI TẬP

LÀM VĂN MẪU)

Mục Lục

Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu 2

Đề bài: Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận 4

Đề bài: Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao 5

Đề bài: Chí Phèo giết Bá Kiến trong trạng thái tỉnh rượu hay say? Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến? 9

Đề bài: Phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình qua bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin 10

Đề bài: Cảm nhận của bạn về truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam 11

Đề bài: Bình giảng bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm 15

Đề bài: Phân tích bài “Thơ Duyên” của Xuân Diệu 20

Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Vội vàng” của Xuân Diệu: 23

Đề bài: Bình giảng bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu 27

Đề bài: Phân tích bài thơ “Thề non nước” của Tản Đà 32

Đề bài: Phân tích bài thơ “Mồng hai Tết viếng cô Kí” của Tú Xương 35

Đề bài: Phân tích bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến 39

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” 43

Đề bài: Phân tích bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ 46

Trang 2

Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu

Bài làm

Xuân Diệu là nhà thơ say với tình, yêu đời, yêu người một cách tha thiết, mãnh liệt Những tình cảm, của xúc trong thơ của Xuân Diệu luôn dạt dào và tràn đầy, lênh láng trên từng câu chữ Bài thơ “VỘi vàng” đã bộc lộ cái tôi trữ tình độc đáo, đầy sức sáng tạocủa thi sĩ Xuân Diệu Đặc biệt khổ thơ đầu tiên đã bộc lộ rõ nét, mãnh liệt hơn cái tôi cá nhân đầy say mê và muốn được hòa mình vào đất trời, muốn được phá vỡ những quy luâtcủa tự nhiên

“Vội vàng” được lấy cảm hứng từ vẻ đẹp của mùa xuân, của tình yêu và của lòng người Xuân Diệu đã rất tinh tế khi nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên trong mùa xuân, nó khiến cholòng người lâng lâng và không thể cưỡng lại nổi sức hút hút Bởi vậy Xuân Diệu với say với cảnh, say với tình, đến nỗi muốn ôm hết cảnh và tình về mình

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của ong bướm này đây khúc tình si

Có lẽ đọc những vần thơ này, chúng ta nhận ra ít ai mà có tình yêu đến say mê và cuồng nhiệt như thế này Ông chân thành với đời và muốn được sở hữu nó Bởi rằng cuộc sống

có quá nhiều điều tốt đẹp, quá nhiều điều không thể bỏ lỡ Tác giả cuống cuồng muốn ômhết về bản thân mình để say, để uống cạn những gì tốt đẹp nhất;

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Trang 3

Từ ngữ “tôi muốn” được nhắc lại và đặt đầu mỗi câu thơ diễn tả tâm nguyện, nỗi khát khao được sống, được hòa mình với thiên nhiên, được thâu tóm hết những điều tốt đẹp nhất đang diễn ra ở ngoài kia Dường như Xuân Diệu muốn đoạt đi quyền của tạo hóa Vốn dĩ nắng, gió là những hiện tượng rất tự nhiên của tạo hóa; nhưng tác giả lại có ý địnhmuốn “tắt nắng” và “buộc gió” Đó là những việc rất khó khăn, mà thực ra là không thể nhưng Xuân Diệu vẫn muốn đến cháy bỏng Động từ “tắt” và “buộc” càng khẳng định hơn nữa khát khao mãnh liệt ấy.

Đây có thể xem là cái “tôi” độc đáo và đặc biệt của Xuân Diệu tạo cho người đọc một cảm giác rất riêng, rất mới Ông muốn ôm hết xuân sắc của đời để sống, để yêu mãnh liệt hơn nữa

Có lẽ nguyên do ông muốn đi ngược quy luật tạo hóa đó chính là vẻ đẹp quyến rũ, khó cưỡng lại được của thiên nhiên, cảnh vật:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Một đoạn thơ giàu sức gợi hình, gợi cảm đã lột tả được linh hồn, thần thái của thiên nhiênkhi mùa xuân về Tác giả cứ ngỡ có một “thiên đường trên mặt đất” đang hiện ra trước mắt Xuân Diệu đã liên tưởng mùa xuân đẹp và mê đắm như “tuần tháng mật” của những cặp đôi Một sự liên tưởng tinh tế, đầy táo bạo khiến cho người đọc cảm phục thi sĩ.Điệp từ “này đây” đứng đầu câu vừa mang tính chất liệt kê, vừa mang tính chất khẳng định, nhận mạnh vừa như muốn sở hữu những vẻ đẹp đang tràn đầy ở ngoài kia Sau mỗi

từ “này đây” là một loạt những hình ảnh tươi đẹp hiện ra “hoa của đồng nội xanh rì” , “lá của cành tơ phơ phất” Đó đều là những hình ảnh đặc trưng của mùa xuân, của những gì thanh khiết và tươi đẹp nhất Tất cả những hình ảnh ấy khiến cho thi sĩ động lòng và muốn sở hữu Đây có thể nói là khát khao, là ước muốn mãnh liệt nhất mà Xuân Diệu đang muốn sở hữu

Ngôn ngữ của Xuân Diệu thật mượt mà, êm ái, đẹp một cách lạ kì kết hợp với giọng thơ gấp gáp, nhanh khiến cho người đọc cũng có cảm giác xốn xang đến khó tả Đây có thể coi là sự tinh tế , tài hoa của thi sĩ Xuân Diệu

Chỉ với khổ thơ đầu này, Xuân Diệu đã khiến người đọc mê đắm trước cảnh thiên nhiên hữu tình, thơ mộng, tuyệt vời của mùa xuân Đó thực sự là những nét đẹp trong veo của mùa xuân

Trang 4

Đề bài: Phân tích nhan đề và lời đề từ bài thơ Tràng Giang của Huy Cận.

Bài làm

Huy Cận là nhà thơi tiêu biểu của phong trào Thơ mới với hai phong cách sáng tác theo từng thời kì của lịch sử Một giọng thơ u uất, sầu não trước cách mạng tháng Tám đối lập với giọng thơ sôi nổi, hào hùng sau cách mạng tháng Tám Bài thơ “Tràng giang” tiêu biểu cho phong cách u uất, não nề của Huy Cận trước cách mạng tháng Tám với nhiều nỗi niềm, trăn trở Đặc người người đọc ấn tượng với nhan đề và lời đề từ độc đáo

Nhan đề chính là cửa ngõ, là điểm xuất phát để người đọc có thể lần mò theo đó khám phá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Và bài thơ “Tràng giang” cũng vậy, ý nghĩa, nỗi niềm thầm kín được gửi trọn trong nhan đề vẻn vẹn hai từ “Tràng giang” Mỗi nhan

đề đều toát lên ý nghĩa riêng biệt làm nổi bật lên chủ đề, tư tưởng của tác phẩm đó

Một số nhan đề có tính chất gợi mở, một số nhan đề khằng định nội dung Tuy nhiên, sáng tạo theo cách viết nào thì nó cũng bao hàm những dụng ý nghệ thuật riêng Nhan đề của bài thơ có tên “Tràng giang” với vần “ang’ chủ đạo vừa có ý nghĩa gợi mở, vừa tạo nên sự u buồn dai dẳng và nặng nề, cứ triền miên trong tâm thức của tác giả “Tràng giang” hay còn gọi là “trường giang” là một từ hán việt ý chỉ con sông dài Nhưng tác giảlại lấy tên “Tràng giang” chứ không phải “Trường giang” Bởi vốn dĩ “Trường giang” chỉ

có ý nghĩa chỉ con sông dài đơn thuần như thế; nhưng ngược lại “Tràng giang” vừa nói con sông dài mênh mông, vừa nói lên tâm trạng, nỗi niềm của chính tác giả Vần “ang” kéo dài ra như nỗi niềm của Huy Cận chưa bao giờ vơi khi đứng trước con sông Hồng rộng lớn mênh mông này Và hình ảnh cụ thể của dòng “tràng giang” có lẽ là dòng sông Hồng Sông Hồng là điểm nhấn khơi gợi cảm xúc của tác giả, đồng thời chồng chất những bế tắc không lối thoát cho những con người muốn đổi mới nhưng không tìm được con đường đi riêng cho chính mình Như vậy nhan đề “Tràng giang” đã được làm sáng

rõ, với ý nghĩa sâu xa như vậy

Còn về lời đề từ, không phải bài thơ nào cũng có Thực ra lời đề từ chính là tiêu điểm thâu tóm nội dung của tác phẩm, nhưng nội dung này chỉ là ở bề chìm, yêu cầu người đọccần phải đi sâu khai thác mới có thể khám phá ra điều này Lời đề từ của bài “tràng giang” là “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, một câu thơ thốt lên nhưng đầy ẩn ý nội dung và nghệ thuật Dường như âm điệu chủ đạo của lời đề từ là sự nhẹ nhàng, buồn manmác, buồn len lỏi vào tâm hồn của con người Với biện pháp đảo trật tự cú pháp “bâng khuâng” lên đầu câu, Huy Cận đã khiến người đọc vướng vào những tâm sự không thể giãi bài, cũng như khó có thể nói ra cùng ai

Trang 5

Huy Cận muốn mở ra một không gian rộng lớn, mênh mông của dòng sông để đi sâu vào chiều dài, chiều sâu của lòng người Hẳn đây là một dụng ý nghệ thuật tuyệt vời mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc khác nhau Huy Cận đứng trước sông Hồng nhưng lại nhớ chính con sông này, có chăng là tâm sự đứng trước nhiều con đường, nhiều ngã rẽ nhưng lại không biết chọn con đường đi nào trọn vẹn nhất.

Với nhan đề và lời đề từ đầy ý nghĩa như thế nào, bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận đã

có sức ám ảnh lớn đối với người đọc

Đề bài: Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao.

Trang 6

Qua tác phẩm của Nam Cao, ta thấy những người tốt, những người có mơ ước hoài bão, những người lao động trung thực, cần cù, sao mà khổ quá, khổ cả về vật chất và tinh thần!

Trong hoàn cảnh như vậy, những người như Từ chỉ biết chịu đựng, nhẫn nhục, và càng hiểu chồng, thương chồng Nhưng Hộ là một nhà văn, Hộ càng thấy hoàn cảnh sống thật

là nặng nề, không lối thoát, một bi kịch thật sự Hộ có lúc nói ra miệng là vợ con làm khổmình, nhưng trong thâm tâm anh biết không phải như vậy Chẳng biết trách ai, anh tự trách mình, xỉ vả mình, gặm nhấm một mình nỗi bất bình và đau khổ

Nhân vật chính trong tác phẩm là nhà văn Cho nên trong tác phẩm, thông qua cuộc sống

và nhất là suy nghĩ của nhân vật Nam Cao đã đề cặp trực tiếp đến một vấn đề mà ông thường xuyên quan tâm, đó là vấn đề sáng tạo nghệ thuật, quan niệm và yêu cầu của ông

về văn chương

Hộ rất thiết tha với nghề văn Sáng tạo văn chương là khát vọng, là lí tưởng của đời Hộ Lúc đầu, Hộ coi khinh những lo lắng tùn mùn về vật chất, dồn hết tâm sức vun trồng cho cái tài mỗi ngày một thêm nảy nở Hộ đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán Hộ biết đi vào nghề văn sẽ nghèo, sẽ khổ, nhưng Hộ chấp nhận Văn chương cũng mang lại cho Hộ niềm vui không gì sánh được Mỗi lần Hộ tâm sự với vợ nhân đọc được một đoạn văn hay:

« … Này, Từ ạ… Nghĩ cho kỉ, đời tôi không đáng khổ mà hóa khổ, chính tôi làm cái thântôi khổ, tôi mê văn quá nên mới khổ Ấy thế, mà tuy khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi Tôi cho rằng: những khiđược đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay thì dẫu ăn một mónngon đến đâu cũng không thích bằng Sướng lắm! Sao thiên hạ lại có người tài đến thế?”Theo Hộ, một tác phẩm thật có giá trị, tác phẩm Hộ mong viết được trong cả một đời văn của mình, không thể chỉ có giá trị địa phương thôi, không chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội, mà “Phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho

cả loài người Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau dớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tính bác ái, sự công bình Nó làm cho người gần người hơn”

Chắc chắn đó cũng là mong ước, là yêu cầu của Nam Cao về một tác phẩm hay, về văn chương Văn chương không chỉ là nghề mà còn là nghiệp, một sự ràng buộc, một nhu cầunội tại văn chương, về phương diện sáng tác cũng như thưởng thức, là nỗi đau mà cũng làniềm vui, là hạnh phúc, tự nguyện của từng người Văn chương là lĩnh vực của tài năng, của sự liên tài Tác dụng cao quý của văn chương là nhân đạo hóa xã hội và cuộc sống, làm cho con người cảm thông với nhau, gần gũi nhau

Trang 7

Nam Cao phê phán nghiêm khắc bệnh cẩu thả trong văn chương xem những người viết văn cẩu thả là những tên bất lương Ông viết: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” Nam Cao cũng khẳng định rất rõ ràng viết văn, làm nghệ thuật là tìm tòi phát hiện, sáng tạo: không ngừng, mang đến cho người đọc một cái gì lạ, một cái gì mới, một cái gì độc đáo, mà điều này thì chỉ có tài năng và công phu mới làm được Nam Cao viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”!

Đó là quan niệm rất chính xác, một yêu cầu rất cao về văn chương Nhà văn, nghệ sĩ tất nhiên phải biết “hành nghề”, phải am hiểu về kĩ thuật, phải “khéo tay” ở một mức độ nhấtđịnh, nhất là trong một số ngành nghệ thuật nào đó, chẳng hạn như điêu khắc, biểu diễn

âm nhạc v.v… Nhưng nhà văn, nghệ sĩ, về bản chất hoạt động mà nói, không phải là người thợ, cho dù là thợ khéo tay, làm theo những kiểu mẫu có sẵn, theo “đơn đặt hàng” của người khác Văn chương nghệ thuật là hoạt động tinh thần, là “Thôi thúc bên trong”

là tình cảm, tư tưởng không nén nổi của người nghệ sĩ cất lên thành lời, thành nhạc, thànhtranh… Chỉ có thứ văn chương “gan ruột”, không viết ra không được đó mới rung động được tâm hồn người khác, mới có giá trị

Hơn nữa, trong lĩnh vực văn chương, chỉ có thật, chân thành, chưa đủ, mà còn phải sâu sắc, phải mới, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” Không sâu sắc, không phát hiện và tạo được cái mới, không có được một cách nhìn mới, tiếng nói mới, thì cũng không thể nào có được một chỗ đứng thật sự trong thế giới nghệ thuật.Theo Nam Cao những nguời cầm bút chì viết được những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi nhữngtình cảm nông cạn, “diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi”, chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương, là những kẻ vô ích, những người thừa Trong tác phẩm, Nam Cao đã dùng các khái niệm người thừa, đời thừa theo một nghĩa xác đinh Thừa là không có ích, không cần thiết cho con người, xã hội Chỉ có những con người trung thực, những người có suy nghĩ đúng và có yêu cầu về giá trị của con người trong cuộc sống, về sự sáng tạo đích thực, mới biết thế nào là thừa, mới dám nhận và xót xa về tình trạng thừa của mình Người thừa, đời thừa là một nhận thức, một tiếng kêu về sự vô vị, bế tắc trong cuộc sống

Chủ đề này Nam Cao đã nêu ra dưới dạng này, dạng khác trong nhiều truyện ngắn của mình, đặc biệt là sau này đã khai thác một cách rộng hơn, sâu hơn trong tiểu thuyết Sống mòn

Những nhân vật của Nam Cao, đặc biệt là những nhân vật trí thức, thường sống nhiều vớinội tâm Để trình bày đời sống bên trong của nhân vật, có khi tác giả trực tiếp dùng biện

Trang 8

pháp miêu tả tâm lí, nhưng lại hay để cho nhân vật tự bộc lộ, tự nói với mình, “độc thoại bên trong” Trong Đời thừa, Nam Cao cũng kết hợp hai biện pháp: miêu tả những hành động cử chỉ của nhân vật, quan hệ, lời ăn tiếng nói của nhân vật, đồng thời để nhân vật tựbộc lộ, tự nói với mình (độc thoại bên trong) Chính do vậy mà tác phẩm mang nhiều tínhchất trữ tình, nhiều đoạn văn thật sự làm xúc động người đọc, vì những sụy nghĩ chân thành, vì những nỗi đau của nhân vật và của chính tác giả Ở chiều sâu của Đời thừa, có một chất thơ từ niềm khát khao cái đẹp, khát khao một cuộc sống trong đó con người biếtthương yêu nhau và có thể sống một cách xứng đáng, có ý nghĩa Nam Cao hay nói đến Tsêkhốp, mong viết được như Tsêkhốp Ở Nam Cao, cũng có chất thơ, chất trữ tình, có nỗi buồn, tình yêu thương xót xa đối với con người như ở Tsêkhốp Và, cũng như

Tsêkhốp Nam Cao cảm nhận sâu xa ý nghĩa và bi kịch của cuộc đời trong những cái tư tưởng chừng nhỏ nhặt, vô nghĩa hằng ngày ở xung quanh

Những cảnh bực bội, thương tâm trong gia đình mà Hộ và Từ đã trải qua, lòng tự tin đến ngông nghênh và sự chán chường, những ý nghĩ cao quý và tầm thường luôn giằng xé tâm trí Hộ trong khi cầm bút, cũng là chuyện thường tình, không có gì đáng nói, nhưng qua tài năng và tâm hồn của Nam Cao đã trở thành nỗi đau, bi kịch của con người, của cuộc sống, nỗi đau và bi kịch của con người thừa, của đời thừa Tác phẩm của Nam Cao luôn luôn khiến người ta chú ý hơn, nhìn sâu hơn vài cái bình thường, cái hằng ngày ở xung quanh và ở chính mình, sống có ý thức hơn, nhân ái hơn, kéo con người ra khỏi tìnhtrạng nhỏ nhen, lố bịch, độc ác, tự bằng lòng một cách vô lối, tức là làm cho người ta “bấtan” như một nhà văn có tên tuổi đã nói về chức năng của văn chương

Đời thừa có một kết cấu rất tự nhiên Thực chất đây là một loại truyện không có cốt chuyện Sự việc hầu như không có gì Nhà văn có nói qua về quá khứ bất hạnh của Từ, vềquá trình Hộ và Từ quen biết nhau và nên vợ nên chồng, về một buổi gặp gỡ giữa Hộ và các bạn làng văn, nhưng tập trung chủ yếu vào suy nghĩ và nỗi khổ tâm củ Hộ vì không được thực hiện nguyện vọng thiết tha của đời mình là viết văn, hoàn thành những tác phẩm thật có giá trị như mình mong ước và tin rằng có khả năng làm được Lẽ ra phải dồn hết tâm lực cho văn chương, cống hiến cho sự nghiệp cao quý đã lựa chọn tất cả những gì tốt đẹp nhất của mình, thì Hộ lại tất tưởi lo kiếm sống, luôn luôn bị quấy rầy bởicảnh gia đình nheo nhóc, túng quấn, do đó mà con người cũng trở nên thô bỉ, hèn kém, mộng tưởng ban đầu cũng tàn lụi dần Tâm trạng của Hộ bị giằng xé một bên là khát khaosáng tạo, vươn tới những đỉnh cao trong văn chương và, bên kia, là những đòi hỏi thực dụng, cấp bách của cuộc sống gia đình vất vả, thiếu thốn hàng ngày Đặc sắc và chiều sâucủa tác phẩm là ở sự giằng xé trong tâm trạng của Hộ, ở chất lượng những suy nghĩ của nhân vật chính phát ngôn cho tác giả về cuộc đời, về sáng tạo văn chương

Có thể nói nhân vật trong Đợi thừa là một nhân vật – tâm trạng Chất thơ, chất trữ tình bàng bạc khắp tác phẩm do đấy mà ra

Trang 9

Chiều sâu và sự mới mẻ của chủ đề, chất lượng suy nghĩ, chất thơ và chất trữ tình đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho Đời thừa, cũng như cho nhiều tác phẩm khác của Nam Cao

có cấu tạo một cách rất tự nhiên, khiến cho người đọc có thể trở lại nhiều lần với truyện ngắn của ông, dừng lại trên từng ý, từng câu văn ông viết ra

Đề bài: Chí Phèo giết Bá Kiến trong trạng thái tỉnh rượu hay say? Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến?

Bài làm

Chí Phèo là nhân vật điển hình xuất hiện sắc của nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn ChíPhèo ra đời năm 1941 Đây là một người nông dân cùng quẫn vốn lương thiện, hiền lành,

tự trọng nhưng đã bị Bá Kiến cho đi tù oan, bị lưu manh hóa, côn đồ hóa Sau khi gặp Thị

Nở, được hưởng tình cảm yêu thương Chí muốn trở lại lương thiện Tuyệt vọng vì khôngthể hoàn lương Chí cầm dao đến nhà kẻ thù, sau khi đã nốc rất nhiều rượu Vậy Chí Phèogiết Bá Kiến trong trạng thái say hay tỉnh?

Theo tác giả miêu tả thì Chí đã uống đến hai chai rượu Cũng theo truyện thì Chí rắp tâm đến nhà thị Nở “để đâm chết cả nhà nó Chí có ý định đó vì Thị Nở nghe lời bà cô của thị,

đã cự tuyệt quan hệ với Chí Phèo Nhưng rồi Chí không đến nhà người tình bội bạc mà lại đến thẳng nhà Bá Kiến Nhà văn đưa ra lời bình: “Những thằng điên và những thằng say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi chúng định làm” Căn cứ vào những chi tiết đó, ta có thể kết luận Chí Phèo xông đến và đâm chết Bá Kiến trong trạng thái say

Nhưng phân tích và kết luận như thế chưa đủ Trước khi hạ thủ kẻ thù, Chí đã nói những lời rất tỉnh táo Chí nói ba câu rất gọn và rõ Một câu khắng định quyết liệt: “Tao muốn làm người lương thiện!” Một câu hỏi uất ức: “Ai cho tao lương thiện?” Rồi một câu phủđịnh đau xót: “Tao không thể là người lương thiện nữa” Chí Phèo muốn Chí Phèo hỏi vàChí Phèo hiểu mình không thể trở thành người lương thiện được nữa với những vết mảnhchai trên mặt, dấu vết của tội lỗi, của bao lần rạch mặt, ăn vạ, ức hiếp, gây rối Như vậy làChí rất tỉnh Vả lại lời văn của Nam Cao cho chúng ta thấy rõ khi Chí Phèo uống thêm chai rượu nữa nhưng “càng uống càng tỉnh ra” Tỉnh ra, Chí buồn, khóc rưng rức rồi ra đivới con dao ở thắt lưng Phải nói, theo cách dẫn truyện Nam Cao, Chí Phèo đang tỉnh

Do đó, người đọc hiểu Chí Phèo đã giết Bá Kiến trong trạng thái vừa tỉnh vừa say, nhưng

có lẽ phần tỉnh nhiều hơn

Cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến có nhiều ý nghĩa Thứ nhất, nó tố cáo xã hội thực dân – phong kiến đã tàn nhẫn đẩy người cố nông như Chí Phèo vào bế tắc, cùng đường không lối thoát Chí Phèo vốn lương thiện, có nhân cách Chỉ vì sự ghen hão của

Trang 10

tên bá hộ cáo già, anh trai làng vô tội đó đã phải vào tù đến bảy, tám năm Nhà tù của thực dân đã lưu manh hóa con người lương thiện ấy Rồi Bá Kiến tiếp tục đẩy sâu Chí Phèo vào vũng bùn tội lỗi, biến anh thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại Kết cục là Chí Phèo tự sát sau khi đã đâm chết tên thủ phạm Bá Kiến Anh chưa tìm được lối thoát, một mặt không thể sống hung hãn, ngập trong rượu và máu như trước được nữa, mặt khác cũng không thể trở lại con đường sống lương thiện Ý nghĩa khách quan của cái chết Chí Phèo là khi chưa được ánh sáng cách mạng soi rọi thì cuộc đời người nông dân nghèo hèntrong xã hội cũ rất dễ rơi và kết thúc bi thảm.

Cái chết của Bá Kiến và Chí Phèo còn nói lên sự phản kháng của con người dưới đáy xã hội Dù sự phản kháng này là manh động, liều lĩnh, đơn độc nhưng cũng giáng một đòn chí tử, đích đáng vào kẻ có tội ác, đầu mối của những bi kịch trong cái làng Vũ Đại khốn khổ Kẻ gieo gió đã phải gặt bão Bá Kiến đã bị trừng phạt bởi chính người mà hắn đã đào luyện thành tên tay chân đắc lực Bá Kiến chết cùng với tội lỗi của hắn Chí Phèo chết trong người cố nông đáng thương, đáng giận ấy gục xuống trên vũng máu, chưa phải

là hết chuyện Sẽ có thể có Chí Phèo con ra đời nếu xã hội bất công, xấu xa ấy chưa thay đổi

Đề bài: Phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình qua bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin

Bài làm

Bài thơ Tôi yêu em là một bài thơ tình đặc sắc của Puskin Ta tìm gặp ở bài thơ tâm hồn Nga, tính cách Nga, hồn thơ Nga sôi nổi, đằm thắm, ngọt ngào…

Tôi yêu em đến nay chừng có thể

Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai…

Ghi nhận sự có mặt của câu thơ đầu là hình ảnh của chủ thể trữ tình Nó không bằng một cái tên cụ thể nào hết, mà là em và tôi Nhân vật tôi ư? Không cần thiết phải nghi vấn, là người khác hay tác giả Thống nhất nhưng không đồng nhất Thơ trữ tình luôn lưu ý ta vềđặc điểm này Và em nữa, cũng như tôi vậy thôi Chỉ có điều em và tôi là hai trong một chính thể Tôi yêu em, vâng, tôi đã yêu, yêu say đắm, yêu vô vọng và cuồng nhiệt Em không biết ư? Nó chưa tắt đâu, chưa tàn đâu, hay đúng hơn, sẽ không bao giờ lụi tàn đâu Tôi yêu em bằng tình yêu số một, tình yêu duy nhất, tình yêu vĩnh cửu Có lẽ em không biết, nhưng với tôi, trước sau không khoảng cách, bởi tôi là tôi Tôi không phải là một người nào khác

Trang 11

Nhưng không muốn em bận lòng thêm nữa

Hay hồn em phải gợn sóng u hoài

Từ sâu thẳm của tôi là nỗi đau của sự chấm dứt một mối tình – một mối tình cô đơn và lạc lõng Tôi yêu em, nhưng tôi không muốn làm bận em, hay gây day dứt cho em Tôi đứng giữa hai con đường Tất cả đều khó tin và đều buồn như nhau Mặc dầu thế tôi càngyêu em Trái tim mách bảo với tôi không thể rủ bỏ dễ dàng được đâu Đã có sự mâu thuẫn giữa con người suy nghĩ và con người hành động Một mối mâu thuẫn giữa tình cảm và lí trí đã giằng xé tôi, co giật tôi Chia tay thì tôi đã tự nguyện chia tay, nhưng câu thơ sao trăn trở rớm máu! Tự nguyện mà sao lòng quặn lại, xót xa… Càng day dứt, càng đau, càng yêu Tôi muốn có em, nhưng tôi biết rằng không thể Tôi đứng đứng ở tư thế yêu và rất yêu nhưng chỉ là tình cảm từ một phía Tình yêu tôi mất phương hướng, tôi chao đảo, tôi chới với Em đấy, nhưng rất xa xôi, có thể tôi không bao giờ với tới được.Tôi yêu em âm thầm không hi vọng

Khi rụt rè, khi hậm hực lòng ghen

Tôi đơn phương? Điều đó quá rõ Biết rằng tôi yêu em, nhưng : cũng biết là không mơ cóđược em Tôi yêu một cách vô vọng Ý thức đấy tôi tới một mối bi kịch sâu sắc Điệp từ Tôi yêu em như một minh chứng về sự yêu tột đỉnh của tôi Yêu và ghen, đó là sắc thái tựnhiên của tình yêu, càng đơn phương, càng vô vọng, tôi càng tự biểu hiện mình rõ rệt và

tự nhiên hơn Bài thơ Tôi yêu em – đó là tiếng lòng của tôi, nhưng tôi phải để cho em tự

do lại là tiếng nói đầy lí trí Rụt rè, mãnh liệt, hậm hực, ghen tuông… trong tình yêu, ấy

là điều dễ có Si mê, đau khổ và cao thượng, vô vọng nhưng kết thúc, tôi đã thốt lên:Cầu cho em được người tình như tôi đã yêu em

Một câu thơ vị tha, một tấm lòng vị tha Tình đơn phương mà không tàn lụi đi Trái lại, tình cảm của tôi càng thêm mãnh liệt Giọng điệu cũng như tâm trạng thơ, vừa thiết tha, vừa đau đớn Đó chính là ấn tượng riêng của tôi yêu em

Bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu hi vọng, bao nhiêu cay đắng và day dứt, tôi đã cất lên được tiếng lòng mình: Tôi yêu em

Đề bài: Cảm nhận của bạn về truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.

Bài làm

Có một thời, lối “tư duy từ điển” đã làm bó tay không ít người nghiên cứu văn học Việt Nam, đẩy họ đến tình trạng lay hoay trong “cái rọ” của khái niệm Dựa vào khái niệm, người ta khảo cứu văn chương như một thực thể bị chia cắt một cách siêu hình thành

Trang 12

những dòng, những khuynh hướng khác nhau Khi đem những tiêu chỉ của chủ nghĩa hiệnthực phê phán qui chiếu vào văn học 1930 – 1945 sẽ dễ thấy nổi lên tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… còn nhiều sáng tác của Thanh Tịnh, Thạch Lam… Như bị lùa vào cái dòng lãng mạn (mà lãng mạn trong cái dân tộc lầm than thì không thể tha thứ!) Tuy nhiên, lịch sử bao giờ cũng mang tính khách quan của nó, “tư duy mới” đã gạt

bỏ những hướng đi duy lí chủ quan, để tuy chậm, song chưa muộn, mấy năm gần đây Thạch Lam và một số “danh bút” của một thời văn chương được khẳng định trở lại.Đọc Thạch Lam, càng thấy ông thật sự là cây bút tài hoa, một nhà văn mà tri thức phươngTây rất phong phú cũng không lấn át được một tâm hồn “thuần Việt” Sáng tác của ông trong cái vẻ ngoài bình dị là một tấm lòng mẫn cảm, một nhân cách văn hóa, một người bạn của lớp người nghèo khổ ở thời đại ông Những truyện ngắn “Nhà mẹ Lê”, “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam chỉ khác với “Tắt đen”, “Bước đường cùng”… ở điển hình và tiếng nói riêng của tác giả và cái chung duy nhất giữa họ là một tấm tình hòa cảm, bao dung.Khi nghiên cứu khu vực lưu trú của người Việt, chúng ta thường chú ý tới hai khu vực cơbản: thành thị và nông thôn, ít lưu tâm tới khu vực cư trú tồn tại ở “ranh giới mờ” giữa lốisống đô thị và làng xã là cái phố huyện Phố huyện – có thế được coi như trạm trung chuyển của sự giao lưu giữa thành thị và nông thôn Dấu ấn của hai nhịp điệu sống, hai lối sống cơ bần của xã hội để lại khó rõ nét trong sinh hoạt cộng đồng phố huyện Ở thời của Thạch Lam (thậm chí tới ngày nay) văn minh đô thị chưa là tiêu biểu cho xã hội, làng

xã và các phố huyện mới thật sự là bộ mặt của xã hội Dạo quanh bất kỳ một phố huyện nào cũng có thể xác định những nét cơ bản về phương thức sinh tồn, đặc điểm kinh tế… của một cơ cấu địa phương Rộng hơn, có thể hiểu được những nét lớn của xã hội, vì lẽ, mấy nghìn năm nay “Văn hóa lúa nước” tạo dựng nên một xã hội Việt nam truyền thống; bên những ưu điểm còn buộc nó phải vận hành trong một vòng quay tù túng, ngưng trệ

Đã từ lâu, nhiều người nhận ra, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” dường như đã nhận chân theo kiểu văn chương Nên không ngẫu nhiên, Thạch Lam lại chọn một phố huyện để nhận chân sự mòn mỏi đơn điệu của lớp người đông nhứt trong xã hội lúc đó là những người nghèo

“Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ, từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều về Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn trong lò Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời

Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”… Phố huyện lúc chiều tàn thật thanh bình, yên ả; cũng là lúc cư dân của nó bước vào một đêm mới, lặp lại những gì đã diễn ra như bao nhiêu đêm trước: Chị em cô hàng xén lại ngồi trước cửa ngóng trời, ngóng đất, ngóng người; mẹ conchị hàng nước lại dọn cái bàn nước; bác hàng phở nhóm lại bếp lửa; gia đình bác Xẩm lạichờ khách đến nghe…” Chừng ấy con người trong bóng tối mong đại một cải gì tươi

Trang 13

sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”… Thật ra, nhịp điệu sống không nhất thiết chỉ có những ngày vui vẻ Xã hội dù tươi đẹp vẫn có những ngày hè mưa buồn, những ngày thu heo hắt, những ngày đông ảm đạm, nhưng đó là sự bất thường của tự nhiên Còn cái đêm u tịch được Thạch Lam dựng lại là cái đêm buồn mang số nhiều: “Từ khi có cái cửa hàng này, đêm nào Liên và em cũng ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc bàng với cái tối của quãng phố xung quanh”, “Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn từ chập tôi cho đến đêm”… Dạng huống số nhiều của hành động chỉ ra sự lặp lại nhàm chán của sinh hoạt phô huyện, nhàm chán nhưng vẫn lặp lại vì miếng cơm, manh áo: “Ôi chao, sớm muộn gì thì có ăn thua gì” “Cũg như mọi đêm Liên không còn trông mong còn ai đến mua nữa”, một cách kiếm sống hú họa, vật vờ Tác giả đồng điệu với Liên và những người xung quanh cô bằng cách dựng lại mọi chi tiết từ không gian rộng đến sự vật nhỏ nhoi đang chìm trong bóng đêm: “Đường phố và các con ngõ rộng dần dần chứa đầy bóng tối”, “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn”, “đêm tối vẫn bao bọc xung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng” Tối đến mức

cả phố huyện đều “thu nhỏ lại” Vài ánh sáng lọi qua phên nứa, ngọn đèn con của chị hàng nước, cái bếp lửa cửa bác hàng phở trở nên lắc lay thảm hại trước bóng đêm, đến ngay cả âm thanh cũng chìm nghỉm trong đó: “Tiếng dàn bầu bần bật trong yên lặng”

“Trống cầm canh ở phố huyện đánh tung lên một tiếng ngắn khô khan, không vang động

ra xa, rồi chim ngay vào bóng tối”, “tiếng vang động của xe hỏa đã nhỏ rồi, và mất dần trong bóng tối” Bóng tối nhấn chìm cả âm thanh thì quả là rất gợi, nhưng rất thực, thực bởi diễn biến tâm trạng của nhân vật: “đêm tối với Liên quen lắm”, “tâm hồn Lièn yên tình hẳn, có những cảm giác ma hồ lihônq hiểu”, “Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự

xa xôi không biết” Trạng thái bàng bạc của tâm hồn Liên là trạng thái của cả nhóm người quanh Liên qua những mẩu đối thoại rời rạc, vẩn vơ, những câu hỏi đã quen và những câu trả lời cũng đã quen Nghĩa là mọi người cùng mòn mỏi, cùng u ám, cùng vô định

Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng đêm, giữa âm thanh và tĩnh lặng đem lại cảm giác nặng nề và chị em Liên “buồn ngủ ríu cả mắt”, “vẫn cố gượng để thức khuya chút nữa”,

“vì muốn được nhìn chuyến tàu” Chuyến tàu như ngôi sao băng đêm nào cũng vụt qua thinh không phố vắng vào lúc chín giờ Chuyến tàu đến rồi đi, nó thuộc về một thế giới khác Nó lướt qua phố huyện đang chìm trong đêm đen Nó tỏa sáng Nó vang động Nó

xa xăm Nó là giấc mơ huyền ảo Nó như không có thật Chuyến tàu vụt qua chỉ đủ sức

an ủi những con người lam lũ đang an phận nghèo Tuy thế nó vẫn là một hy vọng Chuyến tàu chấm dứt một ngày sinh sống của phố huyện về một thời gian và làm tăng nỗiđợi chờ khắc khoải cho ngày hôm sau

Thử đặt một giả định: Phố huyện không có chuyến tàu đi qua hàng đêm, con người sẽ gửigắm ước mơ khoáng hậu của họ vào đâu? Sẽ là khó trả lời, vì chuyến tàu là sự tương phản cuối cùng, mang ý nghĩa nhất mà Thạch Lam cần biểu đạt Mọi hình ảnh không gian, thời gian sự vật, con người trong trạng thái chờ đợi mòn mỏi suốt mấy trang giấy chỉ nhằm tới chi tiết cuối cùng: lúc con tàu đi qua Con tàu hi vọng đồng thời là “thuốc

Trang 14

thử” đối với xã hội và kiếp người Là nhà văn tâm huyết với dân tộc, Thạch Lam nắm bắt được sự ngưng trệ, tù túng của xã hội ông Ông muốn ánh sáng văn minh chiếu rọi lên đêm đen của dân tộc Ông không hướng nhân vật của ông tới hành động tự phát của anh Pha, tới sự nhẫn nhục có bản lĩnh của chị Dậu, ông hướng họ tới văn hóa, để vượt thoát khỏi tình trạng ngột ngạt Truyện ngắn không có bóng dáng một xã trưởng, một thầy lý, một thầy đội nào… nhưng vẫn làm người đọc liên tưởng tới nguyên nhân nỗi thống khổ của những con người trong truyện.

Ở “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam không lựa chọn lối viết miêu tả sự vật, không đứng ở vị trí người kể chuyện Bằng các cảm giác, các tâm trạng, ông đưa người đọc vào thế giới nội tâm của nhân vật, qua thế giới nội tâm người đọc liên tưởng, tự hình dung về điều tác giả muốn đặt ra Bút lực của ông thật vững vàng khi phân tích cảm giác một cách nhẹ nhàng, tinh tế nhưng biểu cảm và sâu sắc Những câu văn đẹp, mang chất thơ giàu hình ảnh như của Thạch Lam thật hiếm thấy trong văn chương Không lẫn vào đâu được, cái chợ huyện

đã tan lúc chạng vạng: “Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, bã mía Một mủi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi, quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”… Phải là người có khả năng quan sát đầy mĩ cảm mới có thể viết được câu văn như: “Qua khe lá của cành hàng ngàn ngôi sao lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vừng sáng nhỏ nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một”… Trong “Hai đứa trẻ”, những câu văn đẹp mang một hiệu năng đa dạng: Vừa hấp dẫn đầy chất thơ, vừa buồn man mác; vừa xót xa thương cảm, vừa thêm gắn bó với quê hương

Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là khoảnh khắc của mọi khoảnh khắc, là một đêm buồn bã giữa những đêm buồn bã, một đêm có “dấu chấm lửng” ở cả hai đầu Thạch Lam đã lựa chọn đúng cả không gian, thời gian, con người và địa điểm rất chung và rất riêng Phố huyện, nơi cả đời mong được tới một lần của dân quê xưa có dáng dấp của làng xã, văn minh thành thị có ghé qua với đường tàu hỏa và phố xá có đèn dây sáng xanh, có gánh phở đêm, có phu gạo, phu xe… vẫn là nửa quê nửa tĩnh; Hà Nội vẫn là hình ảnh mơ hồ

“không rõ rệt cái gì, chỉ là một vùng sáng rực và lấp lánh” Có lẽ vì xem nhân vật của mình bé nhỏ, đáng thương mà Thạch Lam dùng “Hai đứa trẻ” để chỉ hai chị em Liên trong khi Liên đã là một cô gái

Thạch Lam dằn vặt trước cuộc sống, ông dùng văn chương thể hiện mối quan tâm với đồng loại Thạch Lam day dứt vì nhịp điệu mòn mỏi của cuộc sống đồng bào ông, ông muốn đi tìm một giải pháp Giải pháp của ông có thể không trùng khớp với yêu cầu của chúng ta hôm nay thì vẫn phải ghi nhận ở ông một tấm tình hòa cảm, bao dung Dù sao chăng nữa, Thạch Lam vẫn là sản phẩm của thời đại ông, không thể đòi hỏi ở ông những

gì ông chưa có hoặc không thể có

Trang 15

Đề bài: Bình giảng bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm

Bài làm

Thơ mới chỉ có hai cuộc tiễn đưa đặc biệt: một của Thế Lữ – “Giây phút chạnh lòng” và một nửa của Thâm Tâm – “Tống biệt hành” Còn thì chỉ là những cuộc biệt ly thông thường, cuộc chia tay giữa người tình với người tình, giữa người thân với người thân Thương nhớ chỉ quẩn quanh nơi những không gian xa cách, những mối tình phôi pha…Anh biết em đi chẳng trở về

Dặm ngàn liễu khuất với sương khe

Em đừng quay lại nhìn anh nữa

Anh biết em đi chẳng trở về

(Thái Can – Anh biết em đi)

Tất nhiên, những khúc ly biệt ấy đều có những giá trị, những hấp dẫn Nhưng ta càng biếtquý những cuộc biệt ly của những tầm cao nhân cách

Đó là những khúc biệt ly mang chất thẩm mỹ bi tráng

Thế Lữ và Thâm Tâm đã cảm hứng từ cuộc tiễn đưa con người chí lớn, con người khát vọng cái cao cả – khát vọng lý tưởng nồng cháy:

Non nước đang chờ gót lãng du

Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu

Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc

Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ

Anh đi vui cảnh lạ đường xa

Đem chí bình sinh giải nắng mưa

Thân đã hiến cho đời gió bụi

Đâu còn lưu luyến chút duyên tơ

(Giây phút chạnh lòng)

Trang 16

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí lớn chưa về, bàn tay không

Thì đừng bao giờ nói trở lại

Ba năm mẹ già cũng đừng mong

(Tống biệt hành)

Trong bi kịch, các nhân vật trữ tình này vẫn lồng lộng chất tráng ca

Đó cũng chính là tâm hồn thời đại trong bối cảnh không khí thời đại

Thuở ấy, những thanh niên trí thức, sinh viên học sinh đã cảm nhận được cái vô nghĩa của những nhân cách an phận, nhàn du nhỏ bé mà sau này, Chế Lan Viên viết:

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp

Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn

Lương thiện đấy, nhưng không có nội dung!

Thậm chí, có những người “vô tư”

Quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện vua lê

Lòng ta đã hóa thành rêu phong chuyện cũ

(Chế Lan Viên)

Những con người nhỏ bé ấy đã đứng ngoài những cảm nhận về nỗi dân tộc đang trong gông xiềng nô lệ, về nỗi nhân dân đang đói khổ, đau khổ… Kiếp người cơm vãi cơm rơi, Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi…” (Tố Hữu), về nỗi những Chí Phèo đang lâm vào thảm trạng tha hóa, và đang bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện… (nhân vật của Nam Cao)

Có một tầng lớp thanh niên có học biết nặng lòng với đất nước, với nhân dân Họ ưu tư, trăn trở trên đời sống chung của dân tộc Nhưng nhìn quanh, họ chỉ thấy những bức tường

bế tắc!

Thuở ấy, không khí thời đại ảm đạm lắm

Trang 17

Một lá cờ Cần Vương phất cao với bao tâm huyết Rồi từ Bắc chí Nam, Cần Vương đi vào thất bại Những chiến sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục ra quân, những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… cũng lâm vào thất bại Vận hội may mắn của cái dân tộc điêu linh này chưa tới? Rồi Việt Nam Quốc Dân đảng nồng nhiệt liều thân… cũng chỉ để lại một tiếng bom của Phạm Hồng Thái Không thành công cũng thành nhân”…

Đúng như sau này, Chế Lan Viên viết:

Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời

Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa

Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời

Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ

Văn chiêu hồn từng giọt thấm mưa rơi…

Trong không khí thời đại ấy, những con người có học, có tâm huyết đã buồn Ai đã chê Thơ Mới buồn? Thậm chí, ai đã cho Thơ Mới là bạc nhược? Hơn nữa, ai đã kết tội Thơ Mới là có lợi cho địch? Đến bây giờ, khi không khí của hai cuộc chiến tranh đã lùi xa, khimọi lí lẽ đã được suy ngẫm, kiểm nghiệm, chúng ta mới biết sợ những thái độ “khoa học”chưa hoàn chỉnh này

Chất buồn của Thơ Mới là chất buồn mang tầm cao thời đại Đó là chất buồn nhân tính

“Tống biệt hành” là khúc trữ tình buồn ấy, là khúc bi tráng ca của một tâm hồn non nước.Đưa người ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Trên bình diện nội dung công khai, đã có hai nhân vật trữ tình: người ra đi và người đưa tiễn Rồi cả ở những đoạn thơ sau, vẫn là hai con người ấy:

Đưa người ta chỉ đưa người ấy

… Ta biết người buồn chiều hôm trước

… Ta biết người buồn sáng hôm nay

Nhưng có thật là có hai người không? Hay chỉ là một nhân vật trữ tình ở dạng phân thân?Hai con người này có những ranh giới nhập nhoạng mơ hồ, có khi chập vào nhau:” ”… tiếng sóng ở trong lòng” và “hoàng hôn trong mắt trong”; có khi ở trong nhau mà tự vấn:

Trang 18

Người đi? ừ nhỉ, người đi thật!

Đoạn thơ đầu, bằng thể thất ngôn cổ điển, bằng nghi vấn tu từ thể điệp… Thâm Tâm đưa

ta vào một không khí Đường thi trang trọng Ta chìm vào trong một trầm tư

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình một dửng dưng…

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,

Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong

Như một hành động chọn lọc “…ta chỉ đưa người ấy” cuộc tiễn đưa bắt đầu đi vào chiều hoành tráng “một giã gia đình, một dửng dưng” Tính cách thời đại xuất hiện Con người

ấy có dáng dấp Kinh Kha “Ai đồng chí trong đám người tiểu kỷ, Trên kinh thành lơ lửng một thanh gươm…” con người ấy mang phong thái chiến sĩ “Tráng sĩ một đi không trở về…”

Cái chất lãng mạn hoành tráng này, về sau sẽ được tái diễn trong những vần thơ của Quang Dũng, Chính Hữu ở giai đoạn thơ thời đầu kháng chiến chống Pháp (1946-1947-1948):

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Nhớ đếm ra đi đất trời bốc lửa

Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng

Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng

Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm

Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm

Trang 19

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa…

Ta biết người buồn chiều hôm trước

Vì sao người buồn? Không phải vì cuộc ra đi bịn rịn Người buồn vì nỗi những nhân cách

ở tầm thông thường không thể hiểu người Đó là những “một chị, hai chị cũng như sen, khuyên nốt em trai dòng lệ sót”

Nỗi buồn ấy hiện ra trong buổi chiều

Ta biết người buồn sáng hôm nay

Vì sao người buồn? Vì phải xa những tấm lòng trẻ thơ, xa những “em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” Nỗi buồn ấy lấy bối cảnh một ban mai rực rỡ (Trời chưa mùa thu tươi lắm thay) tương ứng hài hòa với ánh sáng tinh khôi trong mắt trẻ Đó là thẩm mỹ của cái đẹp – buồn

Người đi? Một dấu hỏi

Ừ nhỉ, người đi thực!

Một trả lời trong cảm thán Cũng có thể là một tự hỏi mình

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Nhân vật bà mẹ đến đây mới thật sư xuất hiện Trước, trong câu: Ba năm mẹ già cũng đừng mong, chỉ là một cách nói Bi kịch của lòng mẹ là bi kịch của:

Lá vàng thì ở trên cây

Lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời

(Ca dao)

Chị thà coi như là hạt bụi

Đó là một câu tâm lý học Các bà chị đã tự bằng lòng mình về việc thương em (Khuyên nốt em trai dòng lệ sót); bây giờ, lòng thành thanh thản

Em thà coi như hơi rượu say

Trang 20

Thâm Tâm dành cho “em” cái ngôi kết thúc Người tình của Dũng là nàng Loan (nhân vậtcủa Nhất Linh), trong tiến đưa đã:

Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc

Dưa tiễn anh ra chốn hải hồ

Thế Lữ

Người tình của chàng trai chí lớn này thì, trong ly biệt, hoài niệm một chất nồng say đã được hưởng… Câu thơ không tiếc nuối, chỉ là man mác Nó ngân vang tạo ra dư âm chung của toàn bài…

Sau 1945, Thâm Tâm cùng với dân tộc, đi vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp

Và anh đã chết cái chết đẹp của người chiến sĩ

Phải chăng, bằng chính cuộc đời mình, Thâm Tâm đã thực hiện hóa cái giấc mơ của nhânvật trữ tình trong thơ mình?

Đề bài: Phân tích bài “Thơ Duyên” của Xuân Diệu.

Bài làm

Hồn thơ Xuân Diệu luôn mở rộng ra cả đất trời và cõi người Nó luôn khao khát được giao cảm với con người, thiên nhiên, vũ trụ Thơ duyên biểu hiện điều ấy

Thơ duyên chưa hẳn là bài thơ tình vốn rất đắm say sôi nổi trong thơ Xuân Diệu Bài thơ

có anh và em họ đi xa nhau như không quen biết Em thì “điềm nhiên” anh thì “lững thững” và cả hai đều “vô tâm”

Có lẽ duyên ở đây là “tác hợp cơ trời” của thiên nhiên, vũ trụ và lòng người Sự hòa thơ, hòa nhạc âm thầm, mãnh liệt và đầy quyến rũ Nó khởi đầu từ cái “buổi ấy lòng ta nghe ýbạn” để rồi nhìn đâu cũng thấy chiều mộng, nghe đâu cũng động tiếng huyền nó vô thanhvới tác nhưng náo nức con tim

Tất cả đều cặp đôi trong yêu thương đắm đuối, mỗi lúc một mãnh liệt, lơi lả Chiều mộngthì hòa thơ với nhánh duyên, trên cây me thì cặp chim ríu rít như không biết buổi chiều

mà ngỡ là sáng bình minh Chim chuyền cành này qua cành khác, bầu trời trong xanh thì như đổ tràn ánh sáng như ngọc lấp lánh qua muôn lá, mùa thu tới thì khắp nơi như tiếng nhạc đón mừng (“động tiếng huyền” – tiếng huyền là tiếng đàn), con đường “nho nhỏ” thì đi với gió “xiêu xiêu”, cành hoang thì lả tả như có tình với “nắng chiều”, con cò trên ruộng thì như cảm thông với “Mây biếc về đâu bay gấp gấp” nên cánh nó cũng “phân vân”, chim cũng thế, hoa cũng vậy, tất cả đều giao hòa cảm thông như vốn có duyên với

Trang 21

nhau tự bao giờ Và tất nhiên con người cũng thế, anh với em tuy chưa quen biết nhau và cũng chẳng có mối lái gì (băng nhân) mà tự nhiên cũng cứ đi sóng đôi với nhau nhịp nhàng như “một cặp vần” trong bài thơ, thậm chí “Lòng anh thôi, đã cưới lòng em” – Cảnh trong thơ tươi tắn, trong sáng, tình trong thơ thì hòa hợp nhịp nhàng Đây là một bài thơ vui tuy viết về một cảnh chiều thu Trong thơ truyền thống, cảnh chiều mà lại là chiều thu thì nói chung là buồn Thơ xưa nói đến cảnh chiều thì thường có chim mỏi về rừng, người lữ thứ tha hương thì nhớ nhà, chân bước vội Còn mùa thu thì lá vàng rơi rụng, hoa sen tàn tạ trên các đầm ao… ở đây cảnh chiều thu lại vui Xuân Diệu có bài thơxuân không mùa, nghĩa là mùa nào cũng là xuân cả, vì xuân tự trong lòng nhà thơ tỏa ra trời đất bốn mùa:

“Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,

Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu

Thế là xuân Tôi không hỏi chi nhiều

Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng

Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng…”

Nhưng cảnh thu thực ra cũng có cái vui của nó chứ, nhất là mùa thu ở một nước nhiệt đớinhư nước ta Xuân Diệu là nhà “Thơ mới”, ông không nhìn cảnh vật theo công thức, ước

lệ của thơ cổ, ông khám phá cái đẹp, cái vui của mùa thu có thật trên đất nước bằng con mắt chân thật của mình và thấy mùa thu rất thơ mộng: “Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên”, không khí mùa thu khô ráo và sáng, trời thu thì cao và trong xanh, khí hậu mùa thu không nóng và chưa rét, con người cảm thấy dễ chịu, tâm hồn thơ thới sảng khoái, gió rì rào trong lá cành, chim chóc ríu rít, nghe như đâu đây vang vọng lại tiếng nhạc của đất trời:

“Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên,

Cây me ríu rít cặp chim chuyền

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”

Nhưng niềm vui của mùa thu không ồn ào mà êm ái dịu dàng Phải có một tâm hồn lắng nghe, tinh tế và nhạy cảm mới thấy hết được Nhà thơ đi giữa đất trời như đi giữa một

“bài thơ dịu”, không dám ồn ào, chỉ “lững đững” trên đường, lắng nghe bước đi nhẹ nhàng êm ái và lặng lẽ của mùa thu:

“Ai hay tuy lặng bước thu êm”

Trang 22

Và cũng lắng nghe nơi lòng mình niềm cảm thông với vạn vật và nỗi khao khát thương yêu, khao khát hòa hợp với mọi người, nhất là với cô gái nào kia ngẫu nhiên cùng bước lên đường.

– Trong thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có một nhận xét rất tinh tế về Xuân Diệu: “… Sựsống muôn hình thức nhưng hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống dồi dào Không cần phải là con hổ ngự trị trong rừng xanh, không cần phải là con chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi!”

Bài Thơ duyên là một trường hợp Xuân Diệu bày tỏ sức sống của mình trong những cảm nhận hết sức tinh vi về thiên nhiên và sự sống Nhìn chung cảnh thơ yên tĩnh mà vẫn có một cái gì xôn xao từ trong lòng sự vật, chỉ cảm thấy được nhưng khó phân tích, diễn giảicho rõ ràng:

“… Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”

“… Con đường nho nhỏ, gió xiêu xiêu

Sự cảm nhận còn tỏ ra tinh vi hơn nữa trong mấy câu thơ này:

“Mây biếc về đâu bay gấp gấp

Con cò trên ruộng cánh phân vân

Chim nghe trời rộng dang thêm cánh

Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần”

Hoài Thanh viết: “Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay tới ráng chiều (“Lạc hà dữ cô lộ

tề phi – Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”, dịch là: “Ráng chiều và cánh cò đơn chiếc láng bay – Nước mùa thu cùng trời thu một sắc”) đến con cò của Xuân Diệu không bay

mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới”

Sự cách biệt ấy thể hiện ở chỗ, một đằng thì tả sự vận động bên ngoài, mắt thường thấy được, một đằng thì cảm nhận được sự vô hình, chỉ mới có trong gân cốt của cánh cò

Trang 23

Cũng như vậy: “Chim nghe trời rộng dang thêm cánh – Hoa lạnh chiều thưa sương xuốngdần”, nhà thơ dường như nhận thấy cái cảm giác trống trải rợn ngợp của con chim trước không gian cao rộng, và cái cảm giác se lạnh của bông hoa khi sương chiều buông

xuống…

Bài thơ giúp ta hiểu được ở Xuân Diệu một hồn thơ yêu đời, yêu sống, khao khát giao cảm với thiên nhiên, với con người Nó cũng giúp ta cảm nhận được một cảnh vật thu tươi tắn, trong trẻo thơ thới, êm ả, dịu dàng, như gợi mát tâm hồn ta Nó còn giúp ta mài sắc cảm giác của mình để biết kĩ lưỡng hơn, tinh tế hơn với cuộc sống này trong mỗi giâyphút của đời mình

Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Vội vàng” của Xuân Diệu:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Mở đầu đoạn thơ là ý nguyện của thi sĩ – một tâm hồn yêu đời:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Bằng biện pháp điệp ngữ, bài thơ thể hiện ý chí của chủ thể trữ tình cái “tôi” muốn tắt nắng để đừng mất màu đẹp rực rỡ, buộc gió không cho hương bay đi, để được hưởng thụ

nó, thưởng thức nó Ý nguyện của thi sĩ là muốn tác động vào vũ trụ để giữ nguyên vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp thực của nó trong hiện tại, vẻ đẹp chóng mất, chóng phai tàn

Đó là một ý nguyện chủ quan của thi sĩ Điều đó dường như vô lí “xa rời cuộc sống”,

“thoát li hiện thực” nhưng nó lại có lí trong tâm hồn thi sĩ yêu đời, trân trọng và nâng niu cuộc sống

Trang 24

Tình yêu thiên nhiên – một tình cảm muôn đời của người nghệ sĩ nhưng sự cảm nhận của Xuân Diệu – thi sĩ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) thật lạ Dường như mọi giác quan của thi sĩ đều run lên đón nhận mọi âm thanh, mọi sắc màu, đón nhận cái hữu tình và cả cái vô tình vấn vương của tạo hóa Từ ý nguyện dẫn đến hành động; ý nguyện giữ mãi cuộc sống, để hưởng thụ cuộc sống Điều đó thể hiện nhiệt tình sống của tác giả khi chợt đến mùa xuân.

Rồi đây nữa, hình ảnh của sự sống muôn màu sắc, thật tốt tươi, thật ngon lành đang dạt dào ùa vào tâm hồn thi sĩ:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”

Điệp ngữ “này đây” liệt kê một loạt những hình ảnh đẹp miêu tả xuân: hoa của đồng nội xanh rì; lá của cành tơ phơ phất; của yến oanh khúc hát tình ca say mê cuồng nhiệt trong tình yêu; ánh sáng chớp hàng mi

Trước mùa xuân tươi đẹp ấy ai mà không rung động? Vậy thì tâm hồn thi sĩ Xuân Diệu sao lại không say trong chập chờn của “ong bướm” ngày xuân đang vào độ tràn đầy hạnh phúc bên “yến oanh” quấn quýt để hưởng “khúc tình si”? Không sao xuyến đến nao lòng sao được trước cái mát mẻ, tươi non của sắc “Hoa của đồng nội xanh rì” và lá non bên

Sự sống mùa xuân quanh ta thật hấp dẫn, thật say lòng người khiến tâm hồn thi sĩ như cấtlên tiếng reo vui:

“Mỗi buổi sớm thần Vui hàng gõ cửa”

Trang 25

Vẻ đẹp mùa xuân – một vẻ đẹp say đắm, xanh non, tươi trẻ, vẻ đẹp thực của trần thế rất bình dị và gần gũi, nó không phải là vẻ đẹp ở chốn tiên thơ mộng, huyền ảo và hấp dẫn

mà Thế Lữ đã tìm ra:

“Trời cao – xanh ngắt – Ô kìa

Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai

Theo chim, tiếng sáo lên khơi

Lại theo dòng suối bên người tiên nga”

(tiếng sáo thiên thai – Thế Lữ)

Vẻ đẹp mà Xuân Diệu cảm thấy là vẻ đẹp của thiên nhiên quanh ta nhưng nó đẹp – một

vẻ đẹp tươi trẻ, say đắm, nó hợp với con người nơi trần thế và trong vẻ đẹp tươi trẻ của mùa xuân ấy, cảm xúc của nhà thơ thật vui, rộn ràng và say đắm

Niềm say mê ấy thật cuồng nhiệt và mãnh liệt biết bao khi thi sĩ thốt lên: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Hình ảnh thơ độc đáo, hình ảnh so sánh rất Xuân Diệu Nhà thơ đã so sánh khái niệm thờigian “tháng giêng” – một hình ảnh vô hình với một hình ảnh cụ thể “cặp môi” và truyền cho người đọc một cảm giác thật cụ thể “ngon”, “gần”

Sau cái phút giây bồng bột cảm hứng ấy, nhà thơ chợt tỉnh lại được và tự ý thức được về thời gian:

“Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Một trạng thái đối lập mở ra một trạng thái tâm hồn mới: mùa xuân đẹp hấp dẫn làm cho thi sĩ “sung sướng” nhưng rồi có cái gì đó khiến cho thi sĩ phải “vội vàng”, phải hưởng thụ mùa xuân ngay lúc mùa xuân đến, phải hưởng thụ ngay cái vẻ say đắm của nó trong hiện tại, phải tận hưởng mùa xuân khi nó còn tươi non, hấp dẫn và phải hưởng ngay khi

nó còn “mới bắt đầu” để sau này khi mùa xuân đã qua, mùa hạ đến không phải nuối tiếc,

ân hận

Nhà thơ bộc lộ niềm say mê, vui sướng bất chợt khi mùa xuân vừa đến nhưng rồi nhà thơ chợt tỉnh lại được, ý thức được về thời gian mà từ đó hưởng thụ mùa xuân ngay trong thực tại

Đoạn thơ làm nổi bật phong cách thơ Xuân Diệu: dùng diệp ngữ, sử dụng biện pháp thậmxưng, hình ảnh đẹp, độc đáo, táo bạo Thơ xưa nào đã mấy ai dám bộc lộ tiếng nói cương quyết và dứt khoát như sự lên tiếng của Xuân Diệu? Và đã mấy ai dám so sánh mùa xuân

Ngày đăng: 31/05/2016, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w