1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận về quy luật giá trị

14 368 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 105,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, để bán được hàng hóa, bù đắp chi phí và có lãi người sản xuất phải làm sao cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được tức là giá trị c

Trang 1

MỤC LỤC Nội dung Trang

I Quy luật giá trị:

 Phát biểu nội dung quy luật giá trị

 Cơ chế hoạt động của quy luật giá trị

 Tác động của quy luật giá tri

 Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong tư bản cạnh tranh

tự do

 Vì sao nói quy luật giá trị là quan trọng nhất?

II Vận dụng quy luật giá trị trong việc phân phối các nguồn lực

kinh tế và sự hình thành, quản lý giá cả trong nền kinh tế nước ta:

 Vận dụng quy luật giá trị trong phân phối các nguồn lực kinh tế

 Sự hình thành quản lý giá cả trong nền kinh tế nước ta

 Biện pháp, đinh hướng trong tương lai

III. Kết luận:

3 3 3 4 5 6 6

7 8 10 11

Trang 2

 Nội Dung:

Thực tế chứng minh rằng phát triển kinh tế là một vệc vô cùng khó khăn, là cuộc chạy đua sôi động, là đấu trường đẫm máu giữa các quốc gia trên toàn thế giới Muốn đạt được vị trí cao trên đấu trường ấy các chính sách kinh tế phải có cơ sở lý thuyết vững chắc về các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật giá trị Vậy quy luật giá trị là gì? Vì sao lại nói quy luật giá trị là quan trọng nhất? Vận dụng quy luật giá trị trong phân phối các nuồn lực kinh tế và sự hình thành, quản lý giá cả trong nền kinh tế nước ta như thế nào?

I Quy luật giá trị:

Sản xuất hàng hóa chịu sự tác động của các quy luật kinh tế như: Quy luật quan hệ sản xuất chịu sự tác động của lực lượng sản xuất, quy luật tiết kiệm thời gian lao động, Nhưng vai trò cơ sở cho sự chi phối nền sản xuất hàng hóa lại thuộc về quy luật giá trị

Về mặt lý thuyết nội dung quy luật giá trị phát biểu như sau: “sản xuất trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở lượng giá trị hàng hoá hay thời gian lao động cần thiết” – là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất

và trao đổi hàng hóa

Theo yêu cầu của quy luật, việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết Trong kinh tế hàng hóa,

Trang 3

mỗi người tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình, nhưng giá trị hàng hóa lại chỉ có một nên không thể quyết định bằng hao phí lao động

cá biệt mà là hao phí lao động xã hội cần thiết Do vậy, để bán được hàng hóa, bù đắp chi phí và có lãi người sản xuất phải làm sao cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được (tức là giá trị cá biệt của hàng hóa phải nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội của hàng hóa)

Trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, tức là trên nguyên tắc ngang giá: nghĩa là hai hàng hóa có thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra chúng bằng nhau thì có thể trao đổi được với nhau

Cơ chế hoạt động: Sự vận động lên xuống không ngừng của giá cả

thị trường xoay quanh giá trị hàng hóa là cơ chế, phương thức hoạt động của quy luật giá trị Giá cả thường không nhất trí với giá trị hàng hóa là

do tác động ảnh hưởng của nhiều nhân tố:

• Quan hệ cung - cầu:

- Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả hàng hóa sẽ nhỏ hơn giá trị

- Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả hàng hóa sẽ lớn hơn giá trị

- Nếu cung bằng cầu thì giá cả hàng hóa sẽ bằng giá trị

• Quan hệ cạnh tranh

• Sức mua của đồng tiền

Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phất huy tác dung

Tác động của quy luật giá trị: Trên thực tế, quy luật giá trị mang ý

nghĩa đặc biệt quan trong do mang các tính chất sau:

Một là, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:Trong sản xuất quy

luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động giưa các ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá:

Trang 4

• Với điều tiết sản xuất:

- Nếu mặt hàng nào đó, khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả sẽ tăng cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy, lãi nhiều, thì những người sản xuất hàng hóa đó sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động Mặt khác, những người sản xuất hàng hóa khác (do thu được lãi ít hơn hay không có lãi) sẽ chuyển sang sản xuất hàng hóa này để thu lãi cao Do đó tư liệu sản xuất và sức lao động sẽ được chuyển vào

ngành này, quy mô sản xuất ngày càng được mở rộng

- Ngược lại, nếu mặt hàng nào đó có cung lớn hơn cầu, giá cả hạ thấp hơn giá trị, người sản xuất sẽ bị thua lỗ Tinh hình đó buộc người ta phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển sang mặt hàng khác có lãi hơn, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ngành này giảm đi

- Trong trường hợp mặt hàng nào đó có giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này

• Với điều tiết và lưu thông hàng hóa:

- Thông qua sự biến động của giá cả, hàng hóa được thu hút từ nơi

có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, nhờ đó, góp phần làm hàng hóa được phân phối hợp lý giữa các vùng, địa phương

Hai là, kính thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất,thúc đẩy lực

lượng sản xuất của xã hội phát triển: người sản xuất muốn đứng vững phải liên tục đổi mới kỹ thụât vì kỹ thuật tiên tiến thì giá trị cá biệt của hàng hoá sẽ giá trị thấp hơn xã hội của hàng hoá như vậy người sản xuất mới có lãi nhất:

• Theo yêu cầu của quy luật giá trị: sản xuất và trao đổi phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội Người nào sản xuất có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội thì sẽ thu lãi, những người sản xuất có hao phí lao động lớn hơn hao phí lao động xã hội sẽ phải chịu lỗ Do vậy muốn tồn tại người sản xuất phải không ngừng tìm mọi

Trang 5

cách để cải tiến kĩ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, cải tiến phương thức tổ chức, quản lý sản xuất nhằm làm hạ thấp hao phí lao động cá biệt

• Xu hướng này sẽ diễn ra liên tục do tất cả mọi người đều cố gắng

hạ thấp hao phí lao động cá biệt, kéo theo hao phí lao động xã hội cũng giảm và người sản xuất lại càng phải hạ thấp lao động cá biệt thêm nữa,

cứ như vậy kĩ thuật được cải tiến không ngừng, năng xuất lao động tăng lên, nhờ vậy mà lực lượng sản xuất xã hội không ngừng phát triển

Ba là, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa những người sản

xuất hàng hóa thành kẻ giàu người nghèo: sự tác động của quy luật giá trị bên cạnh những tích cực kể trên còn dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa những người sản xuất hàng hoá nhất là những người sản xuất nhỏ: Trong nền kinh tế hàng hóa:

• Những người sản xuất hàng hóa có điều kiện sản xuất thuận lợi, trình độ cao, kĩ thuật tốt (mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết) sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên qua đó tạo điều kiện để tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất

• Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa không có điều kiện sản xuất thuận lợi (có mức hao phí lao động cá biệt cao hơn lao động xã hội cần thiết), hoặc do tai nạn rủi ro thì sẽ bị thua lỗ đến phá sản

Dẫn đến:

- Bình tuyển những yếu tố tích cực, tiến bộ, dào thải những yếu tố kém, lạc hậu

- Phân hóa xã hội thành hai cực Giàu-Nghèo Đây là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản

 Trong tư bản cạnh tranh tự do:

Trang 6

Tự do cạnh tranh là tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang nghành khác, tức là tự phát phân phối tư bản (C và v)vào các nghành sản xuất khác nhau nên hình thành tỷ suất lợi nhuận khác nhau Trong cạnh tranh có sự ganh đua đấu tranh về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau ,giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng hàng hoá dịch vụ nhằm dành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có sự khác nhau về điều kiện sản xuất nên chi phí lao động cá biệt của sản xuất hàng hoá có sự khác nhau để dành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phải cạnh tranh nhau nhưng các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm luôn biến động nên cạnh tranh diễn ra liên tục Do đó trong tự do cạnh tranh quy luật giá trị được biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất

 Vì sao nói quy luật giá trị là quan trọng nhất?

Trong Kinh tế chính trị Mác - Lênin, quy luật giá trị là cơ sở để phát triển học thuyết giá trị lao động Mác cho rằng, đó là quy luật chung của sản xuất hàng hóa và đạt đỉnh cao trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản Khi phát triển học thuyết giá trị về lao động Mác đề xuất khái niệm chi phí lao động xã hội như là một tiêu chuẩn định lượng cho mọi chi phí lao động cá thể trong điều kiện kinh tế-xã hội nhất định Theo đó, quy luật giá trị đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hoá phải được thực hiện phù hợp với chi phí lao động xã hội cần thiết Nói cách khác, nội dung hoạt động của nó là: sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên nền tảng chi phí lao động xã hội cần thiết như nhau và chi phí lao động cá thể khác nhau

Do đó hình thái biểu hiện của quy luật này là sự dao động giá cả Giá cả

là biểu hiện bằng tiền của giá trị, hàng hóa trao đổi trên thị trường theo nguyên tắc ngang giá và theo quan hệ cung - cầu, nên quy luật giá trị được thể hiện như là quy luật giá cả

Trang 7

Sự chi phối của quy luật giá trị, thông qua sự dao động giá cả, được thể hiện trong các quá trình sau:

• Phân phối lao động xã hội giữa các ngành kinh tế

• Thường xuyên giảm chi phí lao động trong sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ mới;

• Phân hóa giữa các nhà sản xuất và vì thế, loại khỏi lĩnh vực sản xuất những cá thể không có khả năng giảm giá thành trên một đơn vị sản phẩm của mình

Quy luật giá trị là cơ sở của mọi nền tảng kinh tế, thể hiện sự chi phối của nó trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, làm sao cho các quá trình đó phù hợp với những đặc điểm tiêu dùng và tích trữ xã hội

Kết Luận: Có thể nói, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực,

vừa có tác động tiêu cực Do vậy, song song với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển thì nhà nước cần có những biện pháp để phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của quy luật này.

II Vận dụng quy luật giá trị trong việc phân phối các nguồn lực kinh

tế và sự hình thành, quản lý giá cả trong nền kinh tế nước ta:

Vì nền kinh tế Việt Nam cũng được xây dựng trên cơ sở của quy luật giá trị nên tất yếu nên dù được thể hiện trực tiếp hay gián tiếp nó cũng nói lên được một phần nào đó thực trạng của quá trình vận dụng ,thấy được những ưu khuyết điểm để từ đó có những phương pháp khắc phục ,nhằm đạt được nhưng hiệu quả tốt hơn trong quá trình phát triển

 Vận dụng quy luật giá trị trong phân phối các nguồn lực kinh tế:

• Trong một nền kinh tế có ba nguồn lực chính: nhân lực, tài lực và vật lực Nhưng thực trạng các nguồn lực này ở nước ta:

Trang 8

- Thứ nhất, để phát triển nền kinh tế thì chúng ta cần phải có vốn,

đó là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu của nước ta hiện nay Vậy

mà trên thực tế những năm gần đây nước ta luôn trong tình trạng thiếu hụt nguồn vốn vì tổng thu ngân sách luôn nhỏ hơn tổng chi ngân sách

- Thứ hai, là cơ sở vật chất của đất nước Điều không thể không thừa nhận là nước ta là cơ sở vật chất kém phát triển, chậm phát triển Chính sách đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng còn chưa được quan tâm thích đáng Các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị lãng phí hoặc bị bỏ quên còn nhiều

- Thứ ba, là con người Trình độ văn hoá của con người thấp kém, khả năng ứng dụng máy nước, trang thiết bị hiện đại trong phát triển sản xuất không đạt yêu cầu thực tế Hơn nữa những người

có tay nghề, kỹ thuật cao chiếm số ít trong lực lượng lao động của đất nước

• Vận dụng quy luật giá trị:

- Thứ nhất, tuân theo nguyên tắc của quy luật giá trị thì vốn đầu tư cũng sẽ chuyển dịch từ thị trường có khả năng đem lại lợi nhuận thấp sang cao Đặc biệt nguồn vốn đầu tư nước ngoài có khả năng cung ứng cao cho nền kinh tế nước nhà Do đó, chúng ta cần tận dụng mọi khả năng để thu hút nguồn vốn bên ngoài Đây là nguồn vốn quan trọng vì nó không những giúp chúng ta về vốn mà còn góp phần nâng cao trình độ quản lý và công nghệ, tạo việc làm cho người lao động Song, khi sử dụng nguồn vốn nước ngoài, chúng ta phải chấp nhận bị bóc lột, tài nguyên bị khai thác, nợ nước ngoài tăng lên…Vì vậy, cũng cần phải cân nhắc và sử dụng hợp lý nguồn vốn nước ngoài

- Thứ hai, quá trình chuyển đổi lĩnh vực kinh doanh từ nơi có lãi thấp đến lãi cao cũng là tiền đề cho sự khai phá tài nguyên thiên nhiên, mở rộng và phát triển cơ sở vật chất

Trang 9

- Thứ ba, để tránh bị phá sản và giành ưu thế trong cạnh tranh , mỗi người sản xuất hàng hoá đều tìm cách giảm giá trị cá biệt hàng hoá của mình xuống dưới mức giá trị xã hội Muốn vậy , người sản xuất phải tìm mọi cách cải tiến kỹ thuật , nâng cao trình độ tay nghề , sử dụng thành tựu mới của khoa học , cải tiến tổ chức quản

lý của sản xuất để tăng năng suất lao động Lúc đầu chỉ có kỹ thuật , trình độ tay nghề của một số cá nhân được cải tiến , về sau

do cạnh tranh nên kỹ thuật trình độ tay nghề của toàn xã hội được cải tiến

 Sự hình thành quản lý giá cả trong nền kinh tế nước ta:

Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường của hàng hoá

Giá cả thị trường có những chức năng chủ yếu sau đây:

+ Chức năng thông tin:

+ Chức năng phân bố các nguồn lực kinh tế:

+ Chức năng thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật:

Do đó việc chuyển sang cơ chế một giá - giá cả thị trường đối với tất

cả các loại hàng hoá , chỉ trừ một số rất ít hàng hoá do nhà nước định giá là bước chuyển có ý nghĩa quyết định từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường ở nước ta

Tuy nhiên giá cả thị trường còn phụ thuộc vào các nhân tố sau :

+ Giá cả thị trường: giá cả thị trường là kết quả của sự cân bằng các giá trị cá biệt của hàng hoá trong cùn một ngành thông qua cạnh tranh Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến hình thành một giá trị xã hội

Trang 10

trung bình Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của sức sản xuất của mỗi ngành mà giá trị thị trường có thể ứng với một trong biến áp trường hợp sau:

Trường hợp 1: giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của đại bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện trung bình quyết định Đây là trường hợp phổ biến nhất

Trường hợp 2: giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của đại bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện xấu quyết định

Trường hợp 3 : giá trị thị trường hàng hoá do giá trị của đại bộ phận hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện tốt quyết định

+ Giá trị (hay sức mua) của tiền : Giá trị thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hoá và tỷ lệ nghịch với giá trị hay sức mua của tiền Bởi vậy, ngay cả khi giá trị thị trường của hàng hoá không đổi thì giá cả hàng hoá vẫn có thể biến đổi do giá trị của tiền tăng lên hay giảm xuống Sự chênh lệch giữa giá cả thị trường và giá trị thị trường là hiện tượng đương nhiên là vẻ đẹp của cơ chế thị trường , còn sự phù hợp giữa chúng là sự ngẫu nhiên

+ Cung và cầu : Trong nền kinh tế thị trường , cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên thị trường Giữa cung và cầu tồn tại một mối quan hệ biện chứng ; sự tác động giữa chúng hình thành nên giá cả cân bằng hay giá cả thị trường , giá cả đó không thể đạt được ngay , mà phải trải qua một thời gian dao động quanh vị trí cân bằng

Trang 11

- Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả hàng hóa sẽ nhỏ hơn giá trị.

- Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả hàng hóa sẽ lớn hơn giá trị

- Nếu cung bằng cầu thì giá cả hàng hóa sẽ bằng giá trị

+ Cạnh tranh trên thị trường :

- Cạnh tranh cũng là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ Có nhiều biện pháp cạn tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá ) hoặc phi giá cả (quảng cáo )

- Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật,

áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế Đó chính là cạnh tranh lành mạnh Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ, kém phát triển

Trong những năm 1986,nước ta đã có hàng loạt những cuộc cải cách nhằm đưa nền kinh tế phát triển theo một hướng mới Đảng ta đã thẳng thắn nhận biết và phê phán những sai lầm trong những chính sách kinh tế thời kì trước đây Việc đổi mới này đã bắt đầu tạo lập nền móng cho sự chuyển biến từ tư duy giá cả phi thị trường đến tư duy giá cả thị trường Nó đã tiến hành điều chỉnh giá để kích thích sản xuất , tiến tới cải cách toàn bộ hệ thống giá của Nhà nước theo hướng làm cho giá cả phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý về sản xuất và lưu thông, đảm bảo cho

Ngày đăng: 20/05/2016, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w