TÍNH NHÂN DÂN TRONG TƯ TƯỞNG VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH 1.1. Cơ sở hình thành tính nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh 1.1.1. Truyền thống văn hóa dân tộc Nước lấy dân làm gốc Nằm ở vị trí địa lí thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nước ta ngay từ buổi đầu dựng nước đã phải chịu biết bao cuộc xâm lược từ các nước đế quốc. Do điều kiện lịch sử như vậy mà nhân dân lao động có vai trò đặc biệt trong lịch sử và văn hóa dân tộc. Họ sớm có ý thức về quốc gia, ý thức làm chủ nước nhà, gắn nước với nhà: “nước mất nhà tan”. Họ là lực lượng hùng mạnh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, họ nói lên tiếng nói của mình, thực hiện quyền của mình trong những vấn đề trọng đại của nước nhà. Trong lịch sử dân tộc, lòng dân trở thành tiêu chuẩn đánh giá sự nghiệp của các vua chúa, giải thích cho sự hưng suy của các triều đại. Bởi vậy,để đánh thắng được kẻ thù xâm lược, xây dựng đất nước, các triều đại phong kiến đã sớm nhận thức được vị trí vai trò quan trọng của dân: dân là gốc của nước, được dân thì được nước, từ đó có những chính sách sao cho qui tụ được lòng dân. Xưa, Nguyễn Trãi đã cho rằng: “Mến người nhân là dân mà chở thuyền, làm lật thuyền cũng là dân”, “Làm lật thuyền mới biết dân mạnh như nước”. La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp trong “Tờ biểu trả lời vua Quang Trung và bàn về dân tình xứ Nghệ” có câu: “Dân là gốc nước, gốc vững cây mới yêu”. Lê Quí Đôn viết trong “Quần thư khảo biện”: “Gốc của nước vốn ở dân”. “Hải ngoại huyết thư” của Phan Bội Châu cũng có câu nguyên văn chữ Hán: “Khởi tri dân duy bang bản, vương giả dĩ dân vi thiên. Khí kỳ bản, thất kì sở thiên, bỉ thân năng phục tồn hồ ?” (có nghĩa: Sao không biết dân chính là gốc nước, người làm vua lấy dân làm trời. Vứt bỏ gốc, mất cả trời, thân mình liệu có còn được không?). Chính sức mạnh dân chủ ấy, sức mạnh “chở thuyền và lật thuyền” ấy là sức mạnh quyết định làm nên lịch sử dân tộc Việt Nam, làm nên cốt cách và bản sắc của văn hóa Việt Nam. Văn hóa dân gian sản phẩm sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động Trong văn hóa dân tộc Việt Nam, bên cạnh văn hóa chính thống có cả một nền văn hóa dân gian vô cùng phong phú và đa dạng. Đó là những phong tục tập quán tốt đẹp về quan hệ giữa người với người. Đó là những điệu múa dân gian, những tranh gà lợn, những lễ hội quần chúng… phản ánh tâm hồn trong sáng, ý chí kiên cường, ước mơ gần gũi của nhân dân lao động. Đặc biệt là văn hóa dân gian từ thần thoại, truyền thuyết đến tục ngữ, ca dao, dân ca, chèo, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn…ghi công đức những anh hùng dân tộc, ca ngợi lao động và tình yêu quê hương Tổ quốc, chống lại áp bức bóc lột, chế giễu bọn quyền quí, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, cổ vũ lòng tin thiện thắng ác, chính thắng tà.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 8
Chương I 8
TÍNH NHÂN DÂN TRONG TƯ TƯỞNG VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH 8
1.1 Cơ sở hình thành tính nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh 8
1.1.1 Truyền thống văn hóa dân tộc 8
1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại 10
1.1.3.Vai trò chủ quan Hồ Chí Minh 16
1.2 Nội dung tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh 18
1.2.1 Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo các sản phẩm văn hóa: .22 1.2.2 Nhân dân là đối tượng phản ánh của văn hóa: 24
1.2.3 Văn hóa phải hướng tới phục vụ nhân dân 31
1.2.4 Những yêu cầu nhằm đảm bảo tính nhân dân của văn hóa 37
Chương II 56
ĐẢNG TA VẬN DỤNG TÍNH NHÂN DÂN 56
TRONG TƯ TƯỞNG VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH VÀO XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA MỚI VIỆT NAM HIỆN NAY 56
2.1 Thực trạng nền văn hóa Việt Nam hiện nay 56
2.1.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội tác động đến quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam 56
2.1.2 Thành tựu 62
2.1.3 Hạn chế 68
2.2 Phương hướng và một số giải pháp xây dựng nền văn hóa mới hướng tới phục vụ nhân dân của Đảng ta dưới ánh sáng tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh .71
2.2.1 Phương hướng xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam của Đảng ta 71 2.2.2 Một số biện pháp xây dựng nền văn hóa Việt Nam hướng tới phục vụ quần chúng nhân dân dưới ánh sáng tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh 77
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỉ XX kết thúc, để lại đằng sau nó biết bao biến cố lịch sử hùng tráng
và bi thương Cũng chính thế kỉ XX đầy bão táp cách mạng đã sản sinh ra
“những người khổng lồ”, có thể làm thay đổi bộ mặt và diện mạo của toàn thế
giới Tạp chí Thời đại (Mĩ) qua quá trình chọn lọc nghiêm ngặt đã công bố danhsách 20 vĩ nhân có ảnh hưởng nhất thế kỉ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh được xếp ở
vị trí thứ 4 trong danh sách trên Trước đó, năm 1990, tổ chức UNESCO đã suytôn Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa kiệtxuất
Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và nhân dân ta một di sản tư tưởng vô cùngsâu sắc, vĩ đại và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay Đó “một hệ thốngquan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng ViệtNam; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lêninvào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốtđẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại…Tư tưởng Hồ ChíMinh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sảntinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”1
Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động của cách mạng Việt Nam và cũng làbiểu tượng của văn hóa Việt Nam Văn hóa Hồ Chí Minh là sự chắt lọc truyềnthống hàng ngàn năm của dân tộc, tích hợp giá trị của mọi nền văn hóa Đông-
Tây, kim cổ Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định: “Xây dựng kinh tế là
trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần
xã hội” Do vậy việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa có vai trò rất
quan trọng Và đây cũng chính là việc quay trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh,
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tr.83-84
Trang 3lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hànhđộng của Đảng
Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa, việc mở rộng các quan hệ giao lưu,hợp tác về văn hóa đang là một thời cơ để để văn hóa Việt Nam tiếp nhận nhữngthành tựu mới của văn minh nhân loại, làm phong phú thêm cho văn hóa dân tộcmình, rút ngắn khoảng cách của chúng ta với thế giới Tuy nhiên, mặt trái của xuthế toàn cầu hóa trên sẽ dẫn đến nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc nếuchúng ta không có chiến lược văn hóa đúng đắn Muốn bảo vệ nền văn hóa dântộc thì cần phải gắn liền với nâng cao dân trí, bồi dưỡng tinh thần nhân dân đểnền văn hóa nước ta có sức đề kháng với mọi ảnh hưởng theo chiều nghịch của
xu thế toàn cầu hóa
Không những thế, một số thế lực thù địch đang lợi dụng giao lưu văn hóa đểthực hiện “diễn biến hòa bình”, chúng thông qua cái gọi là văn hóa đại chúng,văn hóa nghe - nhìn làm cho thế hệ trẻ ngày càng xa rời cốt cách, lối sống, tâmhồn dân tộc, chạy theo các phản giá trị, để từ tự diễn biến văn hóa đến tự diễnbiến chính trị Vì vậy, trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp để bảo vềnền văn hóa dân tộc đó là xây dựng nền văn hóa phục vụ nhân dân chân chính,hướng nhân dân đến các giá trị văn hóa, tinh thần cao đẹp để chống lại sự thẩmthấu độc hại của văn hóa ngoại lai
Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Tính nhân dân trong tư tưởng văn
hóa Hồ Chí Minh và sự vận dụng vào xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của khóa luận
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới nói chung
và đặc tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh nói riêng cho đến nay
đã có nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài
đề cập đến Trong đó tiêu biểu là các công trình sau:
Trang 4- GS Song Thành: “Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất”, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2010 Tác giả khẳng định Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa kiệt xuất
và đưa ra những tư tưởng lớn của Người về văn hóa Trong đó, tác giả nghiêncứu khá kĩ về 3 tính chất của văn hóa trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và đi tớikhẳng định các tính chất ấy đang ngày càng thấm sâu vào hoạt động văn hóanước nhà
- TS Bùi Đình Phong: “Đỉnh cao tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa”, Nxb
Lao động, Hà Nội, 2001 Cuốn sách gồm nhiều bài viết của tác giả về tư tưởngvăn hóa Hồ Chí Minh bao gồm cả những nghiên cứu sâu sắc về tính chất của nềnvăn hóa mới Việt Nam
- TS Bùi Đình Phong (chủ biên): “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền
văn hóa mới Việt Nam”, Nxb Lao động, H 2001 Các tác giả đã nghiên cứu
những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mớiViệt Nam trong đó có tính chất của nền văn hóa
- GS Đinh Xuân Lâm – PTS Bùi Đình Phong: “Hồ Chí Minh văn hóa và đổi
mới”, Nxb Lao động, H.1998 Các tác giả đã đề cập đến các vấn đề: Xây dựng một
nền văn hóa Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng, sự hình thành mộtnền văn hóa mới Việt Nam đồng thời, khẳng định Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vềtính nhân dân của văn hóa
- GS Đỗ Huy: “Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia,
H.1997 Tác giả đã đặt vấn đề phát triển văn hóa Việt Nam theo tư tưởng Hồ ChíMinh, trình bày các vấn đề: Phương pháp nghiên cứu tư tưởng văn hóa Hồ ChíMinh, chiến lược xây dựng nền văn hóa mới, tư tưởng về bản chất của văn hóa vàvăn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa pháp luật, văn hóa nghệ thuật Hồ ChíMinh và những cái nhìn mới về tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
- GS Đỗ Huy: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển văn hóa mới ở
Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, H.2000 Tác giả đã đề cập đến tư tưởng Hồ Chí
Trang 5Minh về tính chất của nền văn hóa mới.
- Lê Xuân Vũ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam”, Nxb Văn
học, H.2004 Tác giả đã khẳng định Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn cónhiều cống hiến đặc biệt cho văn hóa Việt Nam Chủ tịch Hồ chí Minh cùngĐảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và xây dựng nền văn hóa Việt Nam xã hộichủ nghĩa ngày càng phát triển trong sự nghiệp đổi mới ngày nay
- Lê Xuân Vũ: “Trong ánh sáng tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh”, Nxb Văn
học, H 2003 Tác giả đã tập hợp những bài viết của các tác giả phản ánh thựctiễn văn hóa Việt Nam, những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lốicủa Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa trong điều kiện cụ thể, góp phầntích cực vào xây dựng nền văn hóa mới
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập toàn diện về tư tưởng văn hóa HồChí Minh từ nguồn gốc hình thành đến các nội dung chủ yếu trong tư tưởng vănhóa của Người Tuy nhiên, tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minhchưa được tìm hiểu sâu sắc và cần được tiếp tục nghiên cứu Trên cơ sở kế thừakết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, luận văn sẽ đi sâu nghiêncứu góp phần làm rõ hơn nữa tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ ChíMinh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ tính nhân dân trong tư tưởng
Hồ Chí Minh với những giá trị lí luận và thực tiễn của nó
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
- Chỉ rõ cơ sở hình thành của tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ ChíMinh
- Trình bày những nội dung cơ bản của tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa
Hồ Chí Minh
Trang 6- Đưa ra một số giải pháp để xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới mang đậmtính nhân dân.
4 Đối tượng và phạm nghiên cứu của khóa luận
- Đối tượng nghiên cứu: Tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
và một số biện pháp nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới mang đậm tínhnhân dân
- Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa của Hồ
Chí Minh thông qua trước tác, cuộc đời và sự nghiệp của Người từ đó đưa ra một
số biện pháp nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới mang đậm tính nhândân
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
5.1 Cơ sở lí luận
Khóa luận chủ yếu dựa trên cơ sở lí luận là chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa.Đồng thời có tham khảo một số công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí…liênquan đến nội dung được đề cập đến trong khóa luận
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh Bên cạnh đó còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu: Phân tích
và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp lôgíc và lịch sử, so sánh vàkhảo sát thực tiễn…
6 Đóng góp của khóa luận
- Thông qua nghiên cứu đề tài này, khóa luận góp phần làm rõ cơ sở hìnhthành, nội dung của tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, từ đóđưa ra một số biện pháp xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới mang tính nhândân
- Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, tuyên
Trang 7truyền tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng văn hóa nói riêng
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm
có hai chương:
Chương I: Tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
1.1 Cơ sở hình thành tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
1.1.1 Truyền thống văn hóa dân tộc
1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
1.1.3 Vai trò chủ quan Hồ Chí Minh
1.2 Nội dung tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
1.2.1 Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo các sản phẩm văn hóa
1.2.2 Nhân dân là đối tượng phản ánh của văn hóa
1.2.3 Văn hóa phải phục vụ quần chúng nhân dân
1.2.4 Những yêu cầu nhằm đảm bảo tính nhân dân của văn hóa
Chương II: Đảng ta vận dụng tính nhân dân trong tư tưởng văn hoánHồ ChíMinh vào xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng nền văn hóa Việt Nam hiện nay
2.2 Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp xây dựng nền văn hóa mớihướng tới phục vụ nhân dân của Đảng ta dưới ánh sáng tư tưởng văn hóa Hồ ChíMinh
Trang 8NỘI DUNGChương I TÍNH NHÂN DÂN TRONG TƯ TƯỞNG VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH 1.1 Cơ sở hình thành tính nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1 Truyền thống văn hóa dân tộc
- Nước lấy dân làm gốc
Nằm ở vị trí địa lí thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nước ta ngay
từ buổi đầu dựng nước đã phải chịu biết bao cuộc xâm lược từ các nước đế quốc
Do điều kiện lịch sử như vậy mà nhân dân lao động có vai trò đặc biệt trong lịch
sử và văn hóa dân tộc Họ sớm có ý thức về quốc gia, ý thức làm chủ nước nhà,gắn nước với nhà: “nước mất nhà tan” Họ là lực lượng hùng mạnh chống ngoạixâm, bảo vệ Tổ quốc, họ nói lên tiếng nói của mình, thực hiện quyền của mìnhtrong những vấn đề trọng đại của nước nhà
Trong lịch sử dân tộc, lòng dân trở thành tiêu chuẩn đánh giá sự nghiệp củacác vua chúa, giải thích cho sự hưng suy của các triều đại Bởi vậy,để đánh thắngđược kẻ thù xâm lược, xây dựng đất nước, các triều đại phong kiến đã sớm nhận
thức được vị trí vai trò quan trọng của dân: dân là gốc của nước, được dân thì
được nước, từ đó có những chính sách sao cho qui tụ được lòng dân
Xưa, Nguyễn Trãi đã cho rằng: “Mến người nhân là dân mà chở thuyền, làmlật thuyền cũng là dân”, “Làm lật thuyền mới biết dân mạnh như nước” La Sơnphu tử Nguyễn Thiếp trong “Tờ biểu trả lời vua Quang Trung và bàn về dân tình
xứ Nghệ” có câu: “Dân là gốc nước, gốc vững cây mới yêu” Lê Quí Đôn viếttrong “Quần thư khảo biện”: “Gốc của nước vốn ở dân” “Hải ngoại huyết thư”của Phan Bội Châu cũng có câu nguyên văn chữ Hán: “Khởi tri dân duy bangbản, vương giả dĩ dân vi thiên Khí kỳ bản, thất kì sở thiên, bỉ thân năng phục tồn
hồ ?” (có nghĩa: Sao không biết dân chính là gốc nước, người làm vua lấy dân
Trang 9làm trời Vứt bỏ gốc, mất cả trời, thân mình liệu có còn được không?).
Chính sức mạnh dân chủ ấy, sức mạnh “chở thuyền và lật thuyền” ấy là sứcmạnh quyết định làm nên lịch sử dân tộc Việt Nam, làm nên cốt cách và bản sắccủa văn hóa Việt Nam
- Văn hóa dân gian- sản phẩm sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động
Trong văn hóa dân tộc Việt Nam, bên cạnh văn hóa chính thống có cả một nềnvăn hóa dân gian vô cùng phong phú và đa dạng Đó là những phong tục tậpquán tốt đẹp về quan hệ giữa người với người Đó là những điệu múa dân gian,những tranh gà lợn, những lễ hội quần chúng… phản ánh tâm hồn trong sáng, ýchí kiên cường, ước mơ gần gũi của nhân dân lao động Đặc biệt là văn hóa dângian từ thần thoại, truyền thuyết đến tục ngữ, ca dao, dân ca, chèo, truyện cổtích, truyện cười, truyện ngụ ngôn…ghi công đức những anh hùng dân tộc, cangợi lao động và tình yêu quê hương Tổ quốc, chống lại áp bức bóc lột, chế giễubọn quyền quí, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, cổ vũ lòng tin thiện thắng ác, chínhthắng tà
Nhân dân lao động là chủ thể của những tác phẩm văn hóa dân gian và làngười bảo lưu, gìn giữ, phát triển văn hóa dân gian qua các cuộc giao lưu vănhóa, đồng hóa văn hóa của các nền văn hóa lớn Trải hơn nghìn năm Bắc thuộc,Việt Nam vẫn giữ được tiếng nói, lai tạo lấy chữ nôm cho mình Các trào lưutriết học và luồng tôn giáo từ bên ngoài vào không có tác dụng gì sâu sắc đối vớitâm hồn bất khuất, tư duy sáng tạo và lòng nhân ái, yêu nước thương nòi củanhân dân Việt Nam, không xóa bỏ được tín ngưỡng cổ truyền của nhân dân ViệtNam như tục thờ thành hoàng làng là những tổ tiên dựng làng, dựng nước,những anh hùng dân tộc…Văn hóa dân gian luôn luôn là vũ khí sắc bén đập lại ý
đồ nô dịch và ngu dân của bọn xâm lược Văn hóa dân gian Việt Nam xứng đánglàm nòng cốt cho truyền thống văn hóa chân chính của dân tộc ta trong suốt quátrình phát triển của nó
Trang 10Văn hóa dân gian là sản phẩm sáng tạo của nhân dân lao động nên nó phảnánh sâu sắc những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, mơ ước, niềm tin của nhândân lao động, nó phản ánh những tri thức được đúc rút ra từ đời này qua đờikhác của nhân dân Bởi vậy, có thể nói văn hóa dân gian là sáng tạo của nhândân, từ nhân dân mà ra và nó phục vụ cho cuộc sống của nhân dân.
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở Nghệ An- một làng quê giàu truyền thốngvăn hóa dân gian dân tộc Người được hấp thu văn hóa dân gian Việt Nam mộtcách rất tự nhiên từ người bà, người mẹ của mình, qua những câu ca dao, tục ngữngắn gọn, giản dị mà sâu sắc, qua những làn hát ví dặm xứ Nghệ ngọt ngào, đằmthắm Ở cương vị là vị lãnh tụ tối cao của cả dân tộc nhưng Hồ Chí Minh lúc nàocũng hết sức giản dị, gần gũi với quần chúng lao động một phần là bởi Người sửdụng nhuần nhuyễn các hình thức văn hóa dân gian vào lời ăn tiếng nói của mìnhnhư cao dao, tục ngữ, tập Kiều, lẩy Kiều…
1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
- Tinh hoa văn hóa phương Đông
Thứ nhất, Nho giáo Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình khoa bảng, từ
nhỏ Người đã được hấp thụ những kiến thức Nho học từ người cha của mình- cụPhó bảng Nguyễn Sinh Sắc và từ những người thầy đầu tiên như thầy VươngThúc Quí, thầy Trần Thân đều là những thầy đồ có kiến thức sâu sắc về Nho học
và có lòng yêu nước, thương dân nồng nàn
Mặt tích cực của Nho giáo đó là coi trọng vị trí, vai trò, sức mạnh củanhân dân: “hễ được dân chúng tự nhiên sẽ được thiên hạ… hễ được lòng dân tựnhiên sẽ được dân chúng”, “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” nghĩa làtrong nước nhân dân là quan trọng nhất, thứ đến mới là quốc gia, vua là thứ bậcxem nhẹ nhất Bởi dân vốn là gốc nước, có dân mới có nước, có nước mới cóvua, ý dân là ý trời Từ đó, Nho giáo chỉ ra một phương pháp nên theo của cácbậc thiên tử: “Dân muốn việc chi, nhà cầm quyền nên cung cấp cho họ Dân ghét
Trang 11việc chi nhà cầm quyền đừng thi thố cho họ”.
Một điểm tích cực nữa của Nho giáo là đã đề cao văn hóa đạo đức, đề caogiáo dục Nho giáo hết sức quan tâm đến việc giáo hóa dân chúng: “dân khờkhạo mà phạm luật nước, đó không phải là tội của họ mà chính là tội của nhàcầm quyền chẳng biết giữ gìn, giáo hóa họ” Nho giáo đến thời Mạnh Tử, ôngchủ trương xây dựng mạng lưới trường học từ làng xã đến kinh đô, từ trườnghương học đến trường quốc học Đây là đường lối đức trị lấy nhân nghĩa làmgốc, coi trọng vai trò của dân, muốn cho nhân dân được hưởng thụ văn hóa hếtsức tiến bộ của Nho giáo
Tuy nhiên, sự hiện thực hóa tư tưởng trên của Nho giáo trên thực tế cònnhiều hạn chế Tuyệt đại bộ phận nhân dân lao động không được hưởng thụ vănhóa, giáo dục Những chuẩn mực của văn hóa đạo đức mà Nho giáo đưa ra haymột nền giáo dục toàn dân chỉ được thực hiện ở số ít người tầng lớp trên bởi tưtưởng trọng nam khinh nữ, phân biệt đẳng cấp
Tại Hội nghị huấn luyện toàn quốc tháng 5-1950, Hồ Chí Minh nhận định:
“Tuy Khổng Tử là phong kiến và trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điềukhông đúng, song những điều hay trong đó ta nên học”1 Hồ Chí Minh đã tiếpthu được nhiều điểm tích cực của Nho học như coi trọng vị trí vai trò của nhândân, đề cao văn hóa đạo đức và Người cũng thấy được điểm hạn chế đó là sựphân biệt đẳng cấp, trọng nam kinh nữ, nhân dân không được hưởng thụ văn hóa
và giáo dục
Thứ hai, Phật giáo Phật giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên, tư tưởng từ
bi bác ái của Phật giáo bắt gặp tinh thần nhân văn bản địa lại trong hoàn cảnhnhân dân ta bị đau khổ vì ngoại thuộc, Phật giáo đã nhanh chóng được tiếp cận
và truyền bá
Điểm tích cực của Phật giáo đó là tư tưởng từ bi bác ái, thương người, vị tha,
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr.46
Trang 12quan tâm đến nỗi khổ của người khác, nếp sống có đạo đức, tinh thần dân chủ,bình đẳng chống lại mọi phân biệt đẳng cấp…Đến thời nhà Trần, Trần NhânTông đã sáng lập ra phái Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam Điểm mới mẻ củaThiền phái này là tuyên dương lao động, chủ trương không xa đời mà sống gắn
bó với nhân dân, đất nước
Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo, gần gũi nhân dân nên
từ nhỏ cũng đã thầm nhuần những truyền thống đó Tương truyền, bà ngoại HồChí Minh, cụ Nguyễn Thị Kép là một phụ nữ rất mộ đạo, về già thường siêngnăng lên chùa và chăm làm việc thiện Thân sinh của Người, cụ Nguyễn SinhSắc, sau khi bị mất chức, bỏ đi dần vào các tỉnh phía Nam, đến sống ở Cao Lãnh(Sa Đéc) Tại đây cụ thường cư ngụ ở các cửa chùa, vừa bốc thuốc vừa chữabệnh cho dân, vừa chăm chú nghiên cứu giáo lí đạo Phật Những tư liệu này chothấy triết lí Phật giáo vốn không phải là điều xa lạ gì với Hồ Chí Minh ngay từthuở thiếu thời Khi hoạt động bí mật trong Việt kiều tại Thái Lan, Hồ Chí Minh
đã từng khoác áo cà sa cùng với các vị chân tu bàn bạc về giáo lí đạo Phật…
Hồ Chí Minh đã tiếp thu những điểm tích cực của Phật giáo như tư tưởngbình đẳng, dân chủ, chống lại mọi tư tưởng phân biệt đẳng cấp, sống gần gũigiản dị với nhân dân Tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng không nhỏ tới tính nhân dântrong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh bởi với những điểm tích cực trên, nhân dânkhông phân biệt đẳng cấp đều được hưởng thụ những giá trị văn hóa
Thứ ba, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn Tôn Trung Sơn - Tôn Dật
Tiên (1866 - 1925) - nhà dân chủ cách mạng và chính khách kiệt xuất của Trung
Quốc Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm làchính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta” Nội dung chính của chủnghĩa Tam dân là: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc
Sự gặp gỡ giữa tư tưởng của Tôn Trung Sơn với Hồ Chí Minh là gặp ở quanđiểm về chủ nghĩa dân tộc Trong chủ nghĩa tam dân, Tôn Trung Sơn quan tâm
Trang 13sâu sắc đến quyền lợi dân tộc Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh cũng đã nhậnđịnh: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” Bên cạnh việc đềcao chủ nghĩa dân tộc thì Tôn Trung Sơn rất chú ý đến chủ nghĩa dân quyền, chủnghĩa dân sinh Theo ông, dân quyền là sức mạnh chính trị của nhân dân, nhândân quản lí chính trị Còn chủ nghĩa dân sinh góp phần giải quyết những vấn đề
“đời sống của nhân dân, sinh tồn của xã hội, sinh kế của quốc dân, sinh mệnhcủa quần chúng” Tôn Trung Sơn hi vọng rằng những lí luận đề ra trong chủnghĩa dân sinh có thể kêu gọi quần chúng nhân dân đấu tranh xóa bỏ sự bất bìnhđẳng về kinh tế, đem lại sự ấm no cho mọi người, làm cho đất nước trở nên hùngmạnh Tôn Trung Sơn đã đề ra chủ trương “người cày có ruộng”, quốc hữu hóaruông đẩt, hủy bỏ các quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời, tiết chế tư bản tưnhân và phát triển tư bản nhà nước…
Những tư tưởng trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã có ảnhhưởng lớn đến Nguyễn Ái Quốc, với nội dung được hết sức quan tâm là banguyên tắc: “Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc” Trên lậptrường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc
đã thấy ở đó những tư tưởng tiến bộ, tích cực và có thể vận dụng vào cách mạngViệt Nam Đó là đề cao vị trí vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân, coiđây là động lực của cách mạng Tôn Trung Sơn chưa đề cập đến vấn đề xâydựng nền văn hóa hướng đến phục vụ quần chúng nhân dân là bởi hoàn cảnh củanước Trung Hoa bấy giờ là một nước phụ thuộc, kinh tế chủ yếu là nông nghiệpnên vấn đề dân tộc và vấn đề ruộng đất được đề cao Hồ Chí Minh đã khắc phụcđược những hạn chế đó để đưa ra những đường lối cách mang Việt Nam toàn
diện và sâu sắc trên các lĩnh vực
- Lí luận của chủ nghĩa Mác- Lênin
Tính nhân dân của văn hóa nghệ thuật xuất hiện từ lâu trong nền văn hóanghệ thuật thế giới Khát vọng đi gần với nhân dân của nhiều nhà nghệ thuật tiến
Trang 14bộ đã được nhiều nhà văn hóa nghệ thuật lớn tiền Mác xít nêu lên Tuy nhiên họkhông thể giải quyết được đúng đắn vấn đề tình nhân dân của văn hóa nghệthuật Trước hết là vì họ không gắn được vấn đề động lực của lịch sử với sựtham gia tích cực sáng tạo của quần chúng nhân dân Thứ hai là họ không thểđánh giá hết được mối quan hệ sâu rộng giữa nghệ thuật dân gian và các sáng tạochuyên nghiệp Và điều thứ ba làm cho các nhà hoạt động văn hóa tiền Mác xítkhông thể hiểu hết tính nhân dân của văn hóa nghệ thuật khi mà trong tầm mắtcủa họ, quần chúng chỉ là những tầng lớp người ít học, sống hỗn độn, thiếu tổchức.
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh một cách khoa học và xác định đúngđắn mối quan hệ giữa vai trò của cá nhân và quần chúng nhân dân trong sự pháttriển của xã hội Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, làchủ thể của lịch sử Vai trò của quần chúng nhân dân được thể hiện ở những mặt
cơ bản sau:
- Quần chúng nhân dân là người sản xuất ra của cải vật chất – nhân tố quyếtđịnh của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
- Quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội
- Quần chúng nhân dân còn là lực lượng cơ bản sản xuất ra những của cải tinhthần cho xã hội
Bên cạnh đời sống vật chất, con người, xã hội còn có đời sống tinh thần nhưtình cảm, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật…Cùng với sự pháttriển của đời sống vật chất, đời sống tinh thần của xã hội ngày càng nâng cao.Quần chúng nhân dân chính là nguồn sáng tạo ra của cải tinh thần đồng thời họ
là chủ thể hưởng thụ những giá trị tinh thần đó
Trước hết, hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân cùng với nhữngtâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ là nguồn đề tài vô tận cho những ngườilao động trí óc chuyên nghiệp sáng tạo ra những của cải tinh thần
Trang 15Quần chúng nhân dân còn là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ nền văn hóa dângian trong lịch sử Họ là chủ thể của những câu chuyện thần thoại, chuyện cổtích, của kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca…
Dưới chủ nghĩa xã hội, một mặt đã tạo ra được những điều kiện khách quan
về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; mặt khác đòi hỏi quần chúng nhân dân phải
là chủ thể của những của cải tinh thần
Trong bất kì thời đại nào, quần chúng nhân dân cũng là người sáng tạo chânchính ra lịch sử Nhưng trình độ sáng tạo của quần chúng đến mức nào là tùythuộc vào tính tích cực, sự hiểu biết của quần chúng về tự nhiên và xã hội, vàotrình độ tổ chức của quần chúng Vai trò sáng tạo của quần chúng ngày càngtăng cường cùng với sự phát triển của xã hội
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác về vai trò sáng tạo lịch sử củaquần chúng nhân dân, Lênin đã đặt lại vấn đề tính nhân dân của văn hóa nghệthuật trên một thế giới quan hoàn toàn mới Đó là một thế giới quan tin tưởngvào tính cách mạng và có thể cách mạng tới cùng của tuyệt đại bộ phận nhân dânlao động
Lênin đã đặt vấn đề tính nhân dân của văn hóa nghệ thuật trong vấn đềchung của cách mạng xã hội chủ nghĩa Đó là việc giải phóng năng lực sáng tạocủa hàng triệu người đã từng bị chế độ phong kiến và tư bản làm bần cùng hóa
Đó là sự nghiệp cần phải tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân xây dựng chế
độ mới Ở nước Nga trước cách mạng Tháng Mười là nước Nga của bọn Sahoàng, quần chúng nhân dân thường ít học và lạc hậu về văn hóa Lênin đã từnglập kế hoạch về cuộc cách mạng văn hóa để cứu nước Nga lạc hậu, làm tăngtrưởng các khả năng sáng tạo mới trong nhân dân, đẩy nền văn hóa nghệ thuậtcủa nước Nga lên một trình độ sáng tạo mới Trong thời gian chuẩn bị cáchmạng Tháng Mười, để có một tuyên ngôn tập hợp lực lượng sáng tạo của quầnchúng và cũng để có một định hướng cho những người cách mạng thống nhất
Trang 16hoạt động trên lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật, Lênin đã viết bài báo nổi tiếng:
“Tổ chức Đảng và văn học có tính Đảng” Bài báo khẳng định nền văn nghệ mớicủa giai cấp vô sản sẽ không phục vụ cho một số cô nàng sống phè phỡn và đãchán chường Nó cũng không phục vụ “một vạn kẻ có đặc quyền đặc lợi đangchán ngấy và mang nặng cái bụng phệ của chúng, mà nó sẽ phục vụ hàng triệu
và hàng chục triệu nhân dân lao động”1 Nền văn hóa nghệ thuật của giai cấp vôsản phải mang tính nhân dân sâu sắc
Sau khi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, Lênin bắt tay ngay vào tổ chứcmột nền văn hóa nghệ thuật mà trong đó vai trò của quần chúng nhân dân sẽ trởthành chủ đạo Đó là một nền nghệ thuật “thuộc về nhân dân”, “bắt rễ sâu xatrong lòng quần chúng đông đảo”2 Hồ Chí Minh đã tiếp thu trọn vẹn những nộidung tích cực trên của chủ nghĩa Mác- Lênin về tính nhân dân của văn hóa để từ
đó, Người có những bước đi, cách làm phù hợp với tình hình thực tiễn của ViệtNam: trình độ dân trí thấp, nhân dân chịu nhiều tầng áp bức, không được hưởngthụ các giá trị văn hóa của xã hội
1.1.3.Vai trò chủ quan Hồ Chí Minh
Những nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh là cơ sở quan trọng trong việc hìnhthành tính nhân dân của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
Trước hết là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinhtường Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm lí luậnmang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa ViệtNam Đó là sự chắt lọc, tổng hợp kết tinh những giá trị văn hóa của phươngĐông và phương Tây, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế Nếu như HồChí Minh không có tư duy độc lập tự chủ sáng tạo thì khi được tiếp thu những
1 Lê nin Bàn về văn hóa văn học Nxb Văn học, Hà Nội, 1997, tr.79
2 Lê- nin Bàn về văn hóa văn học Nxb Văn học, Hà Nội, 1997, tr.464
Trang 17tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc và của nhân loại, Người sẽ không thểthấy được những nét tích cực và hạn chế của truyền thống Hồ Chí Minh đã tiếpthu trọn vẹn và sâu sắc những giá trị của văn hóa truyền thống Việt Nam như đềcao vị trí, vai trò sức mạnh của người dân, nhân dân là chủ thể sáng tạo ra nhữngsản phẩm văn hóa đích thực và đồng thời cũng là người hưởng thụ những giá trịtinh thần ấy Người cũng nhận thấy những mặt hạn chế trong nền văn hóa thời kìtrước Mác, đó là văn hóa chưa hướng vào phục vụ số đông nhân dân lao động
mà rời xa thực tế cuộc sống, chỉ phục vụ một bộ phận nhỏ những người thuộctầng lớp trên do tư tưởng bất bình đẳng và coi khinh trình độ của nhân dân laođộng Từ đó, Hồ Chí Minh hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới hướngđến phục vụ quần chúng nhân dân, khắc phục những hạn chế về tư tưởng vănhóa trước đó dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin
Thứ hai đó là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phúcủa thời đại để có thể tiếp cận với chủ nghĩa Mác- Lênin.Tư tưởng Hồ Chí Minhnói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nói riêng là sự kết tinh, sự kếthợp nhuần nhuyễn truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhânloại Để có được điều đó, Hồ Chí Minh luôn không ngừng học tập, nghiên cứu,đánh giá nhận xét để tiếp thu những giá trị tích cực, loại bỏ những hạn chế khôngcòn phù hợp để có sự “vượt gộp” trong tư tưởng của Người Trên nền tảng kiếnthức văn hóa đó, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, học thuyếtcách mạng nhất và khoa học nhất Trên lập trường chủ nghĩa Mác – Lênin, HồChí Minh đã hình thành và phát triển nên một tư tưởng sâu sắc và toàn diện bàn
về cách mạng Việt Nam trong đó có tư tưởng về văn hóa Ngay từ rất sớm, HồChí Minh đã hết sức quan tâm đến xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam mang batính chất: dân tộc, khoa học, đại chúng
Thứ ba đó là tâm hồn của một nhà yêu nước thương dân, một chiến sĩ cộng
sản nhiệt thành cách mạng của Hồ Chí Minh Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh
Trang 18đến với chủ nghĩa cộng sản từ chủ nghĩa yêu nước, từ lòng “ham muốn tột bậc làlàm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồngbào ta cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” nhưng mục tiêu cuốicùng vẫn là con người, là nhân dân lao động Hồ Chí Minh có tấm lòng đối vớinhân dân hết sức chân thành Sinh ra và lớn lên tại một cùng quê nghèo, thiênnhiên không ưu đãi, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã chứng kiến cảnh lam lũ, khổ nhọccủa những người nông dân chân lấm tay bùn lại thêm cảnh nô lệ, mất tự do Khi
ra kinh thành Huế, Người lại càng thấm thía hơn nỗi khổ nhục của nhân dân laođộng, họ vừa đói khổ, vừa phải chịu cảnh nước mất, nhà tan, không có một chútquyền hành, không được hưởng những giá trị văn hóa Với tấm lòng yêu nướcthương dân, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước, và người đã đến đượcvới ánh sáng của cách mạng Tháng Mười Nga, ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin Sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Hồ Chí Minh và chínhphủ lâm thời đã hết sức quan tâm đến việc bồi dưỡng văn hóa cho nhân dân vàchủ trương xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam hướng vào phục vụ quần chúngnhân dân Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân lao động được làm chủtrên mọi mặt của đời sống kinh tế- chính trị- văn hóa- xã hội
1.2 Nội dung tính nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
Theo GS.TS Nguyễn Phú Trọng, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là “một
hệ thống các quan điểm lí luận mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa vàxây dựng nền văn hóa Việt Nam Nó chắt lọc, tổng hợp và kết tinh được nhữnggiá trị văn hóa của phương Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại, dântộc và quốc tế, mà cốt lõi là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác- Lê nin với tinh hoa
và bản sắc dân tộc Việt Nam”1
Với tư duy và trí tuệ của mình, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã đưa ra kháiniệm về văn hóa, khái niệm của Người còn ra đời trước khái niệm văn hóa của tổ
1 Ban tư tưởng văn hóa trung ương: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, Hà Nội.2003
Trang 19chức UNESSCO Trong “Mục đọc sách” của tập “Nhật kí trong tù” 1943, Người
viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vănhọc, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏicủa sự sinh tồn”1
Trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh thì nền văn hóa mới Việt Nam khác vớinền văn hóa cũ trước hết ở những tính chất cơ bản của nó
Khi nói về nền văn hóa cũ, Hồ Chí Minh chủ yếu tập trung vào văn hóa củathực dân phong kiến Đó là nền văn hóa mang tính chất nô dịch, ngu dân, muốnbiến cả dân tộc Việt Nam thành một dân tộc “ngu dốt”, “đần độn”, biến conngười Việt Nam thành người vừa “câm” vừa “điếc”, muốn “đình chỉ hẳn đờisống tinh thần của họ” Người đã phân tích sâu sắc nền văn hóa đó trong nhiềubài viết trong những năm 1920, đặc biệt trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”được xuất bản năm 1925
Nền văn hóa mới mà Hồ Chí Minh hướng tới xây dựng là nền văn hóa củatoàn dân, phục vụ vụ nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm cơ sở Đó là tínhnhân dân của nền văn hóa mới
Năm 1943, trong Đề cương văn hóa, Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định ba
nguyên tắc của nền văn hóa mới, ba nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn và đáp ứngrất kịp thời cho các nhu cầu bức thiết của thực tiễn Đó là:
- “Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho vănhóa Việt Nam phát triển độc lập)
- Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hóa phản
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.3, tr.431
Trang 20lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng)
- Khoa học hóa (chống lại tất cả những gì làm cho văn hóa trái khoa học,phản tiến bộ)”1
Theo Phong Lê, Đề cương văn hóa 1943 đã có tác dụng “lật sâu, đào sâuxuống các nền tảng của đại chúng, nhằm đưa văn hóa vào quần chúng, và đưaquần chúng vươn dần lên và hướng tới các mục tiêu từ thấp đến cao của sự tiếpnhận và sáng tạo văn hóa” Thứ tự ba nguyên tắc này về sau có thay đổi là dântộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa Từ ba nguyên tắc này đã xác định ba tínhchất của nền văn hóa mới Việt Nam trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủnhân dân là dân tộc, khoa học, đại chúng: “Cuộc vận động văn hóa mới ViệtNam lúc này phải theo ba nguyên tắc, ba khẩu hiệu:
1 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr 316-321
2 Bàn về văn hóa văn nghệ, nxb Sự thật.Hà Nội.1963.tr.27-28
3 Hồ Chí Minh-biên niên tiểu sử.nxb Chính trị quốc gia, H, 1993.t.3, tr.13
4 Hồ Chí Minh-biên niên tiểu sử, nxb Chính trị quốc gia, H, 1993, t.3, tr.16
Trang 21Trong Báo cáo chính trị đọc tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II ĐảngLao động Việt Nam (1951), Hồ Chí Minh khẳng định phải “Xúc tiến công tácvăn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiếnkiến quốc Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch củavăn hóa đế quốc Đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóadân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới để xây dựng mộtnền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng”.
Trong nghị quyết của Đại hội III ( 9-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
ta đưa ra tính chất của nền văn nghệ mới: “Phát triển nền văn nghệ mới với nộidung XHCN và tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc”1
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976: “ Nền vănhóa mới là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất nhân dân tộc
Đó là một nền văn hóa có tính Đảng và tính nhân dân”2
Như vậy, tính nhân dân (hay còn gọi là tính đại chúng) trong tư tưởng vănhóa Hồ Chí Minh là một trong ba tính chất quan trọng mà Người thường xuyênnhắc tới và chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam Tínhnhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh được thể hiện ở những nội dungsau:
- Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo các sản phẩm văn hóa
- Nhân dân là đối tượng phản ánh của văn hóa
-Văn hóa phụng sự nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân là cơ sở
1.2.1 Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo các sản phẩm văn hóa:
Nói quần chúng là chủ thể sáng tạo các sản phẩm văn hóa tức là nói đến vị
1 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.21, tr.930
2 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.37, tr.519
Trang 22trị, vai trò của nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh Trước khi phântích vị trí, vai trò của nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, chúng ta đinghiên vai trò của quần chúng nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung Dân là một khái niệm đã có từ lâu trong lịch sử và được dung một cách phổbiến, chúng ta thường gặp trong các di sản văn hóa, trong giao tiếp hằng ngày.Tuy nhiên nội hàm của khái niệm dân không phải đơn giản, thuần nhất, khôngbất biến mà nó thay đổi trong lịch sử.
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân có cùng khái niệm vớikhái niệm nhân dân, dân chúng, quần chúng,… Tuy nhiên tùy trường hợp cụ thể
mà Người có cách dùng thích hợp
Trong “Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa”, Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân
“gồm đủ các tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh, gồm đủ các dân tộc: Việt,Thổ, Nùng, Mường, Mán… không phân biệt gái, trai, già, trẻ, lương, giáo, giàu,nghèo”1
Trong “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, Hồ Chí Minh viết: “người dân ViệtNam gồm sỹ, nông, công, thương, binh… già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, lớn,nhỏ”
Hồ Chí Minh dung khái niệm dân để chỉ tất cả những người lao động bìnhthường, đông đảo trong xã hội Điều đó không có nghĩa là Người xem nhẹ vấn
đề giai cấp mà Người luôn đứng trên quan điểm, lập trường giai cấp công nhân
để giải quyết một cách cụ thể trước mỗi nhiệm vụ cách mạng, tại những thờiđiểm nhất định
Về vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân Hồ Chí Minh đã không chỉ tiếpthu tư tưởng trọng dân, coi dân là gốc của nước trong truyền thống dân tộc ViệtNam và trong văn hóa Phương Đông mà Người còn tiếp thu quan điểm về vị trí,vai trò của quần chúng nhân dân trong chủ nghĩa Mác- Lênin Hồ Chí Minh cũng
1 Hồ Chí Minh toàn tập, nxb Chính trị quốc gia, H 2002, t.3, tr.553
Trang 23khẳng định quần chúng nhân dân là người sản xuất ra những của cải vật chất vàtinh thần cho xã hội Từ đó, Hồ Chí Minh có nhận thức sâu sắc về sức mạnh củadân: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnhbằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”1.
Về vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân trong tư tưởng văn hóa Hồ ChíMinh Theo Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo và hưởngthụ những của cải tinh thần của xã hội Có thể do đặc điểm của Việt Nam là mộtnước nông nghiệp lạc hậu, trình độ dân trí thấp lại bị thực dân đế quốc xâm lược,thực hiện chính sách ngu dân, người dân không có điều kiện học tập và hưởngthụ những của cải tinh thần của xã hội, cho nên khi nói về vai trò của quần chúngnhân dân đối với lĩnh vực tinh thần, Hồ Chí Minh thường tập trung vào nhữngvấn đề: chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ, nâng cao trình độ dân trí, nâng cao trình
độ tay nghề cho người lao động Vì theo Người, người lao động là chủ thể củađất nước- dân là chủ và dân làm chủ
Khi nói về vai trò sáng tạo của cải tinh thần của quần chúng, Hồ Chí Minh đãđặt ra vấn đề: “Quần chúng có biết sáng tạo không? Có sáng tác được không?”
và Người khẳng định: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông lànhững người sáng tạo Nhưng quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những củacải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là người sáng tác nữa Chắc các cô, cácchú cũng biết những câu tục ngữ của ta do ai làm ra? Đó là do quần chúng làm
ra Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quầnchúng.”
Hồ Chí Minh còn hết lòng ngợi ca những sáng tác của quần chúng: “Các sángtác ấy hay mà lại ngắn chứ không trường thiên đại hải, dây cà ra dây muống…những sáng tác ấy là những hòn ngọc quí” So sánh những tác phẩm dân gian với
“những hòn ngọc quí” tức là Hồ Chí Minh hết sức đề cao giá trị của những tác
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 2002, t.8, tr.276
Trang 24phẩm dân gian mà nhân dân lao động chính là chủ thể, là tác giả của chúng Lịch sử dân tộc ta đã trải qua nghìn năm Bắc thuộc, Trung Quốc đã thực hiệnchính sách đồng hóa ,đưa nền văn hóa Trung Quốc thâm nhập vào Việt Namnhằm phục vụ cho chính sách cai trị của chúng Chúng ta cũng chịu ảnh hưởngbởi những luồng tư tưởng văn hóa lớn như Phật giáo từ Ấn Độ, Thiên Chúa giáo
từ Phương Tây Tuy nhiên, văn hóa nước ta không hề bị mất đi hay mờ nhạt màđược duy trì, bảo lưu, phát triển qua các thế hệ Chúng ta đã tiếp thu những yếu
tố tích cực để làm phong phú thêm cho nền văn hóa truyền thống, giúp thíchnghi với điều kiện mới Và người bảo lưu những giá trị văn hóa dân tộc vượt quanhững cơn bão đồng hóa và ảnh hưởng văn hóa từ những nền văn hóa lớn chính
là nhân dân lao động Nhân dân ta đã tạo ra một nền văn hóa dân gian đầy sứcsống và có bản sắc riêng Đó là những câu ca dao, tục ngữ, hò, vè, phong tục tậpquán mà Hồ Chí Minh ví như “những hòn ngọc quí” đã được mài giũa hoàn hảo,kết tinh trí tuệ của quần chúng
Đề cao các sáng tác văn hóa dân gian của quần chúng, Hồ Chí Minh đã sửdụng linh hoạt các hình thức văn hóa dân gian vào trong lời ăn tiếng nói củamình Những hòn ngọc quí ấy của nhân dân đã không chỉ góp phần làm chotiếng nói của Người thêm đậm đà tính dân tộc mà còn mang tính nhân dân sâusắc
1.2.2 Nhân dân là đối tượng phản ánh của văn hóa:
Theo Hồ Chí Minh, tính nhân dân là động lực, là mục tiêu, là nền tảng của vănhóa xã hội chủ nghĩa Người quan niệm: một nền văn hóa nghệ thuật có sức sốngphải là một nền văn hóa nghệ thuật giàu tính nhân dân Người nhấn mạnh:
“Nghệ thuật chân chính cốt là để phục vụ nhân dân”1 Hồ Chí Minh đã phát huytruyền thống nhân dân trong nền văn học nghệ thuật tiến bộ của dân tộc, kết hợpvới những khát vọng cao đẹp của chủ nghĩa Mác- Lênin về vị trí trách nhiệm của
1 Hồ Chí Minh Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, 1981, tr.441
Trang 25văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa đối với nhân dân Đó là nền văn hóa nghệthuật thuộc về nhân dân Người đánh giá cao cống hiến của giới văn nghệ sĩtrong kháng chiến chống Pháp “đã có những đóng góp đáng kể phụng sự Tổquốc, phục vụ nhân dân…làm thế thì văn nghệ sĩ nhất định sẽ tiến bộ hơn nữa”.1
Hồ Chí Minh xác lập văn hóa nghệ thuật cũng như một bộ phận của công táccách mạng, cũng cùng một mục đích như mọi lĩnh vực hoạt động khác là phục
vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân: “phục vụ nhân dân… làmục đích của văn nghệ ta”2, “văn hóa…phục vụ công nông binh, tức là phục vụđại đa số nhân dân” Bác luôn nhấn mạnh đối tượng phục vụ của văn nghệ làquần chúng nhân dân Tại Hội nghị cán bộ văn hóa năm 1958, Hồ Chủ tịch nói:
“Một vấn đề nữa phải đặt ra là văn hóa phục vụ ai? Cố nhiên chúng ta phải nói làphục vụ công nông binh tức là phục vụ đại đa số nhân dân Vài năm về trướcđiều đó chưa hiểu được dứt khoát có phải không? Các đồng chí làm công tác vănhóa cần phải dứt khoát như thế, không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật, mà cầnphải nói rõ văn hóa phục vụ công nông binh” Văn hóa nghệ thuật lấy nhân dân
là đối tượng phản ánh, đồng thời phải hiểu rất rõ mặt mạnh và mặt yếu của trongnhân dân Hồ Chí Minh luôn kêu gọi văn hóa nghệ thuật phải chứa đựng khátvọng giải phóng nhân dân, nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết và khả năngsáng tạo trong nhân dân
Văn hóa nghệ thuật không phải chỉ phục vụ nhân dân mà chính nhân dân lànguồn lực nuôi dưỡng sự sáng tạo của người nghệ sĩ Hồ Chí Minh nhấn mạnh
sự tác động biện chứng này: “Chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác củanhà văn bằng những nguồn nhựa sống Nếu nhà văn quên điều đó, nhân dân cũngquên anh ta”3
1 Hồ Chí Minh: Tuyển tập văn học, Nxb Văn hóa, t.2, tr.334
2 Hồ Chí Minh: Tuyển tập văn học, Nxb Văn hóa, t.2, tr.382,336-337
3 Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.516
Trang 26Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, văn hóa nghệ thuật là một hoạt động thựctiễn mang tính nhân dân sâu sắc Sự phát triển của văn hóa nghệ thuật gắn liềnvới sự phát triển của xã hội, của thực tiễn cách mạng, của nhân dân Điều nàyđược thể hiện rõ ở các luận điểm của Người: “xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy”,
“từ cái phổ biến ấy, cái nền mà nâng cao lên làm cho văn nghệ ta ngày càngphong phú về tư tưởng và nghệ thuật” Văn hóa văn nghệ phải hiểu được nhândân và nhân dân phải hiểu được văn hóa văn nghệ Trong quá trình lãnh đạo cáchmạng Việt Nam, quá trình xây dựng nền văn hóa mới, Hồ Chí Minh coi tínhnhân dân của nền văn hóa nghệ thuật là nền tảng, cơ sở lâu bền của một nền vănhóa mới, là phương thức làm giàu đời sống tinh thần của mọi người trong hưởngthụ, đánh giá và sáng tạo Đây là một nội dung tiến bộ và nhân đạo trong xâydựng một nền văn hóa mới của Hồ Chí Minh
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, để phản ánh đời sống của nhân dân thìnhất thiết văn hóa nghệ thuật phải bám rễ sâu bền vào trong đời sống nhân dân
Nó phải “thấu hiểu, liên hệ đi sâu vào đời sống nhân dân”, phải “bầy tỏ đượctinh thần anh dũng và kiên quyết” của nhân dân, phải “giúp phát triển và nângcao tinh thần ấy”1
Muốn vậy, trước hết phải đi sâu vào đời sống nhân dân, bày tỏ được tinhthần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân, nâng cao tư tưởng và tình cảm của nhândân có nghĩa là văn nghệ cần lấy nhân dân là đối tượng phản ánh của mình Nộidung của văn nghệ phải chứa đựng các khát vọng giải phóng của nhân dân Vàkhi các tác phẩm đã ra đời, nó phải giúp nhân dân nâng cao tư tưởng tâm hồn vàtình cảm Như vậy là tính nhân dân của văn hóa nghệ thuật hoàn toàn không phải
là một hệ thống khép kín Nó là một hệ thống giá trị mở Nó chi phối đối tượng
1 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr,368
Trang 27của nghệ thuật Nó hóa thân vào nội dung và hình thức tác phẩm nghệ thuật Bởi vậy trong quá trình xây dựng nền văn hóa nghệ thuật mới, Chủ tịch HồChí Minh đã gắn tính nhân dân với tính hiện thực Trong quan hệ của nghệ thuậtvới hiên thực thì nhân dân là đối tượng thẩm mĩ quan trọng Với sức sống mạnh
mẽ của nó, nhân dân có thể làm tiền đề cho các tác phẩm lớn xuất hiện Trongquan hệ nghệ sĩ và tác phẩm, tư tưởng, tình cảm cao đẹp của nhân dân đã hóathân và đồng tham gia tạo lập với đứa con tinh thần của nghệ sĩ Giá trị cao quícủa tác phẩm chính là ở chỗ nghệ sĩ mang khát vọng của nhân dân, mang tìnhyêu lớn của nhân dân, mang niềm vui, hạnh phúc, lí tưởng của nhân dân hòa vàotài năng và tình cảm của mình trong việc xây dựng các hình tượng nghệ thuật Một nền văn nghệ mang tính nhân dân sâu sắc bao giờ cũng phản ánh khátvọng của nhân dân, kết tinh các tình cảm, tư tưởng lành mạnh của nhân dân, liênkết các giá trị trong nhân dân và nâng cao tâm hồn, cuộc sống, khát vọng, niềmvui và hạnh phúc của nhân dân Đó là nền nghệ thuật phát triển các khả năng tolớn nhất của cả một cộng đồng từ chiều sâu của nó
Trong nền văn nghệ Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám, hình ảnh nhữngngười lao động – bộ phận quan trọng nhất trong nhân dân rất mờ nhạt Hồ ChíMinh đòi hỏi văn nghệ mới phải mang tính nhân dân, bởi vì “phục vụ Tổ quốc,phục vụ nhân dân văn nghệ sĩ nhất định tiến bộ, đồng thời có lực lượng mà giúp
đỡ nhân dân tiến bộ hơn nữa” Hồ Chí Minh cho rằng: nghệ sĩ về với nhân dân,nhân dân sẽ nuôi dưỡng họ và “bằng chính cái đó” họ được “làm giàu lên” Với
ý tưởng này, Hồ Chí Minh đã xác lập trong ý thức nghệ thuật của xã hội quanđiểm văn nghệ dứt khoát: nhân dân là đối tượng phản ánh của văn hóa
Tư tưởng nghệ thuật này của Hồ Chí Minh đã mau chóng đi vào cuộc sống,nối liền khoảng cách ngàn đời giữa nhà nghệ thuật cao siêu với quần chúngnghèo khổ, tưởng chừng ngàn năm, vạn năm không thể lấp đầy Nó chứa đựngnăng lực phát triển xã hội vô cùng to lớn
Trang 28Tiêu chuẩn tính nhân dân của văn nghệ trong tư tưởng Hồ Chí Minh được
đo bằng hiệu quả nghệ thuật Nó đáp ứng nhu cầu của công chúng, giúp pháttriển và nâng cao tinh thần của tuyệt đại bộ phận những người lao động trongnhân dân Nghệ thuật là một sản phẩm tinh thần đặc biệt Dù nó có giá trị nhưthế nào cũng không thể đồng đều thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tinh thần của mộtkhối quần chúng đa dạng có các nhóm xã hội, lứa tuổi và nghề nghiệp khácnhau Nghệ thuật thỏa mãn nhu cầu của nhân dân tức là thỏa mãn những nhu cầutiên tiến Hồ Chí Minh nói: nó “luôn luôn tìm tòi những con đường để làm sao
có thể kể một cách chân thực hơn và chân thành hơn cho nhân dân nghe vềnhững mối lo âu và những suy nghĩ của nhân dân”1
Trong tư tưởng tính nhân dân của văn hóa nghệ thuật, Chủ tịch Hồ Chí Minhluôn quan tâm tới mối quan hệ của nghệ thuật và công chúng Các giá trị nghệthuật được thử thách ở chỗ nó có phát triển năng lực sáng tạo của nhân dân haykhông Nó có tạo ra một nhịp sống mới trong nhân dân hay không? Nó có gợi
mở cho nhân dân nghĩ tiếp, hát tiếp, vẽ tiếp, cảm tiếp về cái đúng, cái tốt, cái đẹphay không? Nó có hình thành những thị hiếu nghệ thuật mới cho các nhóm côngchúng xã hội hay không?
Từ rất lâu trong lịch sử nghệ thuật thế giới cũng như lịch sử nghệ thuậtViệt Nam, giữa văn nghệ dân gian và văn nghệ chuyên nghiệp có một mối quan
hệ rất kì lạ Hình như nền nghệ thuật dân gian của nước nào cũng là một hệ giátrị cổ điển, nó làm hệ chuẩn giá trị nhiều mặt cho nghệ thuật chuyên nghiệp, từtình cảm, đề tài đến ngôn ngữ, từ âm hưởng đến hình tượng, từ màu sắc đến nhịpđiệu…Các mặt quan trọng như vậy của nghệ thuật dân gian luôn luôn là cơ sởđịnh giá trị của các tác phẩm chuyên nghiệp Từ lâu Goocki đã viết rằng: “Nhândân đã sáng tạo ra thần Dớt còn Phidias thì thể hiện nó bằng đá cẩm thạch”
1 Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.515
Trang 29Còn Kalinin viết: “Chúng ta biết rằng những thi sĩ có tài nhất, các nhà soạnnhạc cừ khôi nhất cũng chỉ trở thành những thiên tài trong sáng tác của mình khinào họ tiếp xúc với sáng tác của nhân dân”.
Để xây dựng những giá trị nghệ thuật mới, hướng nền văn hóa nghệ thuậttới tương lai bền vững, cần xác lập cho được mối liên hệ toàn diện giữa nghệthuật chuyên nghiệp và nghệ thuật dân gian, nghệ thuật không chuyên Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói về sự trong sáng của ngôn ngữ dân gian.Người cangợi những tình cảm tốt đẹp trong thơ, ca, hò, vè và gọi các sáng tác ấy như
“hòn ngọc quí”
Hoạt động văn hóa, văn nghệ vốn là hoạt động rất ưa thích của người ViệtNam Trong một thời gian ngắn, đội ngũ văn nghệ chuyên nghiệp đã được bổsung những tài năng từ các phong trào quần chúng mà lên Quan điểm phổ cập
và nâng cao của chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm xuất hiện một năng lượng và chấtlượng nghệ thuật trong nền văn hóa nghệ thuật mới ở Việt Nam
Về phương diện này không ít người đã hiểu sai ý nhân dân là đối tượngphản ánh của văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh Nhiều người lầm tưởng rằng,nói đến tính nhân dân của nghệ thuật là nói về số lượng, về tính phổ cập củanghệ thuật Không ít nhà lí luận văn nghệ cũng như các nhà sáng tạo nghệ thuật
đã coi văn nghệ đỉnh cao, văn nghệ chất lượng chỉ có những nghệ sĩ chuyênnghiệp sáng tạo Tình cảm của họ đối với văn hóa nghệ thuật dân gian thườngbiểu hiện trên ba mặt phương diện sau đây Một là họ coi thường nghệ thuật củaquần chúng Hai là họ coi thường quần chúng khi họ sáng tác Ba là họ thiếu tintưởng ở sự thụ cảm nghệ thuật của quần chúng Hiểu rõ hiện tượng này, sau khikhẳng định các giá trị tốt đẹp của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết rằng:
“Bác không giỏi về mĩ thuật nên có thể không đánh giá đúng tranh vẽ của cácchú Nhưng Bác nghĩ rằng nghệ thuật phải gắn với cuộc sống, người vẽ khôngthể tùy ý muốn tưởng tượng ra thế nào cũng được, rồi quần chúng phê bình lại
Trang 30bảo người ta dốt Bác biết các chú văn hay, chữ tốt, nhưng dù sao nhân dân trămtai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh, có thể giúp các chú tiến bộ hơn”1.
Ai cũng biết phần lớn nhân dân lao động trong xã hội cũ là những ngườinghèo khổ Họ ít được học lên tới các bậc cao Và đúng là có những giá trị vănhóa văn nghệ lớn của nhân loại, nhiều người chưa được huấn luyện về mặt nghệthuật, chưa hề hiểu tới Những Leona De Vinci, Mikenlang, Raphaen, nhữngWilliam Shakespeare, Ban dắc, Tolstoy, những Moda, Betthoven…họ chưa hềbiết tới Nhưng thật sự không phải chỉ vì cái họ không hề biết tới mà chúng ta cóquyền cho rằng trình độ thẩm mĩ của nhân dân thấp Nguy hại hơn, do cách hiểu
đó, nhiều nghệ sĩ chuyên nghiệp đã hạ cấp sáng tạo của mình đến thô thiển đểthực hiện nguyên lí văn nghệ phục vụ nhân dân Nhiều người tưởng lầm rằng thơ
ca phổ biến chính sách tuyên truyền đời sống mới đó là loại văn nghệ mang tínhnhân dân
Phát triển nguyên lí tính nhân dân trong việc xây dựng nền văn hóa nghệthuật, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ muốn giải phóng quần chúng lao động rakhỏi cánh đồng “văn hóa sình lầy” ấy Người còn muốn thông qua nghệ thuật làmột lĩnh vực tập trung cái thiện và cái ác, cái đẹp và cái xấu, hình thành nhữngchuẩn giá trị tinh thần Việt Nam mới và do đó nâng cao trình độ thưởng thức,đánh giá và sáng tạo nghệ thuật của nhân dân Các chuẩn mực mới của cái thiện
và cái đẹp xuất hiện Nó đưa tính nhân dân của văn hóa nghệ thuật lên một tầmmới Và văn hóa văn nghệ mang sức sống của cái thiện, cái đẹp sẽ làm hìnhthành những giá trị tinh thần mới trong đời sống nhân dân
Gắn nội dung tính nhân dân của nền văn hóa nghệ thuật mới với cái thiện vàcái mĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng một logic tự nhiên đã gắn các giá trị truyền
1 Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.553
Trang 31thống với các giá trị hiện đại trong nghệ thuật Cái thiện, cái đẹp mới ngày nay làtiếp tục cái thiện, cái đẹp của nền nghệ thuật truyền thống trên cơ sở các quan hệđạo đức và thẩm mĩ mới dưới sự chi phối của hệ tư tưởng Mác – Lênin Tínhnhân dân trong văn hóa nghệ thuật ngày nay là tính nhân dân trong phạm trùcách mạng xã hội chủ nghĩa Nó củng cố làm bền vững và nâng lên một tầm caomới của tính liên tục và tính vĩnh hằng của lịch sử.
Như vậy, quan điểm nhân dân là đối tượng phản ánh của văn hóa trong tưtưởng văn hóa Hồ Chí Minh là quan điểm tiến bộ trong lịch sử văn hóa dân tộc,trên cơ sở tiếp thu và phát triển truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóanhân loại đặc biệt là chủ nghĩa Mác- Lênin Trước cách mạng tháng Tám, nếunhư nhân dân ta mất tự do, không được hưởng thụ các giá trị văn hóa thì saucách mạng, chính quyền về tay nhân dân, nhân dân không chỉ được là chủ thểsáng tạo văn hóa mà còn là đối tượng phản ánh của văn hóa Chủ tịch Hồ ChíMinh đề ra quan điểm, tư tưởng và cũng là người thực hiện nguyên lí văn hóaphục vụ quần chúng nhân dân
1.2.3 Văn hóa phải hướng tới phục vụ nhân dân
Thứ nhất, trên lĩnh vực văn hóa giáo dục
Khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã bỏ nhiều công sức phântích sâu sắc nền giáo dục phong kiến và nền giáo dục thực dân Mẫu người màgiáo dục phong kiến hướng tới là kẻ sĩ, quân tử, bậc trượng phu hoàn toàn khác
kẻ bình dân và phụ nữ bị tước quyền học vấn Còn nền giáo dục thực dân là nềngiáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát, nhân dân vẫn khôngđược học hành bởi mục đích của nó là đào tạo ra những người phục vụ cho chínhquyền của chúng
Đến với văn hóa giáo dục Hồ Chí Minh, Người chủ trương giáo dục toàn dântoàn diện, ai cũng được học hành Mục tiêu giáo dục của Hồ Chí Minh là mởmang dân trí, nâng cao kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao
Trang 32đẹp, những phẩm chất trong sáng và phong cách lành mạnh cho nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Ngay sau cáchmạng Tháng Tám thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước ViệtNam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề chống nạn dốt làvấn đề cấp bách thứ hai sai vấn đề chống nạn đói bởi vì “Một dân tộc dốt là mộtdân tộc yếu” Trong kháng chiến chống Pháp, vì bận đánh giặc và sản xuất,nhiều người chưa chú ý đúng mức đến văn hóa giáo dục, Bác đã đưa ra khẩuhiệu “thi đua diệt giặc dốt” và Người coi giáo dục là nhiệm vụ của toàn Đảng,toàn dân
Thứ hai, trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ
Lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội
mới, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trung thành với nguyên
lí sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin Ngay từ những năm 20 của thế kỉ trước,lúc còn là nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, Người đã hướng mọi tâm huyết củamình trên ngòi bút để vạch trần những cái xấu xa, thối nát, đê hèn, dã man, tànbạo của bọn cướp nước và bán nước Người bảo vệ những người cùng khổ,Người viết văn, làm thơ và vẽ với mục đích là thức tỉnh nhân dân lao động giànhlấy quyền sống, quyền làm người thiêng liêng
Nguyên lí văn hóa phục vụ nhân dân thực sự là một nguyên lí mới mẻ trongnền văn hóa nghệ thuật Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Lúcđầu nó tạo nên bao nhiêu ngỡ ngàng cho quần chúng và cả nghệ thuật Sau dầndần các nhà nghệ thuật đã tìm thấy sức sống và hơi thở của mình trong nhịp sốngtrào dâng ở những nơi quần chúng lao động và chiến đấu Và ngược lại, quầnchúng cũng tìm thấy sức sống mới trong nền văn nghệ mới Và do đó nguyên lívăn nghệ phục vụ nhân dân đã tạo ra một công chúng mới cho nghệ thuật và mộtnền nghệ thuật mới cho công chúng Về mục tiêu này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãviết: “Giới văn nghệ đã có những đóng góp đáng kể…phụng sự Tổ quốc, phục
Trang 33vụ nhân dân…Làm như thế thì văn nghệ sĩ nhất định sẽ tiến bộ hơn nữa, đồngthời có lực lượng mà giúp đỡ nhân dân tiến bộ hơn nữa”1.
Thống nhất lời nói và việc làm, lí luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh làngười đầu tiên thực hiện nguyên lí này một cách nhất quán Ngay từ những ngàyđầu còn là nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hướngngòi bút của mình vào mục đích chiến đấu giải phóng cho nhân dân Thấu hiểu
và thông cảm sâu sắc với tình cảnh dân tộc bị áp bức, quần chúng bị nô lệ, trongcác sáng tác của mình, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã đứng về phía nhândân, tự nguyện làm đại biểu của nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đau cái đaucủa nhân dân, đã vui cái vui thắng lợi của quần chúng Sắc sảo và mạnh mẽ,mềm dẻo và kiên quyết, trào lộng mà trí tuệ, trong các tác phẩm: “Con ngườibiết mùi hun khói”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Nhật kí chìm tàu”, “Conrồng tre”, “Hành hình kiểu Lyn Sơ”, “Văn minh kiểu Mĩ”…nhà cách mạngNguyễn Ái Quốc đã tố cáo cái lố lăng, cái tàn bạo, cái man rợ của kẻ thù củanhân dân và thôi thúc quần chúng bị áp bức đứng dậy liên tiếp lại đập tan xíchxiềng nô lệ, xây dựng cuộc sống mới hướng về tương lai tươi sáng, về chủ nghĩa
xã hội
Nguyên lí văn nghệ phục vụ nhân dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn
bị và tự thể nghiệm như thế trong quá trình hoạt động cách mạng Càng thể hiện,Chủ tịch Hồ Chí Minh càng thấy hiệu quả nghệ thuật và chính trị rộng lớn của
nó Sau này mỗi độ xuân đến, Người đã mừng xuân nhân dân cả nước bằng thơ
ca Người hỏi thăm công việc một năm của toàn dân Người thúc đẩy nhữngnhân tố cách mạng nhất trong nhân dân Người liên kết sức mạnh của nhân dânthành một lực lượng cách mạng thống nhất…Có lẽ có ít người đứng đầu một nhà
1 Hồ Chí Minh toàn tập tập 8 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.325
Trang 34nước trong lịch sử dân tộc ta lại gắn liền sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật với nhândân như Chủ tịch Hồ Chí Minh Quan niệm văn nghệ phục vụ nhân dân như đãthấm vào máu của Người và Người đã hòa chung sức mạnh của mình với nhândân, nâng nhân dân lên ngang tầm sức mạnh của mình
Nguyên lí văn hóa phải phục vụ quần chúng nhân dân còn được thể hiệnrất rõ trong ngôn ngữ của Hồ Chí Minh Người đã mang ngôn ngữ của ca dao,tục ngữ, hình thức dân gian lẩy Kiều- là những sản phẩm văn hóa của quầnchúng nhân dân vào trong ngôn ngữ của mình Điều này không chỉ làm cho tiếngnói của Người thêm đậm đà bản sắc dân tộc mà còn làm cho Người thêm gần gũinhân dân, được nhân dân yêu mến, tin tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại nhưng vẫn hếtsức giản di là như thế Nghe Hồ Chủ tịch căn dặn “phải ra sức thi đua cày sâucuốc bẫm, làm cỏ bỏ phân” vì rằng “cày sâu, cuốc bẫm, thóc đầy lẫm, khoai đầybồ”, “thêm gánh phân thì thêm cân thóc”, người nông dân cảm thấy như nghe lờichỉ bảo ân cần của bậc “lão nông” Cùng với việc dùng các thành ngữ, tục ngữnguyên dạng như: yêu nước thương nòi, gan vàng dạ sắt, một lòng một dạ, tàihèn sức mọn, mồ hôi nước mắt, sai một li đi một dặm…Hồ Chí Minh còn thêmbớt một số yếu tố để sử dụng linh hoạt trong những hoàn cảnh cụ thể cho phùhợp như câu nói của Bác: “Sản xuất mà không tiết kiệm khác nào như gió vàonhà trống” là Bác lấy ý ở trong câu “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”.Hay trong “Kêu gọi nông dân tham gia làm hợp tác xã” ngày 11- 4- 1946, HồChủ tịch nói:
“Một cây làm chẳng lên nonNhiều cây chụm lại nên hòn núi cao”
Được mượn ý từ câu ca dao của dân ta thường nói khi cổ vũ hợp quần:
“Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Hồ Chí Minh còn nắm vững ngôn ngữ của quần chúng để sử dụng rất đắt trong
Trang 35văn thơ và khi nói chuyện Vì thế mà trong diễn đạt, Người hay sử dụng khẩungữ- một cách nói của quần chúng- làm cho ngôn ngữ trở nên dễ hiểu và dễ đivào lòng người
Ví dụ “Thư chúc Tết” năm 1969 của Hồ Chí Minh có câu:
“Vì độc lập, vì tự doĐánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào”
Hoặc trong “Bài ca du kích”, Người viết:
“Thấy Tây cứ chém phứaThấy Nhật cứ chặt nhào”
“Cút, nhào, phứa” là tiếng nói của quần chúng, nó giản dị nhưng lại có sứcmạnh động viên quần chúng phi thường
Hồ Chí Minh còn rất hay sử dụng hình thức tập Kiều và lẩy Kiều Nhân dânViệt Nam không ai là không biết Truyện Kiều của Nguyễn Du, vì vây hình thứctập Kiều và lẩy Kiều trở thành phương thức tu từ đặc biệt rất Việt Nam Tìmhiểu phương thức tu từ đặc biệt trong dân gian này, chúng ta càng thấy rõ thêmquan điểm quần chúng trong cách viết, cách nói của Hồ Chí Minh Người đã sửdụng phương thức tập Kiều và lẩy Kiều một cách rộng rãi đồng thời có sự phânbiệt về mức độ phụ thuộc vào nội dung và hình thức biểu đạt Hồ Chí Minhthường tập Kiều nhiều nhất trong thơ tuyên truyền cổ động, diễn ca chính sáchnhằm phục vụ đối tượng công nông binh và quần chúng lao động ít học Hồ ChíMinh tìm trong những câu Kiều một cách nói, một hình thức diễn đạt quen thuộcvới quần chúng làm cho quần chúng hiểu và nhớ lâu Người cũng sử dụng một
số khuôn câu, một số mô típ kết cấu cú pháp trong thơ lục bát Truyện Kiều đểdiễn đạt những nội dung một cách sinh động và hấp dẫn Điều đó thể hiện quanđiểm quần chúng của Người trong nói và viết: Viết ra cốt là để giáo dục, cổđộng, để tuyên truyền đấu tranh Vì vậy phải học cách nói của quần chusnh, phảiviết cho hợp với trình độ người xem, nói ít nhưng nói cho thấm thía, chắc chắn
Trang 36Thứ ba, trên lĩnh vực văn hóa đời sống
Tháng 1- 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào xây dựng đờisống mới Tháng 4- 1946, Người kí sắc lệnh thành lập Ủy ban Trung ương vậnđộng Đời sống mới Tháng 3-1947, Người viết cuốn sách “Đời sống mới” đểhướng dẫn việc xây dựng đời sống mới trong các tầng lớp nhân dân, trong toàn
xã hội
Như vậy là việc xây dựng đời sống mới đã được Hồ Chí Minh nêu ra từ rấtsớm, khi vấn đề lối sống, nếp sống, phong cách sống, chất lượng sống… hầu nhưchưa được bàn đến rộng rãi ở các nước Nét nổi bật của cuộc vận động này là nó
đã nhanh chóng trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi ngay từ khi cáchmạng mới thành công và nhân dân ta đã phải đi ngay vào cuộc kháng chiếnchống ngoại xâm hết sức quyết liệt, cuộc sống còn trăm bề thiều thốn Cuộc vậnđộng đã có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chủ trương vừa kháng chiếnvừa kiến quốc, tạo nên những chuyển biến to lớn trong đời sống văn hóa củanhân dân ta
Thứ tư, trên lĩnh vực văn hóa đạo đức
Hồ Chí Minh hết sức đề cao vai trò của đạo đức đối với người cách mạng.Người đã đưa ra các chuẩn mực đạo đức để nhân dân và cán bộ ta rèn luyện như:Trung với nước, hiếu với dân; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Yêuthương con người; Tinh thần quốc tế trong sáng Tính nhân dân trong tư tưởngvăn hóa đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện ở chỗ Người chủ trương giáo dụcđạo đức cho mọi tầng lớp nhân dân lao động Cách mạng là sự nghiệp của quầnchúng, một trong những yếu tố để tạo sức mạnh cho quần chúng là giáo dục đạođức cho mọi người và mỗi người Giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội,công an, thanh thiếu niên, nhi đồng, phụ lão, phụ nữ,…tất cả đều tiếp nhận được
từ Hồ Chí Minh những lời dạy bảo ân cần, quí giá về đạo đức Các tầng lớp nhândân coi những lời dạy của Bác là “cẩm nang thần kí” cho lực lượng của mình để
Trang 37không ngừng rèn luyện tu dưỡng, phấn đấu vươn lên, hoàn thành nhiệm vụ.
Thứ năm, trên lĩnh vực văn hóa chính trị
Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh được thai nghén sớm từ khi Người chọn conđường cứu nước năm 1911, bắt đầu được định hình từ năm 1920 và khẳng địnhdứt khoát bằng sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1930 Hồ Chí Minh
đã đặt nền tảng cho văn hóa chính trị Việt Nam mà hạt nhân là văn hóa Đảngcầm quyền ra đời từ thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945
Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là một nền văn hóa chính trị “dân quyền”.Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ; Đảng lãnh đạo để dân làmchủ Nước lấy dân làm gốc, bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân,dân là chủ và dân làm chủ Đảng, Chính phủ, cán bộ Đảng viên vừa là ngườilãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân
Như vậy, tính nhân dân trong sự nghiệp văn hóa văn nghệ Hồ Chí Minh đượcthể hiện ở mục đích là hướng tới nhân dân, vì nhân dân phục vụ Trên mọi mặtcủa đời sống của văn hóa, ta đều thấy Hồ Chí Minh lúc nào cũng đặt nhân dânlên vị trí hàng đầu Điều đó lí giải tại sao Hồ Chí Minh- một con người vĩ đạiluôn sống gần gũi trong lòng nhân dân
1.2.4 Những yêu cầu nhằm đảm bảo tính nhân dân của văn hóa
- Văn nghệ sĩ đi con đường cách mạng của giai cấp công nhân, phục vụ nhân dân, trước hết là nhân dân lao động
Đây là tư tưởng then chốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính nhân dân củavăn hóa Người nói: “Xã hội nào, văn nghệ thế ấy Văn nghệ ta vốn rất phongphú, nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô lệ thì vănnghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được”1 “Dân tộc bị áp bức thìvăn nghệ cũng mất tự do Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”2
1 Hồ Chí Minh: về công tác văn hóa văn nghệ, NXb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.27
2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9, tr.443
Trang 38Bởi vậy, Hồ Chí Minh coi “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em
là chiến sĩ trên mặt trận ấy”1 Từ đó, Người tiếp tục khẳng định: “Ngòi bút củacác anh chị cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà màanh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trongcông cuộc kháng chiến để giành lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”2.Nghệ sĩ- chiến sĩ, đây là một sự tổng kết khái quát cao mẫu hình đội ngũ vănnghệ sĩ và các nhà hoạt động văn hóa trước yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp cáchmạng Cần phải hiểu mặt trận văn hóa, văn nghệ được đặt trong mối quan hệngang hàng với các mặt trận khác như: chính trị, kinh tế, quân sự và trên mặttrận ấy cũng cần có những chiến sĩ cách mạng của Đảng Từ đó thấy rõ: “Vănhóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ởtrong kinh tế và chính trị”3
Hồ Chí Minh tuyên dương những thành tựu mà các cán bộ hoạt động văn hóa
đã đạt được là nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần xóa bỏ tàntích của nền văn hóa cũ lạc hậu Người khẳng định điều này tại Đại hội văn côngngày 3-1-1955: “Ngày nay chúng ta khen ngợi anh chị em văn công mặc đẹp,hay hay, múa khéo… Đồng bào đi xem đều khen ngợi văn công khá Mà kháthật Khá nhất là ở chỗ tẩy hết những cái gì trụy lạc, hủ bại của văn nghệ thựcdân phong kiến; đã nêu rõ được chừng nào tinh thần dũng cảm và sinh hoạt cầnlao của nhân dân ta”4 Lần khác, Người tổng kết: “Trong hơn mười năm nay- từcách mạng Tháng Tám- trong mấy năm kháng chiến anh dũng và hai năm xâydựng hòa bình, giới văn nghệ đã cố gắng cùng với nhân dân từ Nam chí Bắc đấutranh Các nhà văn nghệ đều có công với cách mạng, với kháng chiến, với xây
1 Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.6, tr.368
2 Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.345
3 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, 2002, t.6, tr.368-369
4 Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.398
Trang 39dựng hòa bình”1 Trong Thư gửi hội nghị cán bộ văn hóa tháng 2-1957, Hồ ChíMinh lại nhấn mạnh: “Năm vừa qua, trong công cuộc khôi phục kinh tế và đấutranh thống nhất nước nhà, Bộ Văn hóa đã góp phần đáng kể: đời sống văn hóacủa nhân dân đã được nâng cao một bước, tàn tích văn hóa xấu của chế độ cũ bịtẩy trừ dần Một nền văn hoá mới đang được xây dựng”2 Sau cách mạng ThángTám thành công, bên cạnh việc xây dựng và củng cố chính quyền non trẻ, HồChí Minh hết sức quan tâm đến xây dựng nền văn hóa mới và đội ngũ cán bộ giữvai trò quan trọng trong công cuộc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân,đẩy lùi được phần nào những tàn tích của nền văn hóa cũ lạc hậu và không cònphù hợp với điều kiện mới nữa.
Bên cạnh những thành tích trên, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra “thành tíchtuy có nhiều nhưng thiếu sót cũng không ít” Thiếu sót chính của các cán bộ vănhóa là còn xa rời quần chúng nhân dân, chưa có bề sâu: “Tiếc một điều là khôngmuốn đi dưới đất mà cứ muốn vụt lên trời, chất mơ mộng nhiều quá, mà cái chấtthật của sự sinh hoạt rất ít… muốn tìm thấy sự thay đổi, ham mê thật phải trở vềvới cuộc sống sinh hoạt thực tại của con người”3 “Công tác văn hóa vẫn cònnhững thiếu sót: phong trào văn hóa có bề rộng, chưa có bề sâu; nặng về mặt giảitrí mà còn nhẹ về mặt nâng cao trí thức của quần chúng Về mặt tổ chức và lãnhđạo còn thiếu chặt chẽ, chưa dựa hẳn vào lực lượng của nhân dân, chưa dùng hếtkhả năng của các nhà trí thức Việc phát huy vốn cũ quí báu của dân tộc và họctập văn hóa tiên tiến của các nước cũng chưa làm được nhiều”4
Để phát huy những thành tích và khắc phục những thiếu sót trên thì theo HồChí Minh thứ nhất, cán bộ văn hóa cần phải gắn liền với thực tiễn đời sống quầnchúng nhân dân: “Văn hóa phải gắn liền với lao động sản xuất Văn hóa xa đời
1 Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.352
2 Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.399-400
3 Hồ Chí Minh Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.344
4 Hồ Chí Minh Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.400
Trang 40sống, xa lao động là văn hóa suông Nhiệm vụ của cán bộ văn hóa là phải dùngvăn hóa để tuyên truyền cho việc cần, kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà”1 Riêng đối với côngtác báo chí, Người nhấn mạnh: “Để làm trọn nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức,hướng dẫn thì các báo chí ta cần phải gần gũi quần chúng hơn nữa, đi sâu vàocông việc thực tế hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải được cải thiện hơnnữa”2.
Thứ hai, người cán bộ văn hóa cần có “lập trường vững, tư tưởng đúng”:
“chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường tư tưởng đúng, nói tóm lại phải đặt lợi íchcủa kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết”3 có nghĩa làcán bộ hoạt động trên lĩnh vực văn hóa phải nắm vững lí luận chủ nghĩa Mác- Lênin, học thuyết cách mạng nhất, chân chính nhất, khoa học nhất Đồng thời, cán
bộ văn hóa phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
“thấu hiểu, liên hệ và đi sâu vào đời sống nhân dân” để “bày tỏ được tinh thầnanh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nângcao cho tinh thần ấy”4 Lập trường, quan điểm của nhà van là điều quan trọnggiúp cho tác phẩm của họ theo kịp được thời đại, không nên khư khư giữ cáinhìn cũ Người nghiêm túc nhắc nhở: “Ưu điểm của các cô các chú không ítnhưng khuyết điểm thì cũng còn nhiều Trong các đồng chí cũng còn có ngườihoặc ít hoặc nhiều chưa thoát khỏi ảnh hưởng tư sản và tiểu tư sản cho nên nắmvấn đề chính trị không được chắc”
Nhà văn phải tìm ngọn nguồn nuôi dưỡng sáng tạo nghệ thuật ngay trongđời sống của tầng lớp lao động cần lao, vì Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn hoànthành nhiệm vụ được tốt thì phải học tập, chúng ta phải trau dồi tư tưởng, trau
1 Báo nhân dân Số 2156 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.10, tr.59
2 Hồ Chí Minh Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.355
3 Hồ Chí Minh Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.355
4 Hồ Chí Minh: tuyển tập văn học, Nxb Văn học, T.2, tr.329